Bố Thí Để Thấy Và Sống Trong Thực Tại Chân Như
Nguyễn Thế Đăng
1/ Bố thí ở tầng thân thể và tầng ý thức
Một người thực hành hạnh Bồ tát thì sống trong thế giới, giữa các chúng sanh nên không xem thường, rẻ rúng thế giới vật chất và thế giới ý thức nơi mọi người đang sống. Người ấy không xem thường, từ bỏ những thành tựu khoa học, ngôn ngữ, kiến trúc, y học... con người đã khám phá phát minh, để xa lánh xã hội loài người.
Trái lại người ấy sống cùng, đồng hành với lịch sử con người, không xa lìa những sinh hoạtcủa xã hội. Không chê bai, bác bỏ mà nhẫn nhục, trân trọng những gì thuộc về con người, lấy đó làm phương tiện cho con đường tự giác - giác tha.
Để có một quan niệm đúng về vấn đề này, chúng ta xem sự cho đi, sự bố thí của một Bồ tát.
Ba la mật đầu tiên trong sáu ba la mật là bố thí. Bố thí các sự vật, kể cả thân thể mình, là tài thí (cho đi tài sản, kể cả thân thể là một tài sản). Pháp thí là bố thí giáo pháp. Vô úy thí là ban cho sự không sợ hãi, điều này thuộc về tầng tâm linh, chỉ các người cao cấp mới làm được.
Để tài thí và pháp thí, người ta phải có của cải vật chất và của cải tinh thần (kiến thức học tập được). Cả hai điều này đều dựa vào thế giới vật chất và ý thức, hơn nữa, dựa vào chúng sanh của thế giới ấy. Nên xem thường hai tầng vật chất và ý thức, người ta ít có cái gì giá trịđể hành hạnh bố thí của Bồ tát hạnh.
Sau đây, trích một đoạn ngắn nói về bố thí thức ăn, thức uống đi kèm với trí huệ và hồi hướng trong Phẩm Thập Hồi Hướng, thứ 25, Kinh Hoa Nghiêm, phần Tùy thuận kiên cố tất cả thiện căn hồi hướng thứ 6:
“Như lúc bố thí thức ăn, tâm Bồ tát thanh tịnh đối với vật bố thí, không tham bám, không bỏn xẻn luyến tiếc. Nguyện cho tất cả chúng sanh được thức ăn trí huệ, tâm được vô ngại rõ biết bản tánh của việc ăn nên không tham bám, chỉ thích món ăn pháp hỷ giải thoát, đầy đủ trí huệ. Dùng pháp trụ vững chắc, nhiếp giữ thiện căn. Pháp thân trí thân thanh tịnh du hành. Vì tâm từ mà làm ruộng phước cho chúng sanh, thị hiện thọ sự ăn uống. Đây là Bồ tát lúc bố thíthức ăn đem thiện căn hồi hướng.
Đại Bồ tát lúc bố thí thức uống, đem thiện căn này hồi hướng như vầy: Nguyện cho chúng sanh uống nước pháp vị, tinh tấn chuyên cần tu tập, đầy đủ đạo Bồ tát, dứt sự khát ái thế gian, thường cầu trí huệ Phật. Lìa cảnh giới dục, được pháp hỷ lạc. Từ pháp thanh tịnh mà sanh ra thân thanh tịnh, thường dùng tam muội mà điều nhiếp tâm. Vào biển trí huệ, nổi mây pháp lớn, tuôn mưa pháp lớn. Đây là đại Bồ tát lúc bố thí thức uống đem thiện căn hồi hướng”.
Trong chỉ một hành động đơn giản, bố thí thức ăn uống cho người khác, người tu Bồ tát hạnh hầu như vận dụng tất cả thân tâm mình hoạt động tương ứng với Phật pháp.
Với chính mình là sự thanh tịnh đối với vật bố thí, không bám luyến, tiếc nuối, và hành theo trí huệ, như lý tác ý. Cho người khác thức ăn uống và còn nguyện cho họ, thậm chí cho tất cả chúng sanh, được nối kết với pháp, cho đến họ được giải thoát, giác ngộ.
Chưa dừng ở đó, sự bố thí trong từ bi và trí huệ như vậy là thiện căn, và đem thiện căn này hồi hướng cho tất cả chúng sanh. Hồi hướng là một sự tiếp tục cho đi, cho đi toàn bộ tiến trình cho đến kết quả của công việc mình làm.
Bố thí như vậy có ý nghĩa gì? Đó là thoát khỏi bỏn xẻn, luyến tiếc, tham bám, những phiền não, cho đến cái gốc rễ tạo ra khổ đau sanh tử là sự chấp ngã và chấp pháp. Chấp ngã và chấp pháp hết ở cấp độ thô thì người ta thấy và vào được “pháp thân trí thân thanh tịnh”, và lấy đó để sống, để “du hành” giữa đời.
Qua đoạn ngắn về bố thí và hồi hướng thiện căn này, chúng ta thấy con đường Bồ tát hạnhkhông phải là xem thường, rẻ rúng, từ bỏ những sự vật và sự việc của thế giới này, mà trái lại biết sử dụng chúng để tạo thành con đường giác ngộ. Như thế, thế giới và chúng sanh là một môi trường để tu tập, để hành đạo, là một đạo tràng cho Bồ tát.
Để làm được hạnh bố thí dù ở cấp độ nhỏ, người ta phải giữ gìn, trau dồi hai tầng thân thểvà ý thức. Hai tầng căn bản này nếu yếu thì không thể làm việc bố thí được. Nếu thân thểngười cho mà ốm yếu, xơ xác thì không ai dám nhận của cho. Hơn nữa, thân thể có “ngôn ngữ cơ thể”. Cho đi không chỉ bằng đồ vật mà còn bằng ngôn ngữ cơ thể. Thân thể khỏe mạnh kèm với một thái độ đúng đắn là phương tiện để sự cho đi được thành tựu.
Ý thức cũng phải phát triển mạnh để biết tư duy, khi nào cần cho, cho ai, cho bao nhiêu, với một thái độ thế nào. Ý thức cũng cần phát triển để có thể hiểu Pháp và làm theo Pháp, “như lý tác ý”.
Tóm lại, thân khẩu ý phải phát triển để có thể lợi mình lợi người qua hành động bố thí.
2/Nối kết với tầng tâm linh
Qua việc làm bố thí của hai tầng thân thể và ý thức, người ta có thể nối kết với tầng tâm linhmà trong kinh gọi là Chân Như, vốn có nơi mình.
Bố thí như được diễn tả ở đoạn kinh trên, người ta có thiện căn, công đức. Đó là sự tích tập công đức. Và trong đoạn kinh trên cũng nói sự tích tập công đức đi cùng với tích tập trí huệ. Ở đây, trích một đoạn kinh cũng của phẩm Thập Hồi Hướng, phần Chân Như tướng hồi hướng thứ 8, để thấy rõ hơn sự hồi hướng y cứ trên trí huệ thấu đạt chân như.
Đoạn này cũng nói về tích tập thiện căn bằng nguyện hạnh và hồi hướng thiện căn ấy, nhưng nói rõ sự hồi hướng này y trên nền tảng Chân Như.
Sau khi phát rất nhiều lời nguyện hồi hướng, như “Nguyện được tâm viên mãn không chướng ngại, tịnh tu tất cả các hạnh Bồ tát”. “Nguyện được vào khắp tự tánh của tất cả các pháp, thấy tất cả thế gian thảy đều thanh tịnh”. “Nguyện cho tất cả chúng sanh được tâm bình đẳng trí huệ trùm khắp. Nguyện tất cả chúng sanh thấy chân tánh các pháp bình đẳng, viên mãn thanh tịnh, không chấp lấy các pháp. Nguyện tất cả chúng sanh trí huệ viên mãn, tịnh quang chiếu khắp” ...
Đây là những lời nguyện và hồi hướng cho mình và cho người thấy được và sống được trong “tự tánh của tất cả các pháp”, trong tánh Không tức là “tâm viên mãn không chướng ngại”, trong ánh sáng của tâm “tịnh quang chiếu khắp”.
Kinh nói tiếp:
“Bồ tát đem thiện căn này hồi hướng như vầy:
Chẳng chấp thế gian, chẳng chấp chúng sanh, tâm luôn thanh tịnh không chỗ trụ. Chánh niệm đối với các pháp, lìa cái thấy phân biệt, chẳng bỏ trí huệ tự tại của chư Phật, chẳng trái môn hồi hướng chân chánh của chư Phật ba đời. Tùy thuận tất cả pháp bình đẳng, chẳng hoại tướng chân thật của Như Lai. Bình đẳng quan sát ba đời, không có tướng chúng sanh. Khéo thuận Phật đạo, khéo thuyết chánh pháp, hiểu sâu thật nghĩa, vào bậc tối thắng. Ngộ pháp chân thật, trí huệ viên mãn, tín nguyện vững chắc. Dầu khéo tu chánh nghiệp mà biết tánh nghiệp vốn Không. Thấu rõ tất cả pháp đều như huyễn hóa, biết tất cả pháp đều không có tự tánh. Biết chân lý như thật, quán tánh các pháp thảy đều tịch diệt. Rõ tất cả pháp đồng một thật tướng...
Ví như Chân Như khắp tất cả chỗ không có bờ mé...”
Tóm lại, Bồ tát ở Thập Hồi Hướng cần tập ở trong tánh Không, tánh Sáng (“tịnh quang”), tánh bình đẳng của tất cả các pháp, tánh như huyễn... để tích tập thiện căn và hồi hướngcho tất cả chúng sanh. Tất cả tánh Không, tánh Sáng, tánh như huyễn... gồm lại là Chân Như. Hồi hướng từ Chân Như, trong Chân Như và cho Chân Như thì Bồ tát dần dần thấy, sống và hoạt động trong Chân Như, tức là “Pháp thân của tất cả chư Phật”. Đạt đến Pháp thân tức là Bồ tát nhập Địa (Mười Địa của Bồ tát).
Thế nên, phần Thập Hồi Hướng này được đặt tên là Chân Như tướng hồi hướng.
“Ví như chân như khắp tất cả chỗ không có bờ mé, thiện căn hồi hướng cũng khắp tất cả chỗ không có bờ mé như vậy. Ví như chân như, chân thật làm tánh, cũng vậy thiện căn hồi hướng thấy rõ tánh chân thật của tất cả pháp. Ví như chân như luôn giữ bản tánh không biến đổi, cũng thế thiện căn hồi hướng giữ bản tánh của nó trước sau không biến đổi. Ví nhưchân như dùng tánh Không của tất cả pháp làm tánh, cũng thế thiện căn hồi hướng thấu rõ tánh Không của tất cả pháp làm tánh. Ví như chân như tướng Không làm tướng, thiện cănhồi hướng thấu rõ tất cả pháp tướng Không làm tướng. Ví như chân như nếu ai chứng được thì không thối chuyển, thiện căn hồi hướng cũng lại như thế, nếu có người đắc thì vĩnh viễnkhông còn thối chuyển với các Phật pháp. Ví như chân như là chỗ đi của tất cả chư Phật, thiện căn hồi hướng cũng là chỗ đi của tất cả chư Phật...
Ví như chân như là con mắt của các pháp, thiện căn hồi hướng cũng làm con mắt của tất cả chúng sanh. Ví như chân như tánh không mỏi nhọc, cũng thế thiện căn hồi hướng tu hànhtất cả hạnh Bồ tát vẫn không mỏi nhọc. Ví như chân như, thể của nó là chiếu sáng, thiện cănhồi hướng cũng lấy sự chiếu sáng khắp nơi làm tánh. Ví như chân như không đâu là chẳng có, thiện căn hồi hướng cũng không đâu là chẳng có. Ví như chân như khắp cả thời gian, thiện căn hồi hướng cũng khắp cả thời gian. Ví như chân như tánh thường thanh tịnh, thiện căn hồi hướng dù ở thế gian mà tánh vẫn thường thanh tịnh ...
Ví như chân như tánh thường giác ngộ, thiện căn hồi hướng cũng lại như thế, khắp giác ngộtất cả pháp. Ví như chân như thường chiếu sáng, thiện căn hồi hướng cũng lại như thế, dùng đại trí huệ quang minh chiếu sáng các thế gian...Ví như chân như thể tánh vô sanh, thiện căn hồi hướng cũng lại như thế, dầu phương tiện thị hiện có sanh mà vẫn vô sanh” ...
Đoạn thiện căn hồi hướng này còn rất dài, bước đầu muốn hiểu về chân như để tu tập thực hành, người ta phải thiền định thiền quán chân như cho đến khi có thể thoáng thấy, hình dung được rồi y trên đó mà hành hồi hướng thiện căn theo chân như. Mỗi câu “Ví như chân như...” Là một chủ đề thiền định thiền quán, cũng là một cửa vào chân như.
Thiện căn hồi hướng một khi đã được làm trên nền tảng chân như tức Pháp thân, dần dầnsẽ tương ưng với chân như tức pháp thân, vượt qua được Bốn Gia hạnh vị, thấy và thể nhập vào chân như pháp thân. Đây là Bồ tát nhập Địa (Mười Địa của Pháp thân), bất thối chuyển cho đến giải thoát giác ngộ.
Tóm lại, thiện căn hồi hướng chính là Chân Như.
Chân như cũng là tánh Không, tánh Sáng, tánh như huyễn... trùm khắp pháp giới (“không chỗ nào chẳng có, có mặt khắp tất cả thời gian”) cho nên trùm khắp tất cả chúng sanh, giáo hóa, cứu giúp chúng sanh, hành tất cả hạnh Bồ tát mà không mỏi nhọc. Thế nên người ta có thể hành thiện căn hồi hướng nói riêng, và tất cả hạnh Bồ tát nói chung, ở bất kỳ không giannào, thời gian nào, miễn là thực hành trên nền tảng chân như.
Bố thí là một việc làm ở đời, ai cũng có thể làm được. Nhưng nếu đưa Phật pháp vào đó, nguyện hạnh, thiện căn và hồi hướng, thì người ta có thể ‘tăng giá trị’ của việc ấy lên gấp rất nhiều lần, và mở rộng ra đến thế giới vũ trụ và tất cả chúng sanh.
Đây là điều mà kinh điển thường nói, “chuyển thức thành Trí”, “chuyển sanh tử thành Niết bàn”, “chuyển thế giới thành pháp giới giác ngộ”. Nói theo truyền thống Ấn - Tạng, Nền tảng Con đường và Quả thì Nền tảng là chân như, Con đường là Bồ tát hạnh, và Quả là Niết bànvô trụ xứ.
Chúng ta đều biết, Bồ tát hạnh không chỉ có hồi hướng, mà còn rất nhiều thực hành khác. Kinh Hoa Nghiêm đã gồm lại các hạnh Bồ tát thành Mười Hạnh Nguyện của Bồ tát Phổ Hiền, Mười Hạnh Nguyện để thành Phật. Tất cả mười hạnh nguyện ấy đều được tiến hành trên nền tảng Chân Như - Phật tánh.
- Tag :
- Nguyễn Thế Đăng




