Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Đạo PhậtCon Đường Giác Ngộ.

Saturday, June 8, 202418:25(View: 240)
Đạo Phật Là Con Đường Giác Ngộ.
Đạo PhậtCon Đường Giác Ngộ

Thích Nguyên Duyên


1

Đạo Phật là đạo giác ngộ, có nguồn gốc từ Ấn Độdo Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhārtha Gautama) hình thành và sáng lậpĐạo Phật gồm một loạt các giáo lýtư tưởng triết học cũng như tư duy về nhân sinh quan, vũ trụ quan, thế giới quan, giải thích hiện tượng tự nhiêntâm linhxã hộibản chất sự vật sự việc, các phương pháp tu họcthực hànhthiền định và các truyền thống tín ngưỡng được hình thành, phát triển đến ngày nay.

Theo nhiều tài liệu kinh điển của Phật giáo, cũng như các tài liệu khoa học và khảo cổ đã chứng minh Tất Đạt Đa Cồ Đàm thường được gọi là Bụt, Phật Thích Ca Mâu NiĐức Phật hoặc “Người giác ngộ”, “Người tỉnh thức” đã sống và thuyết giảng ở vùng đông bắc Ấn Độ ngày nay từ khoảng thế kỷ VI TCN. Bằng những nỗ lực chân chính của bản thânthông qua con đường thiền định và quán chiếuĐức Phật đã trở thành một bậc giác ngộ tối thượng đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Nhờ vào tính chất khai sáng cùng sự uyển chuyển, linh hoạt của triết lý, Phật giáo được nhiều người tiếp nhận và có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều tầng lớp giai cấp, nhiều phong tục tập quán ở các thời kỳ, đất nước khác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển rộng rãitrên toàn thế giới.

Phật giáo có đến 84.000 pháp môn đó cũng chính là 84.000 con đường với điểm đến là sự giải thoát, đó cũng là ngụ ý có nhiều cách, nhiều phương pháp hoặc con đường đạt đến chân lý của Đức PhậtSở dĩ có nhiều pháp môn như vậy nhằm phù hợp với căn cơ của mỗi người, bởi mỗi chúng sinh đều có những tâm tính khác nhau. Vì căn tínhnghiệp lực và hạnh của mỗi người mỗi sai biệt, nên sẽ thích hợp với một con đường riêng. Nhưng dù là pháp mônnào đi chăng nữa cũng đều đưa hành giả đến sự giác ngộgiải thoát.

Các trường phái Phật giáo khác nhau ở quan điểm về bản chất của con đường đưa đến giác ngộ để được giải thoát, tính chính thống của các bài thuyết giảng và kinh điểnđặc biệt là ở phương thức tu tậpHệ thống triết lý Phật giáo chứa đựng nhiều quan điểm bản thể luận hình thức, là một bộ môn triết học chủ yếu giải quyết vấn đề sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xácđể làm tốt vai trò mô tả thực tại hay thực thể. Trong triết học Phật giáo đã phát triển đến trình độ cao có thể hiểu giác ngộ giống như khai sáng đó là khi ta khai sáng, tự sử dụng trí tuệ của mình để nhận thức đúng đắn thế giới nhằm hướng con người đến Chân – Thiện – Mỹ.

Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm, từ đầu Công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp; thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần là giai đoạn cực thịnh được coi là quốc giáoảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo; từ đời Lê sơ đến đời Tây Sơn là giai đoạn suy thoái; từ đời Nguyễn đến nay là giai đoạn phục hưng, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị khắp cả nước với đóng góp quan trọng của các nhà sưKhánh Hoà, sư Thiện Chiếu…

“Học để tu”, muốn tu thì phải biết phương phápcon đường để tu và học chính là tìm hiểuphương phápcon đường đó. Từ thời Đức Phật đã dạy với một người sau khi xuất gia, Ngài dạy họ phương pháp tu tập và họ tu tập cho đến khi đạt được mục đích giác ngộgiải thoát.

Chúng ta đến với đạo Phật là vì trong lòng ấp ủ mong muốn hạnh phúcan lạc, thoát khổ, hết phiền. Và con đường giác ngộ này không phải là dùng mắt thấy được, dùng tai nghe đượcmà muốn được giác ngộ bạn phải nỗ lực tu học. Sự tu học của chúng ta cũng thếcần phảihọc cách buông bỏ cho thân và tâm thanh thản, nhẹ nhàng hơn. Sự buông bỏ hiểu đơn giảnlà buông bỏ tính tham, sân, si và tránh làm những điều xấu, ác. Để đạt được điều đó, tự mỗi cá nhân phải ra sức tu tập và chuyển hóa. Có thể nói, giác ngộ là một quá trình chuyển hóa. Trước hết là sự chuyển hóa về tri thứcNgu muội được thay thế bằng tuệ giác. Sự chuyển hóa tình cảm: Thái độ sợ hãi và lo âu được thay thế bằng sự an tịnh và vô uýđau khổ bằng hạnh phúc. Sự chuyển hóa trong thái độChấp thủ được thay thế bằng ly tham. Và sự chuyển hóa trong cách cư xử: Sự tước đoạt được thay thế bằng sự ban cho; lười biếng bằng năng động; sự phá hoại bằng sự tạo ra.

Trên bước đường tu học, ai cũng sẽ trải qua ít nhiều những khó khăn, nghịch cảnh, điều đó giúp ta có cơ hội thực hành những điều mà mình đã học để hoàn thiện mình hơn. Những đau khổnghịch cảnh trong đời là điều tất yếu, không ai có thể tránh, vì vậy người học Phật hãy tự trang bị những tư lương cần thiết để khi đối trước nghịch cảnhtâm không còn cảm thấyđau khổ và bị lay chuyển. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nỗ lực làm những điều thiện lành, mang lại hạnh phúc cho tha nhânSự giải thoát chính là thành quả đến từ sự buông xuống thái độ chấp trước của ta và cái của ta. Buông bao nhiêu, giải thoát bấy nhiêu, buông cái gì thì giải thoát được cái đó. Khi ấy, chúng ta sẽ đi được lâu và xa hơn trong hành trình đi đến sự giác ngộgiải thoát.

Đạo Phật chủ trương “Duy tuệ thị nghiệp”, lấy trí tuệ làm sự nghiệp, chỉ có trí tuệ mới là sự nghiệp của người tu. Và “Duy tuệ thị nghiệp” cũng có nghĩa là lấy giác ngộ làm sự nghiệp, lấy minh tâm kiến tánh làm sự nghiệp. Người thế gian lấy nhà cửa, đất đai, tiền bạc, địa vịdanh vọng làm sự nghiệp, còn người tu thì lấy trí tuệ, thuộc chân tâm, có tác dụng phá tan vô minhgiải thoát khỏi sinh tử luân hồi làm sự nghiệp của cuộc đời mình. Như vậy, sự giác ngộ chính là nhận ra bản chất về sự hiện hữu của con người, sự hiểu biết về nhân và quả của con người và thế giớiMục đích của sự giác ngộ là sự giải thoát khỏi những nỗi đau khổ trong sinh tử luân hồi và sự đạt được hạnh phúc hoàn toàn, Niết-bàn.

Đạo Phật là con đường giác ngộ và tu Phật là đi trên đường giác ngộ. Với người tu sĩ hay những người học Phật, có cảm tình với đạo Phật thì việc giác ngộ là điều không thể thiếu. Giác ngộ với mỗi người có những cảm nhận nông, sâu khác nhau tùy theo trình độ của người. Giác ngộ đó chính là ánh sáng dẫn đường cho những chúng sinh trở về cội nguồn chân thật xưa nay đã tự quên mất; Giác ngộ để nhận biết thế gian vô thườnggiác ngộnghiệp báogiác ngộ mê lầm chấp ngãgiác ngộ nghĩa không của bát nhãgiác ngộ Phật tánh nơi mỗi chúng sinhgiác ngộ chân tâm rõ ràng thường biết…

Tuy nhiêncon đường giác ngộ không chỉ nhìn, nghe, đọc thấy mà đòi phải có trí tuệ và chân tâm. Là những hành giả thực sự tu học, để có được những kiến thức và bước đi vững và luôn phải mở sáng con mắt “Tuệ giác” nơi chính mình, để tham thiềnnhập định bằng tâm tĩnh lặng và thanh tịnh để ghi lại ánh sáng giác ngộ chân thật. Và để đi đến tận cùng của “Chân tâm” đó là cái tâm Phật mà ai cũng có. Khi ta đi tìm Phật thì không nên tìm Phật ở ngoài tâm vì trong tâm chúng ta đã có Phật. Và ai cũng có thể trở thành Phật nếu người đó tự sử dụng trí tuệ của mình để nhận thức đúng đắn bản ngã và thế giới xung quanh do đó được giải thoát. Khi đã vượt qua sự vô minhcon người giác ngộ trở thành Phật và được giải thoát.

Đạo Phật là con đường giác ngộ. Bất cứ ai, khi có lòng từ bi thì không sợ bất cứ điều gì và những gì chúng ta nhìn thấy từ bên ngoài khi đưa vào trong tâm, làm ta đau khổ đều là nghiệp chướngVì vậy, sự vật hiện tượng bên ngoài ta nên nhổ gốc đem ra ngoài, hay nóicách khác là không tiếp nhận thì ta sẽ hết khổ. Vậy muốn giác ngộgiải thoát ta phải quay vào tâm mà tìm là chính, những cái bên ngoài chỉ là phương tiện mà thôi.



Đạo Phật là đạo giác ngộ, có nguồn gốc từ Ấn Độdo Tháitử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhārtha Gautama) hình thành và sáng lậpĐạo Phật gồm một loạt các giáo lýtư tưởng triết học cũng như tư duy về nhân sinh quan, vũ trụ quan, thế giới quan, giải thích hiện tượng tự nhiêntâm linhxã hộibản chất sự vật sự việc, các phương pháp tu họcthực hànhthiền định và các truyền thống tín ngưỡng được hình thành, phát triển đến ngày nay.

Theo nhiều tài liệu kinh điển của Phật giáo, cũng như các tài liệu khoa học và khảo cổ đã chứng minh Tất Đạt Đa Cồ Đàm thường được gọi là Bụt, Phật Thích Ca Mâu NiĐức Phật hoặc “Người giác ngộ”, “Người tỉnh thức” đã sống và thuyết giảng ở vùng đông bắc Ấn Độ ngày nay từ khoảng thế kỷ VI TCN. Bằng những nỗ lực chân chính của bản thânthông qua con đường thiền định và quán chiếuĐức Phật đã trở thành một bậc giác ngộ tối thượng đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Nhờ vào tính chất khai sáng cùng sự uyển chuyển, linh hoạt của triết lý, Phật giáo được nhiều người tiếp nhận và có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều tầng lớp giai cấp, nhiều phong tục tập quán ở các thời kỳ, đất nước khác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển rộng rãitrên toàn thế giới.

Phật giáo có đến 84.000 pháp môn đó cũng chính là 84.000 con đường với điểm đến là sự giải thoát, đó cũng là ngụ ý có nhiều cách, nhiều phương pháp hoặc con đường đạt đến chân lý của Đức PhậtSở dĩ có nhiều pháp môn như vậy nhằm phù hợp với căn cơ của mỗi người, bởi mỗi chúng sinh đều có những tâm tính khác nhau. Vì căn tínhnghiệp lực và hạnh của mỗi người mỗi sai biệt, nên sẽ thích hợp với một con đường riêng. Nhưng dù là pháp mônnào đi chăng nữa cũng đều đưa hành giả đến sự giác ngộgiải thoát.

Các trường phái Phật giáo khác nhau ở quan điểm về bản chất của con đường đưa đến giác ngộ để được giải thoát, tính chính thống của các bài thuyết giảng và kinh điểnđặc biệt là ở phương thức tu tậpHệ thống triết lý Phật giáo chứa đựng nhiều quan điểm bản thể luận hình thức, là một bộ môn triết học chủ yếu giải quyết vấn đề sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xácđể làm tốt vai trò mô tả thực tại hay thực thể. Trong triết học Phật giáo đã phát triển đến trình độ cao có thể hiểu giác ngộ giống như khai sáng đó là khi ta khai sáng, tự sử dụng trí tuệ của mình để nhận thức đúng đắn thế giới nhằm hướng con người đến Chân – Thiện – Mỹ.

Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm, từ đầu Công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp; thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần là giai đoạn cực thịnh được coi là quốc giáoảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo; từ đời Lê sơ đến đời Tây Sơn là giai đoạn suy thoái; từ đời Nguyễn đến nay là giai đoạn phục hưng, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị khắp cả nước với đóng góp quan trọng của các nhà sưKhánh Hoà, sư Thiện Chiếu…

“Học để tu”, muốn tu thì phải biết phương phápcon đường để tu và học chính là tìm hiểuphương phápcon đường đó. Từ thời Đức Phật đã dạy với một người sau khi xuất gia, Ngài dạy họ phương pháp tu tập và họ tu tập cho đến khi đạt được mục đích giác ngộgiải thoát.

Chúng ta đến với đạo Phật là vì trong lòng ấp ủ mong muốn hạnh phúcan lạc, thoát khổ, hết phiền. Và con đường giác ngộ này không phải là dùng mắt thấy được, dùng tai nghe đượcmà muốn được giác ngộ bạn phải nỗ lực tu học. Sự tu học của chúng ta cũng thếcần phảihọc cách buông bỏ cho thân và tâm thanh thản, nhẹ nhàng hơn. Sự buông bỏ hiểu đơn giảnlà buông bỏ tính tham, sân, si và tránh làm những điều xấu, ác. Để đạt được điều đó, tự mỗi cá nhân phải ra sức tu tập và chuyển hóa. Có thể nói, giác ngộ là một quá trình chuyển hóa. Trước hết là sự chuyển hóa về tri thứcNgu muội được thay thế bằng tuệ giác. Sự chuyển hóa tình cảm: Thái độ sợ hãi và lo âu được thay thế bằng sự an tịnh và vô uýđau khổ bằng hạnh phúc. Sự chuyển hóa trong thái độChấp thủ được thay thế bằng ly tham. Và sự chuyển hóa trong cách cư xử: Sự tước đoạt được thay thế bằng sự ban cho; lười biếng bằng năng động; sự phá hoại bằng sự tạo ra.

Trên bước đường tu học, ai cũng sẽ trải qua ít nhiều những khó khăn, nghịch cảnh, điều đó giúp ta có cơ hội thực hành những điều mà mình đã học để hoàn thiện mình hơn. Những đau khổnghịch cảnh trong đời là điều tất yếu, không ai có thể tránh, vì vậy người học Phật hãy tự trang bị những tư lương cần thiết để khi đối trước nghịch cảnhtâm không còn cảm thấyđau khổ và bị lay chuyển. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nỗ lực làm những điều thiện lành, mang lại hạnh phúc cho tha nhânSự giải thoát chính là thành quả đến từ sự buông xuống thái độ chấp trước của ta và cái của ta. Buông bao nhiêu, giải thoát bấy nhiêu, buông cái gì thì giải thoát được cái đó. Khi ấy, chúng ta sẽ đi được lâu và xa hơn trong hành trình đi đến sự giác ngộgiải thoát.

Đạo Phật chủ trương “Duy tuệ thị nghiệp”, lấy trí tuệ làm sự nghiệp, chỉ có trí tuệ mới là sự nghiệp của người tu. Và “Duy tuệ thị nghiệp” cũng có nghĩa là lấy giác ngộ làm sự nghiệp, lấy minh tâm kiến tánh làm sự nghiệp. Người thế gian lấy nhà cửa, đất đai, tiền bạc, địa vịdanh vọng làm sự nghiệp, còn người tu thì lấy trí tuệ, thuộc chân tâm, có tác dụng phá tan vô minhgiải thoát khỏi sinh tử luân hồi làm sự nghiệp của cuộc đời mình. Như vậy, sự giác ngộ chính là nhận ra bản chất về sự hiện hữu của con người, sự hiểu biết về nhân và quả của con người và thế giớiMục đích của sự giác ngộ là sự giải thoát khỏi những nỗi đau khổ trong sinh tử luân hồi và sự đạt được hạnh phúc hoàn toàn, Niết-bàn.

Đạo Phật là con đường giác ngộ và tu Phật là đi trên đường giác ngộ. Với người tu sĩ hay những người học Phật, có cảm tình với đạo Phật thì việc giác ngộ là điều không thể thiếu. Giác ngộ với mỗi người có những cảm nhận nông, sâu khác nhau tùy theo trình độ của người. Giác ngộ đó chính là ánh sáng dẫn đường cho những chúng sinh trở về cội nguồn chân thật xưa nay đã tự quên mất; Giác ngộ để nhận biết thế gian vô thườnggiác ngộnghiệp báogiác ngộ mê lầm chấp ngãgiác ngộ nghĩa không của bát nhãgiác ngộ Phật tánh nơi mỗi chúng sinhgiác ngộ chân tâm rõ ràng thường biết…

Tuy nhiêncon đường giác ngộ không chỉ nhìn, nghe, đọc thấy mà đòi phải có trí tuệ và chân tâm. Là những hành giả thực sự tu học, để có được những kiến thức và bước đi vững và luôn phải mở sáng con mắt “Tuệ giác” nơi chính mình, để tham thiềnnhập định bằng tâm tĩnh lặng và thanh tịnh để ghi lại ánh sáng giác ngộ chân thật. Và để đi đến tận cùng của “Chân tâm” đó là cái tâm Phật mà ai cũng có. Khi ta đi tìm Phật thì không nên tìm Phật ở ngoài tâm vì trong tâm chúng ta đã có Phật. Và ai cũng có thể trở thành Phật nếu người đó tự sử dụng trí tuệ của mình để nhận thức đúng đắn bản ngã và thế giới xung quanh do đó được giải thoát. Khi đã vượt qua sự vô minhcon người giác ngộ trở thành Phật và được giải thoát.

Đạo Phật là con đường giác ngộ. Bất cứ ai, khi có lòng từ bi thì không sợ bất cứ điều gì và những gì chúng ta nhìn thấy từ bên ngoài khi đưa vào trong tâm, làm ta đau khổ đều là nghiệp chướngVì vậy, sự vật hiện tượng bên ngoài ta nên nhổ gốc đem ra ngoài, hay nóicách khác là không tiếp nhận thì ta sẽ hết khổ. Vậy muốn giác ngộgiải thoát ta phải quay vào tâm mà tìm là chính, những cái bên ngoài chỉ là phương tiện mà thôi.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 210)
Chúng sinh tuy bình đẳng nhưng căn tính bất đồng. Bình đẳng trên chân lý không phải là mọi người ngang hàng bằng nhau.
(View: 239)
Hồi đó, khi Đức Phật cùng với Tăng đoàn du hóa tại nước Xá-vệ thì có rất nhiều người trẻ đã phát tâm đi tu. Tôn giả A-nan được giao trách nhiệm...
(View: 342)
Trí Tuệ Bát Nhã, thần thông quảng đại, nhận thức được thực tướng của vạn Pháp. Trí Tuệ (wisdom) bao gồm cả kiến thức bác học, kiến giác, chứng nghiệm, tâm lý, tâm linh...
(View: 313)
Tôi xin dùng lý luận khoa học cùng triết lý nhân văn để giải thích những điều tâm linh của Phật Giáo.
(View: 485)
Hình ảnh Thầy Minh Tuệ xuất hiện trên các mạng xã hội y hệt như một trận bão truyền thông, làm dâng tràn những cảm xúc và suy tưởng.
(View: 344)
Hôm nay chúng ta bắt đầu nghiên cứu chương thứ hai, bàn về những sự thực hành kham khổ, tức là các phương pháp đầu đà.
(View: 308)
Như Lai được định nghĩa trực tiếp ba lần trong Kinh Kim Cương bát nhã ba la mật. Ba lần ấy được nói đến theo thứ tự như sau:
(View: 365)
Kinh Lăng-già tên gọi đầy đủ là Thể Nhập Chánh PhápLăng-già, cuối chương १० सगाथकम्। (10-sagāthakam), biên tập bởi Nanjō Bunyū 南條文雄 (laṅkāvatāra sūtra, kyoto, 1923)
(View: 530)
Bước đầu tiên để bước vào con đường Phật giáo là quy y Tam Bảo, và viên ngọc đầu tiên trong ba viên ngọc mà chúng ta tiếp cận để quy y là Đức Phật, Đấng Giác Ngộ.
(View: 547)
Đạo Phật là đạo của bi trí dũng. Đạo của trí tuệ, của chánh biến tri, và chánh tri kiến chứ không phải không thấy mà tin tưởng mù quáng.
(View: 400)
Phân biệt phước đức và công đức là cần thiết cho việc học và hành đạo Phật.
(View: 418)
Sơ quả hay Tu-đà-hoàn là quả vị Thánh đầu tiên mà người Phật tử có thể chứng đạt ngay hiện đời.
(View: 488)
Cuộc đời và công việc của Bồ tát được nói trong phần cuối đoạn Đồng tử Thiện Tài gặp đức Di Lặc.
(View: 577)
Trong khi các tín ngưỡng về nghiệp và tái sinhphổ biến vào thời của Đức Phật,
(View: 691)
Đây là ba phạm trù nghĩa lý đặc trưng để bảo chứng nhận diện ra những lời dạy của đức Đạo sư một cách chính xác mà không
(View: 614)
Đi vào Pháp giới Hoa nghiêmđi vào bằng bồ đề tâm thanh tịnh và được cụ thể hóa bằng nguyện và hạnh.
(View: 457)
Nhị đế là từ được qui kết từ các Thánh đế (āryasatayā) qua nhân quả Khổ-Tập gọi là Tục đế
(View: 563)
Quí vị không giữ giới luật có thể không làm hại người khác, nhưng thương tổn tự tánh cuả chính mình.
(View: 672)
Lầu các của Đức Di Lặc tượng trưng cho toàn bộ pháp giới của Phật Tỳ Lô Giá Na; lầu các ấy có tên là Tỳ Lô Giá Na Đại Trang Nghiêm.
(View: 742)
Trong kinh Duy Thức thuộc tạng kinh phát triển, để chỉ cho sự huân tập thành khối nghiệp lực (A Lại Da Thức và Mạc Na Thức,)
(View: 610)
Tín ngưỡng Dược Sư với đại diệnthế giới Lưu ly nằm ở phương Đông mà nó tương tự với các cõi Tịnh độ khác, đều dùng việc
(View: 713)
Hai câu hỏi hiện lên trong đầu tôi khi nghĩ về giáo lý vô thường liên quan đến cuộc đời tôi.
(View: 922)
Lôgic học là một ngành học có mục đích xác định các quy tắc vận hành của tư duy để tìm kiếm sự thực.
(View: 807)
Trong quá trình hình thành và phát triển xã hội, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc, thỏa mãn nhu cầu về vật chấttinh thần.
(View: 803)
Tuệ là trí tuệ tức cái biết, thức là nhận thức cũng là cái biết. Cả hai đều là cái biết nhưng có đặc điểm khác nhau.
(View: 916)
Khái niệm Niết-bàn vốn thành hình cách đây hơn 2500 năm. Các học giả và các triết gia khác nhau
(View: 1086)
Ở trên là hai câu đầu trong bài kệ Lục Tổ Huệ Năng khai thị nhân bài kệ của thiền sư Ngọa Luân. Câu chuyện được thuật lại trong Pháp Bảo Đàn Kinh, phẩm Cơ Duyên thứ 7.
(View: 1202)
Chữ “Tăng đoàn” là một thuật ngữ tiếng Phạn, có nghĩa là “cộng đồng” và được sử dụng chủ yếu để chỉ những tín đồ đã xuất gia của Đức Phật,
(View: 1205)
Tóm tắt: Phật giáotôn giáo được biết đến như một hệ thống triết học mang đậm chất tư duy, trí tuệ cùng giá trị đạo đức cao.
(View: 1121)
Mỗi người hiểu về nghiệp theo mỗi kiểu khác nhau tùy vào nhận thức và trải nghiệm bản thân, nhưng phần lớn vẫn chịu ảnh hưởng của cách hiểu trong dân gian về khái niệm của từ này.
(View: 998)
Từ ngàn xưa cho đến thời điểm xã hội phát triển mạnh mẽ về mọi mặt như hiện nay, mặc dù nền văn minh có bước tiến bộ vượt bậc
(View: 994)
iáo lý Duyên khởi được xem như chiếc chìa khóa mở ra kho tàng pháp bảo Phật giáo, vì có thể giải quyết những vấn đề của khổ đau, cả sự sanh ra hay chết đi của con người.
(View: 988)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh tập thứ 14. Kinh văn số 550 gồm 12 quyển. Chữ Hán từ trang 865 đến trang 894, gồm tất cả 29 trang.
(View: 1100)
Những nhu cầu của con người sinh học thì giản dị, khi đói chỉ mong được ăn, khi khát mong được uống, khi mệt mong được nằm,
(View: 1116)
Khi thân thể tiều tụy chỉ còn da bọc xương, những khổ thọ chết người đều đã trải qua,
(View: 1262)
Trong quá trình thuyết giáo của đức Phật, những lời dạy của Ngài không được lưu giữ dưới dạng văn bản chữ viết
(View: 988)
Nhân ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những vị tông sư hoằng truyền luật học Phật giáo thời cận đại,
(View: 893)
Hành giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải chọn lựa pháp môn nào cho thích hợp với căn cơ của mình
(View: 1020)
Trọng tâm của triết học Phật giáohọc thuyết nổi tiếng về tính không - rằng tất cả chúng sinhhiện tượng đều trống rỗng về bản chất hay bản chất cố hữu.
(View: 1137)
Vô phân biệt được nói đến nhiều lần trong Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật.
(View: 1029)
Theo lý Duyên Khởi của đạo Phật, tất cả vạn hữu vũ trụ được hình thành do yếu tố hòa hiệp của nhơn duyên và sẽ đi đến phân ly do duyên tan rã.
(View: 998)
Cuộc chiến đấu mới–Sau khi Đức Phật nhập diệt, hình bóng của ngài vẫn hiện ra trong hàng thế kỷ trong một hang động–một hình bóng rất lớn
(View: 1145)
Như Nietzsche khuyên răn chúng ta hãy lại bắt đầu học làm mới bằng cách để ý đến những việc ‘tầm thường’ và sự vận hành của ‘thân’ để xác định
(View: 1150)
Tôi nghĩ là làm một việc có lý khi bác bỏ tuyên bố của Nietzsche rằng đạo Phật là một dạng của ‘thuyết hư vô thụ động,’ rằng đạo Phật truyền dạy
(View: 1116)
Đặt vấn đề có phải đạo Phật là một dạng của ‘Chủ thuyết hư vô thụ động’ có nghĩa là đặt vấn đề liệu summum bonum[1] của đạo Phật,
(View: 1172)
Dù có nhiều tác phẩm đa dạng về Phật học thích dụng ở Châu Âu thời kỳ trước Nietzsche,
(View: 1200)
Nhân ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những vị tông sư hoằng truyền luật học Phật giáo thời cận đại,
(View: 1202)
Hành giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải chọn lựa pháp môn nào
(View: 1386)
Cửa vào bất nhị, còn gọi là pháp môn bất nhị, từ xa xưa đã được truyền dạy từ thời Đức Phật, chứ không phải là hậu tác của chư tổ Bắc Tông,
(View: 1273)
Tinh thần hòa hiệp là ý nghĩa sống lành mạnh an vui, tinh thần của một khối người biết tôn trọng ý niệm tự tồn, và xây dựng vươn cao trong ý chí hướng thượng.
(View: 2178)
Xuất xứ của Bát Chánh Đạo có hai nguồn là nguồn từ Phật chứng ngộ mà thuyết ra và nguồn được kết tập lại từ các kinh điển
(View: 1386)
Tam tam-muội là chỉ cho ba loại định, tức là ba loại pháp môn quán hành của Phật giáo, được xem như là nguyên lý thực tiễn của Thiền định.
(View: 1503)
Tôi kính lễ bái bậc Chánh giác, bậc tối thắng trong hết thảy các nhà thuyết pháp, đã thuyết giảng Duyên khởibất diệtbất sinh,
(View: 1226)
Thay vì tìm hiểu nguồn gốc tại sao phải chịu luân hồi sinh tử, con người không ngừng tìm kiếm căn nguyên của vũ trụ vạn vật, nơi mình sinh ra;
(View: 1533)
Khi Thái tử Tất-đạt-đa nhận thấy tất cả mọi người dân đang chìm trong đau khổ, và ngay chính bản thân mình rồi cũng phải chịu qui luật già, bệnh, chết
(View: 1411)
Danh từ nghiệp hay karma (skt.) được đề cập thường xuyên trong các luận giải về tư tưởng triết họctôn giáo Ấn-độ.
(View: 1429)
Tứ quả là bốn quả vị sai biệt của các bậc Thánh Thinh Văn thừa, tùy thuộc vào trình độ căn cơ của hành giả đã đạt được sau khi tu tập
(View: 1616)
Sau khi hoàng hậu Ma-da (Mayā) quá vãng, vua Tịnh Phạn (Suddhodana) tục huyền với Mahāpajāpatī Gotami và bà đã xuất gia
(View: 1995)
Kinh Pháp Hoa dạy rằng: “Đức Phật ra đời vì một đại nhân duyên. Đó là khai thị cho chúng sanh liễu ngộ Phật tri kiến nơi mình”.
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant