Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Trụ Xứ

Sunday, January 5, 202012:30(View: 5082)
Trụ Xứ

TRỤ XỨ

Mãn Tự

Làm Chủ Sanh Tử 1

Từ khi Đức Như Lai Thế Tôn thị hiện cho đến hiện tại là 2019, theo dòng thời gian tính đếm của thế nhân thì cũng đã gần 2600 năm. Hai ngàn sáu trăm năm, tính theo chung cuộc trung bình là 75 năm cho một kiếp sống của chúng sanhthế giới Ta Bà này thì luân hồi chuyển hóa khoảng gần 35 kiếp. Thật là dài phải không?

Với hiện tượng biến hóa của “tình thức” theo dòng thời gian xô đẩy, việc cũ qua đi, cái mới xuất hiện theo sự vận hành của cộng nghiệp là thành - trụ - hoại - không của thế giới vô thường này, vì vậy nhận thức của nhân gian dù muốn dù không cũng theo đó mà chuyển đổi. Vì không cưỡng lại được dòng thời gian “xô đẩy” nên chúng sanh nhận lấy Hiện tượng làm thật mà quên đi Bản thể. Thế nào là lấy Hiện tượng làm thật mà quên đi Bản thể, đó là vấn đề căn bản nhất ở thế giới Ta Bà này là: Sinh - Lão - Bệnh - Tử. Đối với những nước văn minh giàu có bây giờ thì sinh không còn nguy hiểm với những bà mẹ, vì đã có những kỹ thuật văn minh tiên tiến giúp cho sự sinh được hoàn mỹ. Còn lão thì cũng có viện dưỡng lão giúp cho người già không lo lắng về thực phẩm, mà bệnh cũng vậy, có không biết bao nhiêu loại thuốc để trị liệu cho con người. Còn Tử thì sao? Không một ai giúp được dù đó là gì đi nữa, tuy nhiên có một vài giáo phái phát minh ra phương pháp trợ tử, theo những niềm tin của họ thì làm như vậy giúp cho người chết được đến nơi tốt đẹp?

Sơ lược những điều ở trên để thấy rằng, do đời sống phong phú nên con người chỉ bám đuổi theo Hiện tượng mà quên đi Bản thể. Thế nào là Bản thể - Hiện tượng. Thật ra Bản thểHiện tượng chưa bao giờ rời nhau. Nếu Bản thểHiện tượng chưa bao giờ rời nhau vậy làm thế nào để từ Hiện tượng nhận ra Bản thể? Tất cả chúng sinh hiện hữu trên thế giới này có hai Hiện tượng là bắt đầu và chấm hết, dù là bắt đầu hay chấm hết thì với chúng sinh không một ai làm chủ được hết cũng đừng nghĩ là chấp nhận hay không chấp nhận.

Thế nào là Bản thể: Tất cả Hiện tượng trong thế giới này là: Sắc - Thanh - Hương - Vị - Xúc - Pháp là từ Bản thể biến hiện ra cho đến sinh tử cũng vậy. Vì vậy vị tu hành nhận ra Bản Thể, thấy Bản thể thì Hiện tượng sinh - tử không tồn tại nữa.

Vậy làm thế nào từ Hiện tượng nhận thấy ra Bản thể? Sinh là hiện tượng nếu nhận thấy Sinh Sinhnhận ra Bản thể. Tử là Hiện tượng mà thấy được Tử Tử tức thấy được Bản thể. Vì sao sinh tử gọi là Hiện tượng mà không phải là sự thật? Gọi là Hiện tượng vì không người nào làm chủ được nên là Hiện tượng. Nếu sinh tử là thật thì cũng không có sinh tử, vì sao? Nếu sinh là thật thì không còn sinh nữa, tử cũng vậy, nếu tử là thật thì cũng không còn tử nữa.

Một vài giải thích ở trên để đi vào chính đề của bài viết này là xây dựng lại niềm tin cho giới tu hành, từ Tu sĩ cho tới Cư sĩ về giáo Pháp của Đức Như Lai để lại. Vì tình thức nhận lấy sự chuyển biến của dòng thời gian chung cộng nghiệp nên 2600 năm cũng đủ dài làm cho sự nghi ngờ càng ngày càng rộng ra.

Hiện nay trong thâm tâm giới tu hành, từ Tu sĩ tới Cư sĩ hầu hết đều có những câu hỏi, những nghi ngờ to lớn không thể giải quyết bằng chứng minh thực tại mà chỉ dựa vào niềm tin mà thôi.

Và đây sẽ đưa lên những câu hỏi, những nghi ngờ tiêu biểu trong thâm tâm giới tu hành theo giáo Pháp Đức Thế Tôn Như Lai.

1. Sự nghi ngờ thứ nhất là: Đức Thế Tôn Như Lai đã nhập Niết Bàn hay còn tồn tại?

2.  Có chư vị Bồ Tát - Đại Bồ Tát hay không, nếu có thì chư vị đó ở đâu đang làm gì, có thể thấy biết được không? Tu hành như thế nào để chứng nhập.

3. Thế nào là chánh Pháp, làm thế nào để nhận ra chánh Pháp.

4. Có sự giải thoát của bậc Thanh Văn Duyên Giác? Có sự giác ngộ của chư Đại Bồ Tát?

Thật ra thì có rất nhiều câu hỏi nghi ngờ trong giới tu hành, tuy nhiên ở đây chỉ đưa lên bốn sự nghi ngờ căn bản, cũng mong rằng sự giải đáp trong bài viết này có thể giúp các vị tu hành đang tìm cầu định hướng, củng cố niềm tin vững vàng tinh tiến để tiếp tục đi tới.

Sự nghi ngờ thứ nhất là: Đức Thế Tôn Như Lai đã nhập Niết Bàn hay còn tồn tại. Trước nhất phải hiểu từ Niết Bàn. Niết Bàntừ ngữ của đạo Hindu Đức Thế Tôn phương tiện mượn nó để chỉ cho các vị Tu sĩ Bà La Môn rằng Niết Bàn không phải chỉ là như vậy mà nó còn siêu việt hơn thế nữa.

Niết Bàn có ba tầng cấp độ.

1. Niết Bàn của các vị Ngoại đạo Tu sĩ Bà La Môn.

2. Niết Bàn của các vị Thánh Nhị Thừa Thanh Văn Duyên Giác.

3. Niết Bàn các vị Đại Bồ Tát, chư Như Lai.

Thế nào cảnh giới Niết Bàn của các vị Ngoại đạo Tu sĩ Bà La Môn: Niết Bàn các Ngoại đạoTu sĩ Bà La Môn là trong Tam giới, tức các cõi Trời từ Dục giới, Sắc giới cho đến Vô Sắc giới. Phương Pháp tu tập để được đến các cõi đó là từ Sơ thiền cho đến Cửu thứ đệ Định. Tùy theo định lực mạnh hay yếu, ý thức cộng thêm tưởng, cảnh giới hướng đến, nhờ tập trung cao độ nên khi đắc định thì cảnh giới tưởng hướng đến hiện ra. Nên nhớ các vị Ngoại đạo Tu sĩ Bà La Môn trước khi tu học thì họ được các vị thầy giảng, hay học từ kinh điển hay hình ảnh về các cảnh giới hay các cõi trời, rồi ghi nhận lưu lại làm ấn tượng hướng đến tu tập, nên khi nhập định cảnh giới xuất hiện nên gọi là tưởng, vì sao? Vì Tam giới duy Tâm. Nói chung các Ngoại đạo cùng Tu sĩ Bà La Mônchứng đắc như thế nào thì cũng không ra ngoài cái Tưởng. Vì sao? Vì Tâm lưu trú.

2. Là Niết Bàn của các vị Thánh Nhị Thừa Thanh Văn Duyên Giác.

Niết Bàn của các vị Thánh Nhị Thừatrạng thái tịch tịnh. Trạng thái an lạc tịch tịnh đó do thiền định quán Pháp mà chứng giải thoát trói buộc phiền não. Pháp các vị Thanh Văn tu họcTứ Thánh ĐếBát Chánh Đạo, còn Pháp các vị Duyên GiácThập Nhị Nhân Duyên.

Sự khác biệt giữa thiền định đạo Phật và đạo Hindu Bà La Môn cùng Tu sĩ Ngoại đạo là: các vị Thanh Văn theo Đức Thế Tôn nhờ các Pháp Thế Tôn chỉ dạy mà thiền định tu học, nên khi đắc định thì được giải thoát phiền não trói buộc, Tâm được an lạc tịch tịnh. Còn các vị Ngoại đạo Bà La Môn khi đắc định thì được sanh vào các cảnh giới trong Tam giới. Dù vậy, có một số Ngoại đạo Bà La Môn cũng tu hành thiền định mà không muốn thác sinh vào Tam giới, chỉ mong cầu được tịch tịnh. Tuy nhiên vì không có Pháp, vì nhận nhầm Pháp đoạn diệt nên khởi vọng tưởng xóa hết cái nhân giác tri, cho tất cả hư vô như thỏ không sừng. Do khởi Tâm tu hành sai lầm nên kết quả thành vô tri vô giácVô Tưởng Thiên là nơi đến.

Các vị Thánh Nhị Thừa dù được Niết Bàn tịch tịnh an lạc, tuy nhiên Niết Bàn đó không phải là rốt ráo vì không chuyển được Thức thành Trí nên còn hai cái chấp.

Một là: Chấp tướng đắc tự giác Thánh Trí sai biệt.

Hai là: Tướng so sánh chấp trước tánh vọng tưởng của tự tánh.

Thế nào là tánh “Đắc tự giác Thánh Trí sai biệt” của thừa Thanh Văn. Hãy suy ngẫm đoạn Kinh Lăng Già Đức Thế Tôn Như Lai chỉ ra: “Ấy là cảnh giới chơn Đế, vô thường, khổ, không, vô ngã, lìa dục, tịch diệt, dứt ấm, giới, nhập, tự cộng tướng, ngoài bất hoại tướng, như thật biết Tâm được tịch lặng. Tâm tịch xong được thiền định giải thoát tam muội đạo quả”. Tuy nhiên chánh thọ giải thoát ấy chẳng lìa biến dịch sanh tử bất tư nghị.

Thế nào là so sánh chấp trước tánh vọng tưởng tự tánh: ấy là đại chủng xanh, vàng, đỏ, trắng, địa, thủy, hỏa, phong, chẳng do tạo tác mà sanh tự tướng cộng tướng, tuy nhiên các vị Nhị Thừa không nhận ra đó chỉ là phương tiện của Đức Thế Tôn thuyết, chư vị Thanh Văn do đó khởi tự tánh vọng tưởng. Ấy gọi là tướng so sánh chấp trước, tánh tự tánh vọng tưởng của thừa Thanh Văn.

Tóm lại Niết Bàn chứng đắc của Nhị Thừakhông thật vì sự an lạc tịch tịnh đó chỉ là cái thức lặng dừng chứ không chuyển được cái Thức thành Trí.

3. Niết Bàn chư vị Đại Bồ Tát, chư Như Lai.

Không như Niết Bàn Ngoại đạo cùng Nhị Thừa vì cả hai còn trong vòng nhị nguyên đối đãi. Ngoại đạo thì từ nơi này đến nơi kia còn Nhị Thừa thì chỉ thích tịch tịnh, không ưa náo động.

Còn thế nào là Niết Bàn chư vị Đại Bồ Tát: đó là Niết Bàn không “dấu vết”, vì sao không dấu vết? Vì “Pháp Pháp trí tuệ, niệm niệm Niết Bàn”. Do trí tuệ chiếu trên Pháp Pháp nên Niệm Niệm thanh tịnh. Vì niệm niệm thanh tịnh nên gọi Niết Bàn (nên nhớ Niết Bàn chỉ là danh tự mà thôi)

Thế nào là Pháp Pháp trí tuệ. Đó là Phàm Phu Pháp (hay thế gian pháp), Nhị Thừa Pháp, Bồ Tát Pháp. Trong hai Pháp là thế gian PhápBồ Tát Pháp bất ly, bất nhịPhật Pháp bất ly thế gian Pháp, còn Pháp Nhị Thừa thì đứng riêng. Đối với thế gian thì các vị Nhị Thừa không chấp nhận vì nó phiền não ồn náo, còn đối với Bồ Tát Pháp thì không mong cầu vì các vị Nhị Thừa đã thỏa mãn những gì đã chứng đắc và bằng lòng an trú ở đó. Đối với các ngài ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Thượng Bồ Đề, độ tận chúng sanh không phải là việc của các ngài.

Ở trên giải thích một ít về danh từ Niết Bàn. Bây giờ nói về Niết Bàn không dấu vết: Trong Kinh Lăng Già, bài kệ tán thán Đức Như Lai của ngài Đại Huệ Bồ Tát có một đoạn nói về Niết Bàn như thế này: “Niết Bàn chẳng thể lập. Chẳng có Niết Bàn Phật. Chẳng có Phật Niết Bàn. Lìa năng giác sở giác. Hoặc có hoặc không có. Cả hai thảy đều lìa”.

  Bài kệ ở trên cho thấy rằng Niết Bàn là một trong trạng thái mà người tu hành Bồ Tát tự chứng ngộ trong Tâm, chứ không phải một nơi chốn nào đó mà cần phải đi đến. Với hầu hết trong giới tu hànhquan niệm lệch lạc là khi chết mới nhập Niết Bàn. Vậy Đức Thế Tôn khi giác ngộthời gian 45 năm thuyết Pháp độ sinh thì gọi là gì? Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn có vị Bồ Tát hỏi về cảnh giới Niết Bàn thì Đức Thế Tôn trả lời: “Thân ta chính là Niết Bàn” còn đối với chúng sanh không hiểu về Niết Bàn như Ma Vương Ba Tuần thì Thế Tôn nói khác khi yêu cầu ngài nhập Niết Bàn.

“Chẳng có Niết Bàn Phật, chẳng có Phật Niết Bàn”. Vì vậy chư Thế Tôn, chư Đại Bồ Tát không nhập Niết Bàn. Vậy nếu các vị không nhập Niết Bàn thì đang ở đâu? Làm gì? Có thể thấy biết được không? Trước khi trả lời những nghi ngờ của giới tu hành, ở đây xin nói trước là những câu trả lời không phải tất cả mọi trình độ đều nhận được mà phải là giới tính hoa thật Tâm tu hành nhiều năm công phu mới nắm bắt được, vì đã ra ngoài sự nhận thức sáu căn, sáu trần. Thêm nữa cũng có những từ ngữ như “có và không” tuy nhiên có, không đó không ở trong nhị nguyên. Có, Không nhị nguyên được thành lập bởi lục căn, lục trần. Vì vậy khi trần hiện thì gọi là có, khi trần diệt thì gọi là không, mà sau đây cũng dùng từ có, không tuy nhiên nghĩa thì nằm ngoài căn, trần, thức.

Sự nghi ngờ đặt lên câu hỏi là: “có chư Như Lai, chư vị Đại Bồ Tát hay không” xin trả lời xác quyết là “Có”. Nói là có, vậy chư vị đó ở đâu? Có thấy được không? Có thể gặp được không? “Chắc chắn là thấy được gặp được”. Nói là “có” là “gặp được là thấy được”, vì sao? Vì chư vị đó chưa bao giờ rời chúng sanh. Nếu chư vị đó mà rời chúng sanh thì những lời “nguyện” độ tận chúng sanh trong Kinh thành ra hí luận.

Để gặp chư Như Lai, chư Đại Bồ Tát cùng Trụ Xứ của các ngài thì vị hành giả đó phải đầy đủ trang nghiêm hai cấp độ của hai Pháp: Hai Pháp đó là:

Một là: Thấy như thật thực tướng của “Sắc”.

Hai là: Phải chứng “Ngộ” bất nhị Pháp môn.

Như thế nào là thấy thực tướng của “Sắc”. Chữ Sắc này nói chung là sắc tướng của vạn hữu, vạn Pháp trong Pháp giới được thấy bằng mắt, tuy nhiên cái thấy đó không trung thực đối với hầu hết người thế gian. Vì sao?  Vì một đứng một chuyển hay vì một chữ “nhớ” hay “chấp giữ” nên thấy không trung thực thật tướng của sắc.

Vậy thế nào là “thực tướng” của Sắc? Không nói được. Vì nói ra được thì nó không còn là nó nữa mà chỉ là danh, tướng, phân biệt mà thôi. Câu thần chú “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” trong Bát Nhã Tâm Kinh là mở đầu cho tiến trình tu hành để chứng được “thực tướng của sắc”

Để thấy được thực tướng của sắc vị hành giả tu hành phải vượt qua bốn tiến trình từ thô đến tế:

Tiến trình thứ nhất là: Phân đoạn vô thường. Phân đoạn vô thường có nghĩa là căn đối cảnh hay căn trần. Vị đó phải thấy được, chứng được sự vô thường sinh diệt của vạn Pháp.

Tiến trình thứ hai là: Tâm thức vô thường. Tâm thức vô thường có nghĩa là nhận ra sự vận hành dòng Tâm thức do chấp thủ căn – trần mà có.

Tiến trình thứ ba là: Biến dịch vô thường. Biến dịch vô thường có nghĩa là nhận ra Tâm và cảnh bất ly, vì Tâm do cảnh mà khởi, còn cảnh do Tâm mà hiện. Về Thiền Tông, không nhớ là vị Tổ thứ ba hay thứ tư, có câu nói “Cảnh duyên không tốt xấu - Tốt xấu vốn tại Tâm” là như vậy.

Tiến trình thứ tư là: Khi vị hành giả vượt qua ba cấp độ ở trên đến tiến trình thứ tư là thực hiện Hạnh độ sanh tạo cơ duyên đến lúc đúng thời cơ thì “Ngộ” ra thấy được “Thực tướng” của Sắc. Thấy thực tướng của Sắc thì phải tự Ngộ, không ai dạy được hết, cho đến Đức Thế Tôn Như Lai cũng vậy. Đức Thế Tôn chỉ cho chúng ta thực tướng của Sắc là “Không tức thị sắc” còn thấy được hay không là phần Hành Giả.

Mãn Tự
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 168)
Các học giả tranh luận liệu những lời dạy của Đức Phật được lưu giữ trong kinh điển Pāli có thể được coi là triết học hay không,
(View: 321)
Ở đời không ai mong cầu giải thoát khi đang ở trong lầu son hạnh phúc. Người ta chỉ muốn được giải thoát khi bị nhốt trong hoàn cảnh bi đát nào đó.
(View: 304)
Chúng sinh tuy bình đẳng nhưng căn tính bất đồng. Bình đẳng trên chân lý không phải là mọi người ngang hàng bằng nhau.
(View: 362)
Đạo Phật là đạo giác ngộ, có nguồn gốc từ Ấn Độ, do Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhārtha Gautama) hình thành và sáng lập.
(View: 300)
Hồi đó, khi Đức Phật cùng với Tăng đoàn du hóa tại nước Xá-vệ thì có rất nhiều người trẻ đã phát tâm đi tu. Tôn giả A-nan được giao trách nhiệm...
(View: 429)
Trí Tuệ Bát Nhã, thần thông quảng đại, nhận thức được thực tướng của vạn Pháp. Trí Tuệ (wisdom) bao gồm cả kiến thức bác học, kiến giác, chứng nghiệm, tâm lý, tâm linh...
(View: 381)
Tôi xin dùng lý luận khoa học cùng triết lý nhân văn để giải thích những điều tâm linh của Phật Giáo.
(View: 641)
Hình ảnh Thầy Minh Tuệ xuất hiện trên các mạng xã hội y hệt như một trận bão truyền thông, làm dâng tràn những cảm xúc và suy tưởng.
(View: 388)
Hôm nay chúng ta bắt đầu nghiên cứu chương thứ hai, bàn về những sự thực hành kham khổ, tức là các phương pháp đầu đà.
(View: 362)
Như Lai được định nghĩa trực tiếp ba lần trong Kinh Kim Cương bát nhã ba la mật. Ba lần ấy được nói đến theo thứ tự như sau:
(View: 421)
Kinh Lăng-già tên gọi đầy đủ là Thể Nhập Chánh PhápLăng-già, cuối chương १० सगाथकम्। (10-sagāthakam), biên tập bởi Nanjō Bunyū 南條文雄 (laṅkāvatāra sūtra, kyoto, 1923)
(View: 597)
Bước đầu tiên để bước vào con đường Phật giáo là quy y Tam Bảo, và viên ngọc đầu tiên trong ba viên ngọc mà chúng ta tiếp cận để quy y là Đức Phật, Đấng Giác Ngộ.
(View: 590)
Đạo Phật là đạo của bi trí dũng. Đạo của trí tuệ, của chánh biến tri, và chánh tri kiến chứ không phải không thấy mà tin tưởng mù quáng.
(View: 444)
Phân biệt phước đức và công đứccần thiết cho việc học và hành đạo Phật.
(View: 462)
Sơ quả hay Tu-đà-hoàn là quả vị Thánh đầu tiên mà người Phật tử có thể chứng đạt ngay hiện đời.
(View: 519)
Cuộc đời và công việc của Bồ tát được nói trong phần cuối đoạn Đồng tử Thiện Tài gặp đức Di Lặc.
(View: 614)
Trong khi các tín ngưỡng về nghiệp và tái sinhphổ biến vào thời của Đức Phật,
(View: 769)
Đây là ba phạm trù nghĩa lý đặc trưng để bảo chứng nhận diện ra những lời dạy của đức Đạo sư một cách chính xác mà không
(View: 663)
Đi vào Pháp giới Hoa nghiêmđi vào bằng bồ đề tâm thanh tịnh và được cụ thể hóa bằng nguyện và hạnh.
(View: 498)
Nhị đế là từ được qui kết từ các Thánh đế (āryasatayā) qua nhân quả Khổ-Tập gọi là Tục đế
(View: 624)
Quí vị không giữ giới luật có thể không làm hại người khác, nhưng thương tổn tự tánh cuả chính mình.
(View: 729)
Lầu các của Đức Di Lặc tượng trưng cho toàn bộ pháp giới của Phật Tỳ Lô Giá Na; lầu các ấy có tên là Tỳ Lô Giá Na Đại Trang Nghiêm.
(View: 831)
Trong kinh Duy Thức thuộc tạng kinh phát triển, để chỉ cho sự huân tập thành khối nghiệp lực (A Lại Da Thức và Mạc Na Thức,)
(View: 669)
Tín ngưỡng Dược Sư với đại diệnthế giới Lưu ly nằm ở phương Đông mà nó tương tự với các cõi Tịnh độ khác, đều dùng việc
(View: 763)
Hai câu hỏi hiện lên trong đầu tôi khi nghĩ về giáo lý vô thường liên quan đến cuộc đời tôi.
(View: 971)
Lôgic học là một ngành học có mục đích xác định các quy tắc vận hành của tư duy để tìm kiếm sự thực.
(View: 842)
Trong quá trình hình thành và phát triển xã hội, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc, thỏa mãn nhu cầu về vật chấttinh thần.
(View: 845)
Tuệ là trí tuệ tức cái biết, thức là nhận thức cũng là cái biết. Cả hai đều là cái biết nhưng có đặc điểm khác nhau.
(View: 960)
Khái niệm Niết-bàn vốn thành hình cách đây hơn 2500 năm. Các học giả và các triết gia khác nhau
(View: 1137)
Ở trên là hai câu đầu trong bài kệ Lục Tổ Huệ Năng khai thị nhân bài kệ của thiền sư Ngọa Luân. Câu chuyện được thuật lại trong Pháp Bảo Đàn Kinh, phẩm Cơ Duyên thứ 7.
(View: 1252)
Chữ “Tăng đoàn” là một thuật ngữ tiếng Phạn, có nghĩa là “cộng đồng” và được sử dụng chủ yếu để chỉ những tín đồ đã xuất gia của Đức Phật,
(View: 1272)
Tóm tắt: Phật giáotôn giáo được biết đến như một hệ thống triết học mang đậm chất tư duy, trí tuệ cùng giá trị đạo đức cao.
(View: 1178)
Mỗi người hiểu về nghiệp theo mỗi kiểu khác nhau tùy vào nhận thức và trải nghiệm bản thân, nhưng phần lớn vẫn chịu ảnh hưởng của cách hiểu trong dân gian về khái niệm của từ này.
(View: 1054)
Từ ngàn xưa cho đến thời điểm xã hội phát triển mạnh mẽ về mọi mặt như hiện nay, mặc dù nền văn minh có bước tiến bộ vượt bậc
(View: 1029)
iáo lý Duyên khởi được xem như chiếc chìa khóa mở ra kho tàng pháp bảo Phật giáo, vì có thể giải quyết những vấn đề của khổ đau, cả sự sanh ra hay chết đi của con người.
(View: 1033)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh tập thứ 14. Kinh văn số 550 gồm 12 quyển. Chữ Hán từ trang 865 đến trang 894, gồm tất cả 29 trang.
(View: 1163)
Những nhu cầu của con người sinh học thì giản dị, khi đói chỉ mong được ăn, khi khát mong được uống, khi mệt mong được nằm,
(View: 1173)
Khi thân thể tiều tụy chỉ còn da bọc xương, những khổ thọ chết người đều đã trải qua,
(View: 1330)
Trong quá trình thuyết giáo của đức Phật, những lời dạy của Ngài không được lưu giữ dưới dạng văn bản chữ viết
(View: 1025)
Nhân ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những vị tông sư hoằng truyền luật học Phật giáo thời cận đại,
(View: 944)
Hành giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải chọn lựa pháp môn nào cho thích hợp với căn cơ của mình
(View: 1070)
Trọng tâm của triết học Phật giáohọc thuyết nổi tiếng về tính không - rằng tất cả chúng sinhhiện tượng đều trống rỗng về bản chất hay bản chất cố hữu.
(View: 1204)
Vô phân biệt được nói đến nhiều lần trong Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật.
(View: 1077)
Theo lý Duyên Khởi của đạo Phật, tất cả vạn hữu vũ trụ được hình thành do yếu tố hòa hiệp của nhơn duyên và sẽ đi đến phân ly do duyên tan rã.
(View: 1049)
Cuộc chiến đấu mới–Sau khi Đức Phật nhập diệt, hình bóng của ngài vẫn hiện ra trong hàng thế kỷ trong một hang động–một hình bóng rất lớn
(View: 1183)
Như Nietzsche khuyên răn chúng ta hãy lại bắt đầu học làm mới bằng cách để ý đến những việc ‘tầm thường’ và sự vận hành của ‘thân’ để xác định
(View: 1194)
Tôi nghĩ là làm một việc có lý khi bác bỏ tuyên bố của Nietzsche rằng đạo Phật là một dạng của ‘thuyết hư vô thụ động,’ rằng đạo Phật truyền dạy
(View: 1169)
Đặt vấn đề có phải đạo Phật là một dạng của ‘Chủ thuyết hư vô thụ động’ có nghĩa là đặt vấn đề liệu summum bonum[1] của đạo Phật,
(View: 1216)
Dù có nhiều tác phẩm đa dạng về Phật học thích dụng ở Châu Âu thời kỳ trước Nietzsche,
(View: 1252)
Nhân ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những vị tông sư hoằng truyền luật học Phật giáo thời cận đại,
(View: 1249)
Hành giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải chọn lựa pháp môn nào
(View: 1437)
Cửa vào bất nhị, còn gọi là pháp môn bất nhị, từ xa xưa đã được truyền dạy từ thời Đức Phật, chứ không phải là hậu tác của chư tổ Bắc Tông,
(View: 1324)
Tinh thần hòa hiệp là ý nghĩa sống lành mạnh an vui, tinh thần của một khối người biết tôn trọng ý niệm tự tồn, và xây dựng vươn cao trong ý chí hướng thượng.
(View: 2277)
Xuất xứ của Bát Chánh Đạo có hai nguồn là nguồn từ Phật chứng ngộ mà thuyết ra và nguồn được kết tập lại từ các kinh điển
(View: 1437)
Tam tam-muội là chỉ cho ba loại định, tức là ba loại pháp môn quán hành của Phật giáo, được xem như là nguyên lý thực tiễn của Thiền định.
(View: 1549)
Tôi kính lễ bái bậc Chánh giác, bậc tối thắng trong hết thảy các nhà thuyết pháp, đã thuyết giảng Duyên khởibất diệtbất sinh,
(View: 1265)
Thay vì tìm hiểu nguồn gốc tại sao phải chịu luân hồi sinh tử, con người không ngừng tìm kiếm căn nguyên của vũ trụ vạn vật, nơi mình sinh ra;
(View: 1589)
Khi Thái tử Tất-đạt-đa nhận thấy tất cả mọi người dân đang chìm trong đau khổ, và ngay chính bản thân mình rồi cũng phải chịu qui luật già, bệnh, chết
(View: 1455)
Danh từ nghiệp hay karma (skt.) được đề cập thường xuyên trong các luận giải về tư tưởng triết họctôn giáo Ấn-độ.
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant