Bàn Sơ “Kinh Lăng-Già”
Tác giả: Pháp sư Trạm Như
(Giáo sư nghành Nam Á học Đại học Bắc Kinh)
Thích Trung Nghĩa dịch
Kinh Lăng-già do tổ sư Đạt-ma đem đến đầu tiền, một bộ kinh điển làm ấn chứng cho những người tâm đắc học tập Phật pháp. Nhất là trong Thiền tông và Duy thức tông, kinh này lại là bộ kinh điển rất trọng yếu. Trong Duy thức tông, nó là trung tâm điểm của ngũ kinh thập nhất luận, biểu hiện tính trọng yếu là “tánh và tướng quan trọng như nhau”.
Kinh Lăng-già có ba bản dịch. Một là bản dịch của Cầu-na-bạt-đà-la thời Lưu Tống. Hai là bản dịch của Bồ-đề-lưu-chi thời Bắc Ngụy. Ba là bản dịch của Thật-xoa-nan-đà thời Đường. Ba phiên bản này, từ xưa đến nay đều có rất nhiều chú sớ của đại đức. Đại sư Ngẫu Ích trong lúc chú sớ của ngài đều có giải thích ba bản này. Ba bản này tuy nhiên quan trọng nhưnhau, nhưng vẫn lấy bản dịch thời Lưu Tống làm chính.
Bộ kinh này, nhìn mẽ ngoài không phải rất khó hiểu, nhưng muốn đọc bản sách thư này, cần phải thông đạt nhân minh học. Nhân minh cũng là luận lý học trong xã hội nói đến. Có thể thấy địa vị Nhân minh học tại Ấn Độ, là một trong ba đại nguyên lưu Luận lý học của thế giới. Muốn thông đạt nhân minh, cần hiểu địa vị nhân minh trong Phật giáo. Nhân minh mà Phật giáo nói, có bốn yếu điểm: hiện lượng, tỉ lượng, phi lượng và thánh giáo lượng. Gọi là hiện lượng, ví như tức khắc thấy được ngã, lúc chẳng khởi lên ý nghĩ nào thì gọi hiện lượng. Cầu chứng Phật pháp cũng là cầu chứng đương hạ nhất niệm, chẳng sanh một niệm vọng tưởng. Tỉ lượng cũng là tâm có so sánh. Ví như nói, chúng tôi thấy được một sừng trâu xuất hiện ngoài cửa, trong lòng sẽ suy đoán: sừng trâu này là vật gì? Là trâu ư? Đó cũng là tỉ lượng. Tỉ lượng có chia ra chính xác và bất chính xác. Bất chính xác gọi là phi lượng. Như nói, chúng tôi thấy được sừng trâu thực ra là hư giả, đó cũng là nói phi lượng. Phi cũng là sai lầm. Còn có một thánh giáo lượng, cũng là chân lý. Lời của đức Phật nói, lời trong kinh Phật, còn bao gồm lời nói của một số bậc thánh khác nói cũng là chân lý. Rất trọng yếu của đức Phật nói cũng là khổ, không, vô thường, vô ngã, cũng là tam pháp ấn.
Kinh Lăng-già là một bộ điển tịch triết học rất nồng. Đọc kinh này yêu cầu có đầu óc triết học, vận dụng logic để suy chứng. Kinh này chú trọng kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Kinh này dùng để ấn chứng cảnh giới của những ai tu chứng Phật pháp, ấn chứng những ai là tu hành không chính xác, đại khái phù hợp thứ rất căn bản Phật pháp, khiến chúng ta không đển nổi lưu lạc vào ngoại đạo.
Một mở đầu kinh Lăng-già, đại sĩ Đại Huệ nêu 108 vấn đề, trong đó có các vấn đề khía cạnh như: nhân sinh, vũ trụ, nhân văn, vật lý .v.v... liên quan. Đức Phật đem những vấn đề này gác sang một bên, chẳng trực tiếp trả lời, mà là từ trên căn bảnđể đàm luận vấn đề tâm, bản tánh và tướng. Lúc nói về những vấn đề này, đức Phật đề cấp đến ngũ pháp, tam tự tánh, bát thức và nhị vô ngã. Nhị vô ngã: một là pháp vô ngã, hai là nhân vô ngã, tôi nghĩ mọi người có thể đều có chỗ hiểu. Ngũ pháp liên quan, tôi nghĩ mọi người có thể hiểu hơi ít. Ngũ pháp cũng là tướng, danh, phân biệt, chánh trí và như như. Mọi cảnh tượng, mọi sự vật trên thế giới cũng là tướng. Người chấp trước ở tướng, liền có khái niệm danh tướng. Sau có danh tự rồi bèn có phân biệt. Phân biệt từ ở đâu đến? Từ trong vọng tướng đến. Muốn dứt sạch vọng tưởng, nhất định phải có chánh trí (正智). Chánh trí là hữu lậu, cuối cùng cần đạt tới cảnh giới tối cao, vô thượng, Phật.
Tam tự tánh liên quan, thứ nhất là vọng tưởng tự tánh (妄想自性), tôi vừa mới nói đến, chúng ta chấp trước ở mọi vật chất, hiện tượng trên thế giới, rồi khởi lên vọng tưởng, có phân biệt, đó cũng và vọng tưởng tự tánh. Thứ hai là duyên khởi tự tánh (緣起自性), nhất thiết vạn pháp dựa chấp trước vọng tưởng tự tướng mà chia ra nội pháp và ngoại pháp. Nội pháp cũng là Phật pháp. Tu pháp tu đến cấp độ nhất định, muốn đem Phật pháp đều vứt đi, bởi Phật pháp cũng là một loại pháp, đến cảnh giới cuối cùng, nhất thiết pháp đều chẳng tồn tại. Một là tất cả, tất cả cũng là một. Ngoại pháp cũng là nhất thiết pháp trên thế giới, nó lại chẳng cần giải thuyết cũng có thể rõ. Vứt nội pháp và ngoại pháp xong, sau đoạn trừ chấp trước tướng nội pháp và ngoại pháp. Còn thứ ba là như như tự tánh (如如自性), đó cũng là viên thành thật tánh của chúng ta, sau khi chứng đắc tự tánh viên mãn, cũng là quả vị đẳng giác, diệu giác, đến quả vị Phật.
Trong nội bộ Phật giáo, bởi chứng ngộ của cá nhân khác nhau, với vấn đề: không, hữu từ trước đến nay có hai loại phân tranh. Một loại là chấp trước tất cánh không (畢竟空). Một loại khác là chấp trước thắng nghĩa hữu (勝義有). Tất cánh không cho rằng, tất cả trên thế giớiđều là không tánh, chẳng chấp trước mọi thứ ấy. Như nói, tách trà là nhân duyên mà sanh ra, là từ nung chế đất sét v.v... mà thành, chẳng có tự tánh. Đó là kiến giải của khía cạnh bát-nhã. Thắng nghĩa hữu là nói về diệu hữu. Hai cái này kết hợp lại cũng là chân không diệu hữu. Nếu thiên chấp một bên, tức là không thể đạt đến viên mãn của Phật pháp. Thống nhất hai cái này cũng là đệ nhất nghĩa đế, trung đạo nghĩa đế.
Thắng nghĩa hữu liên quan, đức Phật nói qua một bài kệ tụng: “A-đà-na thức thậm thâm tế, nhất thiết chủng tử như bộc lưu, chấp ngã của phàm phu chẳng được lợi ích, hiểu sai mà đệ lục thức nãy sinh phân biệt ngã chấp”.
A-đà-na thức này cũng là a-lại-da thức. Chủng tử của a-lại-da thức như ghềnh thác thiên lưu biến hóa, chẳng gián đoạn. Kiểu chảy từ trên xuống dưới liên tục này, phàm phu, người ngu si đem nó chấp trước là ngã, tin thân mình là ngã, hoặc là đem ý thức chấp là ngã. Chỗ có thể hiểu của tâm lý học hiện đại, chỉ là mặt ý thức, họ căn bản chẳng hiểu thức thứ 7 và thứ 8 trong 8 thức liên quan mà Phật giáo nói đến. Tiềm ý thức mà họ nói, cũng là độc đầu ý thức mà chúng ta nói. Với tám thức, mọi người đa phần chấp trước là ngã. Chỉ có có trí tuệrất sâu, đạt đến cảnh giới nhất định, mới có thể hiểu a-lại-da thức chẳng phải ngã chân chánh. Nếu tu đến cảnh giới ý thân, tư tưởng chúng ta có thể rời khỏi thân mình, tùy lúc có thể đến bất kì một nơi nào. Như nay ta muốn đến nước Mỹ, ta chỉ cần quán tưởng một chốc, người liền trực tiếp đến nước Mỹ, đó gọi là ý sanh thân (意生身). Nhưng tu pháp môn này có thứ lớp nhất định. Nếu mọi người sai lầm trong quan niệm, đem thân trung ấm xem là ý sanh thân, đó là sai lầm. Thân trung ấm cũng là linh hồn xuất khiếu (靈魂出竅) mà chúng ta thông thường nói. Sau xuất khiếu, nó có công năng, có thể phi hành tới nơi. Thất thứ 7 trong 8 thức là tư lương. Chúng ta đối với mọi thứ trên thế giới này đều cần chủ trì đầu óc để tư lương, chấp trước. Thực lực dựa vào của thức thứ 7 nương tựa là đệ bát a-lại-da thức. A-lại-da thức chẳng có quan niệm thiện, quan niệm ác, chỉ có chia ra có nhiễm và vô nhiễm. Bởi vì tàng thức a-lại-da thức của chúng ta chẳng mở ra. Nếu nói mở ra cửa lớn này, năng lượng của chúng ta sẽ là vô cùng.
Nay nói nói vấn đề tâm, vật. Duy tâm, duy vật liên quan. Duy vật liên quan, ngàn năm nay vẫn cứ tranh luận không ngớt. Trong Phật giáo có một quan niệm chính xác, tức là chúng tathành Phật, chúng ta dựa vào tâm mà chẳng phải dựa vào vật. Vốn dĩ vật chất nương cậy chánh báo của chúng ta. Chánh báo cũng là thân thể chúng ta. Thế giới vật chất do chánh báo của chúng ta đem tới. Đó cũng là duy tâm sở sanh, đây là một quan điểm. Một quan điểm duy tâm còn lại là, nếu đang trong quan niệm của ta có một ngôi tháp báu, tháp báu ấy tức khắc xuất hiện. Trong kinh Pháp Hoa nói, ở nơi tụng kinh Pháp Hoa, nơi ấy sẽ xuất hiệnkinh Pháp Hoa. Tôi hy vọng mọi người không nên trải qua duy tâm kiểu này.
Lúc tu thiền lần sẽ xuất hiện rất nhiều vấn đề, khả năng sẽ chấp trước những thứ đang trong cảnh giới nào đó. Thế thì, lúc ngồi thiền chấp trước ở một tướng trạng thanh tịnh sẽ có một loại hiệu quả nào? Chấp trước không vô sẽ đạt tới cảnh giới phi tưởng phi phi tưởng, có thể đạt tới cảnh giới sắc giới, vô sắc giới, nhưng căn bản của sanh tử vẫn còn, vẫn không hoàn toàn rời khỏi sanh tử. Vấn đề rất căn bản của nhân sinh cũng là liễu sinh thoát tử. Mà vì liễu sinh thoát tử, liền sẽ đem tất cả này đều phóng hạ, không nên chấp trước. Nếu đã chấp trước cảnh giới của loại thanh tịnh này, tương lai khó để liễu sinh thoát tử. Có lẽ sau vài trăm, vạn kiếp, vẫn phải đầu thai làm người, luân hồi trong sáu cõi. Thời Tống, có một vị xuất gia lúc ngồi thiền đã xuất hiện một tình huống, mỗi lần ngồi xếp bằng ở xó đầu dường, mỗi lần ngồi thiền, một đầu này sẽ bay vùn vụt theo đến đầu dường kia. Mỗi lần sư ngồi thiềnđều là như vậy, chẳng chút biện pháp, cũng chẳng tìm đến thầy cao minh hơn để dẫn dắt mình. Sư chẳng có phương pháp đắc đạo, sau có một vị cao tăng đến từ Ấn Độ chỉ đạo cho sư một chút, cho sư biết pháp môn này cần xác định gì đó.
Thiền tông có một câu nói gọi “Phật lai Phật trảm, ma lai ma trảm”. Mọi người niệm Phật, lúc tu hành đến tầng bậc nhất định, trong giấc mộng có thể thấy được Phật và bồ-tát. Những Phật và bồ-tát này, có những lúc ma đến nhiễu loạn, có những lúc cảm ứng đến tầng bậc nhất định, Phật và bồ-tát đến để gia hộ bạn. Chủ trương của Thiền tông là, Phật lai, cũng không nên hoan hỷ quá mức, nơi nơi thuận theo mọi người mà nói. Chỉ có vài điều kiện có thể nói. Một là đồng học đạo hữu của mình, có tu hành, có thể hiểu mình. Bên cạnh đó, hai là thượng sư của mình. Ngoài hai điều kiện này ra, với người khác quyết không thể nói xáo loạn. Nếu bạn có đến nơi nói xáo loạn trình tự, cảnh giới ấy nhanh chóng sẽ mất. Hy vọngmọi người tu được pháp môn gì, được cảm ứng gì, không nên kêu rêu khắp nơi, tự thân cũng là thể hiện một loại tâm hư vinh.
Duyên đầu tiên trong ngũ duyên cũng là trì giới thanh tịnh. Là tín đồ cần giữ năm giới.
Duyên thứ 2 cuộc sống sung túc. Các bạn đương nhiên cần có một công tác để duy trì cuộc sống sung túc cho mình. Nếu cơm cũng chẳng được ăn, phòng ở chẳng tốt, xó này mưa dột, xó kia mặt trời rọi, tôi nghĩ lòng mọi người truy đuổi không nổi để tu hành. Cho nên, có thể có đồ ăn và chỗ ngủ, điều kiện rất căn bản này cần đạt được.
Duyên thứ 3 là nhàn cư tịnh xứ (閒居淨處), đó là yêu cầu đối với người xuất gia. Yêu cầunhàn cư tịnh xứ đối với cư sĩ tại gia có thể hơi khó. Bởi nhu cầu công tác của họ, đang trong bối cảnh hơi khó này mà có thể duy trì trạng thái tâm lý bình quân thì không dễ, có thể chẳng khởi lên tham, sân, si quả là không dễ. Đang trong công tác có lẽ sẽ bị chỉ trích chửi rủa của cấp trên. Đó là vấn đề rất hiện thực. Nên nói, có thể chỉ là người xuất gia mới có điều kiệnnày. Mọi người đến tham gia trượt tuyết, cũng chuẩn bị loại phương tiện, điều kiện nhàn cưtịnh xứ. Ngoài ra nam chúng có thể đến ở chùa nam chúng. Nữ chúng có thể ở đạo tràng nữ chúng vài tháng. Trong một năm có thể sắp xếp một thời gian để tập trung tu trì trong chùa, vào thời gian ngắn ngắn là điều kiện cung cấp cho chính mình bay vút.
Duyên thứ 4 là tức chư duyên vụ (息諸緣務). Một chút này người xuất gia có thể tương đốidễ làm được. Người xuất gia sáng sớm thức dậy sau lên điện, tiếp theo cũng là để ngồi thiền, niệm Phật, mỗi cá nhân có mỗi việc của mỗi cá nhân. Mấy ngày này, pháp sư thường trụ vì chúng ta mà cung cấp những điều kiện trên. Chỉ cần mọi người nhất tâm quán tưởng tâm mình, niệm Phật, tụng chú đều có thể. Đó cũng là phương thức đời sống của xuất giachúng ta. Là cư sĩ, muốn tức chư duyên vụ thì hơi khó. Nhưng mà, nếu đang trong đi, đứng, ngồi, nằm bình thường, lấy thánh hiệu A-di-đà Phật để cổ vũ chính mình. Thời gian, địa điểm khác nhau mà tụng A-di-đà Phật. Đến nơi nào đó, niệm đến gì đó, vào bất kỳ lúc nào đều có thể niệm A-di-đà Phật. Thực hành như thế đều chẳng trở ngại và tổn hại công tác của chúng ta. Lúc chúng ta làm những việc mà tán tâm, có thể một mặt niệm Phật một mặt làm việc. Đơn giản như việc rửa chén v.v... chẳng yêu cầu tập trung đầu óc để làm, lấy cớ đó chúng tacó thể niệm Phật, dùng trạng thái tinh thần giản đơn để tiến hành.
Duyên thứ 5 là gần thiện tri thức. Trong xã hội có rất nhiều thiện tri thức, mọi người đều gần gũi được. Gần thiện tri thức cũng là cần hướng đến họ để học tập Phật pháp.
Dưới đây nói về vấn đề vứt ngũ dục. Ngũ dục cũng là tài, sắc, danh, thực, thùy. Một quan điểm khác là sắc, thanh, hương, vị, xúc, cũng là chúng ta hưởng thụ năm bộ phận trong thân thể. Nhất là với sự chấp trước ái tình của nữ tính có thể trở thành vấn đề vấn chính của tu đạo. Trong tham, sân, si, là cư sĩ dễ vứt tham và sân, nhưng không dễ vứt si. Cha và mẹ không dễ bỏ yêu mến con. Tuổi trẻ không dễ vứt quan niệm tình yêu. Còn có một vấn đềngủ. Trong quá trình tu học Phật pháp của mọi người, tu đến mức độ nhất định, có thể giảm bớt ngủ. Giảm bớt ngủ đôi lúc cũng là một kiểu biểu hiện của tinh tấn. Sau đó tu đến, chỉ cần ngủ một hoặc hai giờ vào nửa đêm cũng có thể đủ nhu cầu ngủ của chính mình. Căn cứ khoa học hiện nay, mọi người chỉ cần ngủ một lúc thật sâu vào nửa đêm, cũng có thể đủ nhu cầu sinh lý của chính mình.
Dưới đây nói nói vấn đề điều tiết ngũ sự và hành ngũ pháp. Việc này thuộc về vấn đềchuyên nghiệp hóa trong cửa Phật. Vấn đề ngũ pháp trước đã nói qua. Ngũ sự (五事) cũng là tâm pháp, sắc pháp, tâm sở pháp, bất tương ưng pháp và vô vi pháp. Năm pháp môn này có 100 loại, gọi là bách pháp. Trong cửa Phật có chuyên luận bách pháp liên quan, gọi là Bách pháp minh môn luận. Trong Phật học viện đều học tập môn khóa này, bách pháp được nói rất kĩ, đều là nói vấn đề tham, sân, si, tâm mạn, tâm si, trạo cử, đại tùy, tiểu tùy...... của con người. Những vấn đề này đều là những tiểu tiết của phiền não. Cũng là nói, xuất hiệnphiền não nào đó, dùng pháp môn gì đó để đối trị. Phiền não là từ tâm chúng ta khởi lên. Tâm chúng ta bình tĩnh rồi, phiền não liền bình tĩnh. Trong đó có những tiểu tiết, mọi ngườinếu có hứng thú, thì xem xem bản kinh Lăng-già.
Ngũ pháp (五法) là tướng, danh, phân biệt, chánh trí và như như. Tướng cũng là thế giớivạn tượng. Như micro có một tướng, chúng ta nãy sinh khái niệm danh gì đó, dụng gì đó, đó cũng là vấn đề của tên gọi. Chúng ta có thể đem vật này không gọi là micro, bèn có thể gọi là tên khác. Cũng là nói, chó cũng có thể gọi là heo, heo cũng có thể gọi là chó. Danh là hư giả. Nhưng người chấp danh tướng không thể tự gỡ, nên mọi người đối với mọi vật trên thế giới rất chấp trước. Bởi chúng ta chấp trước quá mức đối với vật trên thế giới, nên mới nãy sinh tâm phân biệt. Có phân biệt rồi, mới có phiền não, có 100 loại phiền não. 100 loại phiền não này đem đến khẳng định chính xác, phủ định sai lầm vô cùng cho chúng ta. Nên nói, chúng ta cần dùng chánh trí để đoạn trừ những vọng niệm này. Cảnh giới tối cao của đoạn trừ vọng niệm cũng là cảnh giới như như. Tâm chúng ta như như bất động, giống như kim cang, tâm chúng ta rất chắc mà bén, có thể phá mọi tướng.
Chúng ta cần điều ngũ sự, hành ngũ pháp, còn có một vấn đề là cần ngăn chận rơi vào pháp môn của ngoại đạo. Ở Ấn Độ có 96 loại ngoại đạo. Ngoại đạo cũng không phải một ngữ từ hạ thấp ý nghĩa, chẳng phải nói họ chẳng tốt, mà là nói họ không phải là nội của Phật giáochúng ta. Chứng ta tự xưng là nội, gọi họ là ngoại, ngoại đạo. Pháp của chúng ta gọi là nội pháp. Chúng ta nên trừ khử pháp của nội và ngoại, nội pháp đều cần trừ khử, huống chi ngoại pháp. Cũng là nói, sau khi quy y Phật giáo, không còn cùng tiếp xúc những lý luận của ngoại đạo, bởi pháp môn của họ chỉ vẻn vẹn thuộc về tầng bậc của chư thiên. Ví như nói Cơ-đốc giáo —— Ta chẳng phải phỉ báng họ, mà là nói từ quan điểm của Phật giáo —— tối cao của họ chỉ có thể đạt đến cảnh giới chư thiên, phạm thiên, cũng là đệ tứ thiên, hoặc cảnh giới Ngọc hoàng đại đế (玉皇大帝) mà chúng ta nói đến, có thể tới đó là ngừng. Họ chẳng có lý luận sâu hơn để chứng minh vấn đề nhân tâm.
Ngoài ngăn chận rơi vào ngoại đạo ra, còn có một vấn đề thanh văn, duyên giác. Chẳng có thời kỳ chánh pháp, Phật không ở cõi đời vào thời đại này, nhưng có thánh nhân, thánh nhân này cũng là duyên giác. Thanh văn, duyên giác trong kinh Lăng-già đều thuộc về 1 trong 50 trung ấm ma, chẳng thuộc về chánh đạo. những tiểu quả thanh văn bài xích Phật tổnày là tiêu nha bại chủng. Nếu làm khô cằn hạt giống, sẽ nãy mầm không? Phật giáo chỉ dạy mọi người dùng Phật pháp Đại thừa để tu, cần phát bồ-đề tâm. Thế thì, sao cần phát bồ-đề tâm? Chúng ta chẳng phát bồ-đề tâm, sẽ không thể thành Phật. Chẳng phát đại nguyện sẽ không thể thành Phật. Chỉ có phát đại nguyện, phước báu và đức hạnh viên mãn, mới có thể thành Phật. Nên nói, nhất định phải phát bồ-đề tâm. Phát bồ-đề tâm, cần thực hành lục độ, đó là những điều kiện căn bản. Là bồ-tát có những điều kiện rất cao, rất khó làm được. Trong kinh Pháp Hoa nói, nếu muốn tu bồ-tát hạnh, phải róc da làm giấy, lấy xương làm bút, lấy máu làm mực đen, để sao chép kinh Phật. Tôi nghĩ mọi người hơi khó làm được một chút này. Tu học Phật pháp nằm ở lòng tha thiết, không nằm ở những vấn đề hình thức. Mọi người buông xuống những vấn đề hình thức, có thể dùng lòng thành để tu hành Phật pháp, cũng là pháp môn rất tốt.
Dưới đây nói về lấy thánh trí tam tướng để tu hành. Thiền tông thất kinh quyển 60 nói về vấn đề thánh trí tam tướng (聖智三相) liên quan, phương tiện, điều kiện tu tập thánh trí tam tướng cũng là: có ngũ duyên, thóa ngũ dục, vứt ngũ cái, điều ngũ sự, hành ngũ pháp, ngăn rơi vào ngoại đạo, nương Đại thừa mà tu, phát bồ-đế tâm như trước đã nói.
Một trong thánh trí tam tướng cũng là vô sở hữu tướng (無所有相). Mọi người từ trên ý nghĩa chữ ngữ để nghĩ, vô sở hữu cũng là nói đến ta buông tất cả, với mọi vật đều chẳng chấp trước, với mọi vật trên thế giới đều vứt. Vứt này đạt biểu cho quan niệm của ngã và pháp. Vứt ngã và pháp, cũng là vô sở hữu tướng. Vô sở hữu tướng cũng là tu tập cấp bậc của thanh văn. Ngoại đạo cũng nói về vấn đề vứt, nên trong kinh Lăng-già đề cập đến vấn đề tu tập của thanh văn, duyên giác và trong ngoại đạo liên quan.
Thứ hai là tự nguyện xứ tướng (自願處相). Tướng này rất quan trọng. Nếu chẳng có tướng này, thì tuyệt đối không thể thành Phật. Muốn biết thành Phật chúng ta cần dựa vào gi? Dựa vào phát đại nguyện tâm. Như nói về sự phát nguyện của bồ-tát Địa Tạng, chúng sanh bất tận, Ta chẳng cam tâm thành Phật, địa ngục bất không, Ta cũng chẳng cam tâm thành Phật. Nên mọi người nhất định phải phát bồ-đề tâm, phát đại nguyện. Muốn thành Phật, nhất địnhphải phát đại nguyện.
Thứ 3 là tự giác thánh trí cứu cánh tướng (自覺聖智究竟相), là nói đến họ đối với mọi pháp tướng đều đã vứt, cuối cùng chứng đắc như huyễn tam muội. Như huyễn tam muội (如幻三昧) này cũng là nói, ta làm việc ở nơi ấy, ở thế giới phương khác đều làm việc, cũng là nói đạt đến cảnh giới của hóa thân. Loại tầng bậc này đạt đến trăm, ngàn, ức hóa thân. Muốn đạt được cứu cánh tướng này, cần dựa gì để tu hành. Cần dựa 55 thánh vị để tu hành. 55 thánh vị tu qua, cụ thể nói là 52 thánh vị, tu đến cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Mọi ngườitu tập Phật pháp lâu mấy, cần hiểu một chút làm sao để thành Phật. Trình tự của thành Phậtlà thế nào? Thành Phật cần cụ bị những điều kiện căn bản nào? Trong kinh Lăng-già đều có thuyết minh, cũng là 52 giai vị theo trình tự: thập tín, thập vị, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác, diệu giác. 52 giai vị trình tự này cũng là trình tự để thành Phật.
- Tag :
- Pháp sư Trạm Như




