Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Bàn Sơ “Kinh Lăng-Già”

Saturday, December 27, 202515:53(View: 867)
Bàn Sơ “Kinh Lăng-Già”

Bàn Sơ “Kinh Lăng-Già”


Tác giả
Pháp sư Trạm Như

(Giáo sư nghành Nam Á học Đại học Bắc Kinh)

Thích Trung Nghĩa dịch

 

2



Kinh Lăng-già do tổ sư Đạt-ma đem đến đầu tiền, một bộ kinh điển làm ấn chứng cho những người tâm đắc học tập Phật pháp. Nhất là trong Thiền tông và Duy thức tông, kinh này lại là bộ kinh điển rất trọng yếu. Trong Duy thức tông, nó là trung tâm điểm của ngũ kinh thập nhất luận, biểu hiện tính trọng yếu là “tánh và tướng quan trọng như nhau”.

Kinh Lăng-già có ba bản dịch. Một là bản dịch của Cầu-na-bạt-đà-la thời Lưu Tống. Hai là bản dịch của Bồ-đề-lưu-chi thời Bắc Ngụy. Ba là bản dịch của Thật-xoa-nan-đà thời Đường. Ba phiên bản này, từ xưa đến nay đều có rất nhiều chú sớ của đại đứcĐại sư Ngẫu Ích trong lúc chú sớ của ngài đều có giải thích ba bản này. Ba bản này tuy nhiên quan trọng nhưnhau, nhưng vẫn lấy bản dịch thời Lưu Tống làm chính.    

Bộ kinh này, nhìn mẽ ngoài không phải rất khó hiểu, nhưng muốn đọc bản sách thư này, cần phải thông đạt nhân minh họcNhân minh cũng là luận lý học trong xã hội nói đến. Có thể thấy địa vị Nhân minh học tại Ấn Độ, là một trong ba đại nguyên lưu Luận lý học của thế giới. Muốn thông đạt nhân minh, cần hiểu địa vị nhân minh trong Phật giáoNhân minh mà Phật giáo nói, có bốn yếu điểm: hiện lượngtỉ lượngphi lượng và thánh giáo lượng. Gọi là hiện lượngví như tức khắc thấy được ngã, lúc chẳng khởi lên ý nghĩ nào thì gọi hiện lượng. Cầu chứng Phật pháp cũng là cầu chứng đương hạ nhất niệm, chẳng sanh một niệm vọng tưởngTỉ lượng cũng là tâm có so sánhVí như nói, chúng tôi thấy được một sừng trâu xuất hiện ngoài cửa, trong lòng sẽ suy đoán: sừng trâu này là vật gì? Là trâu ư? Đó cũng là tỉ lượngTỉ lượng có chia ra chính xác và bất chính xác. Bất chính xác gọi là phi lượng. Như nói, chúng tôi thấy được sừng trâu thực ra là hư giả, đó cũng là nói phi lượng. Phi cũng là sai lầm. Còn có một thánh giáo lượng, cũng là chân lý. Lời của đức Phật nói, lời trong kinh Phật, còn bao gồm lời nói của một số bậc thánh khác nói cũng là chân lý. Rất trọng yếu của đức Phật nói cũng là khổ, không, vô thườngvô ngã, cũng là tam pháp ấn.  

Kinh Lăng-già là một bộ điển tịch triết học rất nồng. Đọc kinh này yêu cầu có đầu óc triết học, vận dụng logic để suy chứng. Kinh này chú trọng kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Kinh này dùng để ấn chứng cảnh giới của những ai tu chứng Phật phápấn chứng những ai là tu hành không chính xácđại khái phù hợp thứ rất căn bản Phật pháp, khiến chúng ta không đển nổi lưu lạc vào ngoại đạo.  

Một mở đầu kinh Lăng-giàđại sĩ Đại Huệ nêu 108 vấn đề, trong đó có các vấn đề khía cạnh như:  nhân sinhvũ trụ, nhân văn, vật lý .v.v... liên quanĐức Phật đem những vấn đề này gác sang một bên, chẳng trực tiếp trả lời, mà là từ trên căn bảnđể đàm luận vấn đề tâm, bản tánh và tướng. Lúc nói về những vấn đề này, đức Phật đề cấp đến ngũ pháptam tự tánh, bát thức và nhị vô ngãNhị vô ngã: một là pháp vô ngã, hai là nhân vô ngã, tôi nghĩ mọi người có thể đều có chỗ hiểu. Ngũ pháp liên quan, tôi nghĩ mọi người có thể hiểu hơi ít. Ngũ pháp cũng là tướng, danh, phân biệtchánh trí và như như. Mọi cảnh tượng, mọi sự vật trên thế giới cũng là tướng. Người chấp trước ở tướng, liền có khái niệm danh tướng. Sau có danh tự rồi bèn có phân biệtPhân biệt từ ở đâu đến? Từ trong vọng tướng đến. Muốn dứt sạch vọng tưởngnhất định phải có chánh trí (正智). Chánh trí là hữu lậucuối cùng cần đạt tới cảnh giới tối caovô thượng, Phật.

Tam tự tánh liên quan, thứ nhất là vọng tưởng tự tánh (妄想自性), tôi vừa mới nói đến, chúng ta chấp trước ở mọi vật chất, hiện tượng trên thế giới, rồi khởi lên vọng tưởng, có phân biệt, đó cũng và vọng tưởng tự tánh. Thứ hai là duyên khởi tự tánh  (緣起自性), nhất thiết vạn pháp dựa chấp trước vọng tưởng tự tướng mà chia ra nội pháp và ngoại phápNội pháp cũng là Phật phápTu pháp tu đến cấp độ nhất định, muốn đem Phật pháp đều vứt đi, bởi Phật pháp cũng là một loại pháp, đến cảnh giới cuối cùngnhất thiết pháp đều chẳng tồn tại. Một là tất cả, tất cả cũng là một. Ngoại pháp cũng là nhất thiết pháp trên thế giới, nó lại chẳng cần giải thuyết cũng có thể rõ. Vứt nội pháp và ngoại pháp xong, sau đoạn trừ chấp trước tướng nội pháp và ngoại pháp. Còn thứ ba là như như tự tánh (如如自性), đó cũng là viên thành thật tánh của chúng ta, sau khi chứng đắc tự tánh viên mãn, cũng là quả vị đẳng giácdiệu giác, đến quả vị Phật.

Trong nội bộ Phật giáo, bởi chứng ngộ của cá nhân khác nhau, với vấn đề: không, hữu từ trước đến nay có hai loại phân tranh. Một loại là chấp trước tất cánh không (畢竟空). Một loại khác là chấp trước thắng nghĩa hữu (勝義有). Tất cánh không cho rằng, tất cả trên thế giớiđều là không tánh, chẳng chấp trước mọi thứ ấy. Như nói, tách trà là nhân duyên mà sanh ra, là từ nung chế đất sét v.v... mà thành, chẳng có tự tánh. Đó là kiến giải của khía cạnh bát-nhã. Thắng nghĩa hữu là nói về diệu hữu. Hai cái này kết hợp lại cũng là chân không diệu hữu. Nếu thiên chấp một bên, tức là không thể đạt đến viên mãn của Phật pháp. Thống nhất hai cái này cũng là đệ nhất nghĩa đếtrung đạo nghĩa đế.    

Thắng nghĩa hữu liên quanđức Phật nói qua một bài kệ tụng: “A-đà-na thức thậm thâm tế, nhất thiết chủng tử như bộc lưuchấp ngã của phàm phu chẳng được lợi ích, hiểu sai mà đệ lục thức nãy sinh phân biệt ngã chấp”.

A-đà-na thức này cũng là a-lại-da thứcChủng tử của a-lại-da thức như ghềnh thác thiên lưu biến hóa, chẳng gián đoạn. Kiểu chảy từ trên xuống dưới liên tục này, phàm phu, người ngu si đem nó chấp trước là ngã, tin thân mình là ngã, hoặc là đem ý thức chấp là ngã. Chỗ có thể hiểu của tâm lý học hiện đại, chỉ là mặt ý thức, họ căn bản chẳng hiểu thức thứ 7 và thứ 8 trong 8 thức liên quan mà Phật giáo nói đến. Tiềm ý thức mà họ nói, cũng là độc đầu ý thức mà chúng ta nói. Với tám thức, mọi người đa phần chấp trước là ngã. Chỉ có có trí tuệrất sâu, đạt đến cảnh giới nhất định, mới có thể hiểu a-lại-da thức chẳng phải ngã chân chánh. Nếu tu đến cảnh giới ý thân, tư tưởng chúng ta có thể rời khỏi thân mình, tùy lúc có thể đến bất kì một nơi nào. Như nay ta muốn đến nước Mỹ, ta chỉ cần quán tưởng một chốc, người liền trực tiếp đến nước Mỹ, đó gọi là ý sanh thân (意生身). Nhưng tu pháp môn này có thứ lớp nhất định. Nếu mọi người sai lầm trong quan niệm, đem thân trung ấm xem là ý sanh thân, đó là sai lầmThân trung ấm cũng là linh hồn xuất khiếu (靈魂出竅) mà chúng ta thông thường nói. Sau xuất khiếu, nó có công năng, có thể phi hành tới nơi. Thất thứ 7 trong 8 thức là tư lươngChúng ta đối với mọi thứ trên thế giới này đều cần chủ trì đầu óc để tư lươngchấp trướcThực lực dựa vào của thức thứ 7 nương tựa là đệ bát a-lại-da thứcA-lại-da thức chẳng có quan niệm thiện, quan niệm ác, chỉ có chia ra có nhiễm và vô nhiễm. Bởi vì tàng thức a-lại-da thức của chúng ta chẳng mở ra. Nếu nói mở ra cửa lớn này, năng lượng của chúng ta sẽ là vô cùng.  

Nay nói nói vấn đề tâm, vật. Duy tâmduy vật liên quanDuy vật liên quan, ngàn năm nay vẫn cứ tranh luận không ngớt. Trong Phật giáo có một quan niệm chính xác, tức là chúng tathành Phậtchúng ta dựa vào tâm mà chẳng phải dựa vào vật. Vốn dĩ vật chất nương cậy chánh báo của chúng taChánh báo cũng là thân thể chúng taThế giới vật chất do chánh báo của chúng ta đem tới. Đó cũng là duy tâm sở sanh, đây là một quan điểm. Một quan điểm duy tâm còn lại là, nếu đang trong quan niệm của ta có một ngôi tháp báu, tháp báu ấy tức khắc xuất hiện. Trong kinh Pháp Hoa nói, ở nơi tụng kinh Pháp Hoa, nơi ấy sẽ xuất hiệnkinh Pháp HoaTôi hy vọng mọi người không nên trải qua duy tâm kiểu này.

Lúc tu thiền lần sẽ xuất hiện rất nhiều vấn đề, khả năng sẽ chấp trước những thứ đang trong cảnh giới nào đó. Thế thì, lúc ngồi thiền chấp trước ở một tướng trạng thanh tịnh sẽ có một loại hiệu quả nào? Chấp trước không vô sẽ đạt tới cảnh giới phi tưởng phi phi tưởng, có thể đạt tới cảnh giới sắc giớivô sắc giới, nhưng căn bản của sanh tử vẫn còn, vẫn không hoàn toàn rời khỏi sanh tửVấn đề rất căn bản của nhân sinh cũng là liễu sinh thoát tử. Mà vì liễu sinh thoát tử, liền sẽ đem tất cả này đều phóng hạ, không nên chấp trước. Nếu đã chấp trước cảnh giới của loại thanh tịnh này, tương lai khó để liễu sinh thoát tử. Có lẽ sau vài trăm, vạn kiếp, vẫn phải đầu thai làm người, luân hồi trong sáu cõi. Thời Tống, có một vị xuất gia lúc ngồi thiền đã xuất hiện một tình huống, mỗi lần ngồi xếp bằng ở xó đầu dường, mỗi lần ngồi thiền, một đầu này sẽ bay vùn vụt theo đến đầu dường kia. Mỗi lần sư ngồi thiềnđều là như vậy, chẳng chút biện pháp, cũng chẳng tìm đến thầy cao minh hơn để dẫn dắt mình. Sư chẳng có phương pháp đắc đạo, sau có một vị cao tăng đến từ Ấn Độ chỉ đạo cho sư một chút, cho sư biết pháp môn này cần xác định gì đó.

Thiền tông có một câu nói gọi “Phật lai Phật trảm, ma lai ma trảm”. Mọi người niệm Phật, lúc tu hành đến tầng bậc nhất định, trong giấc mộng có thể thấy được Phật và bồ-tát. Những Phật và bồ-tát này, có những lúc ma đến nhiễu loạn, có những lúc cảm ứng đến tầng bậc nhất định, Phật và bồ-tát đến để gia hộ bạn. Chủ trương của Thiền tông là, Phật lai, cũng không nên hoan hỷ quá mức, nơi nơi thuận theo mọi người mà nói. Chỉ có vài điều kiện có thể nói. Một là đồng học đạo hữu của mình, có tu hành, có thể hiểu mình. Bên cạnh đó, hai là thượng sư của mình. Ngoài hai điều kiện này ra, với người khác quyết không thể nói xáo loạn. Nếu bạn có đến nơi nói xáo loạn trình tự, cảnh giới ấy nhanh chóng sẽ mất. Hy vọngmọi người tu được pháp môn gì, được cảm ứng gì, không nên kêu rêu khắp nơi, tự thân cũng là thể hiện một loại tâm hư vinh.

Dưới đây, nói một chút: chúng ta làm gì mới có thể giác ngộ được bản tâm mình. Giác ngộnày cần có những điều kiện. Những điều kiện này đều tương đối nghiêm túc. Mọi người có thể đạt được những yêu cầu này, sẽ rất đúng. Những điều kiện này bao gồm có ngũ duyên, buông ngũ dục, vứt ngũ cái.

Duyên đầu tiên trong ngũ duyên cũng là trì giới thanh tịnh. Là tín đồ cần giữ năm giới.

Duyên thứ 2 cuộc sống sung túc. Các bạn đương nhiên cần có một công tác để duy trì cuộc sống sung túc cho mình. Nếu cơm cũng chẳng được ăn, phòng ở chẳng tốt, xó này mưa dột, xó kia mặt trời rọi, tôi nghĩ lòng mọi người truy đuổi không nổi để tu hành. Cho nên, có thể có đồ ăn và chỗ ngủ, điều kiện rất căn bản này cần đạt được.

Duyên thứ 3 là nhàn cư tịnh xứ (閒居淨處), đó là yêu cầu đối với người xuất giaYêu cầunhàn cư tịnh xứ đối với cư sĩ tại gia có thể hơi khó. Bởi nhu cầu công tác của họ, đang trong bối cảnh hơi khó này mà có thể duy trì trạng thái tâm lý bình quân thì không dễ, có thể chẳng khởi lên tham, sân, si quả là không dễ. Đang trong công tác có lẽ sẽ bị chỉ trích chửi rủa của cấp trên. Đó là vấn đề rất hiện thực. Nên nói, có thể chỉ là người xuất gia mới có điều kiệnnày. Mọi người đến tham gia trượt tuyết, cũng chuẩn bị loại phương tiệnđiều kiện nhàn cưtịnh xứ. Ngoài ra nam chúng có thể đến ở chùa nam chúng. Nữ chúng có thể ở đạo tràng nữ chúng vài tháng. Trong một năm có thể sắp xếp một thời gian để tập trung tu trì trong chùa, vào thời gian ngắn ngắn là điều kiện cung cấp cho chính mình bay vút.

Duyên thứ 4 là tức chư duyên vụ (息諸緣務). Một chút này người xuất gia có thể tương đốidễ làm được. Người xuất gia sáng sớm thức dậy sau lên điện, tiếp theo cũng là để ngồi thiềnniệm Phật, mỗi cá nhân có mỗi việc của mỗi cá nhân. Mấy ngày này, pháp sư thường trụ vì chúng ta mà cung cấp những điều kiện trên. Chỉ cần mọi người nhất tâm quán tưởng  tâm mình, niệm Phậttụng chú đều có thể. Đó cũng là phương thức đời sống của xuất giachúng ta. Là cư sĩ, muốn tức chư duyên vụ thì hơi khó. Nhưng mà, nếu đang trong đi, đứng, ngồi, nằm bình thường, lấy thánh hiệu A-di-đà Phật để cổ vũ chính mình. Thời gian, địa điểm khác nhau mà tụng A-di-đà Phật. Đến nơi nào đó, niệm đến gì đó, vào bất kỳ lúc nào đều có thể niệm A-di-đà Phật. Thực hành như thế đều chẳng trở ngại và tổn hại công tác của chúng ta. Lúc chúng ta làm những việc mà tán tâm, có thể một mặt niệm Phật một mặt làm việc. Đơn giản như việc rửa chén v.v... chẳng yêu cầu tập trung đầu óc để làm, lấy cớ đó chúng tacó thể niệm Phật, dùng trạng thái tinh thần giản đơn để tiến hành. 

Duyên thứ 5 là gần thiện tri thức. Trong xã hội có rất nhiều thiện tri thứcmọi người đều gần gũi được. Gần thiện tri thức cũng là cần hướng đến họ để học tập Phật pháp.   

Dưới đây nói về vấn đề vứt ngũ dụcNgũ dục cũng là tài, sắc, danh, thực, thùy. Một quan điểm khác là sắc, thanh, hương, vị, xúc, cũng là chúng ta hưởng thụ năm bộ phận trong thân thể. Nhất là với sự chấp trước ái tình của nữ tính có thể trở thành vấn đề vấn chính của tu đạo. Trong tham, sân, si, là cư sĩ dễ vứt tham và sân, nhưng không dễ vứt si. Cha và mẹ không dễ bỏ yêu mến con. Tuổi trẻ không dễ vứt quan niệm tình yêu. Còn có một vấn đềngủ. Trong quá trình tu học Phật pháp của mọi người, tu đến mức độ nhất định, có thể giảm bớt ngủ. Giảm bớt ngủ đôi lúc cũng là một kiểu biểu hiện của tinh tấn. Sau đó tu đến, chỉ cần ngủ một hoặc hai giờ vào nửa đêm cũng có thể đủ nhu cầu ngủ của chính mình. Căn cứ khoa học hiện nay, mọi người chỉ cần ngủ một lúc thật sâu vào nửa đêm, cũng có thể đủ nhu cầu sinh lý của chính mình.

Dưới đây nói nói vấn đề điều tiết ngũ sự và hành ngũ pháp. Việc này thuộc về vấn đềchuyên nghiệp hóa trong cửa PhậtVấn đề ngũ pháp trước đã nói qua. Ngũ sự (五事) cũng là tâm phápsắc pháptâm sở pháp, bất tương ưng pháp và vô vi pháp. Năm pháp môn này có 100 loại, gọi là bách pháp. Trong cửa Phật có chuyên luận bách pháp liên quan, gọi là Bách pháp minh môn luận. Trong Phật học viện đều học tập môn khóa này, bách pháp được nói rất kĩ, đều là nói vấn đề tham, sân, si, tâm mạn, tâm si, trạo cửđại tùy, tiểu tùy...... của con người. Những vấn đề này đều là những tiểu tiết của phiền não. Cũng là nói, xuất hiệnphiền não nào đó, dùng pháp môn gì đó để đối trịPhiền não là từ tâm chúng ta khởi lên. Tâm chúng ta bình tĩnh rồi, phiền não liền bình tĩnh. Trong đó có những tiểu tiếtmọi ngườinếu có hứng thú, thì xem xem bản kinh Lăng-già

Ngũ pháp (五法) là tướng, danh, phân biệtchánh trí và như như. Tướng cũng là thế giớivạn tượng. Như micro có một tướng, chúng ta nãy sinh khái niệm danh gì đó, dụng gì đó, đó cũng là vấn đề của tên gọi. Chúng ta có thể đem vật này không gọi là micro, bèn có thể gọi là tên khác. Cũng là nói, chó cũng có thể gọi là heo, heo cũng có thể gọi là chó. Danh là hư giả. Nhưng người chấp danh tướng không thể tự gỡ, nên mọi người đối với mọi vật trên thế giới rất chấp trước. Bởi chúng ta chấp trước quá mức đối với vật trên thế giới, nên mới nãy sinh tâm phân biệt. Có phân biệt rồi, mới có phiền não, có 100 loại phiền não. 100 loại phiền não này đem đến khẳng định chính xác, phủ định sai lầm vô cùng cho chúng ta. Nên nói, chúng ta cần dùng chánh trí để đoạn trừ những vọng niệm này. Cảnh giới tối cao của đoạn trừ vọng niệm cũng là cảnh giới như như. Tâm chúng ta như như bất động, giống như kim cang, tâm chúng ta rất chắc mà bén, có thể phá mọi tướng.      

Chúng ta cần điều ngũ sựhành ngũ pháp, còn có một vấn đề là cần ngăn chận rơi vào pháp môn của ngoại đạo. Ở Ấn Độ có 96 loại ngoại đạoNgoại đạo cũng không phải một ngữ từ hạ thấp ý nghĩa, chẳng phải nói họ chẳng tốt, mà là nói họ không phải là nội của Phật giáochúng ta. Chứng ta tự xưng là nội, gọi họ là ngoại, ngoại đạo. Pháp của chúng ta gọi là nội phápChúng ta nên trừ khử pháp của nội và ngoại, nội pháp đều cần trừ khử, huống chi ngoại pháp. Cũng là nói, sau khi quy y Phật giáo, không còn cùng tiếp xúc những lý luận của ngoại đạo, bởi pháp môn của họ chỉ vẻn vẹn thuộc về tầng bậc của chư thiênVí như nói Cơ-đốc giáo ——  Ta chẳng phải phỉ báng họ, mà là nói từ quan điểm của Phật giáo  —— tối cao của họ chỉ có thể đạt đến cảnh giới chư thiênphạm thiên, cũng là đệ tứ thiên, hoặc cảnh giới Ngọc hoàng đại đế (玉皇大帝) mà chúng ta nói đến, có thể tới đó là ngừng. Họ chẳng có lý luận sâu hơn để chứng minh vấn đề nhân tâm.

Ngoài ngăn chận rơi vào ngoại đạo ra, còn có một vấn đề thanh vănduyên giác. Chẳng có thời kỳ chánh pháp, Phật không ở cõi đời vào thời đại này, nhưng có thánh nhânthánh nhân này cũng là duyên giácThanh vănduyên giác trong kinh Lăng-già đều thuộc về 1 trong 50 trung ấm ma, chẳng thuộc về chánh đạo. những tiểu quả thanh văn bài xích Phật tổnày là tiêu nha bại chủng. Nếu làm khô cằn hạt giống, sẽ nãy mầm không? Phật giáo chỉ dạy mọi người dùng Phật pháp Đại thừa để tu, cần phát bồ-đề tâm. Thế thì, sao cần phát bồ-đề tâm? Chúng ta chẳng phát bồ-đề tâm, sẽ không thể thành Phật. Chẳng phát đại nguyện sẽ không thể thành Phật. Chỉ có phát đại nguyện, phước báu và đức hạnh viên mãn, mới có thể thành Phật. Nên nói, nhất định phải phát bồ-đề tâmPhát bồ-đề tâm, cần thực hành lục độ, đó là những điều kiện căn bản. Là bồ-tát có những điều kiện rất cao, rất khó làm được. Trong kinh Pháp Hoa nói, nếu muốn tu bồ-tát hạnh, phải róc da làm giấy, lấy xương làm bút, lấy máu làm mực đen, để sao chép kinh Phật. Tôi nghĩ mọi người hơi khó làm được một chút này. Tu học Phật pháp nằm ở lòng tha thiết, không nằm ở những vấn đề hình thứcMọi người buông xuống những vấn đề hình thức, có thể dùng lòng thành để tu hành Phật pháp, cũng là pháp môn rất tốt. 

      Dưới đây nói về lấy thánh trí tam tướng để tu hànhThiền tông thất kinh quyển 60 nói về vấn đề thánh trí tam tướng (聖智三相) liên quanphương tiệnđiều kiện tu tập thánh trí tam tướng cũng là: có ngũ duyên, thóa ngũ dục, vứt ngũ cáiđiều ngũ sựhành ngũ pháp, ngăn rơi vào ngoại đạo, nương Đại thừa mà tu, phát bồ-đế tâm như trước đã nói.

     Một trong thánh trí tam tướng cũng là vô sở hữu tướng (無所有相). Mọi người từ trên ý nghĩa chữ ngữ để nghĩ, vô sở hữu cũng là nói đến ta buông tất cả, với mọi vật đều chẳng chấp trước, với mọi vật trên thế giới đều vứt. Vứt này đạt biểu cho quan niệm của ngã và pháp. Vứt ngã và pháp, cũng là vô sở hữu tướng. Vô sở hữu tướng cũng là tu tập cấp bậc của thanh vănNgoại đạo cũng nói về vấn đề vứt, nên trong kinh Lăng-già đề cập đến vấn đề tu tập của thanh vănduyên giác và trong ngoại đạo liên quan

   Thứ hai là tự nguyện xứ tướng (自願處相). Tướng này rất quan trọng. Nếu chẳng có tướng này, thì tuyệt đối không thể thành Phật. Muốn biết thành Phật chúng ta cần dựa vào gi? Dựa vào phát đại nguyện tâm. Như nói về sự phát nguyện của bồ-tát Địa Tạngchúng sanh bất tận, Ta chẳng cam tâm thành Phật, địa ngục bất không, Ta cũng chẳng cam tâm thành Phật. Nên mọi người nhất định phải phát bồ-đề tâm, phát đại nguyện. Muốn thành Phậtnhất địnhphải phát đại nguyện.

   Thứ 3 là tự giác thánh trí cứu cánh tướng (自覺聖智究竟相), là nói đến họ đối với mọi pháp tướng đều đã vứt, cuối cùng chứng đắc như huyễn tam muộiNhư huyễn tam muội (如幻三昧) này cũng là nói, ta làm việc ở nơi ấy, ở thế giới phương khác đều làm việc, cũng là nói đạt đến cảnh giới của hóa thân. Loại tầng bậc này đạt đến trăm, ngàn, ức hóa thân. Muốn đạt được cứu cánh tướng này, cần dựa gì để tu hành. Cần dựa 55 thánh vị để tu hành. 55 thánh vị tu qua, cụ thể nói là 52 thánh vị, tu đến cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Mọi ngườitu tập Phật pháp lâu mấy, cần hiểu một chút làm sao để thành Phật. Trình tự của thành Phậtlà thế nào? Thành Phật cần cụ bị những điều kiện căn bản nào? Trong kinh Lăng-già đều có thuyết minh, cũng là 52 giai vị theo trình tự: thập tín, thập vị, thập hạnhthập hồi hướngthập địađẳng giácdiệu giác. 52 giai vị trình tự này cũng là trình tự để thành Phật.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 695)
Sở dĩ có tâm thư này là vì người ta đã mượn danh Đức Tăng Thống để ban hành các giáo chỉ, thông bạch vi hiến và trái với nguyên tắc sinh hoạt dân chủ của Tăng-đoàn.
(View: 848)
Có một số kinh Phật, kể rằng có một số vị trưởng lão trình với Đức Phật rằng,
(View: 936)
Có một lúc trong đời, con người bỗng đứng yên lại giữa tất cả những chạy đua, bon chen, kế hoạch, danh vọng… và tự hỏi:
(View: 871)
Một người thực hành hạnh Bồ tát thì sống trong thế giới, giữa các chúng sanh nên không xem thường
(View: 993)
Sự tỉnh thức không phải điều gì xa xôi hay lớn lao, mà bắt đầu từ chính khoảnh khắc ta quay về nhận biết hơi thở, thân tâm và hoàn cảnh quanh mình.
(View: 1124)
Từ xưa các nền văn hóa đã nhìn thấy vai trò của xúc cảm, tình cảm như một động lực để tiến bộ, tiến hóa cho cuộc sống con người.
(View: 1276)
Trong suốt hành trình khám phá chân lý và con đường giải thoát, Phật giáo đã trao cho chúng ta hai chiếc chìa khóa vô giá: Duyên khởi và Tánh không.
(View: 1463)
Nghĩ gì về Thầy Tuệ Sỹ? Nếu có ai hỏi như thế, tôi sẽ nói rằng tôi chưa thể hiểu tới một phần rất nhỏ những gì Thầy viết, mặc dù tôi vẫn đọc Thầy đều đặn.
(View: 1725)
Hàng năm người Hoa Kỳ dành ngày Thứ Năm trong tuần lễ cuối của tháng Mười Một để cử hành lễ Tạ Ơn. Ngày lễ Tạ Ơn
(View: 1552)
Từ thời săn bắn hái lượm con người đã nối kết với nhau để sinh sống, để chống lại thú dữ, để giúp đỡ nhau tạo thành lợi ích chung.
(View: 1992)
Hạnh phúc luôn có mặt trong đời sống của chúng ta qua từng phút, từng giây,
(View: 1982)
Đôi khi, chỉ một cuộc gặp gỡ tình cờ với một người cũng có thể làm thay đổi toàn bộ hướng đi của cuộc đời ta theo những cách mà ta không thể nào lường trước được.
(View: 2246)
Một kiếp người, dẫu dài hay ngắn, cũng chỉ là hạt bụi nhỏ trong vô tận thời gian.
(View: 2496)
Sự vĩ đại của Phật giáo không chỉ thông qua hình thức về tinh túy của từ bi và trí tuệ được thể hiệnqua Giáo lý duyên sinh – vô ngã.
(View: 2654)
Trong kinh A Na Di, một nhóm Tỳ kheo chưa thấy rõ con đường, lòng còn phân vân trong pháp hành của mình, dù được Thế tôn gợi ý
(View: 2930)
Trời đất vào Thu, sơn hà khoác chiếc áo màu đẹp nhất trong năm. Chiếc áo kỳ diệu của thiên nhiên với muôn hồng nghìn tía, rực rõ sắc màu.
(View: 2996)
Vu-lan là âm Hán Việt, cũng được gọi là Vu-lan-bồn, Ô-lam-bà-na, phiên âm từ Phạn ngữ Avalambana, có nghĩa là bị treo ngược
(View: 3151)
Chánh kiến là một thuật ngữ quan trọng trong Phật giáo, được xếp ở vị trí đầu tiên trong Bát chánh đạo.
(View: 2430)
Quán tưởng vô thường là một trong những nội dung tu tập quan trọng của giáo pháp Thế Tôn.
(View: 3367)
Trong Phật giáo không có thuật ngữ "Quản Trị" theo nghĩa hiện đại, nhưng có các giáo lý và nguyên tắc đạo đức như Giới, Định, Tuệ và tư tưởng vị tha
(View: 3123)
Quán tưởng vô thường là một trong những nội dung tu tập quan trọng của giáo pháp Thế Tôn.
(View: 2619)
Những hành động từ bi, dù nhỏ bé đến đâu, cũng có thể mang lại mục đíchý nghĩa ngay cả trong những thời điểm đen tối nhất.
(View: 2680)
Tất cả các Pháp Hữu Vi là vô thường! Đó là một sự thật! Cũng là lời di huấn cuối cùng của Đức Bổn Sư dành cho
(View: 3000)
Phước là khi bạn bị tai nạn mà vẫn sống sót, bệnh hiểm mà lại hồi phục, lạc lối mà vẫn được ai đó soi đường. Phước là vốn liếng của đời này, và cả đời sau.
(View: 2360)
Dòng sống, trôi như một dòng sông; đổ xuống như một thác nước.
(View: 2234)
Dòng sống, trôi như một dòng sông; đổ xuống như một thác nước.
(View: 2556)
Trong cuộc sống thế tục, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc qua tiền tài, địa vị, sắc đẹp, danh vọng hay ái ân.
(View: 3320)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc LâmTông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông
(View: 3615)
Mới đọc qua, tựa đề trên của bài viết, chúng tathấy ngay đề tài hơi ngộ ngộ….Nhưng càng đọc – càng thấy rõ thế giới, đang nằm gọn trong lòng chảo lửa mà dầu sôi sùng sụt
(View: 2729)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút danh là Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông.
(View: 2514)
Đạo đứchệ thống những quy tắc, các chuẩn mực xã hộiđể mọi người nương theo, điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích
(View: 2502)
Trong cuộc sống thế tục, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc qua tiền tài, địa vị, sắc đẹp, danh vọng hay ái ân.
(View: 2703)
Cuộc sống đàn ong, bầy kiến nhìn chúng lăng xăng, tưởng chừng chen đạp nhau lộn xộn, thật ra chúng rất có kỷ luật, ngay cả rơi vào nước
(View: 2543)
Trong cái nhìn của thế gian, cái chết là điểm kết thúc. Nhưng dưới ánh sáng Phật pháp, cái chết chỉ là một bước chuyển
(View: 2566)
Trong vòng luân hồi sinh tử vô tận, ái được xem là sợi dây vô hình trói buộc chúng sanh vào đau khổ.
(View: 2470)
Đạo Phật có cả một kho tàng giáo lý đa dạng và thực hành phong phú đáng kinh ngạc để phát triển tình yêu thươngtừ bi tâm
(View: 2621)
Cụm tháp Bạc sừng sững trên đồi cao lộng gió, dưới chân có khúc quanh của dòng sông Côn.
(View: 2493)
Đức Phật có dạy pháp phóng sinh hay không? Trong rất nhiều kinh, Đức Phật đã dạy là hãy yêu thươngvà đừng hại bất kỳ sinh mạng chúng sinh nào.
(View: 3920)
Hàng ngày tôi có thói quen ngồi tọa thiền và sau đó đi kinh hành. Địa điểm đi kinh hành tuyệt vờimay mắn nhất
(View: 4336)
Xa xa tận chân trời, mãi mãi nhìn theo mây trắng bay. Lá vàng rơi lác đác, cuồng cuộn về đến núi rừng. Vào Thu có nhiều, lá vàng, gió Thu thổi ra biển cả.
(View: 2549)
Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các chương trình chánh niệm tại trường học có thể giúp ích, đặc biệt là ở các cộng đồng nghèo, nơi học sinh phải đối mặt với mức độ căng thẳng cao hơn.
(View: 3285)
Trong giáo lý của Đức Thế Tôn, nghiệp (kamma) là một trong những pháp vận hành căn bản chi phối sự tái sinhvà đời sống của chúng sanh trong luân hồi.
(View: 2618)
Phra Ajaan Lee Dhammadharo (1907-1961), là một trong những vị thiền sư theo truyền thống tu khổ hạnh trong rừng.
(View: 2358)
Con Tàu sầm sập lao trong màn đêm đen đặc, thỉnh thoảng vụt qua những thị trấn hay phố xá nhỏ ven đường le lói chút ánh sáng nhạt nhòa.
(View: 2756)
Mùa An cư kiết hạ Phật lịch 2569 - Dương lịch 2025 lại trở về, là cơ hội quý báu để hàng hậu học chúng ta ôn lại lời Phật dạy
(View: 2259)
Hầu như không có ai nghĩ xa hơn thế, nghĩ xa hơn cái chết. Đây là lý do tại sao chúng ta thiển cận và không nghĩ đến việc
(View: 2611)
“Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn, Thiện duyên nan ngộ, Phật quốc nan sanh” là gì ?
(View: 2388)
Thờ Phật không phải là cầu xin ban phúc hay tha tội, vì Ngài không phải thần linh mà là người thầy dạy cách thoát khỏi khổ đau mà chính ngài tìm kiếm, chứng nghiệm.
(View: 2686)
Dòng đời xưa nay vẫn thế, từng đời từng đời nối tiếp nhau, thịnh suy bất định, tụ tán vô kỳ.
(View: 2643)
Minh trong đạo Phậttuệ giác, thấy biết như thật về vạn pháp. Khi thành đạo, Đức Phật chứng Tam minh(Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh).
Quảng Cáo Bảo Trợ
AZCMENU Cloudbase: Giải pháp TV Menu thông minh, tiện lợi, chuyên nghiệp!
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM