Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
18,611,845

Theo Dấu Chân Phật

Monday, March 9, 202007:25(View: 288)
Theo Dấu Chân Phật

THEO DẤU CHÂN PHẬT

Orgyen Tobgyal Rinpoche giảng ở Shravasti 20 tháng 3 năm 2015[1]
Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ

Theo Dấu Chân Phật

 

Tháng 3 năm 2015, Orgyen Tobgyal Rinpoche[2] lại một lần nữa đi hành hương quanh một vài trong số những địa điểm linh thiêng quan trọng nhất của Ấn Độ; duy nhất lần này với tư cách một người cố vấn cho Sogyal Rinpoche và một nhóm các đệ tử Rigpa.

Đó là một buổi sáng rực rỡ và là ngày cuối cùng trong chuyến hành hương, khi mà chúng tôi trải qua ở Vườn Cấp Cô Độc, địa điểm mà Đấng Giác Ngộ đã lưu lại lâu nhất. Vì thế, dĩ nhiên, nói về Giáo Pháp được xem là đặc biệt cát tường và Rinpoche không bỏ lỡ cơ hội quý báu này. Ở đó, Ngài nói với chúng tôi, bằng sự thẳng thắn như thường lệ, thực sự hành trì nghĩa là gì và cách thức chúng ta cần đảm bảo rằng chúng ta tiếp cận thực hành Giáo Pháp. Một chuyến đi lưu động về Giáo Pháp, quá khứ, hiện tại và tương lai.

 

1. SHRAVASTI (XÁ VỆ)

Hôm nay, chúng ta đều đã đến Vườn Cấp Cô Độc ở thành Xá Vệ, Ấn Độ, vùng đất của chư Thánh giả, nơi đã được cúng dường lên Đức Phật. Đức Phật chỉ luôn làm lợi lạc hữu tình chúng sinh và vẫn luôn hoàn thành lợi lạc đó trong ba vô lượng kiếp, kể từ khi Ngài hình thành tâm giác ngộ quý báu cho đến khi Ngài đạt giác ngộ viên mãn. Tất cả những gì Ngài làm là giúp đỡ chúng sinh khác, điều mà nói thì dễ, nhưng nếu bạn thực sự suy nghĩ về ý nghĩa, điều đó vô cùng bao lasâu xa. Tại sao lại dễ? Bạn chỉ nói vài lời, “Phật giác ngộ viên mãn đã hoàn thiện các tích lũytiêu trừ các che chướng trong ba vô lượng kiếp để đạt giác ngộ”. Thật dễ dàng, phải vậy không? Nhưng bây giờ, hãy suy ngẫm về điều đó. Trước tiên, hãy tưởng tượng chiều dài của một Kalpa hay kiếp. Sau đó, nhân lên ba ‘vô lượng kiếp’ và bạn sẽ biết khoảng thời gianĐức Phật đã dùng để nỗ lựcgiác ngộ. Ngài không phải chỉ đơn thuần lang thang khắp nơi trong luân hồi. Được thúc đẩy bởi lòng bi, Ngài hành động để làm lợi lạc hữu tình chúng sinh, để chăm lo cho sự an lành của họ, chủ yếu bằng cách hoàn thiện sáu ba la mậtbố thí và v.v. Mặt khác, chúng ta thì cứ lang thang và lang thang …

Đầu tiên trong sáu ba la mậtbố thí. Vậy thì Đức Phật đã hoàn thiện bố thí như thế nào? Ví dụ, Ngài chặt đầu rồi cúng dường nó; sau đấy, Ngài chặt các chi, móc mắt và cũng cúng dường chúng. Đây là một thực hành rất khó, tuy nhiên, Ngài đã làm thế nhiều lần hơn những gì chúng tathể tính đếm. Và đây là cách mà Ngài hoàn thiện tất cả sáu ba la mật, luôn luôn được thúc đẩy bởi mong ước làm lợi lạc hữu tình chúng sinh. Đấy chính là hoạt động đưa Ngài đến sự thành tựu giác ngộ.

Khi tiến hành một nhiệm vụ, trước tiên, chúng ta đặt ra mục tiêu, sau đấy, hoàn thành nhiệm vụ đó. Giống như vậy, Đức Phật đã hoàn thành một đại dương các hoạt động Bồ Tát vì lợi ích của mọi hữu tình chúng sinh bao la như hư không và kết quả là Ngài đạt giác ngộ. Khi bạn đầu tư thời gian trong việc kinh doanh thế tục, kết quả là bạn trở nên giàu có hơn. Kết quả của đại dương các hoạt động Bồ TátĐức Phật đã hoàn thành khi là một Bồ Tátcông đức bao la không thể nghĩ bàn của một Bậc Giác Ngộ. ‘Công đức bao la không thể nghĩ bàn của một Bậc Giác Ngộ’ là kiểu công đức như thế nào? Đó là kiểu công đức mà Ngài có thể đem đến lợi lạc cho tất cả hữu tình chúng sinh. Ngài làm thế như thế nào? Ngài điều phục hữu tình chúng sinh bằng công đức lớn lao của thân và khẩu và sự bình đẳng lớn lao của ý giác ngộ và với những phẩm tính và hoạt động giác ngộ vĩ đại của Ngài. Năm điều này được gọi là Năm Bánh Xe Không Vơi Cạn Của Những Sức Trang Hoàng[3]. Với Đức Phật, chúng không bao giờ biến mất và không bao giờ kết thúc. Nhưng với hữu tình chúng sinh, đôi lúc chúng xuất hiện, đôi lúc thì không. Đôi lúc, chúng giúp đỡ chúng sinh, đôi lúc lại không, tùy thuộc vào các cá nhân liên quan và những thời điểm. Nó giống như mặt trời và trăng. Chúng luôn luôn trên bầu trời, nhưng đôi lúc chúng ta thấy chúng và lúc khác thì không. Một vị Phật hoàn thành lợi lạc của hữu tình chúng sinh bằng cách hóa hiện thân giác ngộ, bằng cách chuyển Pháp Luân với khẩu giác ngộ, bằng cách an trú ý giác ngộ trong sự cân bằng thiền định của đại bình đẳng và nhờ sự toàn tri bằng cách thấy tất cả chúng sinh. Và đó là điều Ngài làm trong hai mươi lăm mùa an cư mà Ngài lưu lại chính khu vườn này ở Xá Vệ. Dĩ nhiên, thêm vào đó, Ngài đã hiển bày tất cả các phẩm tính và hoạt động giác ngộ.

Việc Đức Phật dành thời gian ở đây vô cùng ý nghĩa. Theo những giáo lý của Thanh Văn thừa, một khoảnh đất mà trên đó, chỉ một bàn chân của Phật dẫm lên cũng cực kỳ linh thiêng. Vì thế, ở một nơi như chốn này, nơi mà Ngài đã sống hai mươi lăm năm, việc chúng ta nghĩ về Ngài và thọ nhận ân phước gia trì của Ngài thậm chí còn quan trọng hơn nhiều. Những môn đồ của Đại thừa và nhiều Kinh điển như Bát Nhã Ba La Mật Kinh miêu tả thế giới là có bốn lục địa và quan điểm này vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Quan điểm của Kim Cương thừa Mật chú Bí mật là mọi thứ xuất hiện đơn giản là sự hiển bày tự nhiên của trí tuệ nguyên sơ như được nhìn nhận bởi Đức Phật – nghĩa là mọi thứ xuất hiện không có chút bất tịnh, mà hoàn toàn thanh tịnh. Bởi bất tịnh là không thể, đàn tràng tự nhiên xuất hiện của trí tuệ nguyên sơ là cõi Tịnh độ Akanishtha với năm sự hoàn hảo. Và Akanishtha ở đây, ngay bây giờ. Đó là nơi chúng ta đang ở.

Chúng ta cực kỳ may mắn khi có cơ hội được đến một nơi như vậy và bởi chúng ta đang ở đây, chúng ta cực kỳ phước báu khi có cơ hội nói về Giáo Pháp.

2. CÁCH THỨC LÀ MỘT HÀNH GIẢ GIÁO PHÁP

Đầu tiên, chúng ta cần thừa nhận với bản thân rằng chúng ta là những hành giả Giáo Pháp. Trong thế giới này, có hai kiểu người: những người đồng thuận với Giáo Pháp và những người không. Điều mà chúng ta cần làm là nghĩ rằng, “Tôi là một hành giả Giáo Pháp”.

Ngày nay, có nhiều kiểu giáo lý phổ biến. Một trong số chúng, điều mà chúng ta đi theo, là giáo lý của Đức Phật. Trong nhiều cách tiếp cận mà Phật Pháp cung cấp, chúng ta đi theo cách tiếp cận Tây Tạng, điều không thấy xung đột nào giữa ba thừa và vì thế, thực hành cả ba cùng nhau. Nếu bạn không chắc chắn rằng bạn là một hành giả Giáo Pháp và nếu bạn không thừa nhận rằng bạn là một hành giả Giáo Pháp, chẳng điều gì giúp ích. Bạn có thể trông giống một hành giả Giáo Pháp, nhưng bạn sẽ không phải. Vì thế, hãy thừa nhận điều đó. Hãy cẩn thận suy nghĩ, để kiểm tra xem liệu điều đó có đúng không, sau đấy, thừa nhận với bản thân, “Tôi là một hành giả Giáo Pháp”. Làm vậy thì cực kỳ lợi lạc và thực sự giúp bạn từ bỏ các hành động tiêu cực. Nó cũng hữu ích nếu bạn cố gắng hoàn thành mười hành động tích cực [tức thập thiện]. Thực sự, nghĩ rằng “Tôi là một hành giả Giáo Pháp” đem đến lợi lạc lớn lao. Ngay cả khi bạn không tin tưởng tuyệt đối, nghĩ rằng bạn là một hành giả Giáo Pháp chắc chắn sẽ hữu ích. Khoảnh khắc bạn hành xử tiêu cực – và mọi người đôi lúc đều mắc lỗi – bạn sẽ có thể hối hận về điều đó. Nhưng ngay cả khi bạn không, hãy hoan hỷ và tha thiết xem bản thân là một hành giả Giáo Pháp để bạn sẽ trở thành kiểu người không bao giờ hành xử tiêu cực. Bất cứ điều gì xảy ra, bạn sẽ biết điều cần làm và điều cần tránh. Do đó, hãy bắt đầu nghĩ về bản thân là một hành giả Giáo Pháp.

Vì vậy, chúng ta cần trao cho Giáo Pháp tầm quan trọng thích đáng trong cuộc đời chúng ta. Điểm chính yếuGiáo Pháp làm lợi lạc chúng sinh khác, điều nghĩa là bạn không chỉ nghĩ về bản thân, mà còn hành động vì lợi lạc của mọi hữu tình chúng sinh. Sau đấy, với động cơ này, hãy thực hành Giáo Pháp càng nhiều càng tốt.

Điều hôm nay tôi muốn nói là về thực hành Giáo Pháp, chúng ta đôi lúc tham gia vào các hoạt động Giáo Pháp như một cách khoe mẽ, để chúng ta có thể khoe khoang về sự hành trì của bản thân, lấy ví dụ. Kiểu hoạt động này không đem đến nhiều lợi lạc. Giáo Pháp phải được áp dụng vào tâm. Chỉ khi Giáo Pháp thực sự hòa quyện hoàn toàn với tâm thì bạn mới là một hành giả Giáo Pháp chân chính.

Tất cả chư đạo sư uyên bácthành tựu, bắt đầu từ Đức Phật, đều nói điều tương tự: Mục đích của Giáo PhápGiáo Pháp điều phục tâm của mỗi cá nhân. Điều này cực kỳ quan trọng. Thực hành Giáo Pháp trong một trăm năm nhưng chẳng thấy sự thay đổi nào trong tâm là lãng phí thời gian. Các hoạt động tích cực, chẳng hạn lễ lạycúng dường, v.v. sẽ đem đến kết quả trong tương lai.

3. XẢ LY

Nếu bạn muốn hòa nhập những giáo lý này vào tâm, điều đầu tiên bạn phải suy nghĩ là “Tôi muốn được giải thoát khỏi luân hồi”. Đó là bước then chốt đầu tiên. Không có kiểu Phật quả nào có thể đạt được khi chúng ta duy trì trong luân hồi, đấy là lý do các giáo lý nói với chúng ta rất rõ ràng rằng xả ly – phát triển tâm xả ly – là một trong những bước quan trọng nhất trên con đường đến giác ngộ. Và bởi chúng ta cần cảm thấy sự xả ly chân chính, chúng ta cần quán chiếu về các khổ đau của luân hồi. Bằng cách suy nghĩ về việc có bao nhiêu khổ đau trong luân hồi, xả ly chắc chắn sẽ sinh khởi trong tâm bạn. Các giáo lý bổ sung rằng sự xả ly của chúng ta không nên giả tạo. Chúng ta cần trưởng dưỡng một nhận thức xả ly tự nhiên.

Bằng cách nào? Hãy bắt đầu bằng việc tạo ra sự xả ly. Hãy quán chiếu về các khổ đau của luân hồi. Cuối cùng, bạn sẽ thấy rằng trong luân hồi, chẳng có gì khác ngoài khổ đau. Hãy nghĩ về điều đó và tạo ra nhận thức đó trong tâm bạn. Nhờ sức mạnh của việc tạo ra nhận thức xả ly đó nhiều lần, một lúc nào đó, sự xả ly tự nhiên sẽ khởi lên. Đó là một trong những điểm quan trọng của con đường. Và dù bạn đi theo cách tiếp cận nào trong những cách tiếp cận ba thừa Giáo Pháp, bạn đều phải có sự xả ly. Đó là điều tuyệt đối quan trọng.

4. BỒ ĐỀ TÂM

Khi bạn đã thiết lập sự xả ly, cách tiếp cận tốt nhất và mạnh mẽ nhất để giải thoát bản thânchúng sinh khác khỏi luân hồiBồ đề tâm. Bồ đề tâm có hai khía cạnh: Bồ đề tâm nguyện và Bồ đề tâm hạnh – các bạn đều biết điều này. Đó là Bồ đề tâm.

Có ba cách tiếp cận để thực hành Bồ đề tâm dành cho những vị thượng, trung và hạ căn. Bạn có thể đạt giác ngộ trước, sau đấy đem mọi hữu tình chúng sinh đến giác ngộ sau bạn; hoặc bạn có thể làm cả hai cùng nhau bằng cách thực hành để đạt giác ngộ cho bản thân trong khi hành động để đem mọi hữu tình chúng sinh đến giác ngộ cùng bạn. Hoặc có cách tiếp cận của việc đưa mọi hữu tình chúng sinh đến giác ngộ trước bạn và chỉ khi vị cuối cùng đạt giác ngộ, thì bản thân bạn mới đạt trạng thái giải thoát.

Đó là chuyện nói thì dễ – chúng ta có thể thảo luận về nó trong nhiều ngày – nhưng thực sự hòa quyện nó vào tâm thì cực kỳ khó. Hãy nghĩ rằng: “Tôi trước tiên sẽ dẫn dắt hữu tình chúng sinh, vô số như hư không bao la, đến giác ngộ, sau đấy, bản thân tôi sẽ đạt Phật quả”. Nhưng thực sự cảm nhận nó là chuyện khó khăn. Và chúng ta luôn luôn có xu hướng nghĩ về sự giác ngộ của bản thân trước, điều tự thân nó cũng chẳng dễ dàng. Và nếu đó là cách bạn nghĩ, bạn đang thực hành Tiểu thừa. Nhưng điều mà chúng ta đang thảo luận ở đây là Đại thừa. Trong bất kỳ trường hợp nào, “Tôi phải ở đằng sau” là gốc rễ của thái độ này, điều khiến cho việc thực sự hòa quyện cách tiếp cận này vào tâm trở nên vô cùng khó khăn. Và hơn thế nữa, chúng ta phải thúc đẩy bản thân bằng ý nghĩ này, không dao động, khi tiến hành các hoạt động của một Bồ Tát. Có lợi lạc nào trong việc chỉ nghĩ rằng, “Tôi phải ở đằng sau”? Không!

Càng nghiên cứu các giáo lý, chúng ta càng hiểu thêm. Và chúng ta càng hiểu thêm, thực hành Giáo Pháp thực sự càng trở nên khó khăn. Nếu không phải vậy, điều đó nghĩa là bạn đang không thực sự hành trì.

Khi một người hiểu được thử thách từ việc thực hành các hoạt động của một Bồ Tát thực sự lạ thường đến thế nào và rằng kết quả là giác ngộ không thể tưởng tượng, khi mà các hoạt động của bạn với tư cách là một vị Phật thậm chí còn nản chí hơn của một Bồ Tát, nếu họ sau đấy nỗ lực hết sức để đi theo con đường này, người đó được gọi là một ‘Bồ Tát’. Quán chiếu về khổ đau của luân hồihoàn thành các hoạt động của một Bồ Tátcần thiết nếu bạn muốn hoàn thiện Bồ đề tâm. Nếu không, chỉ nói rằng, “Ồ đáng thương quá! Tôi lấy làm tiếc!” thì chẳng khác gì mánh khóe mà người bán hàng sử dụng để lừa gạt mọi người!

Để có thể thiền định về ‘tâm giác ngộ’, bạn cần một tâm bao lamở rộng. Vì thế, bạn phải mở rộng kiểu tâm bao la đó đến tất cả và phát tâm giác ngộ quý báu. Dĩ nhiên, ban đầu, bạn phải cố gắng tạo ra. Nhưng khoảnh khắc một nhận thức không tạo tác, tự nhiên về Bồ đề tâm khởi lên, bạn sẽ trở thành một Bồ Tát.

Hãy nhớ, Bồ đề tâm có hai khía cạnh: Bồ đề tâm tương đốiBồ đề tâm tuyệt đối. Chỉ bằng cách trước tiên thiền định về Bồ đề tâm tương đối thì bạn mới có thể phát khởi Bồ đề tâm tuyệt đối. Nếu bạn chẳng có ý tưởng gì về Bồ đề tâm tương đối, làm sao mà Bồ đề tâm tuyệt đối có thể khởi lên? Do đó, hãy thiền định về Bồ đề tâm tương đối trong thời gian dài; cuối cùng, kết quả – Bồ đề tâm tuyệt đối, điều về cơ bản là sự chứng ngộ tính Không – sẽ khởi lên. Nó khá giống với việc đi mà không ngừng lại cho đến khi bạn đến được đích. Bồ đề tâmcon đường Đại thừa chân chính.

Có hai truyền thống chính yếu để cử hành nghi lễ thọ Bồ Tát giới: truyền thống ‘tri kiến sâu xa’ của Văn Thù Sư Lợitruyền thống ‘hành động bao la’ của Di Lặc. Ngay cả khi bạn chưa thọ giới chính thức, nhưng đã thọ một quán đỉnh thì bạn đã thọ Bồ Tát giới, bởi không quán đỉnh nào được ban mà vị thọ nhận trước tiên không thọ Bồ Tát giới. Vì thế, hôm nay, không có ai ở đây chưa thọ Bồ Tát giới.

‘Bồ đề tâm’ là ‘tâm giác ngộ’ và mỗi người chúng ta phải kiểm tra tâm mình để xem liệu chúng ta có thực sự có một nhận thức về Bồ đề tâm. Nếu bạn thấy rằng bạn có, bây giờ, bạn cần phải tăng trưởng nó. Ban đầu, Bồ đề tâm của chúng ta giống như trăng non vào đêm thứ ba của tháng Âm lịch – giống như vầng trăng khuyết mỏng trên những bức tranh, thứ mà Đức Phật đang chỉ vào. Nhưng dù chúng ta bắt đầu với chút ít ỏi đến đâu, nó luôn luôn có thể được tăng thêm. Một đạo sư không biết liệu bạn có Bồ đề tâm hay không và đọc một bản văn cũng chẳng nói cho bạn biết. Không ai khác có thể nói liệu bạn có Bồ đề tâm hay không, chỉ bạn mới có thể.

Nhưng khi bạn kiểm tra tâm để đánh giá Bồ đề tâm của bạn, bạn sẽ cần một chút kiến thức và sự hiểu, thứ đến từ việc thọ nhận các giáo lýnghiên cứu bản văn – điều thực sự không dễ. Ngày nay, mọi người nghĩ họ là một Bồ Tát, phải vậy không? Nhưng mọi chuyện không phải thế. Điểm trọng yếu mà bạn cần biết là khi Bồ đề tâm chân chính sinh khởi trong tâm của một người chỉ trong một khoảnh khắc, người đó trở nên vĩ đại hơn một nghìn vị Tỳ Kheo và đáng được đỉnh lễcúng dường từ chư thiêncon người.

Vì thế, có nhiều điều cần hiểu. Dĩ nhiên! Nhưng điều quan trọng hơn là bạn kiểm tra tâm bạn! Nếu bạn làm thế, bạn có thể nhận ra rằng bạn chẳng có chút Bồ đề tâm nào! Và đó có thể là điều tốt nhất có thể xảy ra, bởi nó nghĩa là bạn có một sự hiểu về Bồ đề tâm thực sự là gì.

Bồ đề tâmlòng bi mẫn khoác lên mình nhiều màu sắc. Và ngày nay, có nhiều kiểu được gọi là thực hành Bồ đề tâm. Vài người nói rằng, “Ồ, tôi là một Bồ Tát, vì thế, tôi không ăn thịt.” Số khác nói, “Ồ, tôi sẽ thanh toán cho bạn!” và tưởng tượng rằng họ đang thực hành Bồ đề tâm. Nhưng điều bạn cần là Bồ đề tâm thực sự, kiểu Bồ đề tâm mà Tổ Tịch Thiên giải thích trong Nhập Bồ Tát Hạnh, tức là chăm sóc chúng sinh khác hơn bản thân. Không chỉ một hay hai chúng sinh mà tất cả hữu tình chúng sinh khắp hư không bao la. Và không chỉ cảm thấy xót thương với họ, mà thực sự mong muốn thiết lập họ trong Phật quả. Đó là điều bạn cần. Khi bạn có Bồ đề tâm thì bạn phải hành động dựa trên nó, tức là bạn giúp đỡ theo bất kỳ cách nào có thể, đúng không? Hãy làm bất cứ điều gì và mọi điều lợi lạc – tất cả ‘hoạt động của bốn kiểu’, tức tai, tăng ích, kính ái, điều phục. Khi bạn có Bồ đề tâm chân chính, bạn có thể nói dối, bạn có thể ăn trộm và bạn có thể giết người. Đó là điều mà chính Đức Phật đã nói.

Ngay bây giờ, trong thời đại suy đồi hiện nay, điều đặc biệt quan trọng là kiểm tra xem bạn có Bồ đề tâm không. Giáo Pháp của sự trao truyền và Giáo Pháp của sự chứng ngộ sắp tàn, nhưng nếu bạn có thể thiền định về và phát khởi một chút Bồ đề tâm, nó sẽ vẫn có chút lợi lạc.

Tôi đã có vài buổi nói chuyện rất thẳng thắn với những người đã thọ Bồ đề tâm giới và những vị cố gắng tuân theo các chỉ dẫn. Vài người trong số họ nói với tôi rằng họ phạm giới trọng của việc từ bỏ hữu tình chúng sinh năm hay thậm chí mười lần trong chỉ một ngày! Tôi nói tôi nghĩ điều đó rất tốt, bởi nó chỉ ra rằng họ biết điều họ đang làm.

Dẫu sao, Bồ Tát giới có thể dễ dàng thọ lại nếu bạn phá vỡ chúng. Nhưng bạn cần biết về việc phá vỡ chúng. Nếu bạn làm được thế, đó là dấu hiệu cho thấy bạn đang kiểm tra tâm bạn. “Ích lợi gì với tôi khi có nhiều đệ tử, / Nếu tôi không thể canh giữrèn luyện tâm mình?” Nhưng hầu hết chúng ta thì không. Nếu bạn làm được thế, nhiều ý nghĩ bắt đầu xuất hiện về đủ mọi chuyện. Nhưng khi bạn nghĩ, “Tôi là một Bồ Tát, tôi chưa từng phá vỡ giới nào trong các Bồ Tát giới gốc”, điều đó nghĩa là bạn dứt khoát chẳng biết bạn đang nói về điều gì. Chính sự kiêu ngạo của bạn đang nói. Bạn chỉ đang lừa dối bản thân. Vì thế, kiểm tra tâm bạn là điều quan trọng.

Khi bạn thực hành Bồ đề tâm, bạn có thứ gì đó để nhận ra, trong khi trong Đại Viên Mãn Dzogchen, chẳng có gì để thấy. Bồ đề tâm là thứ gì đó mà chúng ta nhận ra trong tâm và nếu thấy rằng chúng ta có thể nhận ra dù chỉ một chút ‘Bồ đề tâm’, chúng ta sau đấy có thể trưởng dưỡng niềm hoan hỷ và v.v. “Mong chư thiên và bán thiên cùng tất cả đều hoan hỷ!”. Nếu chúng ta thấy rằng bản thân chẳng có Bồ đề tâm, chúng ta phải phát khởi nó. Chúng ta có thể làm điều gì đó.

Dzogchen thì không giống vậy, đúng không? Nếu bạn đang không an trú trong trạng thái của Dzogpa Chenpo thì tất cả những gì bạn có thể làm là cầu nguyện rằng nó khởi lên. Nhưng chẳng có gì bạn có thể làm để tạo ra nó. Khi bạn thọ nhận một quán đỉnh, đạo sư giới thiệu bạn với bản tính của tâm, nhưng nếu bạn không nhận ra, tất cả những gì bạn có thể làm là cầu nguyện để nhận ra nó. Đấy là lý do tôi đang nói với các bạn rằng thực hành Bồ đề tâm thì khác với thực hành Dzogchen.

Dẫu sao, điều tôi đang nói là các bạn cần kiểm tra tâm mình, sử dụng sự thông tuệ của bản thân. Mọi hữu tình chúng sinh đều có một mức độ thông tuệ nào đó và khả năng biết một chút. Có sự khác biệt giữa các chúng sinh khác nhau và tất nhiên, một số thì thông minh hơn số khác. Ví dụ, con người có sự thông tuệ lớn lao. Làm sao chúng ta biết điều này? Bởi họ có thể chấp nhận điều tích cựcnhận ra rồi từ bỏ điều tiêu cực. Khi bạn thông minh, bạn có thể tiến hành mọi chuyện; bạn có thể sử dụng trí thông minh của mình để kiểm tra tâm.

Ai có sự thông tuệ lớn nhất? Đức Phật bất khả phân với Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi! Ngài là toàn tri, tức là Ngài biết tất cả. Sau Phật, những vị có sự thông tuệ lớn hơn được xem là sáng suốt hơn. Đặc biệt nếu sự thông tuệ đó đạt được nhờ thiền định. Nếu nó sau đấy được dùng để hiểu mọi chuyện, bạn có thể hiểu mọi thứ. Đức Phật nói rằng năm ba la mật đầu tiên – bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấnthiền định – đều là thứ yếu so với ba la mật thứ sáu, tức trí tuệ.

Khi chúng ta nói về tính Không – sự đơn giản vĩ đại thoát khỏi mọi sự tỉ mỉ quan niệmrốt ráo, chúng ta phải thừa nhận rằng nó vượt khỏi từ ngữ, vượt khỏi suy nghĩ và vượt khỏi miêu tả. “Không sinh, không diệt, tinh túy thực sự của hư không!”. Đó là tất cả những gì có thể nói về nó và tất cả những gì chúng ta có thể nghĩ về nó. Nếu bạn muốn hơn thế, nếu bạn muốn những sự hiểu sâu sắc hơn về chân lý tính Không, bạn sẽ cần sự thông tuệ khởi lên từ thiền địnhtrí tuệ chân chính. Đức Phật có thể hiểu tính Không. Vấn đề là, Ngài không thể giải thích nó cho hữu tình chúng sinh theo cách mà họ có thể hiểu. Vì vậy, quan điểm của tôi là chúng ta cần phát triển trí tuệ đến từ thiền định. Và với trí tuệ đó, chúng ta sẽ có thể hiểu tính Không.

Rất nhiều giáo lý và bản văn trình bày về Bát Nhã Ba La Mật. Giáo lý Kinh điển luôn nói rằng, “Như vầy tôi nghe, một thời …”. Ở đây, ‘một thời’ liên quan đến thời gian khi trí tuệ, thứ đến từ thiền định, nhận thức về tính Không trong tâm. Sự chứng ngộ như vậy là kết quả của nỗ lực tuyệt vời được dùng để lắng nghe và quán chiếu về những giáo lý này, thứ sau đó lại được dùng để thiền định về tính Không. Khi bất cứ hiện tượng nào được thiền định về sau đó bị ‘phá hủy’ hay được thấy là không-tồn tại, hành giả chứng ngộ trí tuệ chân chính. Đấy là tính Không và chẳng còn nơi nào khác để đi.

Trích dẫn liên quan ở đây là:

‘Khi thứ gì đó và sự không-tồn tại của nó

Cả hai đều thiếu vắng trước tâm,

Tâm khônglựa chọn nào khác:

đạt đến sự nghỉ ngơi hoàn hảo, thoát khỏi các quan niệm’.

Khi điều này dường như xảy ra, bạn lại phải kiểm tra tâm tỉ mỉ và hỏi xem, liệu nó có thực sự xảy ra, hay là không? Thật dễ để ngồi xuống với cái miệng há to, nhìn ngây ra vào hư không và nghĩ, “Đó là tính Không …”. Nhưng nếu thứ gì đó vỗ vào má bạn, dù rất nhẹ, bạn lập tức sẽ phản ứngvậy thì chẳng có tính Không nào ở đó, phải vậy không? Nếu khoảnh khắc mà má bạn bị tát, cái tát tan biến trong tiếng “Phộp!”, sau đấy là Không. Bạn nhận biết về cái tát và về cái má nhoi nhói, dĩ nhiên. Trí tuệ của bạn nhận ra nó. Nhưng không một dấu vết bám chấp nào liên quan. Nếu sau đó, cái tát được giải thoát trong cõi trí tuệ, thì thế đấy! Cái tát đã được giải thoát. Đấy mới là tính Không ‘chân chính’. Và đây là ví dụ bạn cần áp dụng cho mọi ý nghĩhoàn cảnh có thể.

Người phương Tây dường như nghĩ rằng khi họ thiền định, họ cần bước vào một trạng thái không có một ý nghĩ nào. Nhưng hãy nghĩ về nó xem. Một trong những phẩm tính của Phật là có kiến thức toàn tri về tất cả. Làm sao một vị Phật với kiến thức toàn tri đó lại không có các ý nghĩ? Vì thế, bạn có thực sự nghĩ rằng chúng ta cần không có các ý nghĩ?

Hầu hết người mới bắt đầu thấy rằng khi họ bắt đầu thiền định, họ có thêm nhiều ý nghĩ, đúng không? Do đó, họ lại cố gắng ngồi im, giữ hơi thở, nhắm mắt và làm mọi chuyện. Nhưng họ nhanh chóng từ bỏ và ngừng lại khi họ quyết định rằng điều họ đang làm chẳng thành tựu được gì – người ta nói rằng, “Hôm nay thiền định của tôi không tốt”. Và nếu có tiếng ồn hay bất cứ phá vỡ nào khi họ đang cố gắng thiền định, họ than phiền.

Thay vào đó, khi một ý nghĩ khởi lên, hãy cứ để vậy. Giống như bông tuyết nhanh chóng tan vào hồ nước bao la khi nó chạm vào nước, khi một ý nghĩ khởi lên, tích cực hay tiêu cực, nếu nó tan vào cõi giới của Rigpa – vị nhận thức được – đó là thiền định. Đó là trí tuệ chân chính.

Đấy là lý do Văn Thù Sư Lợi lại quan trọng đến vậy với chúng ta. Và ở đây, bạn cũng phải kiểm tra bản thân. Không cần phải thành tựu một Bổn tôn Văn Thù Sư Lợi bên ngoài: chính vị Văn Thù Sư Lợi bên trong chúng ta là người kiểm tra. Vì thế, chúng ta ‘sử dụng’ Văn Thù Sư Lợi. Khi chúng ta ‘thiền định’, trí tuệ nhận ra các hiện tượng không có sự tồn tại cố hữu.

Để làm điều này, có hai cách tiếp cận: thiền định phân tích của những học giả (Pandita) và thiền định ổn định của một Kusali, ‘người ăn xin’. Học giả là những vị đọc nhiều bản văn, họ nghĩ về điều họ đọc nhiều lần, để cuối cùng thiết lập tính Không. ‘Người ăn xin’ là những vị mà chư đạo sư đã giới thiệu cho họ bản tính của tâm và họ đã nhận ra nó. Sau đấy, họ tuân theo sự nhận ra đó hay ‘ổn định’ thiền định của họ dựa trên sự nhận ra đó.

Dẫu sao, trong cả hai trường hợp, hai sự tích lũy về công đứctrí tuệ đều cần thiết. Khi các tích lũy được hoàn thiện, những che chướng được tiêu trừ. Khi các che chướng được tiêu trừ – vì thế không còn ở đó – bạn sẽ thấy. Điều này cũng quan trọng.

Do vậy, đầu tiên bạn cần sự xả ly với luân hồi, điều mà bạn phát triển nhờ trải qua mọi giai đoạn của con đường dành cho các cá nhân căn cơ thấp hơn. Sau đấy, bạn có một nhận thức mạnh mẽ rằng, “Tôi cần thoát khỏi luân hồi”. Và ví dụ, chư Tăng giữ hơn 250 giới được thúc đẩy bởi ý nghĩ này. Thực sự, mọi cấp độ của thực hành Giáo Pháp đều được truyền cảm hứng bởi sự cố gắng thoát khỏi luân hồi này.

Nếu bạn thiền định về Bồ đề tâm hai phần thì bạn là một Bồ Tát. Các bản văn Trung Hoa và Tây Tạng giải thích điều này và một chút trong số những giáo lý đó thậm chí đã đến châu Âu và Mỹ. Trong bất kỳ trường hợp nào, bạn cần phải là một Bồ Tát. Ở đâu có một vị Bồ Tát, một trưởng tử của Đức Phật, thì giáo lý Đại thừa cũng hiện hữucon đường Đại thừa được thực hành.

Tôi từng đến Miến Điện, nơi tôi đã nói chuyện với một tu sĩ tốt. Ông ấy từng học một trường Anh ngữ và ông ấy bảo rằng Bồ đề tâm rất tốt, nhưng ngày nay thật khó tìm. Ông ấy nói không ai ngày nay dường như có thể thực hành Bồ đề tâm.

Tôi nói, “Tôi nghĩ có thể vài người vẫn làm thế”.

“Ở đâu?” ông ấy hỏi. Và tôi tắc tịt!

Ai đó đi cùng tôi nói rằng, “Dalai Lama!”.

Vị tu sĩ Miến Điện cười. Sau đấy, tôi hỏi, “Ông có biết về một Tỳ Kheo chân chính, thanh tịnh?”.

Ông ấy đáp rằng, “Điều đấy cũng khó. Nhưng cũng có vài vị gần như vậy”.

Tôi hỏi, “Điều gì khiến ông nói vậy?”.

“Bởi ngày nay là thời suy đồi – sự suy đồi của những giáo lý”.

Tôi hỏi, “Tại sao chúng lại đang suy đồi?”.

“Bởi công đức của hữu tình chúng sinh đang cạn kiệt”, ông ấy đáp và bổ sung rằng, “Vì thế, rất khó để là một tu sĩ chân chính. Và thậm chí còn khó hơn để phát khởi Bồ đề tâm thanh tịnh”.

“Ngày nay, chúng tôi không nghe nói về bất kỳ ai trong số quý vị, những người Tây Tạng, đi bộ đây đó, cầm cốc sọ chứa đầy máu – giống như những đại thành tựu giả; quý vị không có những hành giả như vậy nữa. Các đại thành tựu giả thường bay trên trời, phải vậy không? Nhưng bây giờ thì sao? Các giáo lý vẫn tồn tại, Giáo Pháp vẫn vậy, nhưng chúng ta sống trong thời kỳ khi mà giáo lý suy giảm”. Đó là điều ông ấy đã nói. Ông ấy tự nêu ra vấn đề, tôi thì chẳng nói gì về nó cả.

Với tôi, cách tiếp cận Đại thừa vẫn dễ hơn một chút so với Tiểu thừa. Trước hết, Đại thừa không phức tạp bởi hàng trăm giới của Tiểu thừa; và không cần phải chú ý đến các truyền thống khác nhau. Khi các giới bị phá vỡ, chúng cũng dễ dàng phục hồiĐại thừa giới thực sự có thể được phục hồi. Khi Bồ đề tâm của bạn suy giảm, bạn có thể thọ giới lại, nhiều lần, lặp đi lặp lại. Gốc rễ của Bồ đề tâm là không từ bỏ hữu tình chúng sinh, điều ít nhất là làm lợi lạc bạn, vì thế, nó vốn đã tích cực. “Tôi phải giải thoát mọi hữu tình chúng sinh” là “chuyện lớn”, nhưng chúng ta chưa phải ở cấp độ đó. Nếu tôi không thể giải thoát mọi hữu tình chúng sinh, liệu sự không thể đó có làm hại tôi? Không! Dĩ nhiên, chúng ta cần Bồ đề tâm, nhưng nếu chúng ta không thể phát khởi nó, cũng ổn thôi chúng ta không thể và không có điều gì chúng ta có thể làm về nó. Chúng ta cần suy nghĩ giống như một Bồ Tát, ngay cả khi chúng ta không thể thực sự làm điều đó.

Cuối cùng, chúng ta phải có thể cúng dường đầu và các chi như một hành động bố thí. Nhưng chỉ dẫn dành cho các Bồ Tát mới bắt đầu là trước tiên, tốt hơn là không cố gắng. Nếu bạn làm thế, nó có thể gây ra những vấn đề. Nghĩa là trưởng dưỡng Bồ đề tâmdự án dài hạn và bạn cần vun đắp các thực hành Bồ Tát một cách chậm rãi.

Ngày nay, các giáo lý chân chính đang biến mất nhanh chóng, nhưng chúng thực sự vẫn tồn tại, bởi vẫn có những người biết về Giáo Pháp và có thể nói về Giáo Pháp. Vấn đề là không ai thực sự thực hành. Thành thật mà nói, trong những hành giả Kim Cương thừa, không có đại thành tựu giả nào nữa. Không ai có thể hiển bày các dấu hiệu chứng ngộ – nếu có ai đó thì chúng ta sẽ biết. Nhưng ngày nay mọi chuyện là như vậy đấy.

Và ngày nay, bạn cũng có thể quên đi việc tìm ra một A La Hán chân chính. Những Tỳ Kheo tốt cũng hiếm – ít nhất là trong truyền thống Tây Tạng. Tôi không biết về những tu sĩ Theravada, nhưng những người Tây Tạng đắp y cũng đang biến mất nhanh chóng. Và đó là lý do tôi nghĩ các giáo lý sẽ phát triển rộng khắp hơn thông qua cách tiếp cận Bồ Tát.

Ngoài ra, Bồ Tát giới lần đầu tiên được thọ trước một vị thầy, nhưng cũng có thể trước một sự hỗ trợ, chẳng hạn một bức tượng. Điều đó khiến Bồ đề tâm trở thành một thực hành dễ dàng hơn đôi chút.

Ngoài ra, bởi chúng ta đều đã thọ nhận các quán đỉnh, chúng ta phải thực hành Kim Cương thừa Mật chú Bí mật càng nhiều càng tốt. Gốc rễ của Kim Cương thừa Mật chú Bí mậtrèn luyện trong nhận thức thanh tịnh – điểm quan trọng nhất với một hành giả Kim Cương thừa. Và sau đấy thì có thiền định Dzogchen. Người phương Tây các bạn thích thiền định, đúng không?

Tôi nghĩ rằng truyền thống quán đỉnh sẽ nhanh chóng biến mất. Tại sao? Bởi ngày nay rất hiếm vị đạo sư (Lama) có năng lực ban các quán đỉnh? Có ai nào? Bạn có thể đếm chư vị bằng những ngón tay trên một bàn tay. Tại sao lại hiếm đến vậy? Chẳng phải là tất cả Lama đều có thể ban các quán đỉnh? Đúng vậy, tất cả Lama đều có thể trải qua những cử chỉ của việc ban các quán đỉnh, nhưng những vị có thể thực sự thiền định về đàn tràng (Mandala) của sự thanh tịnh bất tận của tất cả những gì xuất hiệntồn tạigiải phóng bám chấp nhị nguyên của các đệ tử thông qua quán đỉnh, thì hiếm. Khi vị đạo sư ban quán đỉnh, Ngài phải bất khả phân với Bổn tôn chính của Mandala. Nếu Ngài không thể làm điều đó, Ngài chẳng thể ban quán đỉnh. Nếu quán đỉnh không thể được ban, thì đó là kết thúc của Kim Cương thừa Mật chú Bí mật – đó là kết thúc của những giáo lý này.

Tuy nhiên, ngày nay, tất cả Mật điển có thể nằm gọn trong một chiếc máy tính – nhưng mục đích là gì? Vì thế, chúng ta đang ở trong kiếp cuối cùnggiai đoạn cuối cùng trong thời kỳ này, khi mà những giáo lý, thứ vẫn còn khá nguyên vẹn, vẫn có sẵn nhưng ít có thể tiếp cận hơn nhiều. Mặc dù chúng đang gần đến tận cùng, những giáo lý vẫn hiện diện trên thế giới này. Do đó, với những vị sinh ra trong thời kỳ như vậy, thiền định hay nghĩ về các giáo lý theo cách mà tôi vừa giải thích có thể thực sự lợi lạc.

Khi thiền định, nếu bạn lại quán chiếu về các khổ đau của luân hồi và phát triển nhận thức xả ly, điều đó sẽ lợi lạc. Nếu dựa trên sự xả ly, bạn thiền định về lòng bi mẫn thì bạn sẽ trở thành một Bồ Tát, trưởng tử của Đức Phật. Bạn cũng cần biết rằng có các cấp độ Bồ Tát khác nhau. Trước tiên, bạn trở thành một Bồ Tát nhỏ và như thế, bạn cần thiền địnhphát khởi trí tuệ. Sau đấy, bạn phải phát triển trí tuệ, sự thông tuệ của bạn. Bằng cách nào? Nhờ suy nghĩ! Bằng cách kiểm tra bản thân! Nếu bạn dành thời gian với tâm nhiều như thời gian dành cho các thiết bị điện tử, không nghi ngờ gì, bạn sẽ thực sự thấy được sự tiến bộ, từ tuần này cho đến tuần sau! Tâm bạn sẽ cải thiện, nhờ trí tuệ. Vì vậy, bạn phải sử dụng trí tuệ và sự thông tuệ của bản thân. Và bởi tất cả các bạn có lẽ đều là những hành giả Kim Cương thừa Mật chú Bí mật, bạn cũng cần vun bồi nhận thức thanh tịnh.

Hành giả Rigpa luôn bắt đầu thực hành của họ bằng Những Đoạn Kệ Tám Đấng Cát Tường. Trong đoạn đầu tiên có dòng, “… mọi sự xuất hiệntồn tại đều hoàn toàn thanh tịnh, bản chất tự nhiên hoàn hảo”, điều nghĩa là mọi thứ xuất hiện và mọi thứ tồn tại hoàn toàn thanh tịnh từ nguyên sơ. Bản văn tiếp tục bằng cách nói rằng những Đấng Chiến Thắng và tất cả Bồ Tátđại an trụ khắp mười phương. Vì thế, chúng ta cầu khẩnđỉnh lễ tất cả chư Phật và Bồ Tát – tám Như Lai, tám Bồ Tát, tám biểu tượng, tám thiên nữ và tất cả các chuỗi ‘tám’. Đổi lại, chúng ta thỉnh cầu rằng mọi điều chúng ta làm sẽ đều tiến triển tốt đẹp. Chỉ khi mọi thứ xuất hiệntồn tại đều thanh tịnh thì một sự gia trì mới có thể ‘khiến’ nó thanh tịnh; nếu vốn đã không có sự thanh tịnh nào, làm sao một sự gia trì có thể khiến bất kỳ thứ gì trở nên thanh tịnh? Ai có thể trao sự thanh tịnh đó? Đấy là điều bạn cần hiểu.

Tôi đã hứa giúp Sogyal Rinpoche trong chuyến hành hương này và tôi đã làm như lời hứa. Ngài yêu cầu tôi giảng dạy và tôi nói tôi sẽ làm hết sức. Dù nó có lợi lạc hay không, mọi chuyện là vậy đấy! Hôm nay là ngày cuối trong chuyến hành hương của chúng ta. Chiều nay, chúng ta cùng nhau tiến hành [cúng dường] Tsok và đó là kết thúc. Ngày mai, chúng ta sẽ ở Delhi.

Gyurme Avertin chuyển dịch Tạng-Anh; Janine Schulz hiệu đính.

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.



[1] Nguồn Anh ngữ: http://all-otr.org/public-talks/20-how-to-walk-in-the-footsteps-of-the-buddha.

[2] Theo Rigpawiki (https://www.rigpawiki.org/), Orgyen Tobgyal Rinpoche sinh năm 1951 ở Nangchen, Kham, miền Đông Tây Tạng. Ngài là con trai của Neten Chokling Rinpoche đời thứ ba. Mặc dù nổi tiếng là Gyalchen Tulku, hóa thân hoạt động của Tổ Taksham Nuden Dorje, Ngài không được chính thức công nhận là một vị Tulku – đạo sư tái sinh – khi còn trẻ, bởi người ta nói rằng điều này sẽ gây ra nhiều chướng ngại cho cuộc đời Ngài. Ngài là anh trai của Khyentse Yeshe Rinpoche – Jamyang Gyaltsen và Dzigar Kongtrul Rinpoche và được trìu mến gọi là Abu Rinpoche (Abu nghĩa là anh trai trong phương ngôn vùng Kham).

[3] Theo Rigpawiki, Năm Bánh Xe Không Vơi Cạn Của Những Sức Trang Hoàng hay Những Bánh Xe Không Vơi Cạn Của Những Sức Trang Hoàng Về Thân, Khẩu, Ý, Phẩm Tính Và Hoạt Độngthuật ngữ Mật điển Vô Thượng Du Già dùng để diễn tả giác ngộ, quả vị trọn vẹn của Mật thừa và thường được dùng để nói về thân, khẩu và ý của vị đạo sư.

Đó là một cách để miêu tả những vị đã đạt được sự hoàn thiện trọn vẹn của giác ngộ bằng cách nhắc đến các phẩm tính của chư vị: thân, khẩu, ý, phẩm tính và hoạt động giác ngộ. “Bánh Xe” nhắc đến các phẩm tính trùm khắp của chư vị, bởi chúng bao trùm tất cả mọi thứ. Theo truyền thống, “bánh xe” đem đến cảm giác về không vơi cạn bởi theo nguyên tắc, nó có thể lăn trên mặt đất và khoảng cách mà nó bao phủ không bị giới hạn bởi chính nó. “Những Sức Trang Hoàng” liên quan đến sự hiển bày của thân, khẩu, ý, phẩm tính và hoạt động [giác ngộ] này. “Không Vơi Cạn” liên quan đến sự thật rằng chư vị luôn luôn làm lợi lạc hữu tình chúng sinh, liên tục và không ngừng nghỉ.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 258)
Phật Thế Tôn đã giảng dạy bản văn sau đây, điều đem đến lợi lạc trong thời kỳ đen tối.
(View: 226)
Om Ah Hung. Hôm nay, thầy có được cơ hội tuyệt vời để chia sẻ đôi lời về giới quy y.
(View: 257)
Terton Lerab Lingpa Trinle Thaye Tsal vĩ đại, tức Terton Sogyal, là hóa hiện về thân của Tổ Nanam Dorje Dudjom[1], hóa hiện về khẩu của Kim Cương Hợi Mẫuhóa hiện về ý của Đại Sư Liên Hoa Sinh.
(View: 456)
Điều đầu tiên mà bạn cần hiểu là mọi hữu tình chúng sinh đang sống trên thế giới này – ‘hữu tình chúng sinh của tam giới của sự tồn tại’ – là một sản phẩm của tâm.
(View: 344)
Khi chúng ta nhìn vào hiện tượng vật chất trong thế giới này, chúng ta thấy rằng tất cả mọi sự vật hiện tượng xảy ra đều có nguyên nhân của nó.
(View: 346)
Guru Rinpoche chào đời tám năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Khi Đức Phật nhập diệt, Ngài sách tấn các đệ tử hãy hoan hỷ bởi Ngài sẽ trở lại là Guru Rinpoche.
(View: 386)
Gần đây, nhiều người hỏi về Khandro Rinpoche tôn quý và những hoạt động tâm linh của Bà.
(View: 532)
Với những vị nhấn mạnh duy nhất vào việc trưởng dưỡng Bồ đề tâm trong cuộc đời, lời khuyên thích hợp cho họ khi tiến gần đến cái chết là nương tựa năm sức mạnh để định hướng lối đi của họ đến đời sau.
(View: 596)
không phải là kết thúc của cuộc sống, bởi vẫn còn tái sinh sau khi chết.
(View: 483)
Đừng bao giờ lo âu hay sợ hãi về cái chết. Thay vào đó, hãy cố gắng cải thiện tâm trạng và trưởng dưỡng một nhận thức hoan hỷ rõ ràng
(View: 495)
Sống và chết đều vô cùng quan trọng với mọi người bởi chúng là số phận. Không ai có thể từ chối hay tránh khổ đau liên quan đến sinh, lão, bệnh, tử và cuộc sống thực sự.
(View: 641)
Vài người nghĩ rằng Phật giáo Kim Cương thừa rất huyền bí. Điều này là bởi họ thiếu một sự hiểu về hệ thống tư tưởngthực hành của Kim Cương thừa.
(View: 553)
Các hiện thân của tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tạivị lai; những thủ lĩnh phổ quát của đại dương đàn trànggia đình Phật;
(View: 850)
Tất cả hữu tình chúng sinh trong tam giới của sự tồn tại đều trong tù ngục luân hồichúng ta đều trải qua khổ đau của luân hồi.
(View: 848)
Về điều mà chúng ta sắp lắng nghe, Đức Phật đã ban vô số giáo lý. Nếu chúng ta muốn cô đọng những giáo lý này thì có những giáo lý của thừa căn bản và những giáo lý của thừa đặc biệt.
(View: 592)
Trì Minh Vương hay Vidyadhara tối thắng Rigdzin Jigme Lingpa (1729-98) sinh ở Yoru, Tây Tạng trong một vùng vô cùng khiêm nhường.
(View: 1007)
Đèn Soi Nẻo Giác (A Lamp for the Path to Enlightenment), do ngài Atisha vĩ đại (Dipamkara Shrijnana) sáng tác tại Tây Tạng.
(View: 782)
Ngày nọ, Đạo Sư đang an trụ trong sự chứng ngộ khi Ngài diện kiến Đức Kim Cương Tát Đỏa và thọ nhận lời tiên tri:
(View: 903)
Ở Xứ Tuyết Tây Tạng, những giáo lý của Đức Phật được trao truyền trong nhiều dòng truyền thừa.
(View: 3558)
Có nhiều câu hỏi về tái sanh thường được nêu ra đối với các Phật tử. Có tái sanh không? Nếu có, có thể nhớ chuyện kiếp trước không? Cái gì tái sanh? Có thân trung ấm hay không?
(View: 3072)
Dưới đây là một bài giảng ngắn của Lạt-ma Denys Rinpoché, một nhà sư người Pháp. Ông sinh năm 1949, tu tập theo Phật giáo Tây Tạng từ lúc còn trẻ
(View: 3750)
Kyabje Lama Zopa Rinpoche giải thích cách phát khởi thực chứng về các giai đoạn của đường tu giác ngộ trong Khóa Tu Kopan Thứ Mười Hai...
(View: 4375)
hật giáo truyền nhập Tây tạng được xem như chính thức từ vua Srong-btsan sGam-po (569–649?/605–649 Tl?); nhưng phải đợi hơn một thế kỷ sau, dưới triều vua...
(View: 2196)
Kính lễ Đấng Trang Nghiêm Kim Cang Tát Đỏa. “Tất cả mọi pháp đều không có tự tánh. (Năm) uẩn (skandas), (mười tám) giới (dhatus)...
(View: 2609)
Kinh Đại Thừa Địa Tạng Thập Luân nói rằng, theo giáo lý của Đức Phật, có hai kiểu người không làm ác: kiểu đầu tiên là những người...
(View: 6420)
Hãy tụng kinh Kim cương nhiều lần. Thầy cũng sẽ cầu nguyện, trì tụng và hồi hướng cho con ngay bây giờ.
(View: 7152)
Khi chúng ta có ước muốn theo đuổi con đường tâm linh, ta phải hiểu thấu vì sao lại chọn đi con đường này.
(View: 7369)
Lòng bi mẫnsự thiền định hay thực hành quan trọng nhất mà bạn có thể làm. Mặc dù những giáo lý của Đức Phật nói về...
(View: 7355)
Nguyên tác: Making Space with Bodhicitta; Tác giả: Lama Yeshe; Chuyển ngữ: Hoa Chí
(View: 6381)
Tư tưởng thuần khiết nhất này là nguyện ước và ý chí đưa tất cả chúng sanh đến sự thực chứng năng lực Giác Ngộ vô thượng.
(View: 9976)
Bậc giảng giải vô song, đỉnh cao của dòng họ Thích Ca, Người dìu dắt chúng sanh bằng giáo huấn duyên khởi...
(View: 9715)
Trên đây là bài dịch từ trang 18-20 trong quyển ’Kindness, Clarity,and Insight’ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso, với sự đồng ý của Snow Lion Publications
(View: 5832)
Truyền thừa Sakya là một trong bốn truyền thống tâm linh vĩ đại tại Tây Tạng.
(View: 6451)
Có những phẩm hạnh mà bậc Thượng sư cần phải có và những phẩm chất mà người đệ tử cần có.
(View: 6010)
Đức Dalai Lama từng nhiều lần dạy rằng, Phật giáo Kim cương thừa không phải là Lạt-ma giáo.
(View: 5759)
Bằng nguyện lực của Tam Bảo Tối Thượng đáng tin cậy Và chân lý của tinh thần trách nhiệm toàn cầu của chúng con, Nguyện cho Phật pháp quý báu lan rộng và hưng thịnh Ở mọi vùng đất, theo chiều dài và chiều rộng của phương Tây.
(View: 6003)
Một trong những mục đích chính của việc tranh luân trong khi tu học Phật pháp là để giúp bạn phát triển nhận thức quả quyết (nges-shes).
(View: 6216)
Trong Hiện Quán Trang Nghiêm Luận (mNgon-rtogs rgyan, tiếng Phạn, Abhisamayalamkara), Đức Di Lặc đã liệt kê bốn mươi sáu lỗi lầm ảnh hưởng đến việc phát triển trí tuệ tương ứng với căn cơ của chư Bồ tát (sbyor-ba’i skyon).
(View: 6715)
Của cải không trường tồn hay thường còn mãi mãi. Lòng tham của cải giống như uống nước muối, ta sẽ chẳng bao giờ có đủ.
(View: 6432)
Nền tảng của mọi phẩm chất tốt đẹpvị bổn sư tử tế, hoàn hảothanh tịnh; Sùng mộ ngài một cách đúng đắn là cội nguồn của đường tu.
(View: 5986)
Tâm là một sự chuyển động, bản tánh của nó là sự di động. Thực thể cơ bản của nó là sự trong sángtrong suốt.
(View: 5783)
Đường tu được tất cả chư Bồ tát thiện hảo tán thán, Cửa ngõ cho những người may mắn mong cầu giải thoát.
(View: 7893)
Cả Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và Guru Rinpoche đều tiên tri sự ra đời và thành tựu tâm linh của Tông Khách Ba.
(View: 9786)
Long Thọ (Nagarjuna, Klu-grub), cùng với Vô Trước (Asanga, Thogs-med), là hai đại hành giả tiên phong của truyền thống Đại thừa.
(View: 9540)
Con xin sám hối nghiệp xấu ác của tự thân cùng tha nhân, và hoan hỷ với công đức của tất cả chúng sanh.
(View: 5683)
Những lời khuyên thiết thực, thâm sâutrong sáng của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma, chỉ cho ta cách tu tập giúp biến cải tâm linh ta, biến ta thành một con người cao cả hơn...
(View: 6694)
Tất cả những giáo lý về con đường Ati Dzogchen có thể xếp vào ba chủ đề : Nền Tảng, Con Đường, và Quả.
(View: 8482)
Pháp tu Tonglen, hay cho (tong) và nhận (len), là một pháp tu của chư Bồ tát, những đứa con thiện nam tín nữ dũng cảm nhất của các đấng chiến thắng
(View: 7759)
Ta đã có được thân người hy hữu khó tìm, cùng với các tự dothuận lợi đầy ý nghĩa. Ta đã gặp được giáo huấn hiếm có của Đức Phật.
(View: 6419)
Tôi sẽ dựa theo tác phẩm có tựa đề Năm Điểm Chỉ Giáo về Pháp Chiết Xuất Tinh Chất, do Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Hai, Gendun Gyatso sáng tác.
(View: 9346)
Pháp luyện tâm nói về hành trì của các hành giả cao cả. Khi tu tập để phát bồ đề tâm, trước hết, ta phải phát khởi các thực chứng của một hành giả sơ căn và trung căn trong lamrim...
(View: 6181)
Chúng ta đã có được kiếp sống lý tưởng, hỗ trợ cho các tự dothuận lợi rất khó tìm. Ta đã gặp được giáo huấn quý báu vốn khó gặp của Đức Phật, đã tìm ra các vị thầy tâm linh khó tìm của Đại thừa...
(View: 7124)
Trong truyền thống Phật giáo Trung Hoa-Nhật Bản, hệ thống giáo lý Trung quán và Du-già Duy thức tông đã được xem là cùng đi song song và đối nghịch với nhau.
(View: 7260)
Gia đình tôi đầy những câu chuyện này… Có những hành giả vĩ đại như cha tôi và bác tôi, những người thực hành từ trái tim và có năng lực thực sự...
(View: 7782)
Tây Tạng bắt đầu chịu ảnh hưởng của Phật giáo vào thế kỷ thứ 7 trong triều đại của vua Songtsen Gampo.
(View: 8622)
Tịch Hộ đã đến Tây Tạng vào thế kỷ thứ 8, cho nên đến thế kỷ 11 truyền thống Na Lan Đà đã được thiết lập một cách vững vàngTây Tạng.
(View: 6974)
Là một trong những dòng Kagyu, dòng truyền thừa Drikung Kagyu do Đạo sư tâm linh vĩ đại Kyobpa Jigten Sumgon sáng lập 852 năm trước.
(View: 9767)
Theo Kim Cương thừa, chúng bị rơi vào cõi sinh tử bất tận này bởi những nhận thức bất tịnh.
(View: 11606)
Sự Thực Hành Guru Yoga Theo Truyền Thống Longchen Nyingthig
(View: 9001)
Theo Mật giáo, trong vũ trụ có ẩn tàng những thế lực siêu nhiên; nếu ta biết sử dụng những thế lực siêu nhiên kia thì ta có thể đi rất mau trên con đường giác ngộ, thành đạo.
Quảng Cáo Bảo Trợ