Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

7. Kinh Ví dụ tấm vải (Vatthùpama sutta)

Monday, January 10, 201100:00(View: 25237)
7. Kinh Ví dụ tấm vải (Vatthùpama sutta)


Ðại Tạng Kinh Việt Nam
KINH TRUNG BỘ

Majjhima Nikàya

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

7. Kinh Ví dụ tấm vải
(Vatthùpama sutta)

Như vầy tôi nghe. 

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". --"Bạch Thế Tôn", các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía - vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dậtcấu uế của tâm. 

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghĩ rằng: "Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm" và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ tham dục, tà tham cấu uế của tâm; nghĩ rằng: "Sân là cấu uế của tâm", và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ sân, cấu uế của tâm; phẫn... hận... hư ngụy... não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống... ngoan cố... cấp tháo... mạn... quá mạn... kiêu; nghĩ rằng: "Phóng dật là cấu uế của tâm" thì sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ phóng dật, cấu uế của tâm. 

Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo biết được: "Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm", tham dục, tà tham cấu uế của tâm được diệt trừ, ... sân... phẫn... hận... hư ngụy... não hại... tật đố... xan tham... man trá... khi cuống... ngoan cố... cấp tháo... mạn... quá mạn... kiêu; khi nào Tỷ-kheo biết được: "Phóng dật là cấu uế của tâm", phóng dật, cấu uế của tâm được diệt trừ, Tỷ-kheo ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối, đối với Phật: Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu

Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối, đối với chúng Tăng: Diệu hạnhchúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Như lý hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Chánh hạnhchúng Tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. 

Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly. Vị ấy tự nghĩ: "Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối, đối với Thế Tôn", và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp, từ hân hoan, hỷ sanh, từ hỷ thân được khinh an, thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định

Vị ấy tự nghĩ: "Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp", và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh, từ hỷ thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định

Vị ấy tự nghĩ: "Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Tăng", và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an, thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định

Vị ấy tự nghĩ: "Ðến giai đoạn này, đối với Ta, có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly", và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định

Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, - nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món ăn khác cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, nếu bỏ trong nước sạch, trở thành thanh tịnh sạch sẽ, như bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, - nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác, cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy. 

Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi... (như trên)... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên)... biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. 

Vị ấy biết: "Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát vượt qua các tưởng". 

Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là Tỷ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja đang ngồi không xa Thế Tôn. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja bạch Thế Tôn:

-- Tôn giả Gotama có đi đến sông Bahuka để tắm rửa không?

-- Này Bà-la-môn, sông Bahuka là gì? Sông Bahuka có làm được lợi ích gì?

-- Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng giải thoát. Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng đem lại công đức. Và nhiều người đã gội sạch các ác nghiệp trong sông Bahuka.

Rồi Thế Tôn nói lên những bài kệ sau đây cho Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja:

Trong sông Bàhukà 
Tại Adhikakkà, 

Tại cả sông Gayà 

Và Sundarikà, 

Tại Sarassatì

Và tại Payàna,

Tại Bàhumatì, 

Kẻ ngu dầu thường tắm,

Ác nghiệp không rửa sạch.

Sông Sundarikà
Có thể làm được gì?

Payàga làm gì?

Cả sông Bàhukà?

Không thể rửa nghiệp đen 

Của kẻ ác gây tội.

Ðối kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày tốt,

Với kẻ sống thanh tịnh

Ngày nào cũng ngày lành,

Các tịnh nghiệp thanh tịnh
Luôn thành tựu (thiện) hạnh. 

Này vị Bà-la-môn,

Chỉ nên tắm ở đây, 

Khiến mọi loài chúng sanh

Ðược sống trong an ổn.

Nếu không nói dối trá,

Nếu không hại chúng sanh,

Không lấy của không cho, 

Có lòng tín, không tham, 

Ði Gayà làm gì, 

Gayà một giếng nước?

Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Phápquy y Tăng. Mong con được xuất gia với Tôn giả Gotama! Mong con được thọ đại giới!

Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Trong thời gian ngắn sau khi thọ đại giới, Tôn giả Bharadvaja sống độc cư, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần và không bao lâu sau khi tự thân chứng ngộ với thượng trí, chứng đắcan trú ngay trong hiện tại, vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy đã thắng tri: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Như vậy, Tôn giả Bharadvaja trở thành một vị A-la-hán nữa. 

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

 

Majjhima Nikaya 7
Vatthupama Sutta
The Simile of the Cloth
Edited by Nyanaponika Thera
For free distribution only, 
by arrangement with the Buddhist Publication Society


1. Thus have I heard. Once the Blessed One was staying at Savatthi, in Jeta's Grove, Anathapindika's monastery. There he addressed the monks thus: "Monks." -- "Venerable sir," they replied. The Blessed One said this: 

2. "Monks, suppose a cloth were stained and dirty, and a dyer dipped it in some dye or other, whether blue or yellow or red or pink, it would take the dye badly and be impure in colour. And why is that? Because the cloth was not clean. So too, monks, when the mind is defiled,[1] an unhappy destination [in a future existence] may be expected. 

"Monks, suppose a cloth were clean and bright, and a dyer dipped it in some dye or other, whether blue or yellow or red or pink, it would take the dye well and be pure in colour. And why is that? Because the cloth was clean. So too, monks, when the mind is undefiled, a happy destination [in a future existence] may be expected. 

3. "And what, monks, are the defilements of the mind?[2] (1) Covetousness and unrighteous greed are a defilement of the mind; (2) ill will is a defilement of the mind; (3) anger is a defilement of the mind; (4) hostility...(5) denigration...(6) domineering...(7) envy...(8) jealousy...(9) hypocrisy...(10) fraud...(11) obstinacy...(12) presumption...(13) conceit...(14) arrogance...(15) vanity...(16) negligence is a defilement of the mind.[3] 

4. "Knowing, monks, covetousness and unrighteous greed to be a defilement of the mind, the monk abandons them.[4] Knowing ill will to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing anger to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing hostility to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing denigration to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing domineering to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing envy to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing jealousy to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing hypocrisy to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing fraud to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing obstinacy to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing presumption to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing conceit to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing arrogance to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing vanity to be a defilement of the mind, he abandons it. Knowing negligence to be a defilement of the mind, he abandons it. 

5. "When in the monk who thus knows that covetousness and unrighteous greed are a defilement of the mind, this covetousness and unrighteous greed have been abandoned; when in him who thus knows that ill will is a defilement of the mind, this ill will has been abandoned;...when in him who thus knows that negligence is a defilement of the mind, this negligence has been abandoned -- [5] 

6. -- he thereupon gains unwavering confidence in the Buddha[6] thus: 'Thus indeed is the Blessed One: he is accomplished, fully enlightened, endowed with [clear] vision and [virtuous] conduct, sublime, knower of the worlds, the incomparable guide of men who are tractable, the teacher of gods and men, enlightened and blessed.' 

7. -- he gains unwavering confidence in the Dhamma thus: 'Well proclaimed by the Blessed One is the Dhamma, realizable here and now, possessed of immediate result, bidding you come and see, accessible and knowable individually by the wise. 

8. -- he gains unwavering confidence in the Sangha thus: 'The Sangha of the Blessed One's disciples has entered on the good way, has entered on the straight way, has entered on the true way, has entered on the proper way; that is to say, the four pairs of men, the eight types of persons; this Sangha of the Blessed One's disciples is worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, the incomparable field of merit for the world.' 

9. "When he has given up, renounced, let go, abandoned and relinquished [the defilements] in part,[7] he knows: 'I am endowed with unwavering confidence in the Buddha...in the Dhamma...in the Sangha; and he gains enthusiasm for the goal, gains enthusiasm for the Dhamma,[8] gains gladness connected with the Dhamma. When he is gladdened, joy is born in him; being joyous in mind, his body becomes tranquil; his body being tranquil, he feels happiness; and the mind of him who is happy becomes concentrated.[9] 

10. "He knows: 'I have given up, renounced, let go, abandoned and relinquished [the defilements] in part'; and he gains enthusiasm for the goal, gains enthusiasm for the Dhamma, gains gladness connected with the Dhamma. When he is gladdened, joy is born in him; being joyous in mind, his body becomes tranquil; when his body is tranquil, he feels happiness; and the mind of him who is happy becomes concentrated. 

11. "If, monks, a monk of such virtue, such concentration and such wisdom[10] eats almsfood consisting of choice hill-rice together with various sauces and curries, even that will be no obstacle for him.[11] 

"Just as cloth that is stained and dirty becomes clean and bright with the help of pure water, or just as gold becomes clean and bright with the help of a furnace, so too, if a monk of such virtue, such concentration and such wisdom eats almsfood consisting of choice hill-rice together with various sauces and curries, even that will be no obstacle for him. 

12. "He abides, having suffused with a mind of loving-kindness[12] one direction of the world, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth, and so above, below, around and everywhere, and to all as to himself; he abides suffusing the entire universe with loving-kindness, with a mind grown great, lofty, boundless and free from enmity and ill will. 

"He abides, having suffused with a mind of compassion...of sympathetic joy...of equanimity one direction of the world, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth, and so above, below, around and everywhere, and to all as to himself; he abides suffusing the entire universe with equanimity, with a mind grown great, lofty, boundless and free from enmity and ill will. 

13. "He understands what exists, what is low, what is excellent,[13] and what escape there is from this [whole] field of perception.[14] 

14. "When he knows and sees[15] in this way, his mind becomes liberated from the canker of sensual desire, liberated from the canker of becoming, liberated from the canker of ignorance.[16] When liberated, there is knowledge: 'It is liberated'; and he knows: 'Birth is exhausted, the life of purity has been lived, the task is done, there is no more of this to come.' Such a monk is called 'one bathed with the inner bathing."[17] 

15. Now at that time the brahmin Sundarika Bharadvaja[18] was seated not far from the Blessed One, and he spoke to the Blessed One thus: "But does Master Gotama go to the Bahuka River to bathe?" 

"What good, brahmin, is the Bahuka River? What can the Bahuka River do?" 

"Truly, Master Gotama, many people believe that the Bahuka River gives purification, many people believe that the Bahuka River gives merit. For in the Bahuka River many people wash away the evil deeds they have done." 

16. Then the Blessed One addressed the brahmin Sundarika Bharadvaja in these stanzas:[19] 

Bahuka and Adhikakka,[20]
Gaya and Sundarika,
Payaga and Sarassati,
And the stream Bahumati -- 
A fool may there forever bathe, Yet will not purify his black deeds.

What can Sundarika bring to pass?
What can the Payaga and the Bahuka?
They cannot purify an evil-doer,
A man performing brutal and cruel acts. 

One pure in heart has evermore
The Feast of Cleansing[21] and the Holy Day;[22]
One pure in heart who does good deeds
Has his observances perfect for all times. 

It is here, O brahmin, that you should bathe[23]
To make yourself a safe refuge for all beings.
And if you speak no untruth,
Nor work any harm for breathing things, 

Nor take what is not offered,
With faith and with no avarice,
To Gaya gone, what would it do for you?
Let any well your Gaya be! 

17. When this was said, the brahmin Sundarika Bharadvaja spoke thus:

"Magnificent, Master Gotama! Magnificent, Master Gotama! The Dhamma has been made clear in many ways by Master Gotama, as though he were righting the overthrown, revealing the hidden, showing the way to one who is lost, or holding up a lamp in the dark for those with eyesight to see forms. 

18. "I go to Master Gotama for refuge, and to the Dhamma, and to the Sangha. May I receive the [first ordination of] going forth under Master Gotama, may I receive the full admission! 

19. And the brahmin Sundarika Bharadvaja received the [first ordination of] going forth under the Blessed One, and he received the full admission. And not long after his full admission, dwelling alone, secluded, diligent, ardent and resolute, the venerable Bharadvaja by his own realization understood and attained in this very life that supreme goal of the pure life, for which men of good family go forth from home life into homelessness. And he had direct knowledge thus: "Birth is exhausted, the pure life has been lived, the task is done, there is no more of this to come." 

And the venerable Bharadvaja became one of the Arahats. 


Notes

1."So too, monks, if the mind is defiled..." Comy: "It may be asked why the Buddha had given this simile of the soiled cloth. He did so to show that effort brings great results. A cloth soiled by dirt that is adventitious (i.e., comes from outside; agantukehi malehi), if it is washed can again become clean because of the cloth's natural purity. But in the case of what is naturally black, as for instance (black) goat's fur, any effort (of washing it) will be in vain. Similarly, the mind too is soiled by adventitious defilements (agantukehi kilesehi). But originally, at the phases of rebirth(-consciousness) and the (sub-conscious) life-continuum, it is pure throughout (pakatiya pana sakale pi patisandhi-bhavanga-vare pandaram eva). As it was said (by the Enlightened One): 'This mind, monks, is luminous, but it becomes soiled by adventitious defilements' (AN I.49). But by cleansing it one can make it more luminous, and effort therein is not in vain."

2."Defilements of the mind" (cittassa upakkilesa). Comy.: "When explaining the mental defilements, why did the Blessed One mention greed first? Because it arises first. For with all beings wherever they arise, up to the level of the (Brahma heaven of the) Pure Abodes, it is first greed that arises by way of lust for existence (bhava-nikanti). Then the other defilements will appear, being produced according to circumstances. The defilements of mind, however, are not limited to the sixteen mentioned in this discourse. But one should understand that, by indicating here the method, all defilements are included." Sub.Comy. mentions the following additional defilements: fear, cowardice, shamelessness and lack of scruples, insatiability, evil ambitions, etc.

3. The Sixteen Defilements of Mind: 

1.abhijjha-visama-lobha, covetousness and unrighteous greed 
2.byapada, ill will 
3.kodha, anger 
4.upanaha, hostility or malice 
5.makkha, denigration or detraction; contempt 
6.palasa, domineering or presumption 
7.issa, envy 
8.macchariya, jealousy, or avarice; selfishness 
9.maya, hypocrisy or deceit 
10.satheyya, fraud 
11.thambha, obstinacy, obduracy 
12.sarambha, presumption or rivalry; impetuosity
13.mana, conceit 
14.atimana, arrogance, haughtiness 
15.mada, vanity or pride 
16.pamada, negligence or heedlessness; in social behavior, this leads to lack of consideration. 
The defilements (3) to (16) appear frequently as a group in the discourses, e.g., in Majjh. 3; while in Majjh. 8 (reproduced in this publication) No. 15 is omitted. A list of seventeen defilements appears regularly in each last discourse of Books 3 to 11 of the Anguttara Nikaya, which carry the title Ragapeyyala, the Repetitive Text on Greed (etc.). In these texts of the Anguttara Nikaya, the first two defilements in the above list are called greed (lobha) and hate (dosa), to which delusion (moha) is added; all the fourteen other defilements are identical with the above list.

4."Knowing covetousness and unrighteous greed to be a defilement of the mind, the monk abandons them."

Knowing (viditva). Sub.Comy.: "Having known it either through the incipient wisdom (pubbabhaga-pañña of the worldling, i.e., before attaining to Stream-entry) or through the wisdom of the two lower paths (Stream-entry and Once-returning). He knows the defilements as to their nature, cause, cessation and means of effecting cessation." This application of the formula of the Four Noble Truths to the defilements deserves close attention. 

Abandons them (pajahati). Comy.: "He abandons the respective defilement through (his attainment of) the noble path where there is 'abandoning by eradication' (samucchedappahana-vasena ariya-maggena)," which according to Sub.Comy. is the "final abandoning" (accantappahana). Before the attainment of the noble paths, all "abandoning" of defilements is of a temporary nature. See Nyanatiloka Thera, Buddhist Dictionary, s.v. pahana.

According to the Comy., the sixteen defilements are finally abandoned by the noble paths (or stages of sanctity) in the following order: 

"By the path of Stream-entry (sotapatti-magga) are abandoned: (5) denigration, (6) domineering, (7) envy, (8) jealousy, (9) hypocrisy, (10) fraud.

"By the path of Non-returning (anagami-magga): (2) ill will, (3) anger, (4) malice, (16) negligence. 

"By the path of Arahatship (arahatta-magga): (1) covetousness and unrighteous greed, (11) obstinacy, (12) presumption, (13) conceit, (14) arrogance, (15) vanity." 

If, in the last group of terms, covetousness is taken in a restricted sense as referring only to the craving for the five sense objects, it is finally abandoned by the path of Non-returning; and this is according to Comy. the meaning intended here. All greed, however, including the hankering after fine material and immaterial existence, is eradicated only on the path of Arahatship; hence the classification under the latter in the list above.

Comy. repeatedly stresses that wherever in our text "abandoning" is mentioned, reference is to the Non-returner (anagami); for also in the case of defilements overcome on Stream-entry (see above), the states of mind which produce those defilements are eliminated only by the path of Non-returning.

5. Comy. emphasizes the connection of this paragraph with the following, saying that the statements on each of the sixteen defilements should be connected with the next' paragraphs, e.g., "when in him...ill will has been abandoned, he thereupon gains unwavering confidence..." Hence the grammatical construction of the original Pali passage -- though rather awkward in English -- has been retained in this translation. 

The disciple's direct experience of being freed of this or that defilement becomes for him a living test of his former still imperfectly proven trust in the Buddha, Dhamma and Sangha. Now this trust has become a firm conviction, an unshakable confidence, based on experience.

6."Unwavering confidence" (aveccappasada). Comy.: "unshakable and immutable trust." Confidence of that nature is not attained before Stream-entry because only at that stage is the fetter of sceptical doubt (vicikiccha-samyojana) finally eliminated. Unwavering confidence in the Buddha, Dhamma and Sangha are three of four characteristic qualities of a Stream-winner (sotapaññassa angani); the fourth is unbroken morality, which may be taken to be implied in Sec. 9 of our discourse referring to the relinquishment of the defilements.

7."When he has given up...(the defilements) in part" (yatodhi): that is, to the extent to which the respective defilements are eliminated by the paths of sanctitude (see Note 4). Odhi: limit, limitation. yatodhiyato odhi; another reading: yathodhi = yatha-odhi. =

Bhikkhu Ñanamoli translates this paragraph thus: "And whatever (from among those imperfections) has, according to the limitation (set by whichever of the first three paths he has attained), been given up, has been (forever) dropped, let go, abandoned, relinquished. " 

In the Vibhanga of the Abhidhamma Pitaka, we read in the chapter Jhana-vibhanga: "He is a bhikkhu because he has abandoned defilements limitedly; or because he has abandoned defilements without limitation" (odhiso kilesanam pahana bhikkhu; anodhiso kilesanam pahana bhikkhu).

8."Gains enthusiasm for the goal, gains enthusiasm for the Dhamma" (labhati atthavedam labhati dhammavedam).

Comy.: "When reviewing (paccavekkhato)* the abandonment of the defilements and his unwavering confidence, strong joy arises in the Non-returner in the thought: 'Such and such defilements are now abandoned by me.' It is like the joy of a king who learns that a rebellion in the frontier region has been quelled." 

*["Reviewing" (paccavekkhana) is a commentarial term, but is derived, apart from actual meditative experience, from close scrutiny of sutta passages like our present one. "Reviewing" may occur immediately after attainment of the jhanas or the paths and fruitions (e.g., the last sentence of Sec. 14), or as a reviewing of the defilements abandoned (as in Sec. 10) or those remaining. See Visuddhimagga, transl. by Ñanamoli, p. 789.] 

Enthusiasm (veda). According to Comy., the word veda occurs in the Pali texts with three connotations: 1. (Vedic) scripture (gantha), 2. joy (somanassa), 3. knowledge (ñana). "Here it signifies joy and the knowledge connected with that joy." 

Attha (rendered here as "goal") and dhamma are a frequently occurring pair of terms obviously intended to supplement each other. Often they mean letter (dhamma) and spirit (or meaning: attha) of the doctrine; but this hardly fits here. These two terms occur also among the four kinds of analytic knowledge (patisambhida-ñana; or knowledge of doctrinal discrimination). Attha-patisambhida is explained as the discriminative knowledge of "the result of a cause"; while dhamma-patisambhida is concerned with the cause or condition. 

The Comy. applies now the same interpretation to our present textual passage, saying: "Attha-veda is the enthusiasm arisen in him who reviews his unwavering confidence; dhamma-veda is the enthusiasm arisen in him who reviews 'the abandonment of the defilement in part,' which is the cause of that unwavering confidence..." Hence the two terms refer to "the joy that has as its object the unwavering confidence in the Buddha, and so forth; and the joy inherent in the knowledge (of the abandonment; somanassa-maya ñana)."

Our rendering of attha (Skt.:artha) b; "goal" is supported by Comy.: "The unwavering confidence is called attha because it has to be reached (araniyato), i.e., to be approached (upagantabbato)," in the sense of a limited goal, or resultant blessing. 

Cf. Ang 5:10: tasmim dhamme attha-patisamvedi ca hoti dhammapatisamvedi ca; tassa atthapatisamvedino dhammapatisamvedino pamojjam jayati... This text continues, as our present discourse does, with the arising of joy (or rapture; piti) from gladness (pamojja). Attha and dhamma refer here to the meaning and text of the Buddha word.

9. The Pali equivalents for this series of terms* are: 1. pamojja (gladness), 2. piti (joy or rapture), 3. passaddhi (tranquillity), 4. sukha (happiness), 5. samadhi (concentration). Nos. 2, 3, 5 are factors of enlightenment (bojjhanga). The function of tranquillity is here the calming of any slight bodily and mental unrest resulting from rapturous joy, and so transforming the latter into serene happiness followed by meditative absorption. This frequently occurring passage illustrates the importance given in the Buddha's Teaching to happiness as a necessary condition for the attainment of concentration and of spiritual progress in general. 

* [Here the noun forms are given, while the original has, in some cases, the verbal forms.]

10."Of such virtue, such concentration, such wisdom" (evam-silo evam-dhammo evam-pañño). Comy.: "This refers to the (three) parts (of the Noble Eightfold Path), namely, virtue, concentration and wisdom (sila-, samadhi-, pañña-kkhandha), associated (here) with the path of Non-returning." Comy. merely refers dhammo to the path-category of concentration (samadhi-kkhandha). Sub.Comy. quotes a parallel passage "evam-dhamma ti Bhagavanto ahesum," found in the Mahapadana Sutta (Digha 14), the Acchariya-abbhutadhamma Sutta (Majjh. 123), and the Nalanda Sutta of the Satipatthana Samyutta. The Digha Comy. explains samadhi-pakkha-dhamma as "mental states belonging to concentration."

11."No obstacle," i.e., for the attainment of the path and fruition (of Arahatship), says Comy. For a Non-returner who has eliminated the fetter of sense-desire, there is no attachment to tasty food.

12."With a mind of Loving-kindness" (metta-sahagatena cetasa). This, and the following, refer to the four Divine Abidings (brahma-vihara). On these see Wheel Nos. 6 and 7.

13."He understands what exists, what is low, what is excellent" (so 'atthi idam atthi hinam atthi panitam...' pajanati).

Comy.: "Having shown the Non-returner's meditation on the Divine Abidings, the Blessed One now shows his practice of insight (vipassana), aiming at Arahatship; and he indicates his attainment of it by the words: 'He understands what exists,' etc. This Non-returner, having arisen from the meditation on any of the four Divine Abidings, defines as 'mind' (nama) those very states of the Divine Abidings and the mental factors associated with them. He then defines as 'matter' (rupa) the heart base (hadaya-vatthu) being the physical support (of mind) and the four elements which, on their part, are the support of the heart base. In that way he defines as 'matter' the elements and corporeal phenomena derived from them (bhutupadayadhamma). When defining 'mind and matter' in this manner, 'he understands what exists' (atthi idan'ti; lit. 'There is this'). Hereby a definition of the truth of suffering has been given." 

"Then, in comprehending the origin of that suffering, he understands 'what is low.' Thereby the truth of the origin of suffering has been defined. Further, by investigating the means of giving it up, he understands 'what is excellent. Hereby the truth of the path has been defined."

14."...and what escape there is from this (whole) field of perception" (atthi uttari imassa saññaga-tassa nissaranam). Comy.: "He knows: 'There is Nibbana as an escape beyond that perception of the Divine Abidings attained by me.' Hereby the truth of cessation has been defined."

15. Comy.: "When, by insight-wisdom (vipassana), he thus knows the Four Noble Truths in these four ways (i.e., 'what exists,' etc.); and when he thus sees them by path-wisdom (magga-pañña).

16.Kamasava bhavasava avijjasava. The mention of liberation from the cankers (asava) indicates the monk's attainment of Arahatship which is also called "exhaustion of the cankers" (asavakkhaya).

17."Bathed with the inner bathing" (sinato antarena sinanena). According to the Comy., the Buddha used this phrase to rouse the attention of the brahmin Sundarika Bharadvaja, who was in the assembly and who believed in purification by ritual bathing. The Buddha foresaw that if he were to speak in praise of "purification by bathing," the brahmin would feel inspired to take ordination under him and finally attain to Arahatship.

18.Bharadvaja was the clan name of the brahmin. Sundarika was the name of the river to which that brahmin ascribed purifying power. See also the Sundarika-Bharadvaja Sutta in the Sutta Nipata.

19. Based on Bhikkhu Ñanamoli's version, with a few alterations.

20. Three are fords; the other four are rivers.

21. The text has Phaggu which is a day of brahminic purification in the month of Phagguna (February-March). Ñanamoli translates it as "Feast of Spring."

22. Uposatha.

23. "It is here, 0 brahmin, that you should bathe." Comy.: i.e., in the Buddha's Dispensation, in the waters of the Noble Eightfold Path. 

In the Psalms of the Sisters (Therigatha), the nun Punnika speaks to a brahmin as follows: 

Nay now, who, ignorant to the ignorant,
Hath told thee this: that water-baptism
From evil kamma can avail to free?
Why then the fishes and the tortoises,
The frogs, the watersnake, the crocodiles
And all that haunt the water straight to heaven
Will go. Yea, all who evil kamma work -- 
Butchers of sheep and swine, fishers, hunters of game,
Thieves, murderers -- so they but splash themselves
With water, are from evil kamma free!
-- Transl. by C. A. F. Rhys Davids, from Early Buddhist Poetry, ed. I. B. Horner Publ. by Ananda Semage, Colombo 11 



Revised: Thu 1 April 1999 ; http://world.std.com/~metta/canon/majjhima/mn7.html

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 35306)
Các chuyên gia đã từng nói cơ năng não bộ của con người so với máy vi tính phức tạp nhất trên thế giới lại càng phức tạp hơn.
(View: 7004)
Phật Đà Thập Đại Đệ Tử Tán - Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, Nguyễn Minh Tiến Việt dịch
(View: 12049)
Các tác phẩm của Thầy phần lớn được dịch từ Hán tạng, gồm giới kinh và các nguồn văn học Phật giáo Đại thừa với tư tưởng uyên thâm về triết họctâm lý học.
(View: 30839)
Đã phát khởi chí nguyện Đại thừa, lại kiên quyết thực hiện chí nguyện ấy, đó thực sự là cung cách hùng dũng của con sư tử đang vươn mình, và do đó phải được nhìn đến bằng cung cách của con voi chúa.
(View: 30869)
Vua và phu nhân gởi thơ cho Thắng Man, đại lược ca ngợi công đức vô lượng của Như Lai, rồi sai kẻ nội thị tên Chiên Đề La đem thư đến nước A Du Xà... HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 8356)
Tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân.
(View: 12805)
Bảy Đức Thế Tôn quá khứ từ Thế Tôn Tỳ Bà Thi, Thế Tôn Thích Ca, và chư Thế Tôn vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ sự chứng ngộ sự thật Duyên khởi.
(View: 12644)
Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali.
(View: 12026)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau:
(View: 13810)
Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama
(View: 36303)
Quy Sơn Cảnh Sách Học Giải - Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thích Thiện Trí (Thánh Tri) Phỏng Việt Dịch và Viết Bài Học Giải
(View: 10248)
Kinh này khởi đầu bằng lời người Bà La Môn hỏi rằng làm thế nào người ta có thể tự thanh tịnh hóa khi nhìn thấy một vị Thượng nhân đã Thanh tịnh,
(View: 52947)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. - Chú giải: Ngài Quán Nguyệt; Dịch giả: HT Thích Khánh Anh
(View: 11231)
Tôi nghe như vậy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại thành phố Śrāvastī (Xá-vệ), nơi rừng cây Jeta (Kì-đà), vườn của Ông Anāthapiṇḍada (Cấp-cô-độc),
(View: 10912)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng ...
(View: 11129)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(View: 10932)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(View: 13540)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(View: 16867)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(View: 22567)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 9954)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(View: 7473)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(View: 10788)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(View: 13518)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(View: 13307)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(View: 16745)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(View: 16977)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(View: 14229)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(View: 17192)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(View: 12618)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(View: 14329)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(View: 14707)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(View: 9597)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(View: 12132)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(View: 11727)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(View: 16972)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(View: 14794)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(View: 16594)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(View: 13037)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(View: 12506)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(View: 12172)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(View: 16089)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(View: 11946)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(View: 14421)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(View: 12455)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(View: 13197)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(View: 15437)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(View: 12296)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(View: 13529)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(View: 14969)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(View: 21477)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(View: 13645)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(View: 11335)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(View: 21195)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(View: 14774)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(View: 21141)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(View: 18266)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 14507)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(View: 32296)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(View: 12418)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant