Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất

Khi Vô Ngã Không Là Vô Ngã

Wednesday, November 26, 202516:43(View: 528)
Khi Vô Ngã Không Là Vô Ngã

Khi Vô Ngã Không Là Vô Ngã


Nguyên Giác

 
chu tieu

Nơi đây, chúng ta sẽ chỉ nói chữ nghĩa ở mức độ rất nhẹ nhàng, rất đơn giản, chủ yếu có thể tu học được, chứ không hề lý thuyết phức tạp, không bàn chuyện cao siêu. Nhan đề cho bài này “Khi Vô Ngã Không Là Vô Ngã” nghe có vẻ như viết kiểu giựt gân, nhưng để nêu lên thực tế rằng Vô Ngã là khái niệm rất trừu tượng, rất khó hình dung, và không chắc gì chúng tacó thể hiểu cùng một nghĩa, khi nói cùng một từ ngữnày.

Vô Ngã, nói ngắn gọn, là không hề có cái gì gọi là cái tôi, hay cái của tôi; không hề có cái gì gọi là cái tự ngã trên trần gian này. Trong Kinh SN22.95, Đức Phật nói rằng cái thân tâm mà nhiều người tưởng là cái tôi, cái tự ngã, thực ra chỉ là đống bọt nước lớn, nhìn kỹ thì đống bọt ngũ uẩn ấy hiện rõ ra là trống không, như bong bóng nước hiện ra rồi tan biến, hệt như quáng nắng, hệt như trò ảo thuật...

Trong Tạp chí Viên Âm, số 22, phát hành năm 1936, Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám dựa vào Trung Luận của ngài Long Thọ giải thích rằng tất cả các pháp đều là vô ngã, vì đều là do nhơn duyên khởi lên, không có chút gì là có tự tính. Dẫn ra trường hợp cái bàn, cụ Lê Đình Thám viết, trích:

"Ví dụ như một cái bàn, nó cũng pbải đủ Nhơn đủ Duyên rồi mới thành cái bàn được. Nhơn của cái bàn tức là các thứ gỗ; gỗ lim thi đóng thành bàn lim, gỗ kiền-kiền thì đóng thành bàn kiền-kiền, nhơn với quả tụy có khác, nhưng cũng đồng một tánh-cách, hễ gỗ lim thì đóng thành bàn lim, chớ không thể nào đóng thành bàn kiền-kiền được. Song một mình gỗ cũng không đủ làm thành cái bàn, muốn đóng cho thành được cái bàn, lại cần phải có nhơn-công cưa, xẻ, bào, chuốt, ráp mộng, ghép ván nữa, những nhơn-công kia đều là những trợ duyêngiúp đỡ cho cái nguyên-nhơn gỗ tạo thành ra cái bàn vậy. Chúng ta xét như trên thì biết cái bàn là một vật do nhơn-duyên sanh ra, tức là một cái nhơn-duyên-sở-sanh pháp. Vậy những nhơn duyên-sở-sanh pháp thiết-thiệt là thế nào? Đáp lại câu hỏi ấy, chúng ta nên lập câu kệ thứ hai, tức là câu: "Ngã thuyết tức thị không". Ngã thuyết tức thị không, nghĩa là tôi nói các nhơn duyên-sở sanh pháp kia tức là chơn không."

Đức Phật nói thế, các cụ cũng nói thế. Tuyệt vời là lý luậnTuy nhiên, khi nghiên cứu về cách dịch các văn bản Thiền học từ tiếng Việt sang tiếng Anh, tôi lúng túng, khi suy nghĩrằng nên chọn chữ nào để dịch chữ "vô ngã": chữ "non-self" hay chữ "no-self" hay chữ "not-self"? Cũng từng có một cuộc thảo luận trên mạng SuttaCentral về cách dịch chữ vô ngã.

Nói đơn giản trong tiếng Việt, thì chữ "vô ngã" có thể được hiểu là "không hề có cái gì là ngã" và cũng có thể hiểu hơi khác hơn, rằng đó là "không phải ngã" -- nghĩa là, trong tiếng Anh thì "not-self" có nghĩa là "chưa phải là ngã." Vậy thì dịch làm sao cho đúng ý Đức Phật.

Trường hợp bài Kinh SN 22.59, còn gọi là Kinh Vô Ngã Tưởng theo bản dịch Việt ngữ của Thầy Minh Châu, trích: "Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn..."

Bài Kinh trên được Bhikkhu Bodhi dịch là "The Characteristic of Nonself" và câu dẫn trên là: “Bhikkhus, form is nonself. For if, bhikkhus, form were self, this form would not lead to affliction..."

Trong khi đó, Bài Kinh trên được Bhikkhu Sujato dịch là "The Characteristic of Not-Self" và câu dẫn trên là: “Mendicants, form is not-self. For if form were self, it wouldn’t lead to affliction..."

Vị sư Hoa Kỳ Thanissaro Bhikkhu, cũng là một trong vài người dịch Tam Tạng Pali sang Anh văn, dùng chữ "Not-self" -- chữ này, nếu dịch cho sát nghĩa tiếng Việt sẽ là "chưa phải ngã".

Hai đại dịch giả khác -- Ngài Ñanamoli Thera và N.K.G. Mendis -- cũng dịch là "Not-self".

Trong bài viết nhan đề "No-self or Not-self?" (Không-Ngã hay Không-Phải-Ngã?) (1) ngài Thanissaro Bhikkhu viết, trích: "Thực ra, khi Đức Phật được hỏi thẳng rằng có hay không có một cái ngã, Ngài đã từ chối trả lời. Sau đó, khi được hỏi tại sao, Đức Phật nói rằng khi trả lời"có, có một cái ngã" hay khi trả lời "không, không có ngã nào" đều sẽ rơi vào những tà kiến ​​cực đoan, khiến con đường tu tập Phật giáo trở nên bất khả thi. Vì vậy, câu hỏi này nên được gác lại." (1)

Ngài Thanissaro nói rằng Đức Phật chỉ quan tâm tới việc giúp chúng sinh giải thoát, và không bận tâm chuyện lý thuyết. Cuối bài viết, ngài Thanissaro viết: "Theo nghĩa này, giáo lývô ngã không phải là một học thuyết về vô ngã, mà là một chiến lược phi ngã để loại bỏ đau khổ bằng cách buông bỏ nguyên nhân của nó, dẫn đến hạnh phúc cao nhất, bất diệt. Khi đó, những câu hỏi về ngã, vô ngã và phi-ngã sẽ tan biến. Một khi đã trải nghiệm được sự tự dohoàn toàn như vậy, thì còn gì để bận tâm về việc cái gì đang trải nghiệm nó, hay về việc nó có phải là một cái ngã hay không?"

(Đoạn trên cần viết nguyên văn, vì ý nghĩa rất tinh tế: In this sense, the anattā teaching is not a doctrine of no-self, but a not-self strategy for shedding suffering by letting go of its cause, leading to the highest, undying happiness. At that point, questions of self, no-self, and not-self fall aside. Once there’s the experience of such total freedom, where would there be any concern about what’s experiencing it, or about whether or not it’s a self?)

Trong Kinh SN 44.10, Đức Phật giải thích cụ thể hơn qua đoạn đối thoại với Ngài Ananda, qua bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

"—Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn không trả lời câu hỏi của du sĩ Vacchagotta?

—Này Ānanda, nếu được hỏi: “Có tự ngã không?”, và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: “Có tự ngã”, như vậy, này Ānanda, thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp thường kiến.

Và này Ānanda, nếu được hỏi: “Có phải không có tự ngã?” Và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: “Không có tự ngã”, như vậy, này Ānanda, là thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp đoạn kiến.

Lại nữa, này Ānanda, nếu được hỏi: “Có tự ngã không?” và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: “Có tự ngã”, như vậy, câu trả lời của Ta có phù hợp với trí khởi lên rằng: “Tất cả các pháp là vô ngã”?" (2)

Như thế, nghĩa là, theo giải thích của Thanissaro, "vô ngã" là chiến lược của Đức Phật để giải thoátTuy nhiênĐức Phật không hề nói minh bạch là có một cái ngã nào đó. Nhưng hiển nhiênĐức Phật liên tục nói rằng "các pháp vô ngã" -- vì hễ chúng ta nói rằng có cái gì gọi là ngã, thì đều không trúng, và sẽ rơi vào tà kiến.

 

Trong Kinh MN 2, Đức Phật nói rõ rằng nói có ngã hay nói không có ngã đều là tà kiến, trích bản dịch của Thầy Minh Châu như sau:

"Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên: “Ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; “Ta không có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật như chơn; “Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; “Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã”, tà kiếnnày khởi lên với người ấy như thật, như chơn. “Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; hay tà kiến này khởi lên với người ấy: “Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại”. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luậnkiến tranh chấp, kiến kiết phược." (3)

Trong nhà Phật, có luật nhân quả. Mình làm ác, thì sẽ nhận quả ác. Mình làm thiện, thì sẽ nhận quả thiện. Câu hỏi rất nan đề là: cái tôi làm ác (hay thiện) có phải là cái tôi sẽ nhận quả ác (hay thiện) trong tương lai gần hay tương lai xa? Như thế, có phải cái "ngũ uẩn vô ngã" hôm nay làm ác (hay thiện) sẽ là cái "ngũ uẩn vô ngã" tương lai sẽ thọ nhận quả ác (hay thiện) sau đó? Trả lời thế nào cũng bị vướng vào nhị biên.

Trong Kinh SN 12.17, Đức Phật giải thích, quả bản dịch của Thầy Minh Châu:

"Một người làm và chính người làm ấy cảm thọ (kết quả). Này Kassapa, như Ông gọi ban đầu “khổ do tự mình làm ra”, như vậy có nghĩa là thường kiến.

Một người khác làm và một người khác cảm thọ. Này Kassapa, như vậy đối với người bị cảmthọ, được xảy ra như: “Khổ do người khác làm ra”, như vậy có nghĩa là đoạn kiến.

Này Kassapa, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạoVô minh duyên hành, hành duyên thức …"(4)

Các luận sư Đại Thừa với truyền thống lý luận phức tạp đã đưa Pháp vô vi ra trả lời các câu hỏi về vô ngã [pháp hữu vi]: rằng có một Pháp vô vi gọi là Thường Lạc Ngã Tịnh. Nghĩa là, nói rằng có Chân Thường, Chân Lạc, Chân NgãChân Tịnh... để gọi Pháp vô vi của Niết bàn. Khoan, khoan. Nơi đây, chúng ta chỉ nói về chuyện rất đời thường trong ngày, chuyện đi đứng nằm ngồi của một khối da thịt gân xương vô ngã liên tục hư vỡ, lụi tàn từng khoảnh khắc.

Thực tế, nói làm sao cũng bị kẹt. Một lần, bổn sư của tôi, Hòa Thượng Tịch Chiếu, nói với tôi rằng pháp Thiền Tổ Sư không dùng tới lời nói. Nhờ câu nói bí ẩn đó, suốt nhiều thập niên sau tôi vẫn tìm tòi trong kinh và luận thư về những ẩn nghĩa, tại sao không dùng lời nóiMột lần khác, Thầy nói rằng "đừng có đọc nữa." Thực ra, tôi mê đọc thì ai cũng biết, vì lúc nào cũng cầm theo vài cuốn sách để đọc liên tục. Nhưng câu nói "đừng đọc nữa" chỉ có nghĩa là "đừng diễn giải nữa" vì diễn giải là (tiến trình qua lý luận) là sẽ mất ngay cái đời sống trước mắt, bên tai.

Khi bạn nghe một điều gì đó, hoặc nghe là hiểu ngay, hoặc nghe là không hiểu ngay. Hiểu ngay thì tốt, không hiểu thì thôi. Đừng "đọc những lời nói mà bạn nghe được" -- nghĩa là, đừng diễn giải rằng abc hay bcd", vân vân. Vì ngay khi bạn suy nghĩ dể "đọc" (diễn giải) lời bạn nghe trước đó vài phút, thì bạn mất ngay cái đời sống trong hiện tại. Bởi vì đọc, hay diễn giải chỉ là chuyện bạn rơi vào quá khứ. Trong khi Thiền Tông yêu cầu bạn sống ngay cái khoảnh khắc hiện tiền.

Thiền Tông có những cách trả lời rất là tuyệt vời cho chuyện Vô Ngã mà không phải Vô Ngãnày. Khi có ai đó chỉ vào cái bình và hỏi rằng đó là cái gì, bạn nên hiểu câu hỏi đó có nghĩa là, cái bình này có cái ngã nào được gọi là bình hay không. Bạn có thể cầm gậy đập bể cái bình. Nghĩa là, bạn lấy cái Vô Thường để trả lời câu hỏi có Vô Ngã hay không. Hay là, bạn kéo cái bình sang nơi khác, sang cái bàn khác, để cho thấy rằng cái bình (Sắc) thực sự là không khác gì với Không.

Ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ nói rằng có một cách để vượt sông để qua bờ bên kia là, thấy tâm mình như con trâu bùn, bước xuống dòng sông (của đời sống đầy sinh tử khổ não này) thì từng bước của trâu bùn sẽ tan ra vào sông. Nghĩa là, khi bạn trực tiếp sống đời sống này, hít thở, đi đứng nằm ngồi, trong từng khoảnh khắc của cảm thọ trực tiếp cuộc đời, thì không còn chuyện vô ngã hay không vô ngã. Vì hễ bàn chuyện Vô Ngã thì là rơi lại vào kiểu "đọc đời sống này" chứ không còn là "sống đời sống này."

Do vậy, thay vì đọc (diễn giảisuy nghĩ...), bạn hãy sống trực tiếp cuộc sống, không qua bất kỳ trung gian chữ nghĩa nào nữa, đó cũng là ý hãy sống Như Thị, theo bài kệ của Tổ Phước Hậu:

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư

Học hành không thiếu cũng không dư

Năm nay nghĩ lại chừng quên hết

Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ.

Hãy nhớ rằng, khi bạn sống được cái Như Thị hiện tiền, thì sẽ không còn chuyện nên dịch Vô Ngã là Không-Ngã hay Không-Phải-Ngã nữa. Khi toàn thân bạn sống với chữ Như, y hệt như con trâu bùn đang bước qua sông, thì đó cũng là lời Đức Phật dạy trong Kinh Bahiya Sutta, rằng "Này Bahiya, hãy để cái được nghe là cái được nghe, hãy để cái được thấy là cái được thấy..." Và ngay khi đó, là giải thoát. Là xa lìa tất cả chữ nghĩa của cõi này.

Nếu bạn dừng mọi chuyện lại trong ba mươi giây, và thực hiện lời Đức Phật dạy trong Kinh Bahiya, thì có thể chỉ trong khoảnh khắc chớp nhoáng, bạn sẽ thấy mọi chuyện của sách vở giấy tờ (kể cả kinh điển) đều không còn ý nghĩa gì trong khi bạn sống cuộc đời này. Đúng rằng nó là Vô Ngã. Nhưng mở miệng nói Vô Ngã, là sẽ rơi vào bẫy của cái đã qua. Trong cái hiện tiền, không có chữ nghĩa nào khởi lên được, huống gì là chữ rất là nghiêm túc như là Vô Ngã. Và có thể, bạn sẽ thấy ba mươi giây Như Thị đó trở thành vĩnh cửu, nơi đó, trong Tâm bạn hiển lộ một mùa xuân bất tận.

Vậy thì, hỏi lại, dịch chữ Vô Ngã thế nào cho vừa lòng người yêu chữ? Nếu có ai hỏi như thế, tôi sẽ lặng lẽ cầm tờ giấy đưa lên, và nhẹ nhàng xé ra làm nhiều mảnh. Đúng là pháp này không dùng ngôn ngữ, vì ngôn ngữ luôn luôn là cái bẫy của quá khứ. Còn cái hiện tiềnmà chúng ta đang hít thở, nói, cười, đùa giỡn... thì hoàn toàn không một chữ nào hiện lêntrong tâm. Chỉ thấy vạn pháp nó thế, là nó thế.

GHI CHÚ:

(1) Thanissaro Bhikkhu. "No-self or Not-self?"

https://www.dhammatalks.org/books/NobleStrategy/Section0014.html

(2) Kinh SN 44.10: https://suttacentral.net/sn44.10/vi/minh_chau

(3) Kinh MN 2: https://suttacentral.net/mn2/vi/minh_chau

(4) Kinh SN 12.17: https://suttacentral.net/sn12.17/vi/minh_chau

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 68)
Vào ngày 9/11/2025, tại Tu Viện Huyền Không, San Jose, tôi đã tham dự buổi ra mắt rất đồ sộ của Dự Án Phật HọcTinh Hoa Thế Giới
(View: 209)
hời Thế Tôn còn tại thế, không phải Tỳ-kheo nào cũng được gặp Phật và biết rõ về Ngài.
(View: 575)
Thekchen Chöling, Dharamsala, HP, Ấn Độ - Sáng nay, khi Thánh Đức Đạt Lai Lạt Maquang lâm đến Tsuglagkhang, Chùa Chính Tây Tạng,
(View: 576)
Sau 49 ngày đêm tham thiền nhập định dưới cội Bồ đề, Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni, đã chứng đạt được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng chánh giác.
(View: 637)
Từ hơn hai ngàn năm trước, dưới tán cây bồ đề, một con người đã tỉnh thức. Không phải nhờ phép lạ, mà bằng sự tự chiếu soi tận cùng bản tâm đã chứng ngộ.
(View: 846)
Hai mươi lăm thế kỷ trước đây, qua kinh nghiệm thiền định, Đức Phật Sakyamuni trực nhập bản thể của tâm.
(View: 1780)
Đã có nhiều bài viết của nhiều tác giả về tái sinh trong ý nghĩa nhân quả, nghiệp báo, luân hồi trong giáo lý Phật giáo,
(View: 1624)
Đại sư Khuy Cơ là bậc cao tăng nổi tiếng, tổ sư khai sáng Duy thức pháp tướng tông.
(View: 1890)
A-la-hán là vị đã chứng đạt quả vị thứ tư trong bốn Thánh quả: Kinh Sa-môn quả của Trường bộ kinh có nêu:
(View: 1951)
Giáo lý của nhà Phật được trình bày một cách tuần tự thứ lớp tạo thành một hệ thống hợp lý có tương quan chặt chẽ với nhau,
(View: 1805)
Đức Phật thị hiện trong đời vì một đại sự nhân duyên: “Khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”.
(View: 1716)
Trong Kinh Giải Thâm Mật do ngài Huyền Trang dịch, phẩm Du già (Yoga) thứ 6 giảng về Chỉ (Samatha, Định), Quán (Vipassana, Quán) và Chỉ - Quán đồng thời.
(View: 1775)
Hầu hết các loài trên hành tinh này đều thiếu khả năng trí tuệ để xây dựng hệ thống niềm tin.
(View: 1824)
Hầu như ai cũng công nhận rằng kinh sách cổ xưa đã trải qua nhiều đời và phải chịu sự sửa đổi, thêm bớt, hoặc hoàn toàn do ngụy tạo.
(View: 1658)
Như một người lạc lối trong rừng hoang nguy hiểm chợt cảm thấy an ổn khi tìm thấy được đường ra, Bồ-đề Nguyện và Bồ-đề Hành
(View: 1568)
Chúng ta ở đây để chia sẻ suy nghĩ của mình về những gì Phật giáo có thể mang lại trong thời đại Trí tuệ nhân tạo.
(View: 1508)
Trong Kinh Tạng Pali, có kể hai truyện về hai người cha thời Đức Phật. Qua hai truyện này, chúng ta sẽ thấy sức mạnh của Chánh pháp.
(View: 1777)
Mở đầu Bản “Giải thích Sáu mươi kệ tụng biện luận lý tính duyên khởi của Long Thọ”, ngài Nguyệt Xứng viết:
(View: 1789)
Để phân tích sâu hơn câu chuyện "Bốn cô vợ" qua lăng kính Phật giáo, tôi sẽ mở rộng các khía cạnh triết lý,
(View: 1585)
Là một thuật ngữ âm Hán – Việt, có lẽ khó hiểu với một số Phật tử cũng như những người trẻ.
(View: 2055)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(View: 2320)
Trong suốt khoảng thời gian mười lăm thế kỷ khi Phật giáo có mặt ở Ấn Độ, đã xuất hiện những quan điểm khác nhau về...
(View: 1824)
Nền tảng những lời dạy của Đức Phậtphật tính. Và cũng do phật tínhĐức Phật đã ban cho những lời giảng.
(View: 1845)
Đức Phật (khoảng năm 450 trước Công nguyên) là người có giáo lý tạo thành nền tảng của truyền thống Phật giáo.
(View: 2029)
Chỗ ở của người tu thường là nơi thanh vắng, núi rừng. Thời Đức Phật còn tại thế cũng thường ở trong những khu rừng.
(View: 1752)
Trên con đường tiến hóa của mình, loài người tiến theo hướng càng ngày càng thiện lành hơn.
(View: 2260)
Đầu đà tăng còn gọi là khổ hạnh tăng. Hán dịch chữ Tăng, không chỉ riêng tăng nhân Phật giáo mà nhằm chỉ vị tăng của các tôn giáo Ấn Độ cổ đại.
(View: 2257)
Truyền Đăng sinh năm 1554, họ Diệp, hiệu Vô Tận, biệt hiệu Hữu Môn.
(View: 2171)
Tính nối kết là một đặc trưng của kinh Pháp Hoa. Ở đây chỉ trích ra một ít câu để làm rõ.
(View: 2231)
Vạn sự vạn vật hay các pháp hữu vi đều từ duyên mà khởi lên, chứ không có tự tánh.
(View: 2932)
Lama Zopa Rinpoche giải thích phương pháp thiền về tính không trong cuộc sống hàng ngày.
(View: 3424)
Vạn sự vạn vật hay các pháp hữu vi đều từ duyên mà khởi lên, chứ không có tự tánh.
(View: 2710)
Trong bài này sẽ nghiên cứu về chương thứ nhất, phẩm Tựa, của kinh Pháp Hoa để nhìn thấy phần nào tính vũ trụ của kinh
(View: 2579)
Khi một thiền giả theo đuổi con đường giới, vị ấy nên khởi sự thực hành khổ hạnhđể kiện toàn các đức đặc biệt ít muốn, biết đủ
(View: 2961)
Với ngày giác ngộ của Đức Phật và năm mới sắp đến, suy nghĩ của chúng ta được phát khởi từ...
(View: 3202)
Hai thời công phu còn gọi là triêu mộ khóa tụng (朝暮课诵) hoặc nhị khóa, tảo vãn khóa, đều áp dụng cho hàng xuất giatại gia mỗi ngày.
(View: 3509)
Người trí tạo thiên đường cho chính mình, kẻ ngu tạo địa ngục cho chính mình ngay đây và sau này.
(View: 3069)
Chúng ta kinh nghiệm thế giới vật chất bằng sáu giác quan của mình: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
(View: 2878)
Ta đã già rồi ư? Sự vô thường của thời gian quả thật không gì chống lại được.
(View: 3135)
Kinh Hoa Nghiêm còn gọi kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, là một kinh điển trọng yếu của Đại thừa. Bản kinh mô tả cảnh giới trang nghiêm huyền diệu
(View: 2730)
Từ bây giờ, là người mới xuất gia, nhiệm vụ của các con là sửa đổi và phát triển bản thân.
(View: 3125)
Việt Namquốc gia ở vùng Đông Nam Á cho nên chúng ta may mắn được hấp thụhai trường phái Phật giáo lớn nhất của thế giới,
(View: 3204)
Ngày xưa chúng đệ tử của Đức Phật có nhiều hạng người khác nhau. Tùy theo căn cơ của mỗi người, Đức Phật áp dụng phương pháp giáo hóa khác nhau.
(View: 3712)
Phật giáo có hai hệ là Theravada và Phát-Triển. Hệ Theravada quan niệm quả vị cao nhất mà hành giảthể đạt được là quả vị A-La-Hán.
(View: 3244)
Với ngày giác ngộ của Đức Phật và năm mới sắp đến, suy nghĩ của chúng ta được phát khởi từ
(View: 3108)
Chủng tử là hạt mầm của đời sống, là nguồn năng lượng đơn vị cấu thành nghiệp lực, là yếu tốsâu kín và căn bản quyết định sự hình thành cái ‘Ta’ (Ngã)
(View: 3241)
Đế Nhàn, gọi đầy đủ là Cổ Hư Đế Nhàn, là tổ sư đời thứ 43 Thiên Thai tông, một bậc cao Tăng cận đại, phạm hạnhcao khiết, giỏi giảng kinh thuyết pháp, độ chúng rất đông.
(View: 2654)
Giải thoát thì không có trước có sau, không có thừa! Và không có để lại bất kỳ cái gì.
(View: 3213)
Bản kinh chúng ta đang có là bản kinh 262 trong Tạp A Hàm Hán Tạng. Trong Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya) của tạng Pāli có một kinh tương đương, đó là kinh Chiên Đà.
(View: 3283)
Thực tại được kinh Hoa Nghiêm gọi là pháp thân Phật, được diễn tả nhiều trong các bài kệ của phẩm đầu tiên Thế Chủ Diệu Nghiêm.
(View: 3131)
Gần 26 thế kỷ về trước, sau khi kinh qua nhiều pháp môn tu tập nhưng không thành công, Đức Phật đã quyết định thử nghiệm chân lý bằng cách tự thanh tịnh lấy tâm mình.
(View: 2466)
Tín là niềm tin. Niềm tin vào Tam Bảotin tưởng vào Phật, Pháp, Tăng.
(View: 3094)
Đức Phật xuất hiện trên thế gian đem lại an vui cho tất cả chúng sanh. Đạo Phật là đạo của giác ngộgiải thoát.
(View: 2332)
Pháp Lục hòa là pháp được đức Đạo sư nói ra để dạy cho các đệ tử xuất gia của Ngài lấy đó làm nền tảng căn bản cho nếp sống cộng đồng Tăng đoàn
(View: 2411)
Đây là bốn phạm trù tâm thức rộng lớn cao thượng không lường được phát sinh từ trong thiền định khi hành giả tu tập trong tự lợi và, lợi tha
(View: 2362)
Nhân quả là một định luật tất yếu trong sự hình thành nhân sinh quan và vũ trụ quan qua liên hệ duyên khởi của cuộc sống con người
(View: 3449)
Sự thành tựu tối thượng mà những vị đang đi trên con đường độc nhất tiến tới giác ngộ, là khả năng thành tựu tất cả từ hư vô.
(View: 2719)
Phật pháp như thuốc hay, nhưng tùy theo căn bịnh.
(View: 3166)
Pháp Duyên khởi, tiếng Phạn là Pratīya-samutpāda. Pratīya, là sự hướng đến. Nghĩa là cái này hướng đến cái kia và cái kia hướng đến cái này.
(View: 3358)
Phẩm này tiếng Phạn Sadāparibhūta. Sadā là thường, mọi lúc, mọi thời gian; Paribhūta là không khinh thường.
Quảng Cáo Bảo Trợ
AZCMENU Cloudbase: Giải pháp TV Menu thông minh, tiện lợi, chuyên nghiệp!
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM