Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Khảo Về Sự Kiện Niêm Hoa Vi Tiếu

Monday, May 27, 202418:00(View: 293)
Khảo Về Sự Kiện Niêm Hoa Vi Tiếu

Khảo Về Sự Kiện Niêm Hoa Vi Tiếu

Chúc Phú

hinh phat1


Trong đồ tượng Phật giáo Bắc truyền có thể hiện một tượng pháp, đó là hình ảnh Đức Phật tay phải nâng một cành hoa sen với dung nghi hoan hỷ, thường được gọi là tượng phápNiêm hoa vi tiếu (拈花微笑). Vậy, dựa trên nguồn tư liệu nào để hình thành nên tượng pháp đó và cơ sở của những nguồn tư liệu có độ khả tín như thế nào? Chuyên khảo sau sẽ cố gắng biện giải về những điều đó.


1.  Cơ sở sự kiện Niêm hoa từ các bộ kinh lục

Truyện tích Niêm hoa vi tiếu được khái quát từ sự kiện, trong hội Linh Sơn, Đức Thế Tôn nâng cành hoa sen, khi ấy cả hội chúng đều ngơ ngác mà chỉ riêng có tôn giả Ma-ha Ca-diếp mỉm cười. Do vậy, nên ngài Giác Ngạn 覺岸 (1286-?) trong tác phẩm Thích thị kê cổ lược (釋氏稽古略) đã khái quát: Thế Tôn niêm hoa, Ca-diếp vi tiếu (世尊拈花,迦葉微笑)[1], gọi tắt là Niêm hoa.

Theo tư liệu lịch sử, truyện tích Niêm hoa lần đầu tiên được ghi nhận trong tác phẩm Quảng đăng lục (廣傳燈) của Lý Tuân Úc 李遵勗 (988-1038). Theo Phật Tổ thống kỷ, vào niên hiệu Cảnh Hữu (景祐) năm thứ ba (1036), Phò mã đô úy Lý Tuân Úc dângQuảng đăng lục gồm ba mươi quyển, hoàng đế viết lời tựa và ban tặng danh hiệu là Thiên thánh Quảng đăng lục (天聖廣燈錄)[2]. Nội dung truyện tích Niêm hoa trong tác phẩm này được ghi nhậnnhư sau:

Đức Như Lai thuyết pháp tại Linh Sơnchư Thiên dâng cúng hoa. Thế Tôn cầm hoa khai thị cho đại chúng, ngài Ca-diếp mỉm cườiThế Tôn bảo đại chúng rằng: Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâmphó chúc cho Ma-ha Ca-diếp để lưu bố ở tương lai, chớ để đoạn tuyệt. Nhân đó, Ngài lấy y vàng Tăng-già-lê trao cho Ca-diếp[3].

Cũng trong giai đoạn này, một bậc cao tăng ở thời Bắc Tống 北宋 (960-1127)  tên là Khế Tung 契嵩 (1007-1072) đã biên soạn nhiều tác phẩm có đề cập đến sự kiện Niêm hoa. Đơn cử như tác phẩmTruyền pháp chánh tông ký (傳法正宗記), viết vào niên hiệu Gia Hữu (嘉祐) năm thứ bảy (1055), đã ghi:

Trong hội Linh Sơn, Như Lai nâng cành hoa hiển bày cho đại chúng và Ca-diếp mỉm cười, tức giống như phó pháp[4].

Như vậy, hai tác phẩm Quảng đăng lục (廣傳燈) và Truyền pháp chánh tông ký (傳法正宗記) được xem là những tác phẩm đầu tiên ở thời Bắc Tống đề cập đến sự kiện Niêm hoa.

2.   Cơ sở từ kinh điển


Theo phát hiện của Kinh Quốc Công Vương An Thạch 荊國公王安石 (1021-1086), được dẫn lại từ tác phẩm Thích thị kê cổ lược (釋氏稽古略)[5], và cũng được dẫn lại trong Phật Tổ lịch đại thông tải(佛祖歷代通載)[6], thì sự kiện Niêm hoa có nguồn gốc từ kinh Phạm vương vấn Phật (梵王問佛經), với tên đầy đủ trong Tục tạng kinh là Đại Phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi kinh (大梵天王問佛決疑經). Sự kiện Niêm hoa nằm ở phẩm thứ hai (拈華品第二)[7].

Kinh ghi:

Bấy giờ, chúa tể của thế giới Ta-bà là Đại Phạm vương, tên là Phương Quảng, dùng căn thân được thành tựu từ tam thiên đại thiên thế giới, nâng cành hoa Diệu Pháp Liên Kim Quang Minh Đại Bà Ladâng lên Đức Phật rồi lùi lại kính lễ và bạch Phật rằng:

 - Thế Tôn nay đã thành Phật. Từ khi thành chánh giác đến nay đã năm mươi năm, Ngài thuyết pháp vô sốdạy bảo vô sốhóa độ tất cả chúng sanh hữu duyên. Nếu như chưa thuyết giảng đại pháp tối thượng thì xin Ngài hãy vì con và hàng Bồ-tát ở đời sau, vì chúng sanh phàm phu muốn thực hành Phật đạo mà tuyên thuyết giảng bày. 

Bạch như vậy xong, [Phạm vương] liền dùng thân làm tòa, trang nghiêm thiên ythỉnh Phật an tọa. Bấy giờ Như Lai, ngồi trên tòa báu, thọ nhận hoa sen, không lời không nói, chỉ cầm cành hoa, vào trong đại hội. Lúc đó, có tám vạn bốn ngàn đại chúng trời, người đều lắng đọng và im lặng. Ngay khi ấy, trưởng lão Ma-ha Ca-diếp thấy Phật nâng cành hoa khai thị Phật sự cho đại chúng liền an nhiênrạng rỡ mỉm cườiĐức Phật liền bảo rằng: 

- Đúng vậy! Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâmthật tướng vô tướngpháp môn vi diệu, không lập văn tựgiáo ngoại biệt truyềntổng trì nhậm trìphàm phu thành Phậtđệ nhất nghĩa đế, nay đều giao phó cho Ma-ha Ca-diếp. 

Nói xong thì [Ngài] im lặng.

Như vậy, đây có thể coi là cơ sở kinh điển đầu tiên có liên quan trực tiếp đến sự kiện Niêm hoa.

3.   
Biện minh của Vương An Thạch (安石) về bản kinh Đại Phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi kinh (大梵天王問佛決疑經)


Căn cứ vào lời Phàm lệ (凡例) trong ấn bản điện tử của Cbeta[8] thì bản kinh này mất tên người dịch, không rõ niên đại nhưng có nhiều điểm tương đồng với kinh Đại bát Niết-bànBản kinh này được lưu trữ bí mật trong vương phủ, là bảo vật của quốc gia, mới được phổ biến hơn ba trăm năm nay, cho nên lời nói chân thực của Vương Kinh Công (王荊公)[9] và Tống Cảnh Liêm (宋景濂)[10]không hề hư dối vậy.

Riêng nhận định về bản kinh này của Vương Kinh Công (王荊公), tức Kinh Quốc Công Vương An Thạch (荊國公王安石) là một thông tin có giá trị tham khảo.

Tác phẩm Phật Tổ lịch đại thông tải (佛祖歷代通載), dẫn lại cuộc hội thoại giữa Vương An Thạch và Thiền sư Phật Huệ, ghi rằng:

Sự việc Niêm hoa, Kinh Quốc Vương Công nói với Phật Huệ Thiền sư Tuyền Vạn Quyển rằng: Tôi tự trông thấy được ghi chép đầy đủ trong kinh Phạm vương vấn Phật. Chỉ vì kinh này phần nhiều nói về việc đế vương và quốc gia, cất giữ bí mật ở trong cung nên người đời ít nghe nói đến[11].

Cũng dẫn lại sự kiện này nhưng ngài Hối Nham Trí Chiêu (晦巖智昭) đã trình bày theo cách riêng:

Vương Kinh Công hỏi Thiền sư Phật Tuệ Tuyền: Nhà thiền gọi sự kiện Niêm hoa của Thế Tôn có xuất xứ từ kinh đển nào? Phật Tuệ đáp: Kinh tạng không ghi chép. Công đáp: Trong lúc đọc văn chương, tôi vô tình thấy kinh Đại Phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi, gồm ba quyển, nhân đó đã duyệt kinh. Kinh văn ghi chép rất rõ ràngPhạm vương đến Linh Sơn, đem hoa Kim Sắc Ba Ladâng lên Phật, dùng thân làm sàng tòa, thỉnh Phật vì chúng sanh mà thuyết phápThế Tôn thăng tòa, cầm hoa khai thị cho đại chúng, cả trăm vạn trời, người đều không hiểu ý gì, chỉ riêng Kim SắcĐầu-Đà[12] rạng rỡ mỉm cườiThế Tôn dạy: Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâmthật tướng vô tướnggiao phó Ma-ha Ca-diếp. Kinh này phần lớn bàn về việc vua chúa thỉnh vấn Phật. Do vì cất giữ bí mật nên thế gian không có người hay biết[13].

Như vậy, với những ghi nhận khá rõ ràng của Vương An Thạch (王安石), một vị quan thanh liêm và là người có niềm thâm tín Tam bảo; cùng với những suy tư, cân nhắc của ngài Niệm Thường (念常) trong tác phẩm Phật Tổ lịch đại thông tải (佛祖歷代通載) và của ngài Hối Nham Trí Chiêu (晦巖智昭) trong Nhân thiên nhãn mục (人天眼目), đã cho thấy rằng, quan điểm Niêm hoa vi tiếu có nguồn gốc từ bản kinh Đại Phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi kinh (大梵天王問佛決疑經).

4.   Khảo về những sự kiện liên quan đến ngài Ca-diếp trong kinh điển Hán tạng và Nikāya


Bênh cạnh những tư liệu có liên quan trực tiếp đến sư kiện Niêm hoa kể trên, trong kho tàng kinh điển Nikāya và Hán tạng đã chuyên chở nhiều tư liệu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự kiện này.

Theo kinh Tương ưng bộ (S.II.217), đã ghi lại tự thuật của ngài Ca-diếp về sự kiện Đức Phật ban y cho ngài Ca-diếp. Kinh ghi:

24) Rồi này Hiền giảThế Tôn từ trên đường bước xuống và đi đến một gốc cây.

25) Rồi này Hiền giả, ta xấp tư tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt, rồi bạch Thế Tôn:

"- Bạch Thế TônThế Tôn hãy ngồi xuống ở đây, để con được hạnh phúc an lạc lâu dài".

26) Này Hiền giảThế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.

27) Sau khi ngồi xuống, này Hiền giảThế Tôn nói với ta:

"- Thật là mềm dịu, này Kassapa, là tấm y Tăng-già-lê này làm bằng vải cắt của ông".

"- Bạch Thế Tôn, mong rằng Thế Tôn nhận lấy tấm y làm bằng vải cắt này từ nơi con, vì lòng từmẫn đối với con".

28) "- Này Kassapa, ông có dùng tấm y phấn tảo làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Ta không?".

" - Con sẽ dùng, bạch Thế Tôn, tấm y phấn tảo làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Thế Tôn".

29) Như vậy, này Hiền giả, ta cúng cho Thế Tôn tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt; còn ta thời dùng tấm y phấn tảo của Thế Tôn, làm bằng vải gai thô đáng được quăng bỏ[14].

Cũng ghi nhận sự kiện này, nhưng kinh Tạp A-hàm đã đồng thời bổ sung thêm nhiều chi tiết. Kinh ghi:

Tôi nghe như vầy[15]:

Một thời, Đức Phật ngụ tại vườn Cấp Cô Độc, trong rừng Kỳ-đà, thuộc nước Xá-vệ.

Bấy giờ, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp sống lâu trong rừng vắng[16] thuộc nước Xá-vệ, râu tóc mọc dàiđắp y phấn tảo, đi đến chỗ Phật trong lúc Ngài đang thuyết pháp cho vô số đại chúng vây quanh.Các Tỳ-kheo thấy Tôn giả Ma-ha Ca-diếp từ xa đi đến, thấy rồi liền khởi tâm khinh mạn  nói rằng: “Đây là hạng Tỳ-kheo gì vậy? Y áo tồi tàn, đến đây mà chẳng có dung nghi, đến đây mà y áo xốc xếch!”

Đức Phật biết được tâm niệm của các Tỳ-kheo, liền bảo Ma-ha Ca-diếp:

Hãy đến đây, Ca-diếp! Hãy ngồi xuống nửa tòa này. Ta nay không[17] biết ai là người xuất giatrước. Thầy ư? Ta ư?

Khi đó, các Tỳ-kheo kinh hãitoàn thân sởn gai ốc, nói với nhau:

Kỳ lạ thay! Vị đó chính là Tôn giả Ma-ha Ca-diếp, đệ tử của Đại sưđức độ lớn, thần lực lớn, được Thế Tôn mời ngồi nửa tòa[18].

Tiếp theo, cũng ở kinh Tạp A-hàm, kinh số 1144 đã ghi nhận về sự kiện Đức Phật trao y cho Tôn giả Ca-diếp:

Thế rồi, ta lấy cái áo giá trị trăm ngn lượng vàng đã cắt ra may thành y Tăng-già-lê ấy, gấp tư làm tòa. Lúc ấyThế Tôn biết ta chí tâm cầu đạo giải thoát nên khi ta trải y ấy làm tọa cụthỉnh Phật an tọa. 

Ngài liền ngồi xuống, lấy tay sờ y, khen rằng: “Ca-diếp! Y này nhẹ mịn, y này mềm mại”.

Ta thưa: “Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Y này nhẹ mịn, y này mềm mại, cúi xin Thế Tôn thọ nhận y này của con”.

Đức Phật bảo: “Ông hãy nhận lấy y phấn tảo của Ta, Ta sẽ thọ nhận y Tăng-già-lê của ông”.

Thế rồi, Phật liền tự tay trao y phấn tảo cho ta, ta liền dâng Phật y Tăng-già-lê. Ngài dần dần truyền dạy như vậy, trong vòng tám ngày, ta học pháp và thọ trì khất thực. Đến ngày thứ chín, ta đạt đếnVô học

Này A-nan ! Nếu có ai đến hỏi thẳng: Ai là pháp tử của Thế Tôn, từ miệng Phật sanh ra, từ Pháp hóa sanhđược giao phó gia tài Phật pháp: Các thiền, giải thoát, tam-muội, chánh thọ?” thì nên đáp đó là ta, nói như thế mới đúng.

Đáng chú ý, trong kinh Đại bát Niết-bànsự kiện Đức Thế Tôn giao phó Chánh pháp cho tôn  giả Ca-diếp cũng được khẳng định:

 Tất cả Chánh pháp vô thượng của Như Lai nay đã giao phó cho Ma-ha Ca-diếp. Ma-ha Ca-diếp sẽ vì các thầy mà làm nơi nương tựa lớn. Giống như Như Lai vì các chúng sanh mà làm nơi nương tựa; Ma-ha Ca-diếp cũng lại như vậy, sẽ vì các thầy mà làm nơi nương tựaVí như quốc vươngthống lãnh nhiều nơi, những lúc đi tuần thì đem hết việc nước giao phó cho đại thần. Như Lai cũng vậy, tất cả Chánh pháp cũng đã giao phó cho Ma-ha Ca-diếp[19].

Có thể nói rằng, những nguồn tư liệu từ Tạp A-hàm và kinh Đại bát Niết-bàn có vai trò khá quan trọng vì làm cứ liệu cho nhiều bản sử truyện và kinh lục về sau, khi viện dẫn những sự kiện liên quan đến Tôn giả Ca-diếp. Có thể tìm thấy những liên hệ này qua Phó pháp tạng nhân duyên truyện (付法藏因緣傳)[20], Cảnh Đức truyền đăng lục (景德傳燈錄),[21] Truyền pháp chánh tông ký(傳法正宗記)[22], Ngũ đăng hội nguyên (五燈會元)[23], Tông cảnh lục (宗鏡錄)[24]…, thể hiện ở chi tiết Như Lai giao phó Chánh pháp cho Tôn giả Ca-diếp.

Nhận định


Tượng pháp của Phật giáo nói chung được định hình khá muộn và cơ sở của tượng pháp phần lớn dựa vào kho tàng kinh điển Phật giáo. Có thể thấy rõ điều này qua những công trình Phật giáo và tượng pháp còn lưu lại ở nền nghệ thuật Phật giáo Kiền-đà-la (Gandhara).

Với tượng pháp Niêm hoa vi tiếu, nếu như phát hiện của Vương An Thạch là đúng, thì kinh Đại Phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi kinh (大梵天王問佛決疑經) là cơ sở lý luận đầu tiên để định hình nên tượng pháp này.

Xét về niên đại, những dữ liệu liên quan đến cơ sở tượng pháp Niêm hoa vi tiếu xuất hiện ở thời kỳBắc Tống (960-1127), tính đến nay khoảng một ngàn năm và sự kiện này đã được các bậc Đại sưcó thẩm quyền của Phật giáo Bắc truyền ghi nhận.

Với những ghi chép chân thực về Tôn giả Đại Ca-diếp trong các bộ A-hàm và kinh điển Đại thừanêu trên, qua những sự kiện quan trọng như: được Phật ban cho nửa tòa ngồi, được Phật ban y và giao phó Chánh pháp; những điều đó đã góp phần chứng minh sự tương thông và thấu cảm giữa ngài Ca-diếp và Đức Phật. Đây cũng là những cơ sở quan trọng để góp phần định hình nên truyện tích Niêm hoa vi tiếu, nếu như quan điểm của Vương An Thạch chưa đủ vững chãi.



[1] Thích thị kê cổ lược 釋氏稽古略 (T.49. 2037.4. 0873a17).

[2] Phật Tổ thống kỷ 佛祖統紀 (T.49. 2035.45. 0410a04).

[3] Thiên thánh Quảng đăng lục 天聖廣燈錄 (X.78. 1553.2. 0428c02). Nguyên tác: 如來在靈山說法。諸天献華。 世尊持華示眾。 迦葉微笑。 世尊告眾曰。 吾有正法眼藏。 涅槃妙心。 付囑摩訶迦葉。 流布將來。 勿令斷絕。 仍以金縷僧伽梨衣付迦葉.

[4] Truyền pháp chánh tông ký  傳法正宗記 (T.51. 2078.1. 0718b23). Nguyên tác: 如來於靈山會中拈花示之。 而迦葉微笑。 即是而付法.

[5] Thích thị kê cổ lược 釋氏稽古略 (T.49. 2037.1. 0753b21).

[6] Phật Tổ lịch đại thông tải  佛祖歷代通載 (T.49. 2036.3. 0496a19).

[7] Đại Phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi kinh 大梵天王問佛決疑經, 拈華品第二 (X. 01. 0027.1. 0442a01). 

[8]  Bản kinh này được nhập liệu và đưa vào Cbeta vào ngày 2-8-2023.

[9] Vương Kinh Công (王荊公), tức là Vương An Thạch 王安石 (1021-1086): Là một bậc học sĩ am tường Nho, Thích, giỏi văn chươngam tường kinh tế, chính trị, làm đến chức tể tướng và là một cư sĩ thuần thành. Theo Thích thị kê cổ lược 釋氏稽古略 (T.49. 2037.4. 0873a17), vào niên hiệu Hy Ninh (熙寧) năm thứ mười (1077), ông xin vua hiến cúng biệt phủ của mình ở Kiến Khang để làm ngôi thiền tự.

[10] Tống Cảnh Liêm 宋景濂 (1310-1381): Là một đại học sĩ, có nhiều đóng góp cho Phật giáo, đã từng đọc hết Đại tạng kinh. Xem, Tông giám pháp lâm 宗鑑法林 (X.66. 1297.35. 0496c15): Thiên nham nhân, Học sĩ Tống Cảnh Liêm đến hỏi kệ. Sư hỏi: Nghe ngài đọc xong Đại tạng, có phải vậy chăng? Cảnh Liêm đáp: Đúng vậy   (千巖因宋景濂學士來謁。 師問。 聞公閱盡一大藏。 有諸。 士曰然).

[11] Phật Tổ lịch đại thông tải  佛祖歷代通載 (T.49. 2036.3. 0496a19). Nguyên tác: 拈花之事荊國王公對佛惠禪師泉萬卷言。 親見於梵王問佛經中。 具載。 但此經多言國家帝王之事。 藏之祕府。 世故罕聞.

[12] Kim Sắc Đầu-đà (金色頭陀). Chỉ cho ngài Ca-diếp, có thân hình màu vàng với hạnh Đầu-đà.

[13] Nhân thiên nhãn mục 人天眼目 (T.48. 2006.5.  0325b06). Nguyên tác: 王荊公問佛慧泉禪師云。 禪家所謂世尊拈花。 出在何典。 泉云。 藏經所不載。 公曰。 余頃在翰苑。 偶見大梵天王問佛決疑經三卷。 因閱之。 經文所載甚詳。 梵王至靈山。 以金色波羅花獻佛。 舍身為床座。 請佛為]眾生說法。 世尊登座拈花示眾。 人天百萬。 悉皆罔措。 獨有金色頭陀。 破顏微笑。 世尊云。 吾有正法眼藏涅槃妙心實相無相。 分付摩訶大迦葉。 此經多談帝王事佛請問。所以祕藏世無聞者.

[14] Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam, tập 3, Kinh Tương ưng bộ, HT.Thích Minh Châu dịch, NXB.Hồng Đức, 2020,  tr.451.

[15] Tạp. 雜 (T.02. 0099.1142. 0302a01). Tham chiếuBiệt tạp. 别 雜 (T.02. 0100.117. 0416c07); S.16.9 - II.210.

[16] Nguyên tác A-luyện-nhã sàng tọa xứ (阿練若床坐處). Theo, Biệt tạp.   (T.02. 0100.117. 0416c08): Ở nơi biên địa, trải cỏ mà ngồi (在於邊遠, 草敷而住).

[17] Tạp A-hàm kinh luận hội biên 雜阿含經論會編 (Y.32. 0030.07. 0578a07) nghi ngờ bỏ quên chữ bất (不). Bản dịch bổ sung dựa trên cơ sở này.不不

[18] Sư kiện Thế Tôn nhường nửa tòa cho Tôn giả Ca-diếp còn được ghi nhận ở kinh Tăng Nhất A-hàmTự phẩm 序品 (T.02. 0125.1. 0549b09): Tôn giả Ca-diếp trí lực đầy/ Diệu pháp Thế Tôn đã trao ngài/ Hãy vì chúng sanh thưa Trưởng lão/ Bậc được nửa tòa của Như Lai. (今尊迦葉能堪任, 世雄以法付耆舊, 大迦葉今為眾人, 如來在世請半坐).

[19] Đại-bát Niết-bàn kinhAi thán phẩm 大般涅槃經, 哀歎品 (T.12. 0375.3. 0617b24). Nguyên tác: 我今所有無上正法悉以付囑摩訶迦葉。 是迦葉者, 當為汝等作大依止。 猶如如來為諸眾生作依止處; 摩訶迦葉亦復如是, 當為汝等作依止處。 譬如大王多所統領, 若遊巡時, 悉以國事付囑大臣。 如來亦爾, 所有正法亦以付囑摩訶迦葉.

[20] Phó pháp tạng nhân duyên truyện 付法藏因緣傳 (T.50. 2058.2. 0302c15).

[21] Cảnh Đức truyền đăng lục 景德傳燈錄 (T.51. 2076.1. 0206c05). Nguyên tác: 昔如來以大法眼付大迦葉.

[22] Truyền pháp chánh tông ký  傳法正宗記 (T.51. 2078.1. 0718b23).

[23] Ngũ đăng hội nguyên 五燈會元 (X.80. 1565.1 . 0031a19).

[24] Tông cảnh lục  宗鏡錄 (T.48. 2016.97. 0937c21).

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 128)
Chúng sinh tuy bình đẳng nhưng căn tính bất đồng. Bình đẳng trên chân lý không phải là mọi người ngang hàng bằng nhau.
(View: 179)
Đạo Phật là đạo giác ngộ, có nguồn gốc từ Ấn Độ, do Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhārtha Gautama) hình thành và sáng lập.
(View: 187)
Hồi đó, khi Đức Phật cùng với Tăng đoàn du hóa tại nước Xá-vệ thì có rất nhiều người trẻ đã phát tâm đi tu. Tôn giả A-nan được giao trách nhiệm...
(View: 277)
Trí Tuệ Bát Nhã, thần thông quảng đại, nhận thức được thực tướng của vạn Pháp. Trí Tuệ (wisdom) bao gồm cả kiến thức bác học, kiến giác, chứng nghiệm, tâm lý, tâm linh...
(View: 268)
Tôi xin dùng lý luận khoa học cùng triết lý nhân văn để giải thích những điều tâm linh của Phật Giáo.
(View: 425)
Hình ảnh Thầy Minh Tuệ xuất hiện trên các mạng xã hội y hệt như một trận bão truyền thông, làm dâng tràn những cảm xúc và suy tưởng.
(View: 275)
Hôm nay chúng ta bắt đầu nghiên cứu chương thứ hai, bàn về những sự thực hành kham khổ, tức là các phương pháp đầu đà.
(View: 235)
Như Lai được định nghĩa trực tiếp ba lần trong Kinh Kim Cương bát nhã ba la mật. Ba lần ấy được nói đến theo thứ tự như sau:
(View: 296)
Kinh Lăng-già tên gọi đầy đủ là Thể Nhập Chánh PhápLăng-già, cuối chương १० सगाथकम्। (10-sagāthakam), biên tập bởi Nanjō Bunyū 南條文雄 (laṅkāvatāra sūtra, kyoto, 1923)
(View: 500)
Bước đầu tiên để bước vào con đường Phật giáo là quy y Tam Bảo, và viên ngọc đầu tiên trong ba viên ngọc mà chúng ta tiếp cận để quy y là Đức Phật, Đấng Giác Ngộ.
(View: 481)
Đạo Phật là đạo của bi trí dũng. Đạo của trí tuệ, của chánh biến tri, và chánh tri kiến chứ không phải không thấy mà tin tưởng mù quáng.
(View: 358)
Phân biệt phước đức và công đức là cần thiết cho việc học và hành đạo Phật.
(View: 378)
Sơ quả hay Tu-đà-hoàn là quả vị Thánh đầu tiên mà người Phật tử có thể chứng đạt ngay hiện đời.
(View: 448)
Cuộc đời và công việc của Bồ tát được nói trong phần cuối đoạn Đồng tử Thiện Tài gặp đức Di Lặc.
(View: 534)
Trong khi các tín ngưỡng về nghiệp và tái sinhphổ biến vào thời của Đức Phật,
(View: 662)
Đây là ba phạm trù nghĩa lý đặc trưng để bảo chứng nhận diện ra những lời dạy của đức Đạo sư một cách chính xác mà không
(View: 587)
Đi vào Pháp giới Hoa nghiêmđi vào bằng bồ đề tâm thanh tịnh và được cụ thể hóa bằng nguyện và hạnh.
(View: 442)
Nhị đế là từ được qui kết từ các Thánh đế (āryasatayā) qua nhân quả Khổ-Tập gọi là Tục đế
(View: 545)
Quí vị không giữ giới luật có thể không làm hại người khác, nhưng thương tổn tự tánh cuả chính mình.
(View: 658)
Lầu các của Đức Di Lặc tượng trưng cho toàn bộ pháp giới của Phật Tỳ Lô Giá Na; lầu các ấy có tên là Tỳ Lô Giá Na Đại Trang Nghiêm.
(View: 703)
Trong kinh Duy Thức thuộc tạng kinh phát triển, để chỉ cho sự huân tập thành khối nghiệp lực (A Lại Da Thức và Mạc Na Thức,)
(View: 561)
Tín ngưỡng Dược Sư với đại diệnthế giới Lưu ly nằm ở phương Đông mà nó tương tự với các cõi Tịnh độ khác, đều dùng việc
(View: 659)
Hai câu hỏi hiện lên trong đầu tôi khi nghĩ về giáo lý vô thường liên quan đến cuộc đời tôi.
(View: 906)
Lôgic học là một ngành học có mục đích xác định các quy tắc vận hành của tư duy để tìm kiếm sự thực.
(View: 745)
Trong quá trình hình thành và phát triển xã hội, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc, thỏa mãn nhu cầu về vật chấttinh thần.
(View: 760)
Tuệ là trí tuệ tức cái biết, thức là nhận thức cũng là cái biết. Cả hai đều là cái biết nhưng có đặc điểm khác nhau.
(View: 885)
Khái niệm Niết-bàn vốn thành hình cách đây hơn 2500 năm. Các học giả và các triết gia khác nhau
(View: 1024)
Ở trên là hai câu đầu trong bài kệ Lục Tổ Huệ Năng khai thị nhân bài kệ của thiền sư Ngọa Luân. Câu chuyện được thuật lại trong Pháp Bảo Đàn Kinh, phẩm Cơ Duyên thứ 7.
(View: 1154)
Chữ “Tăng đoàn” là một thuật ngữ tiếng Phạn, có nghĩa là “cộng đồng” và được sử dụng chủ yếu để chỉ những tín đồ đã xuất gia của Đức Phật,
(View: 1161)
Tóm tắt: Phật giáotôn giáo được biết đến như một hệ thống triết học mang đậm chất tư duy, trí tuệ cùng giá trị đạo đức cao.
(View: 1092)
Mỗi người hiểu về nghiệp theo mỗi kiểu khác nhau tùy vào nhận thức và trải nghiệm bản thân, nhưng phần lớn vẫn chịu ảnh hưởng của cách hiểu trong dân gian về khái niệm của từ này.
(View: 966)
Từ ngàn xưa cho đến thời điểm xã hội phát triển mạnh mẽ về mọi mặt như hiện nay, mặc dù nền văn minh có bước tiến bộ vượt bậc
(View: 948)
iáo lý Duyên khởi được xem như chiếc chìa khóa mở ra kho tàng pháp bảo Phật giáo, vì có thể giải quyết những vấn đề của khổ đau, cả sự sanh ra hay chết đi của con người.
(View: 954)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh tập thứ 14. Kinh văn số 550 gồm 12 quyển. Chữ Hán từ trang 865 đến trang 894, gồm tất cả 29 trang.
(View: 1065)
Những nhu cầu của con người sinh học thì giản dị, khi đói chỉ mong được ăn, khi khát mong được uống, khi mệt mong được nằm,
(View: 1087)
Khi thân thể tiều tụy chỉ còn da bọc xương, những khổ thọ chết người đều đã trải qua,
(View: 1219)
Trong quá trình thuyết giáo của đức Phật, những lời dạy của Ngài không được lưu giữ dưới dạng văn bản chữ viết
(View: 951)
Nhân ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những vị tông sư hoằng truyền luật học Phật giáo thời cận đại,
(View: 855)
Hành giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải chọn lựa pháp môn nào cho thích hợp với căn cơ của mình
(View: 993)
Trọng tâm của triết học Phật giáohọc thuyết nổi tiếng về tính không - rằng tất cả chúng sinhhiện tượng đều trống rỗng về bản chất hay bản chất cố hữu.
(View: 1092)
Vô phân biệt được nói đến nhiều lần trong Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật.
(View: 985)
Theo lý Duyên Khởi của đạo Phật, tất cả vạn hữu vũ trụ được hình thành do yếu tố hòa hiệp của nhơn duyên và sẽ đi đến phân ly do duyên tan rã.
(View: 959)
Cuộc chiến đấu mới–Sau khi Đức Phật nhập diệt, hình bóng của ngài vẫn hiện ra trong hàng thế kỷ trong một hang động–một hình bóng rất lớn
(View: 1094)
Như Nietzsche khuyên răn chúng ta hãy lại bắt đầu học làm mới bằng cách để ý đến những việc ‘tầm thường’ và sự vận hành của ‘thân’ để xác định
(View: 1105)
Tôi nghĩ là làm một việc có lý khi bác bỏ tuyên bố của Nietzsche rằng đạo Phật là một dạng của ‘thuyết hư vô thụ động,’ rằng đạo Phật truyền dạy
(View: 1064)
Đặt vấn đề có phải đạo Phật là một dạng của ‘Chủ thuyết hư vô thụ động’ có nghĩa là đặt vấn đề liệu summum bonum[1] của đạo Phật,
(View: 1128)
Dù có nhiều tác phẩm đa dạng về Phật học thích dụng ở Châu Âu thời kỳ trước Nietzsche,
(View: 1156)
Nhân ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những vị tông sư hoằng truyền luật học Phật giáo thời cận đại,
(View: 1147)
Hành giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải chọn lựa pháp môn nào
(View: 1338)
Cửa vào bất nhị, còn gọi là pháp môn bất nhị, từ xa xưa đã được truyền dạy từ thời Đức Phật, chứ không phải là hậu tác của chư tổ Bắc Tông,
(View: 1221)
Tinh thần hòa hiệp là ý nghĩa sống lành mạnh an vui, tinh thần của một khối người biết tôn trọng ý niệm tự tồn, và xây dựng vươn cao trong ý chí hướng thượng.
(View: 2103)
Xuất xứ của Bát Chánh Đạo có hai nguồn là nguồn từ Phật chứng ngộ mà thuyết ra và nguồn được kết tập lại từ các kinh điển
(View: 1335)
Tam tam-muội là chỉ cho ba loại định, tức là ba loại pháp môn quán hành của Phật giáo, được xem như là nguyên lý thực tiễn của Thiền định.
(View: 1463)
Tôi kính lễ bái bậc Chánh giác, bậc tối thắng trong hết thảy các nhà thuyết pháp, đã thuyết giảng Duyên khởibất diệtbất sinh,
(View: 1200)
Thay vì tìm hiểu nguồn gốc tại sao phải chịu luân hồi sinh tử, con người không ngừng tìm kiếm căn nguyên của vũ trụ vạn vật, nơi mình sinh ra;
(View: 1489)
Khi Thái tử Tất-đạt-đa nhận thấy tất cả mọi người dân đang chìm trong đau khổ, và ngay chính bản thân mình rồi cũng phải chịu qui luật già, bệnh, chết
(View: 1371)
Danh từ nghiệp hay karma (skt.) được đề cập thường xuyên trong các luận giải về tư tưởng triết họctôn giáo Ấn-độ.
(View: 1394)
Tứ quả là bốn quả vị sai biệt của các bậc Thánh Thinh Văn thừa, tùy thuộc vào trình độ căn cơ của hành giả đã đạt được sau khi tu tập
(View: 1562)
Sau khi hoàng hậu Ma-da (Mayā) quá vãng, vua Tịnh Phạn (Suddhodana) tục huyền với Mahāpajāpatī Gotami và bà đã xuất gia
(View: 1941)
Kinh Pháp Hoa dạy rằng: “Đức Phật ra đời vì một đại nhân duyên. Đó là khai thị cho chúng sanh liễu ngộ Phật tri kiến nơi mình”.
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant