Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Bài Mới Nhất trang Văn Học
Điền Email để nhận bài mới

Tâm ThứcBản Chất Sâu Thẩm Của Tâm Thức

Wednesday, May 29, 201909:29(View: 11694)
Tâm Thức Và Bản Chất Sâu Thẩm Của Tâm Thức

 Tâm ThứcBản Chất Sâu Thẩm Của Tâm Thức

 

Nguyên bản: Mind and the Deep Nature of Mind

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma

Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.

Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

Tam thuc

 

Trong một kinh về tuệ trí hoàn thiện (bát nhã), Đức Phật đã đưa ra tuyên bố thậm thâm như sau:

 

Trong tâm, tâm không tìm thấy được, bản chất của tâm là linh quang.

 

Để thấu hiểu những trình độ ý nghĩa của trong tuyên bố này, chúng ta phải xác định tâm là gì, hãy phản tích bản chất sâu xa của nó, và khảo sát vấn đề những ảnh hưởng tốt và xấu của nó xảy ra như thế nào? Chúng ta hãy thẩm tra những thành phần khác nhau của tuyên bố này.

 

1-    Cụm từ “trong tâm” được quan tâm với tâm là gì – bản chất rực sáng và hiểu biết của nó. Trong chương Bảy, về thiền tập trung, chúng ta đã nói về bản chất rực sáng và hiểu biết của tâm và vấn đề, mặc dù nó tồn tại khắp mỗi thời khắc của tâm, nhưng nhất thiết phải đặt một bên những tư tưởng trước đó và không bắt đầu những thứ mới nhằm để xác định nó.

2-    Khi Đức Phật nói “tâm không thể tìm thấy,” điều này biểu thị rằng bản chất rực sáng và hiểu biết không phải là tính chất sâu xa nhất và cuối cùng của tâm. Đúng hơn, bản chất tận cùng của tâm là “linh quang”, tánh không của sự tồn tại cố hữu của nó.

 

Chúng ta có thể nghĩ là Đức Phật đang nói rằng tâm không tồn tại, nhưng không phải như vậy. Tôi, như người giải thích, đang giải thích tuyên bố này qua những việc làm của chính tâm thức tôi, và bạn, những người đọc, đang đọc bằng những việc làm của tâm thức bạn. Chúng ta luôn luôn đang sử dụng tâm thức, và nó luôn luôn bên cạnh chúng ta, nhưng chúng ta không biết nó nhiều. Vì vậy, mặc dù thật khó để nhận ra tâm, nhưng nó tồn tại và đang được phân tích về phần bản chất sâu thẩm của chính nó.

 

Rõ ràng là tâm tồn tại, nhưng vì nó không được thiết lập như bản chất rốt cùng và xu hướng căn bản của nó, vậy thì mô hình hiện hữu của nó là gì? Bản chất sâu xa của nó chỉ là tánh không đơn thuần của chính sự tồn tại cố hữu của nó. Điều này có nghĩa là những phiền não làm nhiễm ô tâm thức – chẳng hạn như sân hận, tham muốnthù oán – là tạm thời, và do vậy có thể tách rời khỏi tâm. Một khi những phiền não này được thấu hiểu là cạn cợt và không ở trong bản chất cốt lõi của tâm, thì chúng ta sẽ thấy rằng bản chất sâu thẩm của tâm là linh quang, tánh không.

 

PHIỀN NÃO LÀ NÔNG CẠN, BẢN CHẤT CỦA TÂM LÀ LINH QUANG

 

Kinh điển Phật giáo giải thích những cách khác nhau về tuyên bố, “Phiền não là nông cạn, bản chất của tâm là linh quang.” Tuy thế, đây không phải là một vấn đề mà lời của Đức Phật nói về điều gì đó mơ hồ để ai muốn diễn dịch thế nào cũng được. Đúng hơn, nó có nhiều ý nghĩa rõ ràng và ẩn tàng. Trong Tantra Yoga Tối Thượng có nhiều cách để rút ra ý nghĩa của một tuyên bố khó hiểu. Chúng ta có thể giải thích nghĩa đen của nó, ý nghĩa tổng quát của nó, ý nghĩa ẩn tàng của nó, và ý nghĩa tối hậu của nó.

 

Để làm minh bạch lời tuyên bố của Đức Phật, “Phiền não là nông cạn, bản chất của tâm là linh quang,” trong việc phối hợp với mật thừa Tantra, tôi sẽ trích dẫn Danh Sách Huyền Thuật Mật Tông[1] vốn có một đoạn trong Trì Tụng Những Danh Tự Của Văn Thù Sư Lợi Mật Tông[2]:

 

Những Đức Phật hoàn thiện sinh khởi từ A.

A là tuyệt đỉnh của những mẫu tự.

 

Từ trong bốn ý nghĩa được liệt kê ở trên, tôi sẽ cho một sự giải thích tổng quát về tuyên bố này. Mẫu tự A là một từ phủ định[3] trong Sanskrit. Nó biểu thị tánh không, vốn là sự vắng mặt, hay phủ định, của sự tồn tại cố hữu. Khi Danh Sách Huyền Thuật Mật Tông nói rằng “Những Đức Phật hoàn thiện sinh khởi từ A”, điều này có nghĩa rằng hiện ra từ trong không gian tự thể[4] của tánh không; hay; đặt vào một cách khác, chư Phật hiện ra từ thiền na tánh không của sự tồn tại cố hữu. Qua việc hành thiền, các phiền não được tiêu trừ trong không gian tự thể của thực tại (tánh không của sự tồn tại cố hữu). Tánh không, biểu tượng bằng A, là chủ đề tối thượng và do thế Danh Sách Huyền Thuật Mật Tông nói, “A là tuyệt đỉnh của những mẫu tự.”

 

Cũng thế, từ quan điểm của Tantra Yoga Tối Thượng, mẫu tự A liên  hệ hạt không thể phá hoại trong thân Phật thành tựu. Trong Tantra Yoga Tối Thượng, Quả Phật sinh khởi bởi tập trung nhất tâm trên hạt không thể phá hoại tại trung tâm của tim. Thân tối hậu của một Đức Phậtbản chất của hạt không thể phá hoại. Điều này bổ sung cho sự thấu hiểu của chúng ta về tuyên bố rằng chư Phật hoàn thiện sinh khởi từ mẫu tự A.

 

Hạt không thế phá hoại[5] là gì?  Nó là sự phối hợp của gió rất vi tế và tâm rất vi tế. Tâm biết những đối tượng, trái lại gió, hay năng lượng nội tại, làm thức liên kết các đối tượng. Vì đây là trường hợp, với một phối hợp của gió và tâm cho nên có những sự thay đổi trong thức.

 

TÂM VÔ THỈ

 

Thức là phi vật chất. Nó không màu sắc hay hình thể hay phẩm chất chướng ngại những thứ vật chất. Thực thể của nó chỉ là rực sáng và tri giác, và khi nó gặp gở những điều kiện nào đó (chẳng hạn như khi một đối tượng hiện diện và một năng lực cảm giác đang thể hiện một cách thích đáng), nó phản chiếu đối tượng đó. Rằng tâm thay đổi từng thời khắc, và xuất hiện trong những khía cạnh khác nhau, cho thấy rằng tâm hoạt động dưới ảnh hưởng khác của các nguyên nhânđiều kiện.

 

 Một tâm sinh khởi trong sự lệ thuộc trên một tâm trước của một loại tương tự, vốn đòi hỏi rằng có một sự tương tự không có bắt đầu trước của tâm. Nếu sự sản sinh một tâm không cần lệ thuộc trên những thời khắc trước của tâm nhưng có thể đúng là được sản sinh một cách không có nguyên nhân, thế thì một tâm có thể được sản sinh bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào, điều đó là vô lý. Tương tự thế, nếu thức không được sản sinh như một sự tương tục của một thực thể thức trước và thay vì thế được sản sinh từ điều gì đó vật chất, hoặc là nó luôn luôn, một cách vô lý, được sản sinh hay nó sẽ không bao giờ được sản sinh, vốn cũng là vô lý. Điều này cho thấy rằng thức là một sự tương tục của một thực thể thức trước.

 

Bởi vì thức được căn cứ trong một thời khắc trước của thức, thì không thể có một sự bắt đầu đối với sự tương tục của nó. Không có sự bắt đầu của thức, và không có sự chấm dứt của nó, vô thỉ và vô chung. Sự tương tục này làm cho có thể có một sự chuyển hóa tâm trong những thể trạng được cải thiện. Khi sự tương tục tinh thần được phối hợp trong những trạng thái bất tịnh, thì trải nghiệm của chúng ta bị giới hạn trong thế giới luân hồi. Khi sự tương tục tinh thần thoát khỏi những trạng thái bất tịnh, thì chúng ta có thể thành tựu niết bàn. Trong cách này, tất cả mọi hiện tượng bất tịnh của luân hồi là biến dị của tâm bất tịnh, những hiện tượng thanh tịnh của niết bàn là biến dị của tâm thanh tịnh.

 

NHỮNG TRẠNG THÁI SAI LẦM CỦA TÂM TÙY THUỘC TRÊN SI MÊ

 

Vì như được nói rằng “Trong tâm, không thể tìm thấy được tâm, bản chất của tâmlinh quang,” những trạng thái bất tịnh chẳng hạn như tham muốnthù oán không phải là một bộ phận của tâm bản nhiên và phải được sản sinh bởi si mê – một thức hiểu sai sự tồn tại cố hữu – hoặc là trong thời khắc hiện tại hay từ một nguồn gốc trước đó. Tất cả những trạng thái sai lầm của tâmthức sai lầm như gốc rể của chúng. Si mê là một mô hình của thức vốn sai lầm tương ứng với đối tượng mà nó chú ý; nó sai về nó; nó không có tri giác có căn cứ như gốc rể của nó.

 

Một sự tỉnh thức sai lầm và một sự tỉnh thức với một nền tảng vững chắc có những cung cách mâu thuẩn với nhau  trong việc thấy rõ các hiện tượng, cho nên thứ này làm tổn hại thứ kia. Khi, trong sự thực hành của chúng ta, chung ta trở nên quen thuộc với những thái độ đúng đắn, thì những trạng thái sai lầm của tâm tự nhiên giảm thiểu cho đến cuối cùng thì chúng bị triệt tiêu.

 

Chính hệ thống của giáo huấn nhà Phật được căn cứ trên sự mâu thuẩn tự nhiên. Chúng ta muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Đau khổchúng ta muốn tránh xuất phát chính yếu từ những thái độ tinh thần, và vì nguồn gốc của nỗi khổ tinh thần là những cảm xúc phiền não hoặc là trực tiếp hay gián tiếp, cho nên chúng ta phải xem xét có bất cứ năng lực nào đối kháng với chúng. Thí dụ, nếu sân hận làm đau khổ, thế thì chúng ta phải tìm ra một năng lực đối trị. Đối với sân hậntừ ái và bi mẫn. Mặc dù và từ ái/ bi mẫn đều là ý thức, cho nên chúng có những cung cách lãnh hội đối kháng với cùng đối tượng. Tương tự thế, nếu một căn phòng là quá nóng, thì không có cách nào làm giảm thiểu sức nóng ngoài việc làm sinh ra hơi lạnh. Giống như nóng và lạnh đối lập nhau, cũng làm như thế với những trạng thái tinh thần, thanh tịnhbất tịnh. Đối với phạm vi ta phát triển thứ này thì thứ kia giảm thiểu. Do vậy, chúng ta có thể loại trừ những trạng thái sai lầm của tâm. Những sự đối trị tồn tại.

 

SỰ PHỐI HỢP CỦA QUY ƯỚC VÀ CỨU KÍNH

 

Tâm tự nó là một chân lý quy ước (thế đế); thực tại của tâm, tánh không sự tồn tại cố hữu của nó, là chân lý cứu kính (chân đế). Hai chân lý này được chứa đựng trong một thực thể không thể tách rời. Giống như có một hợp thể của hai chân lý, quy ước và cứu kính, với sự tương ứng với tâm, cho nên có một hợp thể của hai chân lý với sự tương ứng với mỗi thứ và mỗi đối tượng. Hiện tướng của nó là chân lý quy ước, và tánh không sự tồn tại cố hữu của nó là chân lý cứu kính.

 

Thực tại cuối cùng được biết qua lý luận của duyên sanh. Thí dụ, vì tâm là một thực thể duyên sanh; cho nên tâm là trống rỗng sự tồn tại cố hữu. Khi chúng ta thấu hiểu tánh không qua lý luận duyên sanh, thì chúng ta nhận ra rằng tất cả mọi hiện tượng là những hợp thể duyên sanhtánh không; hiện tướngtánh không được nhận thức như hòa hiệp.

 

Những hiện tướng duyên khởi của các hiện tượng quy ước cung ứng một phạm trù cho giáo huấn từ bi – được gọi là “con đường rộng lớn,” khi có những hiện tướng vô cùng đa dạng. Tánh không của sự tồn tại cố hữu của các hiện tướng cung ứng căn bản cho giáo lý được biết như “con đường thâm sâu”, vì tánh không được biết như bản chất cứu kính của các hiện tượng – hòa bình, thoát khỏi những khái niệm, và của một vị. Qua hành thiền trau dồi hai con đường này – khía cạnh rộng lớn của từ bituệ trí thâm sâu của tánh không – trong một cung cách không thể tách rời, những trạng thái sai lầm của tâm trong sự tương tục của chúng ta trải qua sự chuyển hóa dần dần. Chúng dần dần được tiêu trừ, và những cống hiến tuyệt vời của một tâm thứcthân thể của một Đức Phật hiện ra.

 

Quả Phật được thành tựu qua sự trau dồi phối hợp của cả động cơ và tuệ trí. Tuy nhiên, động cơ và tuệ trí có những dấu ấn tương ứng của chúng trong Quả Phật. Kết quả của việc trau dồi động cơ là Những Thân Thể Sắc Tướng[6] của một Đức Phật, vốn tồn tại  vì lợi ích cát tường của chúng sanh. Dấu ấn của việc trau dồi tuệ tríThân Thể Chân Thật [7]của một Đức Phật, vốn là hoàn thành sự phát triển của chính ta. Hình thức chính của động cơ và tuệ trí là gì? Động cơ chính yếu là một mục tiêu chỉ đạo để trở thành Giác Ngộ, được truyền cảm hứng bởi từ ái và bi mẫn và truyền cảm hứng cho việc thực hiện các hành động từ bi chẳng hạn như bố thí, đạo đức, và nhẫn nhục. Mô thức chính của tuệ trí là một thức thông minh nhận ra tánh không của sự tồn tại cố hữu.

 

*

 

Nền tảng của Phật giáo có ba phương diện. Căn bảnhai chân lý, quy ước và cứu kính. Từ hai chân lý này con đường [tu tập] hiện ra với nhân tố kép của động cơ và tuệ trí, mỗi thứ liên hệ với chân lý tương ứng của nó. Quả phẩm, hay kết quả của việc du hành trên con đường, là việc thực chứng hai thân – Thân Sắc Tướng và Thân Chân Thật của một Đức Phật. Để mang điều này cùng với nhau trên căn bản của hai chân lýquy ước và cứu kính – chúng ta thực hành hai phẩm chất của con đường – động cơ và tuệ trí – vốn đưa chúng ta thành tựu quả phẩm, Thân Thể Sắc tướngChân Thật của một Đức Phật.

 

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

 

1-    Hãy xác định bản chất rực sáng và hiểu biết của tâm, không bị mây mờ bởi các tư tưởng.

2-    Thăm dò bản chất thâm sâu của tâm liên tục để khám phá việc vắng mặt của sự tồn tại cố hữu của nó, tánh không của nó, bằng việc phản chiếu trên sự lệ thuộc của tâm vào các nguyên nhânđiều kiệnlệ thuộc trên những thành phần – kể cả sự kiện rằng bất cứ chiều dài nào của thời gian trải qua trong tâm lệ thuộc vào những thành phần trước đó và sau đó của thời điểm đó.

3-    Hãy cố gắng nhận ra tính tương thích của sự xuất hiện của tâm với tánh không của sự tồn tại cố hữu của nó; hãy thấy vấn đề hai điều hổ tương này sự hổ trợ nhau như thế nào.

 

*

 

Ẩn Tâm Lộ, Wednesday, May 1, 2019



[1] Magical Array Tantra

[2] Repetition of the Names of Manjushri Tantra

[3] Negative particle

[4] Noumenal sphere

[5] Indestructible drop

[6] Báo thânhóa thân

[7] Pháp thân

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 45)
Trong suốt hành trình khám phá chân lý và con đường giải thoát, Phật giáo đã trao cho chúng ta hai chiếc chìa khóa vô giá: Duyên khởi và Tánh không.
(View: 75)
Nghĩ gì về Thầy Tuệ Sỹ? Nếu có ai hỏi như thế, tôi sẽ nói rằng tôi chưa thể hiểu tới một phần rất nhỏ những gì Thầy viết, mặc dù tôi vẫn đọc Thầy đều đặn.
(View: 681)
Hàng năm người Hoa Kỳ dành ngày Thứ Năm trong tuần lễ cuối của tháng Mười Một để cử hành lễ Tạ Ơn. Ngày lễ Tạ Ơn
(View: 645)
Từ thời săn bắn hái lượm con người đã nối kết với nhau để sinh sống, để chống lại thú dữ, để giúp đỡ nhau tạo thành lợi ích chung.
(View: 832)
Hạnh phúc luôn có mặt trong đời sống của chúng ta qua từng phút, từng giây,
(View: 894)
Đôi khi, chỉ một cuộc gặp gỡ tình cờ với một người cũng có thể làm thay đổi toàn bộ hướng đi của cuộc đời ta theo những cách mà ta không thể nào lường trước được.
(View: 1203)
Một kiếp người, dẫu dài hay ngắn, cũng chỉ là hạt bụi nhỏ trong vô tận thời gian.
(View: 1247)
Sự vĩ đại của Phật giáo không chỉ thông qua hình thức về tinh túy của từ bi và trí tuệ được thể hiệnqua Giáo lý duyên sinh – vô ngã.
(View: 1630)
Trong kinh A Na Di, một nhóm Tỳ kheo chưa thấy rõ con đường, lòng còn phân vân trong pháp hành của mình, dù được Thế tôn gợi ý
(View: 1514)
Trời đất vào Thu, sơn hà khoác chiếc áo màu đẹp nhất trong năm. Chiếc áo kỳ diệu của thiên nhiên với muôn hồng nghìn tía, rực rõ sắc màu.
(View: 1917)
Vu-lan là âm Hán Việt, cũng được gọi là Vu-lan-bồn, Ô-lam-bà-na, phiên âm từ Phạn ngữ Avalambana, có nghĩa là bị treo ngược
(View: 1861)
Chánh kiến là một thuật ngữ quan trọng trong Phật giáo, được xếp ở vị trí đầu tiên trong Bát chánh đạo.
(View: 1996)
Quán tưởng vô thường là một trong những nội dung tu tập quan trọng của giáo pháp Thế Tôn.
(View: 1998)
Trong Phật giáo không có thuật ngữ "Quản Trị" theo nghĩa hiện đại, nhưng có các giáo lý và nguyên tắc đạo đức như Giới, Định, Tuệ và tư tưởng vị tha
(View: 2102)
Quán tưởng vô thường là một trong những nội dung tu tập quan trọng của giáo pháp Thế Tôn.
(View: 1906)
Những hành động từ bi, dù nhỏ bé đến đâu, cũng có thể mang lại mục đích và ý nghĩa ngay cả trong những thời điểm đen tối nhất.
(View: 1970)
Tất cả các Pháp Hữu Vi là vô thường! Đó là một sự thật! Cũng là lời di huấn cuối cùng của Đức Bổn Sư dành cho
(View: 2105)
Phước là khi bạn bị tai nạn mà vẫn sống sót, bệnh hiểm mà lại hồi phục, lạc lối mà vẫn được ai đó soi đường. Phước là vốn liếng của đời này, và cả đời sau.
(View: 1864)
Dòng sống, trôi như một dòng sông; đổ xuống như một thác nước.
(View: 1798)
Dòng sống, trôi như một dòng sông; đổ xuống như một thác nước.
(View: 2300)
Trong cuộc sống thế tục, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc qua tiền tài, địa vị, sắc đẹp, danh vọng hay ái ân.
(View: 2275)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc LâmTông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông
(View: 2323)
Mới đọc qua, tựa đề trên của bài viết, chúng tathấy ngay đề tài hơi ngộ ngộ….Nhưng càng đọc – càng thấy rõ thế giới, đang nằm gọn trong lòng chảo lửa mà dầu sôi sùng sụt
(View: 2465)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút danh là Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông.
(View: 2201)
Đạo đứchệ thống những quy tắc, các chuẩn mực xã hộiđể mọi người nương theo, điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích
(View: 2241)
Trong cuộc sống thế tục, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc qua tiền tài, địa vị, sắc đẹp, danh vọng hay ái ân.
(View: 2337)
Cuộc sống đàn ong, bầy kiến nhìn chúng lăng xăng, tưởng chừng chen đạp nhau lộn xộn, thật ra chúng rất có kỷ luật, ngay cả rơi vào nước
(View: 2271)
Trong cái nhìn của thế gian, cái chết là điểm kết thúc. Nhưng dưới ánh sáng Phật pháp, cái chết chỉ là một bước chuyển
(View: 2253)
Trong vòng luân hồi sinh tử vô tận, ái được xem là sợi dây vô hình trói buộc chúng sanh vào đau khổ.
(View: 2198)
Đạo Phật có cả một kho tàng giáo lý đa dạng và thực hành phong phú đáng kinh ngạc để phát triển tình yêu thươngtừ bi tâm
(View: 2367)
Cụm tháp Bạc sừng sững trên đồi cao lộng gió, dưới chân có khúc quanh của dòng sông Côn.
(View: 2180)
Đức Phật có dạy pháp phóng sinh hay không? Trong rất nhiều kinh, Đức Phật đã dạy là hãy yêu thươngvà đừng hại bất kỳ sinh mạng chúng sinh nào.
(View: 3634)
Hàng ngày tôi có thói quen ngồi tọa thiền và sau đó đi kinh hành. Địa điểm đi kinh hành tuyệt vờimay mắn nhất
(View: 4052)
Xa xa tận chân trời, mãi mãi nhìn theo mây trắng bay. Lá vàng rơi lác đác, cuồng cuộn về đến núi rừng. Vào Thu có nhiều, lá vàng, gió Thu thổi ra biển cả.
(View: 2263)
Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các chương trình chánh niệm tại trường học có thể giúp ích, đặc biệt là ở các cộng đồng nghèo, nơi học sinh phải đối mặt với mức độ căng thẳng cao hơn.
(View: 2825)
Trong giáo lý của Đức Thế Tôn, nghiệp (kamma) là một trong những pháp vận hành căn bản chi phối sự tái sinhvà đời sống của chúng sanh trong luân hồi.
(View: 2260)
Phra Ajaan Lee Dhammadharo (1907-1961), là một trong những vị thiền sư theo truyền thống tu khổ hạnh trong rừng.
(View: 2122)
Con Tàu sầm sập lao trong màn đêm đen đặc, thỉnh thoảng vụt qua những thị trấn hay phố xá nhỏ ven đường le lói chút ánh sáng nhạt nhòa.
(View: 2388)
Mùa An cư kiết hạ Phật lịch 2569 - Dương lịch 2025 lại trở về, là cơ hội quý báu để hàng hậu học chúng ta ôn lại lời Phật dạy
(View: 1971)
Hầu như không có ai nghĩ xa hơn thế, nghĩ xa hơn cái chết. Đây là lý do tại sao chúng ta thiển cận và không nghĩ đến việc
(View: 2368)
“Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn, Thiện duyên nan ngộ, Phật quốc nan sanh” là gì ?
(View: 2114)
Thờ Phật không phải là cầu xin ban phúc hay tha tội, vì Ngài không phải thần linh mà là người thầy dạy cách thoát khỏi khổ đau mà chính ngài tìm kiếm, chứng nghiệm.
(View: 2400)
Dòng đời xưa nay vẫn thế, từng đời từng đời nối tiếp nhau, thịnh suy bất định, tụ tán vô kỳ.
(View: 2333)
Minh trong đạo Phậttuệ giác, thấy biết như thật về vạn pháp. Khi thành đạo, Đức Phật chứng Tam minh(Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh).
(View: 2973)
Vesak theo truyền thống gắn liền với sự ra đời, giác ngộnhập Niết bàn của Đức Phật,
(View: 2733)
Bồ Tát Đạocon đường mà vị Bồ Tát phải đi qua. Đây là những giai đoạn mà một vị Bồ Tát kinh qua trên đường giác ngộ.
(View: 2880)
Trong triết lý sống của ông cha ta, có một câu nói nghe qua tưởng nghịch lý nhưng lại ẩn chứa sự minh triết sâu sắc
(View: 3227)
Hiện nay đang ở vào thời mạt thế, xuất hiện nhiều tà sư hướng dẫn Phật tử vào con đường sai lạc. Điều này không phải bây giờ mới có.
(View: 3118)
Bài này được viết với chủ đề ghi lời Đức Phật dạy rằng hãy giữ thân không bệnh, để có thể học và tu pháp giải thoát.
(View: 2831)
Cách đây hơn 2500 năm trước, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng dự ngôn, sau khi Ngài ly thế, cũng chính là vào thời kỳ Mạt pháp thì
Quảng Cáo Bảo Trợ
AZCMENU Cloudbase: Giải pháp TV Menu thông minh, tiện lợi, chuyên nghiệp!
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM