Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Suy Niệm Về Bốn Thánh Chủng

Tuesday, June 4, 202418:30(View: 188)
Suy Niệm Về Bốn Thánh Chủng

Suy Niệm Về Bốn Thánh Chủng

Thích Nguyên Hùng

hinh phat



Hồi đó, khi Đức Phật cùng với Tăng đoàn du hóa tại nước Xá-vệ thì có rất nhiều người trẻ đã phát tâm đi tu. Tôn giả A-nan được giao trách nhiệm chăm sóc, dạy bảo những vị tỳ-kheo trẻ tuổi này. Một hôm, tôn giả A-nan dẫn các các tỳ-kheo trẻ đi đến chỗ Đức Phật và thưa hỏi: “Bạch Thế Tôn! Với những tỳ-kheo trẻ này con nên dạy dỗ họ thế nào? Con phải thuyết pháp gì để họ được an ổn, được vững chãi, được an lạcthân tâm không phiền muộntrọn đời tu phạm hạnh?”

Khi đó, Đức Thế Tôn dạy: “Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về Bốn thánh chủng. Đó là tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni được tấm y thô xấu vẫn biết đủ, không vì y áo mà cố tìm cầu cho được vừa ý; nếu chưa được y vẫn không buồn rầu, không khóc than, không oán trách, không si dại; nếu đã được y vẫn không đắm, không nhiễm, không tham, không muốn, không ham xúc chạm; khi sử dụng y phục, thấy rõ tai họa và biết cách từ bỏ; dù đời sống tiện nghinhư vậy nhưng vẫn không lười biếng, mà luôn có hiểu biết đúng đắn. Đó là tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni an trú chân chánh nơi Thánh chủng ngàn xưa. Đối với ăn uống và chỗ ở cũng vậy. Lại nữa, vị ấy muốn đoạn ác, thích đoạn ác, muốn tu thiện, thích tu thiện; nhân vì muốn đoạn ác, thích đoạn ác, muốn tu thiện, thích tu thiện, nên không khen mình khinh người, dù đời sống tiện nghi như vậy cũng không lười biếng, mà luôn có hiểu biết đúng đắn. Đó gọi là tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni an trú chân chánh nơi Thánh chủng ngàn xưa. Này A-nan, với Bốn thánh chủng này, thầy hãy dạy cho các tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy Bốn thánh chủng này cho các tỳ-kheo trẻ thì họ sẽ được an ổn, được lợi ích, được vui thíchthân tâm không bức rức nóng nảytrọn đời tu phạm hạnh” (Trung A-hàm, kinh số 86, Thuyết xứ).

Đoạn kinh này cho chúng ta thấy, để đời sống tu tập của người xuất gia nói chung, người xuất gia trẻ nói riêng, có được an ổnlợi íchvui thíchthân tâm không bức rức nỏng nảy, trọn đời giữ được phạm hạnh thanh tịnh thì phải an trú trong Bốn thánh chủng, tức là đứng vững trong phả hệ bậc Thánh từ ngàn xưa. Bốn thánh chủng (catvāra ārya-vaṃśāḥ) là bốn hạt giống có khả năng sinh ra Thánh hiền, gồm hoan hỷ và biết đủ với y phục (itarītara-cīvara-santuṭṭhiyā vaṇṇa-vādī), hoan hỷ và biết đủ với ăn uống (itarītara-piṇḍa-pāta-santuṭṭhiyā vaṇṇa-vādī), hoan hỷ và biết đủ với ngọa cụ (itarītara-senāsana-santuṭṭhiyā vaṇṇa-vādī) và vui thích đời sống tu tậpvui thích với việc đoạn trừ phiền não (bhāvanārāmo hoti bhāvanārato pahānārāmo hoti pahānārato vaṇṇa-vādī). Ba điều trước là bằng lòng, biết đủ với đời sống tối giản về ăn mặc và chỗ ở, tức là lối sống thiểu dục tri túc; điều sau cùng là nói đến sự vui thích tu tậpvui thích trong việc đoạn trừ phiền não, từ đó dẫn đến chứng đắc quả Thánh nên gọi là Thánh chủng.

Rõ ràng, đoạn kinh cho thấy người xuất gia, dù là xuất gia ở bất kỳ độ tuổi nào và với bất cứ lý do gì thì đời sống của họ là chấp nhận từ bỏtừ bỏ gia đìnhsống không gia đình, không có sở hữu.

Trong Kinh Đại Bảo TíchĐức Phật cũng dạy: “Này trưởng giả! Hàng Bồ-tát xuất gia cần phảihọc như vầy: ‘Vì lý do gì mà ta từ bỏ gia nghiệp để đi tu? Là vì muốn được trí tuệ giải thoátmà nỗ lực tinh tiến như cứu lửa đang cháy trên đầu. Phải suy nghĩ như vầy: Từ nay ta phải an trú trong Bốn thánh chủng để an vui tu hạnh đầu-đà.’ Này trưởng giả! Hàng Bồ-tát xuất giaphải an trú trong Bốn thánh chủng như thế nào? Đó là, hàng Bồ-tát xuất gia tùy theo tấm y mình có được mà sinh lòng biết đủ, khen ngợi sự biết đủ, không vì y áo mà gây nghiệp nói dốiNếu không nhận được y áo thì không nên mong cầu nhớ tưởng, không sinh lòng buồn sầu, khổ nãoGiả sử nhận được y áo, không nên sinh tâm tham đắm, dính mắc. Dù mặc y áo nhưng không bị lệ thuộc vào y áo, không tham, không đắm, biết rõ tai họa của nó và cũng biết cách từ bỏ. Đó là lối sống tri túc, không tự khen mình, chê khinh người khác. Này trưởng giả! Người xuất gia khất thực để nuôi thân, đệm lót để nằm ngồi cũng phải biết đủ, biết hài lòng; không vì thức ăn, đệm lót mà phải nói dốinếu không nhận được thì không nhớ nghĩ mong cầu, không sinh lòng buồn khổ; nếu nhận được thì không dính mắc, không đắm nhiễm, không để tâm tham đắm cất chứa, không bủn xỉn, không bị lệ thuộc, luôn biết rõ tai họa của nó và cũng biết cách từ bỏ. Đó là sống theo hạnh tri túc, không tự khen mình, khinh chê người khác. Vui thích với đời sống đoạn trừ, đời sống viễn lyđời sống tu tập. Với việc vui thích đời sống đoạn trừ, đời sống viễn lyđời sống tu tập này cũng không vì vậy mà tự khen mình. Này trưởng giả! Đây gọi là hàng Bồ-tát xuất gia an trú trong Bốn thánh chủng.”

Luận Đại tì-bà-sa, quyển 181, cũng giải thích: “Thánh chủng là y chỉ trên sự vui thích và biết đủ với thức ăn có được, vui thích và biết đủ với tấm y có được, vui thích và biết đủ với tấm đệm lót nằm ngồi có được và vui thích đoạn trừ phiền nãoưa thích tu tập. Bốn hạt giống này đều lấy sự vô tham làm thể tínhmục đích là để đoạn trừ tâm tham ái.”

Kinh Đại tập pháp mônLuận Tập dị môn túc cũng nói đến sự thọ dụng hoặc chấp giữ y phụcăn uống, đệm lót nằm ngồi… rất dễ sinh tâm tham ái, dính mắc. Hữu ái và vô hữu ái chính là khát vọng sinh tồn ở đời này hay đời sau trong ba cõi, cho nên, nay vì muốn đoạn trừ những tâm ái dục mà thiết lập Bốn thánh chủng này.

Luận Câu-xá cũng cho rằng, vì muốn trừ diệt tâm ái dục vào cái ta và của ta mà thiết lập Bốn thánh chủng.

Như vậy, các kinh và luận đều nói đến sự vui thích và biết đủ đối với thức ăn, y áo, đệm lót và ưa thích đời sống đoạn trừ là những hạt giống có khả năng nảy sinh ra những bậc Thánh hiền, gọi là Thánh chủngThánh chủng là dòng họ cao quý, dòng họ chư Phật.

Dòng họ ấy có bốn sự truyền thừa. Đó là, che thân bằng tấm y hoại sắcduy trì sự sống bằng chiếc bình bát, ngủ nghỉ ở bên gốc cây trong rừng vắng và siêng năng tu tập để đoạn trừ phiền nãoNgười xuất gia trẻ để có được sự an vui trong đời sống tu tậphay nói cách khác là để tu tập có hạnh phúc, họ phải chấp nhận sống nương vào bốn Thánh chủng, tức là chấp nhận sống đời trong sạch, nuôi mạng trong sạch bằng những phương tiệntrong sạch. Đây là điều kiện cần và đủ để người xuất gia ‘an trú chân chánh nơi Thánh chủngngàn xưa’, và từ đó ‘họ sẽ được an ổn, được lợi ích, được vui thíchthân tâm không bức rứcnóng nảytrọn đời tu phạm hạnh’, tức là đủ điều kiện để ‘thiệu long Thánh chủng’, xứng đáng là Như Lai chân tử!

Đây là ‘Thánh chủng ngàn xưa’ và mãi ngàn sau, vì là ‘truyền thống của ba đời chư Phật’, do đó, người xuất gia trẻ thời đại của Phật hay thời đại ngày nay, thời đại mai sau, hễ muốn tu tập hạnh phúc an vui đều phải “từ bỏ gia đình, sống không gia đình”, hoàn toàn không một tư hữu ngoài ba y và chiếc bình bát mà Đức Phật nói là cần thiết như con chim cần đôi cánh để bay đến và đi bất cứ phương trời nào nhằm lợi lạc hữu tình.

Luật không quy định chiếc bình bát được làm bằng chất liệu gì, chỉ nói là nó phải dễ kiếm, dễ có được, có thể bằng gỗ, bằng đồng, bằng đất… thậm chí bằng ruột nồi cơm điện cũng được! Y phấn tảo thì đương nhiên phải là vải được nhặt lượm từ đống rác, từ bãi tha ma… bất kể là chất liệu gì, màu gì, cứ phải là vải do người ta vứt đi là được.

Trong các truyền thống Luật tạng, trước khi truyền thụ giới Cụ túcHòa thượng giới sư phải truyền thụ pháp tứ y cho giới tử trước. Riêng truyền thống Luật tứ phầnpháp tứ y được truyền sau khi giới tử thọ giới Cụ túcHòa thượng giới sư hỏi: “Này tân Tỳ-kheo! Đức Như Lai, bậc Chí chân, Đẳng chánh giác, đã dạy bốn pháp mà một người xuất gia phải nương tựa; Tỳ-kheo phải nương vào đó mà xuất giathọ giới Cụ túc, thành phẩm chất của Tỳ-kheo. Thứ nhất, Tỳ-kheo phải sống nương tựa vào y phấn tảo; chỉ nương tựa vào y phấn tảo mà xuất gia, mà thọ Cụ túc, thành phẩm chất Tỳ-kheo. Ông phải trọn đời thọ trì điều này.”[1]

Tương tự như vậy, Tỳ-kheo sống trọn đời thọ trì chiếc bình bát, tấm tọa cụ để lót ngồi cũng như ngủ, và với thuốc men đơn giản để trị bệnh.

Có lẽ, truyền thống này đã thất truyền từ lâu, cho nên người xuất gia ngày nay đã quên đi hoặc không biết trọn đời mình phải nương tựa vào cái gì, sống như thế nào.

Trong xã hội ngày nay, khi mà điều kiện vật chất không quá khó để kiếm tìm, đời sống của người xuất gia nhìn bề ngoài có vẻ như không còn liên hệ gì với bốn Thánh chủng, vì có vẻ như tư hữu quá nhiều, nhưng bản chất bên trong, nếu họ không y chỉ trên bốn Thánh chủng, nhất là nếu không vui với việc đoạn trừ phiền não, họ không thể đi lâu và đi xa trên lộ trình giác ngộ giải thoát, bởi không có niềm vui vật chất nào là mãi mãi!

 



[1] Luật Tứ phần, quyển 35.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 129)
Chúng sinh tuy bình đẳng nhưng căn tính bất đồng. Bình đẳng trên chân lý không phải là mọi người ngang hàng bằng nhau.
(View: 181)
Đạo Phật là đạo giác ngộ, có nguồn gốc từ Ấn Độ, do Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhārtha Gautama) hình thành và sáng lập.
(View: 277)
Trí Tuệ Bát Nhã, thần thông quảng đại, nhận thức được thực tướng của vạn Pháp. Trí Tuệ (wisdom) bao gồm cả kiến thức bác học, kiến giác, chứng nghiệm, tâm lý, tâm linh...
(View: 268)
Tôi xin dùng lý luận khoa học cùng triết lý nhân văn để giải thích những điều tâm linh của Phật Giáo.
(View: 426)
Hình ảnh Thầy Minh Tuệ xuất hiện trên các mạng xã hội y hệt như một trận bão truyền thông, làm dâng tràn những cảm xúc và suy tưởng.
(View: 277)
Hôm nay chúng ta bắt đầu nghiên cứu chương thứ hai, bàn về những sự thực hành kham khổ, tức là các phương pháp đầu đà.
(View: 237)
Như Lai được định nghĩa trực tiếp ba lần trong Kinh Kim Cương bát nhã ba la mật. Ba lần ấy được nói đến theo thứ tự như sau:
(View: 296)
Kinh Lăng-già tên gọi đầy đủ là Thể Nhập Chánh PhápLăng-già, cuối chương १० सगाथकम्। (10-sagāthakam), biên tập bởi Nanjō Bunyū 南條文雄 (laṅkāvatāra sūtra, kyoto, 1923)
(View: 500)
Bước đầu tiên để bước vào con đường Phật giáo là quy y Tam Bảo, và viên ngọc đầu tiên trong ba viên ngọc mà chúng ta tiếp cận để quy y là Đức Phật, Đấng Giác Ngộ.
(View: 481)
Đạo Phật là đạo của bi trí dũng. Đạo của trí tuệ, của chánh biến tri, và chánh tri kiến chứ không phải không thấy mà tin tưởng mù quáng.
(View: 358)
Phân biệt phước đức và công đức là cần thiết cho việc học và hành đạo Phật.
(View: 378)
Sơ quả hay Tu-đà-hoàn là quả vị Thánh đầu tiên mà người Phật tử có thể chứng đạt ngay hiện đời.
(View: 448)
Cuộc đời và công việc của Bồ tát được nói trong phần cuối đoạn Đồng tử Thiện Tài gặp đức Di Lặc.
(View: 534)
Trong khi các tín ngưỡng về nghiệp và tái sinhphổ biến vào thời của Đức Phật,
(View: 663)
Đây là ba phạm trù nghĩa lý đặc trưng để bảo chứng nhận diện ra những lời dạy của đức Đạo sư một cách chính xác mà không
(View: 587)
Đi vào Pháp giới Hoa nghiêmđi vào bằng bồ đề tâm thanh tịnh và được cụ thể hóa bằng nguyện và hạnh.
(View: 443)
Nhị đế là từ được qui kết từ các Thánh đế (āryasatayā) qua nhân quả Khổ-Tập gọi là Tục đế
(View: 545)
Quí vị không giữ giới luật có thể không làm hại người khác, nhưng thương tổn tự tánh cuả chính mình.
(View: 658)
Lầu các của Đức Di Lặc tượng trưng cho toàn bộ pháp giới của Phật Tỳ Lô Giá Na; lầu các ấy có tên là Tỳ Lô Giá Na Đại Trang Nghiêm.
(View: 704)
Trong kinh Duy Thức thuộc tạng kinh phát triển, để chỉ cho sự huân tập thành khối nghiệp lực (A Lại Da Thức và Mạc Na Thức,)
(View: 564)
Tín ngưỡng Dược Sư với đại diệnthế giới Lưu ly nằm ở phương Đông mà nó tương tự với các cõi Tịnh độ khác, đều dùng việc
(View: 659)
Hai câu hỏi hiện lên trong đầu tôi khi nghĩ về giáo lý vô thường liên quan đến cuộc đời tôi.
(View: 906)
Lôgic học là một ngành học có mục đích xác định các quy tắc vận hành của tư duy để tìm kiếm sự thực.
(View: 745)
Trong quá trình hình thành và phát triển xã hội, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc, thỏa mãn nhu cầu về vật chấttinh thần.
(View: 760)
Tuệ là trí tuệ tức cái biết, thức là nhận thức cũng là cái biết. Cả hai đều là cái biết nhưng có đặc điểm khác nhau.
(View: 885)
Khái niệm Niết-bàn vốn thành hình cách đây hơn 2500 năm. Các học giả và các triết gia khác nhau
(View: 1024)
Ở trên là hai câu đầu trong bài kệ Lục Tổ Huệ Năng khai thị nhân bài kệ của thiền sư Ngọa Luân. Câu chuyện được thuật lại trong Pháp Bảo Đàn Kinh, phẩm Cơ Duyên thứ 7.
(View: 1154)
Chữ “Tăng đoàn” là một thuật ngữ tiếng Phạn, có nghĩa là “cộng đồng” và được sử dụng chủ yếu để chỉ những tín đồ đã xuất gia của Đức Phật,
(View: 1161)
Tóm tắt: Phật giáotôn giáo được biết đến như một hệ thống triết học mang đậm chất tư duy, trí tuệ cùng giá trị đạo đức cao.
(View: 1092)
Mỗi người hiểu về nghiệp theo mỗi kiểu khác nhau tùy vào nhận thức và trải nghiệm bản thân, nhưng phần lớn vẫn chịu ảnh hưởng của cách hiểu trong dân gian về khái niệm của từ này.
(View: 967)
Từ ngàn xưa cho đến thời điểm xã hội phát triển mạnh mẽ về mọi mặt như hiện nay, mặc dù nền văn minh có bước tiến bộ vượt bậc
(View: 948)
iáo lý Duyên khởi được xem như chiếc chìa khóa mở ra kho tàng pháp bảo Phật giáo, vì có thể giải quyết những vấn đề của khổ đau, cả sự sanh ra hay chết đi của con người.
(View: 954)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh tập thứ 14. Kinh văn số 550 gồm 12 quyển. Chữ Hán từ trang 865 đến trang 894, gồm tất cả 29 trang.
(View: 1065)
Những nhu cầu của con người sinh học thì giản dị, khi đói chỉ mong được ăn, khi khát mong được uống, khi mệt mong được nằm,
(View: 1087)
Khi thân thể tiều tụy chỉ còn da bọc xương, những khổ thọ chết người đều đã trải qua,
(View: 1219)
Trong quá trình thuyết giáo của đức Phật, những lời dạy của Ngài không được lưu giữ dưới dạng văn bản chữ viết
(View: 951)
Nhân ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những vị tông sư hoằng truyền luật học Phật giáo thời cận đại,
(View: 855)
Hành giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải chọn lựa pháp môn nào cho thích hợp với căn cơ của mình
(View: 993)
Trọng tâm của triết học Phật giáohọc thuyết nổi tiếng về tính không - rằng tất cả chúng sinhhiện tượng đều trống rỗng về bản chất hay bản chất cố hữu.
(View: 1093)
Vô phân biệt được nói đến nhiều lần trong Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật.
(View: 986)
Theo lý Duyên Khởi của đạo Phật, tất cả vạn hữu vũ trụ được hình thành do yếu tố hòa hiệp của nhơn duyên và sẽ đi đến phân ly do duyên tan rã.
(View: 959)
Cuộc chiến đấu mới–Sau khi Đức Phật nhập diệt, hình bóng của ngài vẫn hiện ra trong hàng thế kỷ trong một hang động–một hình bóng rất lớn
(View: 1094)
Như Nietzsche khuyên răn chúng ta hãy lại bắt đầu học làm mới bằng cách để ý đến những việc ‘tầm thường’ và sự vận hành của ‘thân’ để xác định
(View: 1105)
Tôi nghĩ là làm một việc có lý khi bác bỏ tuyên bố của Nietzsche rằng đạo Phật là một dạng của ‘thuyết hư vô thụ động,’ rằng đạo Phật truyền dạy
(View: 1064)
Đặt vấn đề có phải đạo Phật là một dạng của ‘Chủ thuyết hư vô thụ động’ có nghĩa là đặt vấn đề liệu summum bonum[1] của đạo Phật,
(View: 1128)
Dù có nhiều tác phẩm đa dạng về Phật học thích dụng ở Châu Âu thời kỳ trước Nietzsche,
(View: 1156)
Nhân ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những vị tông sư hoằng truyền luật học Phật giáo thời cận đại,
(View: 1147)
Hành giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải chọn lựa pháp môn nào
(View: 1338)
Cửa vào bất nhị, còn gọi là pháp môn bất nhị, từ xa xưa đã được truyền dạy từ thời Đức Phật, chứ không phải là hậu tác của chư tổ Bắc Tông,
(View: 1221)
Tinh thần hòa hiệp là ý nghĩa sống lành mạnh an vui, tinh thần của một khối người biết tôn trọng ý niệm tự tồn, và xây dựng vươn cao trong ý chí hướng thượng.
(View: 2105)
Xuất xứ của Bát Chánh Đạo có hai nguồn là nguồn từ Phật chứng ngộ mà thuyết ra và nguồn được kết tập lại từ các kinh điển
(View: 1335)
Tam tam-muội là chỉ cho ba loại định, tức là ba loại pháp môn quán hành của Phật giáo, được xem như là nguyên lý thực tiễn của Thiền định.
(View: 1463)
Tôi kính lễ bái bậc Chánh giác, bậc tối thắng trong hết thảy các nhà thuyết pháp, đã thuyết giảng Duyên khởibất diệtbất sinh,
(View: 1200)
Thay vì tìm hiểu nguồn gốc tại sao phải chịu luân hồi sinh tử, con người không ngừng tìm kiếm căn nguyên của vũ trụ vạn vật, nơi mình sinh ra;
(View: 1489)
Khi Thái tử Tất-đạt-đa nhận thấy tất cả mọi người dân đang chìm trong đau khổ, và ngay chính bản thân mình rồi cũng phải chịu qui luật già, bệnh, chết
(View: 1371)
Danh từ nghiệp hay karma (skt.) được đề cập thường xuyên trong các luận giải về tư tưởng triết họctôn giáo Ấn-độ.
(View: 1394)
Tứ quả là bốn quả vị sai biệt của các bậc Thánh Thinh Văn thừa, tùy thuộc vào trình độ căn cơ của hành giả đã đạt được sau khi tu tập
(View: 1562)
Sau khi hoàng hậu Ma-da (Mayā) quá vãng, vua Tịnh Phạn (Suddhodana) tục huyền với Mahāpajāpatī Gotami và bà đã xuất gia
(View: 1941)
Kinh Pháp Hoa dạy rằng: “Đức Phật ra đời vì một đại nhân duyên. Đó là khai thị cho chúng sanh liễu ngộ Phật tri kiến nơi mình”.
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant