Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
2,319,686,071,854,584,916

Chân Như Nhất Thừa

Friday, December 30, 202210:39(View: 191)
Chân Như Nhất Thừa

Chân Như Nhất Thừa

Nguyễn Thế Đăng

hinh phat 13

 

1/ Không có gì thối chuyển trong Chân Như

Tiếp theo, trong phần cuối của phẩm Đại Như, kinh vẫn tiếp tục khai thị về Chân Như ở một cấp độ tinh tế hơn, đòi hỏi người nghe một mức độ Văn Tư Tu cao hơn, trực giác và trí huệ sâu sắc hơn, sáng tỏ hơn.

Các khai thị này có tính cách trực tiếp hơn, đốn giáo hơn, trực chỉ hơn, như trong các cấp bậc cao của Đại Ấn (Mahamudra), Đại Toàn Thiện (Maha AtiDzogchen), Thiền tông… Chẳng hạn khi đức Phật nói “Vô thượng Giác ngộ rất khó được”, thì ngài Tu Bồ Đề lại thưa với đức Phật rằng “Vô thượng Giác ngộ rất dễ được, vì…”

 

Lúc bấy giờ, chư Thiên cõi Sắc, cõi Dục bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Vô thượng Giác ngộ thật khó được (đắc). Vì sao thế? Vì đại Bồ tát phải biết tất cả pháp rồi mới được Vô thượng Giác ngộ, mà pháp ấy cũng chẳng thể đắc.

Phật dạy: Đúng như vậy. Này các Thiên tử! Vô thượng Giác ngộ rất khó được. Phật cũng đã được nhất thiết chủng trí về tất cả pháp rồi mới được Vô thượng Giác ngộ, cũng không chỗ được, không có cái hay biết, không có cái được biết, không có người biết. Vì sao thế? Vì các pháp rốt ráo thanh tịnh vậy.

Ngài Tu Bồ Đề thưa: Bạch Thế Tôn! Như lời dạy của Phật, Vô thượng Giác ngộ rất khó được. Như con hiểu nghĩa của Phật dạy thì Vô thượng Giác ngộ này rất dễ được. Vì sao thế? Vì không có người được Vô thượng Giác ngộ, cũng không có pháp có thể được. Tất cả các pháp, tất cả pháp tướng Không, không có pháp có thể được, không có người có thể được, vì tất cả pháp Không vậy. Cũng không có pháp có thể tăng, cũng không có pháp có thể giảm. Từ bố thícho đến nhất thiết chủng trí, các pháp này đều không có cái để được, không có người được.

Do nhân duyên ấy nên theo ý con thì Vô thượng Giác ngộ dễ được. Vì sao thế? Vì sắc, sắc tướng Không cho đến nhất thiết chủng trínhất thiết chủng trí tướng Không”.

Từ sắc đến các pháp ba la mậtcho đến trí huệ cao nhất là nhất thiết chủng trí đều là tướng Không. Trong tướng Không đó, không tìm đâu ra người đắc và pháp có thể đắc, không có bất cứ một pháp gì nên không có sự tăng giảm. Đó là điều đức Phật nói, “Vì các pháp rốt ráo thanh tịnh vậy”.

Thế nên, Vô thượng Giác ngộ là dễ đắc, vì xưa nay chưa từng có người tu, chưa từng có các pháp để tu, chưa từng có người để đắc.

“Tất cả pháp Không” nghĩa là các pháp xưa nay rốt ráo thanh tịnh, trong đó không có những khái niệm người được, cái để được, mọi khởi niệm chủ thể và đối tượng đều không có. Đây là tánh Không rốt ráo thanh tịnh.

Ngài Xá Lợi Phất với nói với ngài Tu Bồ Đề: Thưa ngài, nếu tất cả pháp Không như hư khônghư không không khởi niệm rằng ta sẽ được Vô thượng Giác ngộ. Nếu đại Bồ tát tin tất cả pháp Không như hư không nên Vô thượng Giác ngộ dễ được thì tại sao hiện nay có hằng hà sa Bồ tát cầu Vô thượng Giác ngộ lại bị thối chuyển? Thế nên biết rằng Vô thượng Giác ngộ chẳng phải dễ được”.

Ngài Xá Lợi Phất là một vị đại A La Hán, hẳn ngài thấu rõ “tất cả pháp Không” nhưng ngài cố tình hỏi ngài Tu Bồ Đề, vị “hiểu Không đệ nhất”, cốt để cho những người các thế hệ sau bỏ những nghi ngờ, tin hiểu tánh Không mà chuyên tâm thực hành.

 

Ngài Tu Bồ Đề nói: Thưa ngài Xá Lợi Phất! Sắc, thọ, tưởng, hành, thức đối với Vô thượng Giác ngộ là có thối chuyển chăng?

Ngài Xá Lợi Phất đáp: Không có thối chuyển”.

“Sắc, thọ, tưởng, hành, thức với Vô thượng Giác ngộ có thối chuyển chăng?” Câu hỏi như một công án mà thấu suốt được nó sẽ phá tan sanh tử của sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Bởi vì với chúng sanh chúng ta, sắc họ tưởng hành thức, những thứ tạo thành con người, là vô thường, sẽ đem lại khổ đau trong sanh tửVậy mà ý ngài Xá Lợi Phất nói là chúng không thối chuyển đối với Vô thượng Bồ đềCần phải thiền định thiền quán thật nhiều để những lời đối đáp của hai vị không phải là vô ích, không phải là văn chương hý luận.

Sắc, thọ… không thối chuyển đối với Vô thượng Giác ngộ là thế nào? Vô thượng Giác ngộ dĩ nhiên là không thối chuyển, nhưng sắc, thọ,… không thối chuyển là thế nào?

 

- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Lìa sắc, thọ, tưởng, hành, thức, có pháp gì thối chuyển đối với Vô thượng Giác ngộ chăng? Cho đến lìa nhất thiết chủng trí có pháp gì thối chuyển chăng?

- Không có pháp gì thối chuyển”.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức không thối chuyển đối với Vô thượng Giác ngộ, mà lìa sắc, thọ, tưởng, hành thức cũng không có pháp nào thối chuyển đối với Vô thượng Giác ngộ.

Tại sao tất cả pháp đều không thối chuyển mà lìa tất cả pháp cũng không có sự thối chuyển nào cả? Bởi vì:

Tất cả pháp không sanh

Tất cả pháp không diệt

Nếu rõ được như vậy

Chư Phật thường hiện tiền.

(Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Dạ ma cung kệ tán)

Bài kệ này cũng là những lời cuối cùng của Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông nói cho đệ tử Bảo Sát trước khi nhập diệt ở núi Yên Tử.

 

- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Ý ngài thế nào? Sắc tướng Như, thọ tướng Như, cho đến nhất thiết chủng trí tướng Như, đối với Vô thượng Giác ngộ có thối chuyển chăng?

- Không có thối chuyển.

- Lìa sắc tướng Như cho đến lìa nhất thiết chủng trí tướng Như, đối với Vô thượng Giác ngộ có pháp gì thối chuyển chăng?

- Không có pháp gì thối chuyển.

- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Như đối với Vô thượng Giác ngộ có thối chuyển chăng? Cho đến pháp tánhpháp trụpháp vịthật tếbất khả tư nghì tánh, đối với Vô thượng Giác ngộ có thối chuyển chăng?

- Không có thối chuyển.

- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Lìa Như, lìa pháp tánhpháp trụpháp vịthật tế, bất tư nghì tánh, đối với Vô thượng Giác ngộ có thối chuyển chăng?

- Không có thối chuyển.

- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Nếu các pháp rốt ráo chẳng thể đắc thì pháp gì thối chuyển đối với Vô thượng Giác ngộ?

- Như lời ngài Tu Bồ Đề nói, trong pháp nhẫn ấy không có Bồ tát thối chuyển đối với Vô thượng Giác ngộ”.

Tất cả các pháp tướng Như hay lìa tướng Như đều không thối chuyển đối với Vô thượng Giác ngộ, nghĩa là tất cả các pháp chưa hề lìa Vô thượng Giác ngộ, chưa hề lìa khỏi Chân Như. Bởi vì Chân Như chưa bao giờ dịch chuyển khỏi pháp trụpháp vịthật tế của nó để trở thành sanh tử. Thế nên trong Chân Như không có những vấn đề được hay mất, tiến hay thối, tăng hay giảm, dơ hay sạch.

Năm uẩn không thối chuyển trong Chân Như, nên “trong pháp nhẫn ấy không có Bồ tát thối chuyển đối với Vô thượng Giác ngộ”.

“Nếu không có pháp gì thối chuyển”, đây là tánh Không tánh Như.

Ngài Xá Lợi Phất nói tiếp:

Nếu không thối chuyển, Phật nói ba hạng người cầu đạo là A La Hán đạoĐộc Giác Phật đạo và Phật đạo, ba hạng ấy là không sai khác. Như lời ngài Tu Bồ Đề nói thì chỉ có một hạng Bồ tát cầu Phật đạo thôi.

Bấy giờ ngài Phú Lâu Na bảo ngài Xá Lợi Phất: Ngài nên hỏi ngài Tu Bồ Đề là có một Bồ tát thừa chăng?

Ngài Tu Bồ Đề nói: Thưa ngài Xá Lợi Phất! Ở trong các pháp Như, ngài muốn có ba thừa chăng?

- Thưa ngài Tu Bồ Đề, không.

- Thưa ngài Xá Lợi Phất, trong ba thừa sai biệt ấy có Như để được chăng?

- Thưa không.

- Thưa ngài Xá Lợi Phất, Như ấy có một tướng, hai tướng, ba tướng chăng?

- Thưa không.

- Trong Như ấy ngài muốn có nhiều Bồ tát cho đến chỉ có một Bồ tát được chăng?

- Thưa không.

- Thưa ngài Xá Lợi Phất, trong bốn cách trên người ba thừa đều không thể có được, sao ngài lại nghĩ có người cầu Thanh văn thừa, người cầu Độc giác thừa, người cầu Phật thừa?

Thưa ngài Xá Lợi Phấtđại Bồ tát nghe ‘các pháp tướng Như’ này mà tâm chẳng kinh sợ, chẳng thối thất, chẳng hối hận, chẳng nghi ngờ, thì gọi là đại Bồ tát có thể thành tựu Giác ngộ.

Bấy giờ, Phật khen ngợi ngài Tu Bồ ĐềLành thay! Lành thay! Này Tu Bồ Đề! Lời của ông nói đó đều là Phật lực. Nếu đại Bồ tát nghe nói Như ấy không có các pháp riêng khác mà chẳng kinh sợ, chẳng thối thất, chẳng hối hận, chẳng nghi ngờ, phải biết Bồ tát ấy có thể thành tựu Vô thượng Giác ngộ”.

Trong Chân Như, chỉ có Chân Như, không thể có năm uẩn tức là không có chúng sanh và thế giới, không có sự riêng khác của các người ba thừaChân Như là Nhất thừa, từ xưa đến nay, từ cao nhất xuống đến thấp nhất. Chân Như Nhất thừa không có mảy may riêng khác nào trong những cái mà người bình thường gọi là thế giớichúng sanhkhông gianthời gianmê ngộ.

Vô thượng Giác ngộ là Chân Như Nhất thừa này.

Chỉ một cái nhìn sai khác, một ý nghĩ sai khác, một hành động sai khác là người ta đã tự loại mình ra khỏi Chân Như đang bao trùm khắp. Tin hiểu và thực hành như vậy, đó là hành thiền.

 

2/ Các pháp là sự biểu lộ của Chân Như

Kinh nói tiếp:

Ngài Xá Lợi Phất thưa: Bạch Thế Tôn! Thành tựu Giác ngộ nào?

Đức Phật dạy: Thành tựu Phật Vô thượng Giác ngộ.

Ngài Tu Bồ Đề thưa: Bạch Thế Tôn! Nếu muốn thành tựu Vô thượng Giác ngộđại Bồ tát phải tu hành thế nào?

Đức Phật dạy: Phải sanh khởi tâm bình đẳng với tất cả chúng sanh, cũng dùng tâm bình đẳng nói với họ, không thiên lệch. Với tất cả chúng sanh phải có tâm khiêm hạ, cũng dùng tâm khiêm hạ nói với họ. Với tất cả chúng sanh phải có tâm vô ngại, cũng dùng tâm vô ngại nói với họ. Với tất cả chúng sanh phải có tâm không não hại, cũng dùng tâm không não hại nói với họ. Với tất cả chúng sanh phải có tâm yêu kính như cha mẹ, như anh chị em, như bà con, như bạn bè, cũng dùng tâm yêu kính nói với họ”.

Chân Như biểu lộ qua tất cả các pháp, các pháp môn, và chính nhờ sự biểu lộ thành cái có thể cảm nhận được, có thể suy nghĩ, thấy, nghe này mà người ta có thể tiếp xúc, thấy ra, chứng ngộ Chân NhưChân Như là nền tảng và cũng chính là những biểu lộ đó, nên qua chúng, người ta có thể kinh nghiệm được Chân NhưChân Như là Nền tảng, các pháp thực hành là Con đường, và Chân Như cũng chính là Quả.

 

Đoạn kinh trên nói về thực hành từ bi và với tâm từ bi người ta sống và làm việc, nhờ đó có thể thấy ra được Chân Như. Tại sao phải tu hành từ bi để thấy biết và thể nhập Chân Như? Bởi vì Chân Như là “một Như, không hai, không khác”, và từ bi rốt ráo là cái Một không hai, không khác.

 

Tiếp đó kinh nói đại Bồ tát phải “không sát sanh, không tà kiến, phải tự tu hành tâm từtâm bitâm hỷ, tâm xả, tự tu hành sơ thiền đến phi phi tưởng xứ định, đầy đủ sáu ba la mật, tự mình biết và chứng Tứ Đế, các quả của ba thừa cho đến nhất thiết chủng tríĐại Bồ tát phải tự mình nhập Bồ tát vị, tịnh Phật quốc độthành tựu chúng sanh…”, nghĩa là tu hành tất cả Phật pháp.

Vì như ở trước kinh nói, “Vì đại Bồ tát phải biết tất cả pháp rồi mới được Vô thượng Giác ngộ, pháp này cũng bất khả đắc”.

 

Đức Phật dạy: Muốn thành tựu Vô thượng Giác ngộđại Bồ tát phải tu hành như vậy. Cũng phải học lực phương tiện của Bát nhã ba la mật như vậy. Lúc học như vậy, tu hành như vậy, Bồ tát này sẽ được sắc vô ngại, sẽ được thọ, tưởng, hành, thức vô ngạicho đến sẽ được pháp trụ vô ngại.

Tại sao thế? Vì đại Bồ tát này từ trước cho đến nay chẳng thọ lấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức cho đến chẳng thọ lấy nhất thiết chủng trí.

Tại sao thế? Vì sắc mà chẳng có người thọ thì chẳng phải sắc. Cho đến nhất thiết chủng trí mà chẳng có người thọ thì chẳng phải nhất thiết chủng trí.

Lúc nói Bồ tát hạnh này, có hai trăm ngàn Bồ tát được vô sanh pháp nhẫn”.

Bồ tát thì tu tất cả các pháp. Nhưng tất cả các pháp đều hiện hữu trên và lưu xuất từ Nền tảng Chân Như - Tánh Không nên tu tất cả pháp mà chẳng thọ tất cả pháp. Không thọ chính là Trí huệ tánh Không. Thế nên Bồ tát không thọ mà sống và làm việc, do đó Bồ tát giải thoát ngay khi sống và làm công việc Bồ tátBồ tát hạnhBồ tát hạnh là tu tất cả các pháp trong chính Nền tảng Không - Như của tất cả các pháp. Khi ấy tất cả các pháp là vô ngại, nghĩa là tất cả các pháp chính là tự do.

Khi hoàn toàn thấy tất cả các pháp, tất cả sắc thọ tưởng hành thức là Không – Như, là vô ngại, tức là đắc vô sanh pháp nhẫn

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 54)
Chân lý Phật, vừa giản dị vừa rất thâm sâu. Vì thế, Đức Phật đã mượn những câu chuyện dụ ngôn, gắn với hình ảnh của ...
(View: 134)
Tích Niêm Hoa Vi Tiếu kể rằng một hôm trên núi Linh Thứu, Đức Thế Tôn lặng lẽ đưa lên một cành hoa.
(View: 208)
Kinh Pháp Hoa, hay Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharma Puṇḍarīka Sūtra), là một trong những bộ kinh quan trọng
(View: 148)
Khi ánh sao mai vừa tỏ rạng cũng là lúc Đức Phật thành tựu chân lý tối thượng.
(View: 234)
Tất cả chúng sinh mê hoặc điên đảo từ vô thỉ. Nay dùng giác pháp của Phật khai thị, khiến chúng sinh nghe mà ngộ nhập.
(View: 237)
Người tu hành theo Phật Giáo nhắm mục đích là tự mình chứng ngộ và vận dụng cái Tâm đó.
(View: 204)
Về cơ bản, lý duyên khởi giải thoát mô tả tâm lý của thiền, nghĩa là, những gì xảy ra trong tiến trình hành thiền được hành giả trải nghiệm từ lúc đầu cho đến lúc cuối.
(View: 190)
Trong bài này sẽ trích vài đoạn kinh của Kinh Ma ha Bát nhã ba la mật, phẩm Đại Như thứ 54, do Pháp sư Cu Ma La Thập dịch để tìm hiểu về Chân Như.
(View: 276)
Còn gọi là Quy Luật Duyên Khởi, vì đó là lý thuyết về quy luật tự nhiên, quy luật không thuộc về của riêng ai.
(View: 241)
Hình thành tại Ấn Độ từ thế kỷ VI trước Công nguyên, Phật giáo đã phát triển việc truyền bá chánh pháp khắp xứ Ấn Độ và...
(View: 225)
Khi hiểu được việc lành dữ đều có quả báo tương ứng, chỉ khác nhau ở chỗ đến sớm hay muộn mà thôi,
(View: 258)
Tư tưởng chủ đạo của Thuyết nhất thiết Hữu Bộ là: “các pháp ba đời luôn thật có, bản thể luôn thường còn”,
(View: 272)
Xa lìa tà hạnh (không tà dâm) có nghĩa chính yếu là nguyện chung thủy với người bạn đời của mình.
(View: 185)
Người đệ tử Phật thực hành pháp thứ hai một cách hoàn hảo là không trộm cướp, chính xác là xa lìa việc lấy của không cho.
(View: 225)
Sau khi phát tâm quy y Tam bảo, người Phật tử được khuyến khích giữ giới (thực hành năm pháp), giới thứ nhất là xa lìa sát sinh.
(View: 212)
Phải nói rằng Tăng đoàn là sự đóng góp rất lớn cho hạnh nguyện độ sanh của Đức Phật và Tăng đoàn đã thay Phật để truyền bá Đạo
(View: 311)
Đứng trước biến động khó khăn của cuộc đời, Phật giáo với tinh thần từ bi và trí tuệ, lấy tôn chỉ Phật pháp bất ly thế gian pháp đã
(View: 297)
Trong bài Kinh Devadaha, Đức Phật đã luận giải chi tiết về nghiệp. Trái ngược với quan điểm cho rằng nghiệp là định mệnh luận,
(View: 284)
Trong kinh điển tiểu thừa có một điểm khác biệt rất rõ nét so với kinh điển đại thừa, đó là bối cảnh thuyết pháp của Đức Phật.
(View: 287)
Lịch sử tư tưởngtôn giáo của nhân loại có lẽ sẽ đánh dấu một bước ngoặt vào ngày đức Phật, theo truyền thuyết,
(View: 317)
Trong Jataka, tức là những câu chuyện tiền thân của Đức Phật khi ngài còn là một Bồ tát, ngài có nói về hạnh Bồ tát trong...
(View: 328)
Giáo lý Duyên khởi là nền tảng của triết học Phật giáo, do đó luôn là tâm điểm của những nghiên cứu về sự uyên nguyên của đạo Phật.
(View: 338)
Đức Phật khẳng định: “Trong giáo pháp nào nếu khôngtám Thánh đạo thời ở đó không có quả vị Sa-môn thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư.
(View: 220)
Duyên khởi có nghĩa là hết thảy hiện tượng đều do nhân duyên mà phát sinh, liên quan mật thiết với nhau, nương vào nhau mà tồn tại. Nói theo thuật ngữ Phật giáo thời “tất cả pháp là vô thường, vạn vật vô ngã, hết thảy đều không”. “Không” có nghĩa là “vô tự tính,” không có yếu tính quyết định.
(View: 313)
Trong các kinh điển thuộc Hán tạng, ‘Phật thị hiện thuyết pháp’ có thể được xem như là một ‘thuật ngữ’ quen thuộc, phổ biến đối với quý Phật tử Đại Thừa.
(View: 362)
Con người được sinh ra đời, sống trong cuộc đời nhưng càng lớn lên càng cảm thấy mình như vẫn thiếu thốn cái gì, như vẫn là một người thất lạc.
(View: 422)
Có lần khi nói về tám thức tâm vương trong Duy thức học, một người hỏi rằng “con người lo sợ là do thức nào?”.
(View: 361)
Giác ngộ cũng tức là giải thoát. Giải thoát cái gì ? Giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, điên đảo mộng tưởng, giống như người đang nằm mơ chợt tỉnh dậy,
(View: 284)
Nhân quả là một định luật tất yếu trong sự hình thành nhân sinh quan và vũ trụ quan qua liên hệ duyên khởi của cuộc sống con người, mà qua đó nhân quả được coi như là một luật tắc không thể thiếu được khi hình thành một xã hội nhân bản đạo đức.
(View: 284)
Bồ-tát là từ gọi tắt của Bồ-đề Tát-đỏa, phiên âm từ Bodhi-sattva tiếng Phạn, còn gọi là Bồ-đề Tát-đa,… Bồ-tát là từ gọi tắt của Bồ-đề Tát-đỏa, phiên âm từ Bodhi-sattva tiếng Phạn (sanskrit), còn gọi là Bồ-đề Tát-đa
(View: 415)
Kính lễ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn Nay con đem tâm phàm phu suy diễn thánh pháp Là nhờ những bậc tiền bối đã khai triển Pháp này Xin Ngài gia bị cho tâm phàm phu chuyển thành thánh trí
(View: 389)
Con xin đê đầu kính lễ Phật – bậc Nhất thiết trí – đấng Mặt trời tròn thanh khiết. Những tia sáng lời dạy của Ngài đã phá tan bóng đêm trong bổn tâm của chư thiên, loài người và các đường ác.
(View: 299)
Khái niệm Niết-bàn vốn thành hình cách đây hơn 2500 năm. Các học giả và các triết gia khác nhau trong suốt nhiều thế kỷ liền đã nỗ lực lý giải khái niệm này bằng cách tận dụng sự hiểu biết hạn chế của mình.
(View: 355)
Dưới đây là một vài dẫn khởi có tính cách thực tiễn đối với sự tu tập công án, được đề ra do các Thiền sư qua nhiều thời đại; từ đó, chúng ta có thể thấy rõ một công án sẽ làm được việc gì để khai triển ý thức Thiền và cũng thấy rõ sự tu tập công án đã bộc lộ cho khuynh hướng nào theo thời gian.
(View: 372)
Có hai hình ảnh quen thuộc gợi lên ý tưởng biến dịch: như dòng sông và như ngọn lửa bốc cháy trên đỉnh núi. Mỗi hình ảnh lại gợi lên một ý nghĩa tương phản: tác thành và hủy diệt.
(View: 469)
Thời gian là một hiện tượng bí ẩn nhất và cũng là sít sao nhất với cuộc sống mỗi người.
(View: 658)
Một thời Thế Tôn trú ở Nālandā, tại rừng Pāvārikamba. Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
(View: 775)
Duyên khởi cho bài viết này là từ một bản tin BBC News có nhan đề “Thiền định chánh niệm có thể khiến con người xấu tính đi?”— và từ một số cuộc nghiên cứu khác đã giúp chúng ta có cái nhìn đa diện hơn về Thiền chánh niệm, một pháp môn nhà Phật đang thịnh hành khắp thế giới.
(View: 453)
Khi sinh ra và lớn lên trong cuộc đời này mỗi người đều mang trong mình một huyết thống mà tổ tiên bao đời đã hun đúc, giữ gìntruyền thừa qua nhiều thế hệ.
(View: 356)
Vấn đề tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni phạm tội ba-la-di, thời Phật nghiêm khắc không cho sám hối đều có lý do. Với những lý do đó giống với xã hội bây giờ, cho nên trong chương này chúng tôi thảo luận chung cả hai giai đoạn thời Phật và cuộc sống hiện tại.
(View: 323)
Hiện nay trong nguồn văn hiến hệ Hán truyền, chúng ta tìm thấy nhiều từ ngữ liên quan đến ý nghĩa sám hối như “hối quá 悔過”, “sám hối 懺悔”, “sám-ma 懺摩”, “phát lồ 發露”, thực chất tất cả đều xuất thân từ nghĩa gốc Phạn ngữ (Sanskrit) là từ: kṣama, kṣamayati.
(View: 363)
Trong dòng chảy tâm thức của nhân loại từ xa xưa và cho đến nay luôn chia thành hai hướng, một hướng chảy theo dòng chảy Luân hồi (Saṃsāra), là số chúng sinh tâm tư cấu bẩn phiền não, ngụp lặn trong bùn lầy ố trược.
(View: 404)
Những người con Phật chơn chính, thì lúc nào và ở đâu, họ cũng thực hành phápchánh pháp trở thành đời sống của chính họ. Họ được nuôi dưỡng ở trong chánh pháp và họ vui sống trong chánh pháp mỗi ngày.
(View: 414)
Sự ra đời của Đức Phật nghiễm nhiên đã trở thành sự kiện quan trọng nhất trong suốt mấy ngàn năm tư tưởng Đông phương. Hiện tượng Lâm-tỳ-ni, chính vì thế, đã trở thành một hiện tượng đặc sắc đáng để mọi người nghiên cứu Phật học quan tâm.
(View: 531)
Tất cả đều là giả tạm và cuộc đời là một nỗi đau khổ lớn. Đây là động cơ lớn thúc đẩy Thái tử ra đi tìm chân lý.
(View: 512)
Như huyễn là một tính cách, một phương diện của tánh Không. Tánh Khôngvô tự tánh của mọi cái hiện hữu, và vì vô tự tánh nên như huyễn.
(View: 614)
Theo quan niệm nhà Phật thì con người tự ràng buộc mình trong nỗi khổ đau do chính mình gây ra.
(View: 584)
Trên lộ trình hướng về Phật đạo, tôi có duyên được “làm người đưa đò” tại ...
(View: 580)
Bình đẳng tánh trí là gì? Là tánh bình đẳng của đại viên cảnh trí, nghĩa là tánh bình đẳng của tất cả mặt gương và của tất cả bóng hình in vào đó.
(View: 584)
Theo truyền thống Phật giáo Nam tông, y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, Vũ kỳ An cư (Vassavāsa) bắt đầu từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina).
(View: 635)
Vào thời Đức Phật, xã hội Ấn Độ rất nhiều học thuyết ra đời, mỗi học thuyết là một quan điểm chủ trương.
(View: 639)
Trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu sơ lược về Đại viên cảnh trí, và trích toàn bộ đoạn nói về trí này trong Kinh Phật Địa, do Tam tạng Pháp sư Huyền Trang dịch ra tiếng Hán.
(View: 849)
am Vô Lậu Học là môn học thù thắng gồm: Giới, Định và Tuệ trong đạo Phật.
(View: 609)
Khi đạo Phật nói về tánh chất của khổ, có nhiều mức độ khổ khác nhau.
(View: 709)
Dân gian thường nói, không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời. Rất khó giải thích về“ba họ” và “ba đời”.
(View: 744)
Chúng ta đã thấy nguồn gốc của kinh tạng Phật giáo phát khởi từ ba kỳ kết tập kinh điển (saṅgīti).[1]
(View: 733)
“Tất cả là vô thường” là một trong ba nguyên lý căn bản của Phật giáo (vô thường, vô ngã và niết-bàn tịch tịnh)
(View: 711)
Không có kinh sách nào, Đức Phật dạy: Phải cầu nguyện, hay nương tựa vào một ai đó, ngay cả việc nương nhờ vào chính Ngài.
(View: 691)
Bản tâm, tự tâm, bản tánh, tự tánh là những danh từ được Lục Tổ Huệ Năng sử dụng trong những lời thuyết pháp của ngài để...
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
azipos-point-of-sale-300x300