Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
2,319,686,071,854,584,916

Trang 6

Thursday, January 13, 201100:00(View: 10134)
Trang 6

Hỏi:

 Tại sao có vật mà Lục Tổ nói “bổn lai vô nhất vật”?

Đáp:
 Vì tại chấp mới có, nên ngài Lâm Tế nói “gặp Phật chém Phật, gặp ma chém ma”, tại tâm mình chấp Phật nên phải chém tâm chấp Phật, tại tâm mình chấp ma thì phải chém tâm chấp ma.

Hỏi:
 Thường 5 giờ sáng tụng kinh Lăng Nghiêm, Đại Bi Thập Chú, rồi qua tháng khác thì tụng kinh Pháp Hoa, Thủy Sám, Vu Lan. Bây giờ bắt đầu tham thiền không tụng kinh nữa, vậy có lỗi không?

Đáp:
 Nếu như trước kia tụng kinh thì đã có lỗi rồi đó! Tại vì tụng kinh là tu theo giáo môn, tụng kinh tới đâu là thiền quán tới đó. Nếu tụng kinh mà không thiền quán, cho người hiểu lầm tụng kinhcông đức, cũng như câu hỏi đó thì đã có tội rồi, vì để cho người ta hiểu lầm Phật giáo.

 Tham Tổ Sư thiền phải giữ đúng vai trò hành giả tham Tổ Sư thiền. Thiền Tịnh Độ phải giữ đúng vai trò thiền Tịnh Độ. Thiền Tịnh Độ có 3 cách thiền có ghi trong kinh Tịnh Độ. Nếu tu một pháp môn nào không thành thì có thể tu pháp môn khác cũng được, chứ làm sao có lỗi?

 Trước kia tụng kinh không đúng theo vai trò tụng kinhthiền quán tụng kinh. Theo giáo môn tụng kinh là thiền. Như ngài Đế Nhàn, mỗi thời kinh phải 2 giờ, một ngày 3 thời kinh. Nếu tụng kinh không đủ 2 giờ thì ngài quở làm biếng. Vậy người hỏi tụng kinhthiền quán không? Nếu không thì đã có lỗi rồi.

Hỏi:
 Người ăn con nhộng khi kéo tơ tầm hết. Vậy có bị nhân quả không?

Đáp:
 Có sát sanh thì phải đền mạng, ăn cục thịt phải trả cục thịt, chứ không phải có tội hay không có tội! Đó là việc nhân quả, tạo nhân nào thì chịu quả nấy. Tôi nói “nếu không sợ người ta ăn mình thì mình cứ ăn người ta, nếu sợ người ta ăn mình thì mình đừng ăn người ta”.

Hỏi:
 Chúng con là hành giả mới, kính xin Sư Phụ từ bi phổ biến tài liệu khoa học và tâm linh trong Phật pháp để chúng con tăng trưởng lòng tin và dạy lại đường lối tham Tổ Sư thiền?

Đáp:
 Tâm linh và khoa học trong Phật phápmục đích tôi muốn hoằng dương người tây phương, vì người tây phương phải có bằng chứng cụ thể thấy được họ mới chịu tin, nếu họ không tin thì không học. Cuốn Tâm LinhPhật Pháp không bằng cuốn Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21, cuốn này bao gồm hết. Tôi đã nói hơn Sinh Lý Giải Phẩu, Tâm Lý Học, Triết Học, Tự Nhiên Khoa Học của đại học Mỹ, 4 thứ hợp lại giải thích còn không thông. Cuốn Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 giải thích đầy đủ trọn vẹn hơn 4 đại học hợp lại.

Hỏi:
 Hành giả tham thiền bị những thử thách đau khổ, có phải đó là lúc trả nghiệp không?

Đáp:
 Làm sao cứ trả nghiệp trả nghiệp! Ở trong thuận cảnh tu khó hơn ở trong nghịch cảnh. Như người ta chấp nhập thất, tự mình nhốt trong phòng không tiếp xúc bên ngoài, nếu lấy cái đó để tu là có hại chứ không có ích, tại vì không có tiếp xúc thì không có cảnh để khởi tâm động niệm. Tôi có kể thằng bé ở trên núi 20 năm, vì không tiếp xúc thì không khởi tâm động niệm, có tiếp xúc mới gọi là tu, không tiếp xúc sao gọi là tu? Rồi người ta nói là thử thách, nói là trả nghiệp! Đó là nói bậy. Vậy như thằng bé xuống núi thấy người nữ gọi là trả nghiệp sao?

Hỏi:
 Chúng con tham thiền đã lâu, nhưng vẫn thấy những tập khí vẫn còn nhiều, chỉ bớt chút đỉnh chứ không bỏ hẳn được. Vậy chúng con phải làm thế nào?

Đáp:
 Phải hỏi và nhìn thì lâu ngày thấy như khờ ngốc, nên tập khí sẽ bớt dần dần. Nhưng người ta không biết coi người đó như người khờ ngốc, vì cái gì đều cũng không biết.

Hỏi:
 Khi thiền thì tâm tịnh trở thành không, khi nào nhận biết được bản lai của mình hiện ra?

Đáp:
 Nếu nói như vậy thì người đó không có tham thiền. Vì tham thiền là giữ cái không biết. Người đó dùng cái biết để tìm hiểu tâm tịnh, không những không chấm dứt mà còn kéo dài phát triển tìm hiểu, như thế là nghịch với tham thiền.

Hỏi:
 Khi thiền tâm tịnh thì cảnh giới Phật được ra, như vậy cảnh giới Phật thật hay giả? Nếu cảnh thật thì người ngồi thiềntiếp nhận được cảnh giới đó không?

Đáp:
 Người đó có thể tẩu hỏa nhập ma, tức là giống ma. Tham thiền thì không biết, làm sao biết những cái đó? Sao còn đi tìm hiểu mấy cái đó?
 
Tâm tịnh Phật độ tịnh là Tịnh Độ, tức là thật tướng niệm Phật không cần vãng sanh. Còn Thiền chỉ cần hỏi và nhìn để giữ nghi tình.

Hỏi:
 Tâm từ đâu ra?

Đáp:
 Bây giờ ông tự hỏi để mà tham! Tâm là một danh từ ai cũng nói được, nhưng Tâm là cái gì thì ai cũng không biết! Luôn cả Phật Thích Ca cũng không biết. Nếu tâm bị Phật Thích Ca biết thì nó thành sở biết. Có sở biết và có năng biết là nhị. Còn chân tâm bất nhị hay còn gọi là tự tánh bất nhị. Cho nên, tự tánh không cho ai biết được, tự tánh tự biết.

 Nếu ông muốn ngộ phải nghi, còn dùng bộ não để tìm hiểu thì một trăm năm, một kiếp hay hai kiếp, muôn ngàn triệu kiếp cũng không thể tìm được. Vì bộ não không thể biết được tự tánh, tại bộ não là vật chất, còn tự tánh không phải vật chất. Như lục thức phối hợp với lục căn nghe lệnh của bộ não, đó là vọng tâm tức là bộ não.

Hỏi:
 Tu theo pháp môn Tổ Sư thiền được giác ngộ rồi sẽ trừ tập khí, sau người ấy chết có đầu thai làm người để độ chúng sanh không?

Đáp:
 Bây giờ tự lo cho mình được giác ngộ rồi tự biết, nếu dùng bộ não để đoán mò bậy bạ chỉ là chướng ngại thôi! Người hỏi có đọc Bát Nhã Tâm kinh: “Vô vô minh diệc vô vô minh tận, vô lão tử diệc vô lão tử tận”, không có già không có chết tức là không có sanh tử, đã ngộ khôngsanh tử làm sao đi đầu thai? Nếu còn đi đầu thai thì chưa ngộ. Ngộ là vốn không có sanh tử gọi là liễu thoát sanh tử, mà còn hỏi kiến tánh rồi còn đi đầu thai không? Hỏi gì kỳ vậy!

Hỏi:
 Con chưa hiểu 2 chữ “năng, sở”, kính xin Sư Phụ giải thích?

Đáp:
 Ông có ăn cơm không?

 -Có.

 -Ông là năng ăn, cơm là sở ăn. Ông có uống nước không?

 -Có.

 -Ông là năng uống, nước là sở uống. Đó là năng sở. Ông thấy cái bình này không?

-Thấy.

-Ông là năng thấy, cái bình là sở thấy.

Khóa bồi dưỡng giảng sư tại văn phòng 2: Từ ngày 10 – 5 => 19 – 5 – 1999.

Thiền là gì? Thiền là phương pháp thực hành để vọng tâm lặng xuống, đạt đến an định. Thường thường chữ “thiền” đi đôi chữ “định” gọi là thiền định.

Thông thường dùng công phu thiền quán chiếu gọi là thiền quán. Như tông Thiên Thai gọi là Chỉ quán thiền. Chỉ là định, quán là đạt đến chỗ định. Định sâu chừng nào thì quán cao chừng nấy, nên thiền định đi đôi với nhau.

Nguồn gốc của Phật pháp là Tâm, tức bất nhị. Bây giờ Phật giáo chia ra nhiều tông phái, làm sao bất nhị được? Chia nhiều tông pháigiáo pháp, chứ không phải Phạât pháp. Phật pháp là pháp bất nhị không thể chia, giáo pháp mới có thể chia. Phật vì để thích ứng căn cơ của mỗi chúng sanh, mới thuyết 84000 pháp môn.

Phật pháp là trên phù hợp ý Phật thì không thể chia, dưới khế hợp đương cơ thì có thể chia. Cách dạy của Phật có 84000 pháp môn thì nhiều mênh mông, nhưng quy nạp lại gồm có tam thừa (Thanh Văn, Duyên GiácBồ Tát). Có người nói Thanh VănTiểu thừa, Duyên GiácTrung thừa, Bồ TátĐại thừa. Mỗi thừa có thiền tu tập riêng biệt.

Thừa Thanh Văn có thiền để tu tậpNgũ Đình Tâm Quán, Đình là đình chỉ hoạt động của nội tâm, gọi là Ngũ Đình Tâm (năm thứ thiền quán). Năm thứ thiền quán là:

- Sổ Tức Quán.
- Bất Tịnh Quán.
- Từ Bi Quán.
- Nhân Duyên Quán.
- Lục Thức Quán.

Bây giờ phần nhiều theo Sổ Tức Quán, có một số ít theo Bất Tịnh Quán, còn ba thứ kia chưa thấy người ta tu, ấy là thiền quán của Tiểu thừa. Gọi Tiểu thừa nhưng các nước Tiểu thừa họ không nhìn nhận và không nhìn nhận Đại thừa.

Thừa Thanh Văn là nghe thanh giáo của Phật mà ngộ đạo. Mục đích của Tiểu thừa là diệt lục căn. Vì tất cả phiền não vọng tưởng là do lục căn tiếp xúc với lục trầnsanh khởi. Cho nên, muốn diệt lục căn đối tượng lục trầnvật chất, theo triết họcChủ Quan Duy Vật Luận.

Trung thừa là thừa Duyên Giác, pháp tu là Thập Nhị Nhân Duyên, Thập Nhị Nhân Duyên bao gồm tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai).

Tôi chỉ nói sơ lược nghĩa chữ “Thiền” như vậy thôi.

Theo triết học thì Thanh vănChủ Quan Duy Vật Luận, Duyên GiácChủ Quan Duy Tâm Luận. Tại sao? Vì diệt được lục căn, nhưng một niệm không diệt được; muốn diệt lục căn thì phải giữ một niệm. Vậy một niệm đó là nguồn gốc phiền não.

Nên Trung thừa muốn diệt được một niệm, nhưng một niệm này không phải vật chất mà là tâm pháp, theo triết học gọi là Chủ Quan Duy Tâm Luận. Vậy một niệm phát xuất từ chỗ nào? Phát xuất từ nguồn gốc vô thỉ vô minh (căn bản vô minh). Khi đã diệt một niệm rồi thì trở về nguồn gốc cũng là vô minh (vô thỉ vô minh), chỗ này không có chỗ bắt đầu.

Bồ Tát thừa (Đại thừa) thấy diệt lục căn và một niệm chưa được, nên cần phải phá vô thỉ vô minh. Muốn phá vô thỉ vô minh thì không diệt lục căn và một niệm vô minh.

Thí dụ: Muốn diệt những người phản loạn, vua cướp dụ cho vô thỉ vô minh, tướng cướp và binh lính cùng binh khí của cướp dụ cho một niệm vô minh.

Như Tiểu thừa là tịch thu vủ khí của cướp cho là xong, nhưng họ có thể tạo lại được.

Trung thừa như giết hết binh lính của cướp, nhưng vua cướp vẫn còn, rồi ngày nào họ chiêu binh mãi mã, tổ chức lại. Vậy chưa có triệt để nên phải bắt luôn vua cướp.

Đại thừa lợi dụng binh lính của cướp, tướng cướp và vủ khí của cướp để bao vây vua cướp, bắt được vua cướp thì tất cả đều bình yên; tướng cướp, binh lính của cướp thành lính chính quy của nhà nước vẫn còn sử dụng, chứ không diệt họ. Ấy là nghĩa Đại thừa.

Tiểu thừaduy vật, Trung thừaduy tâm, Đại thừa là tâm và vật hợp một.

Lục Tổ nói trong Pháp Bảo Đàn: “Ở ngoài tam thừa còn có Tối thượng thừa”, tức là có 4 thừa. Tối thượng thừa không ở trong tam thừa nên gọi là phi thừa (không phải thừa), là pháp Thiền trực tiếp do Phật Thích Ca truyền dạy, vì đó không phải là thiền gì, mà Phật Thích Ca truyền cho Tổ Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Diếp truyền cho nhị Tổ A Nan, A Nan truyền cho tam Tổ Thương Na Hòa Tu, từ Tổ từ Tổ truyền xuống đến Tổ Đạt Ma thứ 28, rồi mới truyền sang Trung Quốc, sau này Trung Quốc mới truyền qua Việt Nam. Thiền đó do Tổ Sư từ đời từ đời truyền xuống, nên mới có tên gọi là Tổ Sư Thiền.

Nói đến vọng tâm thì phải có chân tâm. Chữ “Tâm” là một danh từ ai cũng nói được, nhưng Tâm là cái gì? Không có ai biết. Tại sao? Vì chân tâm không có hình tướng không có số lượng, nhưng nó có thực dụng rõ ràng, cái thể mình không thể thấy được, cái thể không có ai biết, luôn cả Phật cũng không thể biết.

Tại sao Phật không biết? Phật đã chứng chân tâm nhưng chân tâm tự biết. Nếu Phật Thích Ca biết chân tâm thì chân tâm trở thành sở biết, có năng sở là nhị. Chân tâmbất nhị, vì chân tâm không phải sở nên không có ai biết nó, nó tự biết cao nhất là Diệu giác. Cái biết bây giờ là cái biết của bộ não, gọi là vọng tâm che khuất cái biết chân tâm.

Cho nên, các thiền Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, Tối thượng thừa đều là ngưng hoạt động của bộ não (vọng tâm), tức là dẹp hết những che khuất thì chân tâm tự hiện.

Chân tâmvọng tâm là những danh từ lộn xộn. Vậy làm sao để phân biệt? Không thể nói, nhưng có thể thí dụ, nên chư Phật nói “Tâm như hư không” mà thí dụ vậy thì khó lãnh hội. Tổ 14 của Thiền tôngLong Thọ Bồ Tát dùng hư không vô sở hữu để thí dụ cho chân tâm của mọi người.

Theo chữ Hán, chữ “vô” là không có, không có sở hữu thì cũng như khônghư không. Mặc dầu nó không có, không có là lời nói của thế gian, thực tếdung nạpứng dụng; mình thấy hư không trống rỗng này, khoa học gọi là không gian. Mặt trời, mặt trăng, đất đai, núi sông, nhà cửa, bất cứ cái gì,… đều phải nhờ cái vô sở hữu này dung nạpứng dụng.

Không có cái nào ở ngoài vô sở hữu này, vô sở hữu tức là trống rỗng là không có gì hết, nhưng trống rỗng nên nó dung nạpứng dụng. Vì trống rỗng nên không bị không gianthời gian hạn chế, nên nó khắp không gian thời gian. Khắp không gian thì không có khứ lai nên gọi là Như Lai (đúng như bản lai), khắp thời gian không có gián đoạn thì không có sanh diệt, nên gọi là Niết Bàn (Niết Bàn là tiếng Ấn Độ nghĩa là không sanh không diệt).

Vì trống rỗng thì không có chỗ để trói buộc, nên gọi là giải thoát, chứ không phải bị trói rồi mới mở trói gọi là giải thoát, tại bản thể vốn không có trói buộc. Kinh Duy Ma Cật cũng nói nghĩa này.

Vì trống rỗng thì không có chỗ để trụ, nên gọi là vô trụ. Như Lục Tổ nói “lấy vô trụ làm gốc”, kinh Duy Ma Cật nói “từ gốc vô trụ lập tất cả pháp”, lập tất cả pháp là cái dụng của vô trụ. Lục Tổ nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” liền ngộ đạo triệt để.

Nhiều người nghe đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thấy còn mơ hồ. Bây giờ tôi dùng cái tay để thí dụ:

Cái tay hoạt bát vạn năng dụ cho chơn tâm, dùng cái gì cũng được, lấy cái khăn, lấy cái túi, lấy cái bình,… hoạt bát vạn năng vì nó vô sở trụ. Nếu có sở trụ rồi, như trụ cái khăn này thì cái hoạt bát vạn năng bị mất, nên lấy cái dĩa, cái bình không được. Bản tánhvô trụ, thể vô trụ, dụng cũng là vô trụ.

Cho nên, tôi hoằng pháp Tổ Sư thiền, dùng nghi tình là cái chổi automatic quét sạch tất cả biết và không biết của bộ não thì khôi phục lại bản tánh vô trụ hoạt bát vạn năng của tự tánh.

Nhưng cái khăn thuộc về pháp có, đối cái có thì phải có cái không có. Nếu trụ nơi không (ở trong này chẳng có gì), đã có sở trụ rồi thì đánh mất hoạt bát vạn năng, muốn lấy cái khăn, cái dĩa, cái bình,… đều không được. Vậy cái không này cũng phải quét, mới khôi phục cái dụng vô trụ. Cho nên, nói “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, sanh kỳ tâm là dụng vô sở trụ.

Bây giờ, theo triết học, khoa học của thế gian; đối với vọng tâm thì khoa học chưa rõ. Tại sao? Quý vị có học Phật học rồi, biết có 8 thức với lục căn, mỗi căn đảm nhiệm chức vụ gì? Mỗi thức đảm nhiệm chức vụ gì? Mà nhà khoa học chưa rõ, nhà khoa học chỉ biết bộ não, lục cănhệ thống thần kinh của bộ não, họ chỉ biết có một cái thức tức là bộ não. Họ không phân biệt rõ ràng mỗi căn mỗi thức.

Thừa Thanh văn chỉ biết có 6 thức, không biết có thức thứ 7 và thức thứ 8. Kỳ thật bản thể của vũ trụbản thể của sanh mạng là thức thứ 8, còn gọi là tạng thức (kho tàng). Tất cả chủng tử thiện ác, phi thiện phi ác đều ở trong kho tàng đó. Cho nên, thức thứ 8 là bản thể của vũ trụ, cũng là bản thể của sanh mạng.

Theo Duy Thức, thức thứ 8 là vô ký chẳng che lấp, còn thức thứ 7 cũng là vô kýche lấp. Tại sao có che lấp? Vì có tánh chấp trước, nó luôn luôn ngày đêm chấp thức thứ 8 là ta. Thức thứ 7 có 2 nhiệm vụ:

- Chấp thức thứ 8 là ta.

- Truyền tống thức.

Tại sao gọi là truyền tống thức? Nó đem thức thứ 6 lãnh đạo 5 thức trước tạo ra thiện, ác, vô ký thành chủng tử truyền vô thức thứ 8. Thức thứ 7 đem các chủng tử chín mùi ở trong thức thứ 8, rồi giao cho thứ thứ 6 lãnh đạo 5 thức trước để thi hành, nên mới có những hiện tượng mình đang sống đây.

Do thức thứ 7 chấp thức thứ 8 là ta, thành có ngã chấp, hợp tác với lục căn rồi nghe theo lệnh bộ não. Thí dụ: Bộ não là Thủ tướng điều khiển các bộ. Các hoạt động tạm thời chia ra làm 3 bộ: Bộ tìm hiểu, bộ suy nghĩ, bộ ghi nhớ.

Theo bộ ghi nhớ là lục cănhệ thống thần kinh đều là vật chất. Nếu dùng kính hiển vi có thể thấy được, nên nhà khoa học bắt chước cấu tạo bộ ghi nhớ, chế tạo thành máy vi tính. Máy vi tính nhớ rất hay, bao nhiêu phức tạp đều nhớ hết cả, bây giờ mỗi ngày đang cải tiến; cải tiến cách mấy cũng không bằng bộ ghi nhớ của bộ não, nhưng thực dụng nó hay hơn bộ não. Tại sao? Vì bộ não hay quên, còn máy vi tính nhớ không quên. Tại sao bộ não hay quên? Vì bộ não có phần suy nghĩ nên làm nó hay quên.

Đối với vật chất thì nhà khoa học bắt chước làm được. Cho nên nhà khoa học tuyên bố rằng: “Bộ tìm hiểu, bộ suy nghĩ vài năm sau sẽ ra đời”. Vì nó là vật chất nên có thể bắt chước chế tạo được. Còn 8 thứ thức là thể tinh thần, không phải vật chất nên nhà khoa học không thể bắt chước chế tạo được.

Sức dụng của vật chất bị không gian thời gian hạn chế, còn phi vật chất thì không bị không gian thời gian hạn chế. Theo lực học của Einstein nói “vật chất nhỏ nhất chừng nào thì tốc độ nhanh chừng nấy”, tốc độ nhanh như ánh sáng thì vật chất càng nhỏ, sự quan hệ không gianthời gian cũng thay đổi, lại nói vật chất có thể biến thành năng lượng.

Năng lượng không phải vật chất, mà năng lượng có thể biến thành vật chất, nhưng năng lượng phải từ vật chất mới biến thành được. Nếu khôngvật chất thì không thể biến ra được năng lượng. Còn phi vật chất khỏi cần vật chất, nó sẵn sàng có năng lượng đó, mà lại không bị không gian thời gian hạn chế.

Nhà Thiên văn muốn diễn tả khoảng cách của không gian, nếu dùng con số thì không thể thấy được, nên dùng tốc độ ánh sáng để diễn tả. Tốc độ ánh sáng đi một năm mới đến thì khoảng cách đó gọi là một quang niên. Ánh sáng đi một trăm năm mới đến thì khoảng cách đó gọi là một trăm quang niên.

Ánh sáng là tốc độ cao nhất, mỗi giây đi được 300.000 cây số. Nếu ánh sáng đi một trăm năm đến thì tâm mình chỉ một niệm đến. Ánh sáng đi một triệu năm đến thì tâm chỉ một niệm đến. Tại sao? Vì nó trống rỗng, không bị không gian thời gian hạn chế. Nên ngài Long Thọ nói “Tâm như hư không vô sở hữu”. Mình phải tin sức của tâm mình đều sẵn có, nhưng không có hiện ra là bị che khuất.

Bây giờ phải nói chuyện cụ thể để thí dụ. Có người hỏi tôi: Thầy dạy Tổ Sư thiền là dùng cái không biết để tu, khi đến thoại đầu có phải sắp biết không?

Tôi nói: Không phải sắp biết.

Người ta nói: Nếu vậy thì đâu khác như gỗ đá?

Tôi nói: Không phải vậy. Tại sao? Vì cái biết chơn tâm không bao giờ ngưng, nếu nó ngưng rồi biết lại thì mới nói là sắp biết.
 
Ông đổi lại câu hỏi đi! Như hỏi trời gần sáng thì mặt trời sắp chiếu được không? Không được. Mặt trời không thể sắp chiếu. Tại sao? Mặt trời đâu có ngưng chiếu hồi nào mà nói sắp chiếu! Trời đâu phải sáng rồi mới chiếu! Trời chưa sáng nhưng nó cũng đang chiếu vậy. Không thấy mặt trời là nó bị che khuất bởi quả đất, mây đen, chứ đâu phải mặt trời ngưng chiếu.

Cái biết chơn tâm của mình cũng vậy, nó không bao giờ ngưng biết. Đã không ngưng biết thì tại sao nói là sắp biết? Nó chỉ bị che khuất bởi cái biết và không biết của bộ não, nên nó không được hiện ra.

Pháp Thiền Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, Tối thượng thừa đều dẹp hết các thứ che khuất để chơn tâm hiện ra, gọi là kiến tánh thành Phật.

Vừa rồi, tôi nói 3 bộ phận biết, các vị học thì phải tìm hiểu, tìm hiểu rồi thì phải suy nghĩ, mới phân biệt đúng sai chánh tà, rồi ghi nhớ. Nhưng 3 bộ phận biết này che khuất chơn tâm, nên cần phải dẹp hết. Các giáo pháp dạy dẹp những che khuất gọi là pháp thiền.

Tiền ngũ căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) và tiền ngũ thức thì cái dụng khác nhau. Năm căn giống như cái đèn chiếu soi, không có sự phân biệt. Như nhãn căn chiếu soi cảnh rồi, nhãn thức mới phân biệt đó là tướng gì? Tức là năm căn dùng cảm giác trực tiếp, theo khoa học thì nhãn cănthị giác, nhĩ cănthính giác, tỷ cănkhứu giác, thiệt cănvị giác, thân cănxúc giác. Đó chỉ là cảm giác thôi, qua cảm giác của năm căn rồi mới đến năm thức phân biệt.

Tiền ngũ căn và tiền ngũ thức dễ phân biệt, còn ý căný thức khó phân biệt. Ý căn là đảm nhiệm suy nghĩ, ý thứcphân biệt thiện ác đúng sai. Tác dụng năm căn trước cũng giống, nhưng tác dụng đối với tiền trần (tiền là trước mắt nên gọi là tiền ngũ căn, tiền ngũ thức).

Còn ý căný thức là đối với pháp trần, không phải vật chất, mà cũng có thể là cái sanh diệt của vật chất, nhưng nó không phải trước mắt. Quá khứ, vị lai cách xa, nếu dùng ý thức nhớ lại chuyện quá khứ, nhớ lại thân nhân ở nước ngoài, như nước Mỹ, nước Pháp,… quý vị ngồi đây có thể nhớ lại cái tủ cái chén để trong nhà của quý vị, dùng ý thức nhớ lại những thứ ấy, khỏi cần trước mắt nên gọi là pháp trần, chứ không phải tiền trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc).

Tôi đại khái phân biệt lục căn lục thức, nhiệm vụ mỗi căn mỗi thức đều khác biệt. Nhưng sự luân hồi làm sao giải thích đây?

-Bát Thức Quy Củ Tụng có câu “khứ hậu lai tiên tác chủ công”.

Thức thứ 8 chứa các chủng tử thiện ác nghiệp, khi đầu thai thì đến trước (lai tiên), khi chết là rời nhục thân sau cùng (khứ hậu), do tính chấp ngã của thức thứ 7 kết hợp sinh lý của cơ thể mà làm chủ nơi thân này. Bắt đầu tinh cha trứng mẹ kết thành thai nhi, nhờ bát thức làm cơ nhân (DNA) mà dần dần hình thành hệ thống thần kinh của bộ não, đồng thời cùng khắp các tế bào và lục phủ ngũ tạng của toàn thân, do bộ não làm thủ tướng.

Do sự lôi kéo của ngã chấp, khiến lục thứclục căn hợp tác mà nghe theo lệnh của bộ não. Nhưng mà, lục căn thuộc về sắc pháp (thể vật chất), lục thức thuộc về tâm pháp (thể tinh thần), căn có thể hoại diệt, thức thì không thể hoại diệt. Nếu tu hành đến kiến tánh thì chuyển được bát thức thành tứ trí, mà ra khỏi luân hồi; chấm dứt sự đầu thai chuyển thế, tự do tự tại vĩnh viễn, chẳng còn tạo nghiệp và bị nghiệp lực trói buộc.

Hỏi:
 Vừa qua nói bản thể sanh mạng theo Duy Thức, hiện tại khoa học phối thai trong ống nghiệm:
 Thứ nhất đi đến trình trạng vô tínhnghiệp cảm duyên sanh luân hồi, thì phải có linh hồn cha mẹlinh hồn đồng cảm, mới có một chúng sanh ra đời. Cái này là điều thông thường, nhưng nó quan trọng vô cùng, những nhà khoa học cho rằng: “Có thể đảo lộn thế giới”. Bởi vì vô tính thì không có đồng cảm của linh hồn. Như vậy vật chất sanh ra con người hay sao? Hay trường hợp này dẫn đến thế giới hóa sanh?

 Nghĩa là muốn hỏi Hòa thượng giải thích cho chúng con biết là cái dục phải đi tò mò tọc mạch của thần thức tìm nơi sáng khi mà phôi thai? Còn vô tính là chỉ có một người đàn ông thôi, lấy 2 vật chất trong người đàn ông sanh ra đứa con, chứ không phải do sắc thể của nam và nữ?

Đáp:
 Cái cơ nhân vừa rồi đọc là bao gồm các chủng tử thức thứ 8. Bây giờ khoa học khỏi cần giao phối mà họ cũng tạo ra được, nhưng phải có cơ nhân, cũng như lấy tế bào của con dê này làm cơ nhân để trồng vô trứng con dê cái, mới tạo ra dê con. Họ không có thể tạo ra cơ nhân, cơ nhân đó là chủng tử thức thứ 8.

Hỏi:
 Xin Hòa thượng giảng rõ thần thức ở chỗ khác, tìm đến đó để vô thai. Đó là nghiệp cảm duyên sanh ở dạng đặc biệt hay là nhà khoa học tạo ra một linh hồn?

Đáp:
 Không có tạo được! Vì cơ nhân mà khoa học không thể tạo được. Ấy chỉ là có sẵn, qua sự sẵn có mà biến đổi thôi, chứ không phải từ chỗ không có. Tôi xin giảng lời nói của Phật là “vô thỉ” chứng minh cho quý vị biết.

 Tại sao nói là vô thỉ? Thỉ là bắt đầu, vô là không có; tức là không có bắt đầu, không có bắt đầu là nghĩa vô sanh, cũng là không có sự sanh khởi. Vì có sự sanh khởi thì có sự bắt đầu. Nên người chứng quả là ngộ pháp vô sanh, cũng gọi là chứng vô sanh pháp nhẫn.

 Tại sao chắc chắn không có sự bắt đầu? Vì nguồn gốc bắt đầu chỉ có 2 cái: Bắt đầu chỗ có và bắt đầu chỗ không có.

 Nếu bắt đầu chỗ có thì không thể nói là bắt đầu, vì cái có kia đã bắt đầu rồi, tức nói cái cơ nhân vừa nói đã có sẵn.

 Nếu bắt đầu chỗ không có thì thế giới này loạn hết. Tại sao? Cây đào khỏi cần cây đào sanh, cây lý khỏi cần cây lý sanh, con người khỏi cần con người sanh, con dê khỏi cần con dê sanh. Nhưng nhà khoa học muốn sanh con dê cũng phải lấy tế bào từ con dê để trồng vô trứng con dê cái, chứ không phải khi không từ chỗ không có mà tạo ra được!

 Nếu mà chỗ không có tạo ra được thì không có giá trị gì hết, vì tại không có tạo ra cái gì cũng được, tạo ra con người, con dê, cây đào cũng được. Như vậy thế giới loạn hết.

Hỏi:
 Vừa rồi Hòa thượng có nói trong kinh Kim Cang là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Vậy một hành giả dụng công phải nhận biết như thế nào? Bây giờ nhận biết các pháp vô sở trụ hay chúng ta dụng công phu trên lục căn không trụ trên lục trần, ấy là nhận vô sở trụ? Hoặc nhận tánh các pháp vô trụ, rồi mình sống vô trụ đó?

Đáp:
 Phật pháp là muốn hiển bày chơn tâm cũng gọi là tự tánh. Chơn tâmbất nhị không có tương đối, không có tương đối nên không thể dùng lời nói của thế gian để diễn đạt được. Vì muốn diễn đạt thì phải có tương đối, mà chứng tỏ cái tương đối đó đúng hay sai gọi là logic, nó có hai cái mới thành logic được.

Còn chơn tâm thì không có tương đốibất nhị, siêu việt logic, nó không có thể dùng logic để chứng tỏ, vì dùng logic để chứng tỏtương đối rồi. Cho nên, muốn chứng minh phải qua tự tâm của cá nhân.

Hỏi:
 Vậy người hành giả phải thế nào để trọn vẹn cái nghĩa vô sở trụ?

Đáp:
 Tôi nói “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là lời nói của thế gian. Kinh Duy Ma Cật, kinh Lăng Già, cho đến Đại Thừa Khởi Tín luận, phải lìa văn tự lìa lời nói, vì lời nói văn tự không thể diễn tả. Mặc dầu, tôi nói “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì cái đó cũng là lời nói. Nếu chấp vào lời nói văn tự thì nghịch ý của Phật.

Hỏi:
 Ý con muốn hỏi là một hành giả đang dụng công, trong kinh Phật dạy “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, cũng như trước có nói “bất ưng vị sắc sanh tâm, bất ưng vị thinh sanh tâm,… mới ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Như vậy một hành giả nhận theo cái ý, tức là trên lục căn trên lục trần là đúng hay nhận như thế nào mới gọi là đúng?

Đáp:
 Nếu mà có đúng thì có sai, đúng sai là tương đối.

Hỏi:
 Nếu vậy, mình tiếp xúc trên căn trần không trụ trước, đó là lối của con tu tập hay là có lối dụng công cao hơn nữa để dụng công tiến xa hơn?

Đáp:
 Nếu mà tự tâm chứng được sẽ biết không có nghĩa lý gì hết, nếu lập ra nghĩa lý thì có tương đối, có đúng lý và không đúng lý, hợp lý với không hợp lý. Ở trong tương đối thì có tranh luận, mỗi người mỗi khác. Còn tuyệt đối thì không có tương đối, lấy cái gì để tranh luận! Nhưng cái ấy tự tâm ngộ mới dược, chứ không phải học. Cái học là phương tiện tương đối, như thầy nói thí dụ, thí dụ là dùng logic.

 Mặc dầu, Phật dùng đủ thứ thí dụ, nhưng sau khi nói xong đều phủ định liền. Như ai cũng biết Phật tự phủ định nói “49 năm thuyết pháp, tôi chưa từng nói một chữ”. Vì không thể nói, tất cả lời nóiphương tiện tạm thời, chứ không phải là chơn lý. Lại Phật giáo không kiến lập chơn lý, tất cả các tôn giáo đều có kiến lập chơn lý.

 Cho nên, cái nào có kiến lập chơn lý thì sẽ bị lật đổ, còn Phật Thích Ca không thể bị lật đổ, vì không có kiến lập chơn lý. Tất cả đều không thể kiến lập chơn lý, nên mới gọi là “vô thỉ vô sanh”. Nếu có kiến lập thì có “thỉ” (bắt đầu) tức là có sanh rồi, tức là nghịch với ý Phật.

 Bây giờ danh từ của Phật nói chỉ là phương tiện thôi, chứ không được cho chấp thật. Như các vị có học Phật pháp, nói là “thật tướng vô tướng”, tức là thật tướng thì không có tướng. Chữ “vô” là lời nói của thế gian, nếu theo thực tế thì hữu cũng vô, mà vô cũng vô. Tức là phủ định tương đối, hữu và vô đều phủ định, mới là thật tướng.

 Nếu chấp vô tướngthật tướng thì lọt vào biên kiến (một bên). Phật pháp có năm thứ ác kiến, mà biên kiến là một trong năm thứ ác kiến (thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiếngiới cấm thủ). Nhưng bây giờ nhiều người lọt vào biên kiến mà tự mình không hay biết. Tức là chấp vào một bên, không chấp cái có lại chấp cái không.

Vừa rồi tôi dùng “ưng vô sở trụ” thì không được chấp, nên cũng phải quét. Vì chơn tâm trống rỗng là vô sở hữu, không có thể kiến lập, nên Phật mới nói là “vô thỉ vô sanh”, người chứng quả gọi là ngộ pháp vô sanh hay là chứng vô sanh pháp nhẫn, nếu có sanh thì không phải.

Nhưng bây giờ mình thấy có sanh, thấy có bắt đầu; cái bắt đầu này là bắt đầu từ chỗ có, bắt đầu từ chỗ có tức là ở chính giữa rồi, không phải là chỗ bắt đầu.

Hỏi: 
 Có người tu kinh Kim Cang, cuộc sống hằng ngày họ không trụ lục căn lục trần, trong lúc tọa thiền không trụ trên pháp trần. Như vậy công phu dần dần họ đạt đến chỗ lặng lẽ thường tịch, công phu đó còn tiến thêm lên nữa không?

Đáp:
 Cái tịch lặng này cần phải tiến lên nữa, vì đó là Đại thừa thôi, chứ chưa phải là Tối thượng thừa. Đại thừa là tâm vật hợp một, Tối thượng thừaphi tâm phi vật (chẳng phải tâm chẳng phải vật).

Hỏi:
 Đến giai đoạn đó thì hành giả phải làm sao để tiến lên?

Đáp:
 Đến giai đoạn đó thì hành giả phải dùng cái “không hiểu không biết” của bộ não để dẹp cái “biết” của bộ não, gọi là nghi tình. Như dùng câu thoại đầu để hỏi “khi chưa có trời đất ta là cái gì?” thì khởi lên một niệm không biết, rồi khán thoại đầu là nhìn chỗ “không biết”, nhưng chỗ “không biết”, mặc dầu nói chỗ, nhưng không có chỗ, vì có chỗ là biết rồi.

 Không có chỗ thì không có mục tiêu để nhìn, không có mục tiêu để nhìn thì nhìn mãi không thấy gì, chỉ trống rỗng vẫn còn không biết, chính cái trống rỗng không biết đó, Thiền tông gọi là nghi tình; cứ hỏi và nhìn hai cái song song để giữ nghi tình, sẽ đưa hành giả đến thoại đầu, rồi kiến tánh thành Phật, lúc ấy ngộ rồi tự biết, chứ không phải do ai phát hiện.

Hỏi:
 Nếu hành giả đến giai đoạn “không biết”, mà vẫn giữ công phu “không biết” để diệt trừ những cái biết của tâm thức. Nhưng giai đoạn đó, hành giả vẫn còn ôm lấy công phu, như vậy có vượt thoát chưa hay còn kẹt trong công phu?

Đáp:
 Phải tới ngộ mới được! Vừa rồi tôi nói là mục đích muốn đến thoại đầucăn bản vô minh, cũng là vô thỉ vô minh, ấy là nguồn gốc của ý thức, Thiền tông gọi là đầu sào trăm thước. Thầy nói dùng cái biết để tu theo kinh là Như Lai thiền. Kinh giáo thuộc về giáo mônNhư Lai thiền, mục đích cũng đến thoại đầu.

 Còn Tối thượng thừa là dùng cái “không biết” để tu, cũng gọi là tham Tổ Sư thiền. Nếu dùng “không biết” thì không biết trụ, không biết vô trụ. Biết vô trụ tức là đã biết rồi, chứ không phải là không biết! Vì không biết là không có cái gì dính mắc, không có cái trụ và vô trụ dính mắc.

Hỏi:
 Hành giả còn biết chỗ “không biết” thì sao?

Đáp:
 Nếu còn biết chỗ “không biết” thì không phải Tổ Sư thiền. Đó là cái biết để tìm hiểu cái “không biết”, chứ không phải dùng “không biết” để chấm dứt tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết. Những người đi sai lầm là dùng cái biết để tìm hiểu cái “không biết”, tức là không phải Tổ Sư thiền, không có tham thiền.

Hỏi:
 Như vậy, còn dụng công là còn kẹt trong công phu phải không?

Đáp:
 Cái đó gọi là Như Lai thiền, ấy là tùy cái biết mà tiến lên, tức là có 52 cấp (Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa là 50 cấp và Đẳng Giác, Diệu Giác. Tổng cộng là 52 cấp). Còn Tổ Sư thiền dùng cái “không biết” là không có cấp nào hết, từ địa vị phàm phu tu chứng Đẳng Giác.

Hỏi:
 Phẩm Định Huệ của Pháp Bảo Đàn nói: “Định huệ thì đồng đẳng”, còn kinh khác nói: “Có giới rồi mới có định, đến sau phát huệ”. Như vậy định huệ đồng đẳng của Lục Tổ Huệ Năng so với định huệ của kinh điển có khác nhau như thế nào?

Đáp:
 Tự nhiên hai cái khác nhau rồi, vì định huệ của kinh điển là dùng cái “biết” của giáo môn. Còn định huệ của Lục TổThiền môn dùng cái “không biết” để tu.

 Biết và không biết là hai mặt khác nhau, dùng cái biết thì có giai cấp, vừa rồi tôi nói có 52 cấp. Còn dùng cái không biết thì không có giai cấp nào hết.

Hỏi:
 Nếu dùng cái không biết thì Lục Tổ nói “định huệ đồng đẳng”, vậy ngay khi có định có huệ thì cái huệ có biết hay không?

Đáp:
 Thầy có đọc 36 pháp đối của Lục Tổ dạy không?

Có.

Người ta hỏi: Thế nào là sáng? Thì trả lời là: Tối.

Người ta hỏi: Thế nào là tối? Thì trả lời là: Sáng.

 Theo giáo môn thì đâu có được vậy? Hỏi sáng thì giải thíchmặt trăng, mặt trời, có đèn mới sáng. Còn Lục Tổ thì không phải vậy, hỏi tối thì đáp sáng, hỏi sáng thì đáp tối. Tại sao? Vì sáng với tối làm nhân với nhau, tại có sáng mới có tối, có tối mới có sáng.

 Sáng tối là hai pháp sanh diệt, đều không phải thực tếtương đối mới có. Như con gà với trứng gà, vậy con gà có trước được không? Không được. Tại sao? Vì không có trứng gà làm sao có con gà! Trứng gà có trước được không? Không được. Tại sao? Vì không con gà thì không thể có trứng gà.

 Cho nên, trứng gà và con gà mà tương đối mới có, thì sáng với tối cũng vậy, hữu vô cũng vậy, tất cả tương đối đều là vậy. Chỗ thật tế (thật tướng) thì phủ nhận tương đối. Không có tương đối thì không thể dùng lời nói để diễn tả.

 Kết luận của Vũ Trụ Quan: (Trang 3).
----------------------------------------------------------
 
Ở trên là vai trò của người thế gian, như vai trò cha, mẹ, vợ, chồng, con cái. Tu sĩvai trò của người Tu sĩ, tức là Sa Di phải giữ đúng vai trò của Sa Di, Tỳ Kheo phải giữ đúng vai trò Tỳ Kheo, Sa Di Ni phải giữ đúng vai trò của Sa Di Ni, Tỳ Kheo Ni phải giữ đúng vai trò Tỳ Kheo Ni, mỗi mỗi đều giữ đúng vai trò của mình thì tự nhiên tập khí sẽ dứt dần dần.

Cũng như vừa nói “vì đói khát ăn uống thì cứ ăn uống, đừng nghĩ cái khác. Vì che thân chống lạnh cần mặc áo thì cứ mặc áo, đừng nghĩ cái khác”. Cần nhất là “đừng nghĩ cái khác”, tại mình ham nghĩ cái khác nên tập khí không dứt được. Cứ giữ đúng vai trò của mình, đói bụng thì ăn cơm, lạnh mặc thêm áo, nực cởi áo ra. Cho nên Phật pháp chỉ là vậy thôi.

Hỏi:
 Chúng con biết Hòa thượng là bậc tu thiền, xin Hòa thượng chỉ dạy, tại sao những vị tu thiền bị tẩu hỏa nhập ma? Xin chỉ dạy phương pháp điều thân điều tâm như thế nào?

Đáp:
 Người tu bị nhập ma vì có ngã, tức là có cái ta nên ma mới nhập được. Tham Tổ Sư thiền có 10 điều kiện, điều thứ nhất có 9 chữ “vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ” là phá ngã chấp. Ban đầu tôi nói “vô sở sợ”, họ nói không được, phải nói là “vô sở úy”, tôi nói phải “vô sở sợ”, tại sao? Vì tôi nói “vô sở sợ” là 10 người thì 10 người đều hiểu, còn nói “vô sở úy” là 10 người thì chỉ 5 người hiểu. Thành ra, tôi muốn 10 người đều 10 người hiểu, nên mới nói như vậy.

 Nếu thực hành được “vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ” thì không bị ma nhập. Tham đúng Tổ Sư thiền thì ma làm sao nhập? Chỉ các Thiền khác có ngã chấp nên ma mới nhập được. Như kinh Lăng Nghiêm có 50 thứ ma ngũ ấm, do người đó có mong cầu, nên ma thừa mong cầu mà nhập vào; muốn đắc thì ma hóa ra có sở đắc để nhập, có sở sợ cũng vậy.

 Chánh pháp Phật giáo đều phá ngã chấp, mới giác ngộ ra khỏi sanh tử luân hồi; tất cả các tôn giáo khác không phá ngã chấp, nên không được giải thoát cái khổ sanh tử luân hồi.

Hỏi:
 Ngày xưa, Tổ Huệ Năng nói với các Thiền giả rằng: “ Các vị tu thiền phải làm sao cho nhân tâm tử thì đạo tâm mới trường tồn”. Chúng con thấy chánh pháp này là pháp giải thoát, nhưng nó gắn liền với pháp thế gian. Đối với thế gian pháp, mà các lãnh đạo của chúng ta hết sức bâng khuâng việc này.

 Vì tâm sanh nên các pháp sanh, tâm diệt nên các pháp diệt; mà nhân tâm không chịu tử, làm sao đạo tâm trường tồn được? Chỗ này con thấy các ban trị sự, ban đại diện, giữa Tăng Ni, giữa tự viện, nhân tâm sao không biết mà nó xảy ra những chuyện va chạm với nhau, thậm chí thưa kiện đến chánh quyền này nọ.
 
Đây là những vướng mắc của các giảng sư sắp đến các vùng sâu. Nhờ Hòa thượng chỉ cho con, làm sao cho nhân tâm này tử, không cho các tâm sanh thì các pháp không sanh, tất nhiên mọi việc sẽ được êm đẹp?

Đáp:
 Thế gian pháp tức là Phật pháp, chứ không phải ngoài thế gian mà có Phật pháp.

Thế lưu bố tưởngtrước tưởng (trích từ kinh Đại Niết Bàn):
Hỏi:
 Ở nơi thế gian Thánh phàm khác biệt, phàm phu ngoài tâm chấp pháp, vọng lập kiến văn, bậc Thánh đã ngộ nhất tâm, tại sao còn tri kiến như phàm phu?

Đáp:
 Bậc Thánh dù có tri kiến nhưng thấu rõ vật hư như huyễn, chẳng sanh chấp trước.

Như kinh Đại Niết Bàn nói: “Bồ Tát Ca Diếp bạch Phật: Thế Tôn, nếu như phiền não sanh bởi điên đảo tưởng thì tại sao tất cả bậc Thánh đều thật có điên đảo tưởng mà chẳng có phiền não?

Phật bảo: Sao nói bậc Thánh có điên đảo tưởng?

Bồ Tát Ca Diếp bạch Thế Tôn: Tất cả bậc Thánh cũng gọi con trâu là trâu, gọi con ngựa là ngựa và gọi nam nữ, lớn nhỏ, nhà cửa, xe cộ… ấy tức là điên đảo tưởng.

Phật bảo: Thiện nam tử, tất cả phàm phu có hai thứ tưởng: Thế lưu bố tưởng (thế gian đã phổ biến lưu hành) và trước tưởng. Phàm phu chấp trước, ở nơi thế lưu bố tưởngg sanh trước tưởng. Bậc thánh chỉ có thế lưu bố tưởng, khéo giác quán nên ở nơi thế lưu bố tưởng chẳng sanh trước tưởng. Cho nên, phàm phu gọi là điên đảo tưởng, bậc thánh dù tri mà chẳng gọi điên đảo tưởng. Lại, do cảnh vốn tự không, đâu cần hoại tướng! Do linh tâm tự chiếu, đâu nhờ cảnh sanh! Nên chẳng như phàm phu chấp trước năng sở tri kiến vậy”.

Triệu Luận nói: “Hễ có sở tri thì có sở bất tri. Do Thánh tâm vô tri nên vô sở bất tri”. Cái tri của bất tri là nhất thiết tri, nên kinh nói: “Thánh tâm vô trivô sở bất tri” thật đáng tin vậy. Cho nên bậc Thánh trống rỗng nơi tâm mà thật tế chiếu soi suốt ngày tri mà chưa từng (cho là) tri, như nước lắng soi bóng, há có lập tâm năng sở; cảnh trí đều sáng, đâu có tư tưởng giác tri ư!

Theo sự hình thành trên đây (kinh Đại Niết Bàn) thì biết: Ở nơi thế gian chẳng sanh khởi trước tưởng tức là pháp xuất thế gian, cũng là Phật pháp. Chứ không phải ngoài pháp thế gian mà có pháp xuất thế gian đặc biệt gọi là Phật pháp vậy.

Nói tóm lại, đối với cuộc sống hằng ngày, đói thì ăn, khát thì uống, lạnh thì mặc thêm áo, nóng thì cởi bớt áo ra, cho đến nói năng tiếp xúc, làm việc… đủ thứ pháp thế gian đều chẳng sanh khởi trước tưởng, tức là Phật pháp vậy. (Chẳng đem chủ quan của mình xen vào sự vật của thế gian tức là chẳng sanh trước tưởng, cũng chẳng có “cho là” để lọt vào nhị biên đối đãi vậy).

Hỏi:
 Hòa thượng dạy chúng con nhận thức điểm đó, con suy nghĩ nghiệp vụ hoằng pháp như ở đây thì rất dễ vì là giáo hội. Giáo hội thì có hành giáothiền giáo, mà pháp môn Hòa thượng giảng từ sáng đến giờ là tu để cầu giải thoát. Nhưng con thấy Phật pháp đã đi sâu vào xã hội để phổ hoá độ sanh, để vượt qua khổ não trần lao. Phải nhờ pháp môn giải thoát này để trấn an cho pháp thế gian. Vì vậy chúng con nhờ Hòa thượng khai thông những giới xuất gia của Phật.

 Hai chúng xuất gia cũng còn bất đồng quan điểm với nhau, đi đến chỗ cho giáo hội phải nhọc nhằn. Đây là công tác trước mắt của các giảng sư về những vùng sâu đến các vị trụ trì. Hòa thượng cho con biết thêm làm sao nhân tâm tử thì đạo tâm mới trường tồn? Nếu nhân tâm không tử thì vạn pháp thế gian sanh mãi mãi, làm cho Phật pháp khó thực hiện ở thế gian?

Đáp:
 Quí vị đều là giảng sư, đi giảng cho mọi người nghe, tạo cho xã hội được hạnh phúc, cũng như tất cả ngành nào cũng muốn cho nhân loại được hạnh phúc. Kinh Viên Giác nói vấn đề thuyết pháp:

 - Bạch Thế Tôn! Nếu giác tâm này bản tánh trong sạch, vì sao bị ô nhiễm, khiến những chúng sanh mê muội chẳng thể ngộ nhập? Xin Như Lai vì chúng con khai thị pháp tánh, để làm đạo nhãn cho tương lai, khiến cho đại chúng trong hội này và chúng sanh đời mạt pháp dễ được ngộ nhập.
 
Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát nói xong, 5 vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh 3 lần như vậy.

 Bấy giờ, Thế Tôn bảo Tịnh Chư Nghiệp chướng Bồ Tát rằng:

- Lành thay! lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ Tátchúng sanh thời mạt pháp, hỏi Như Lai về những phương tiện như thế. Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.
 Khi ấy Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tátđại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

 - Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, vọng chấp thật có 4 tướng: Ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng, nhận lầm 4 tướng điên đảo là thật thể của mình, do đó liền sanh 2 cảnh yêu ghét, vậy nơi thể hư vọng lại chấp thêm một lớp hư vọng nữa. 2 thứ vọng nương nhau sanh ra vọng nghiệp, vì có vọng nghiệp nên vọng thấy có luân hồi; kẻ nhàm chán luân hồi lại liền thấy có Niết Bàn, do sự chấp thật ngã tướng này nên chẳng thể ngộ nhập được bản giác trong sạch. Chẳng phải bản giác chống cự với những kẻ năng nhập, vì có kẻ năng nhập (ngã tướng) thì chẳng phải bản giác vậy.

 Cho nên, động niệm và dứt niệm đều là mê muội. Tại sao? Vì có bổn khởi vô minh đã làm chủ cho mình từ vô thỉ rất khó đoạn trừ, phải có huệ nhãn mới trừ được. Vì tất cả chúng sanh, sanh ra chẳng có huệ nhãn, hiện tiền các tánh thân tâm đều là vô minh, vô minh chẳng thể tự dứt vô minh, cũng như người có sinh mạng, sinh mạng chẳng thể tự dứt sinh mạng vậy.

 Vậy ngươi nên biết, có người yêu ta tùy thuận với ta thì tâm sanh hoan hỉ, người chẳng tùy thuận thì liền sanh oán ghét. Có tâm yêu ghét để nuôi dưỡng vô minh, làm cho vô minh tương tục mãi, nên cầu đạo chẳng thể thành tựu.

 Thiện nam tử! Thế nào là ngã tướng? Những chúng sanh tu hành, tâm biết có sở chứng đều thuộc về ngã tướng.

 Thiện nam tử! Ví như có người cơ thể điều hòa thư thái, tay chân thư giãn, bỗng quên mất thân ta, vì ăn uống thất thường sanh bệnh hoạn, nhờ thầy thuốc châm cứu thấy đau mới biết có ta còn đây, cho nên người chấp có sở chứng mới hiện ra ngã tướng.

 Thiện nam tử! Nếu tâm liễu tri rốt ráo biết có sở chứng, dù chứng đến thanh tịnh Niết Bàn của Như Lai đều thuộc về ngã tướng.

 Thiện nam tử! Thế nào là nhơn tướng? Như những chúng sanh tâm có sở chứng, cho kẻ năng chứng là ta, nay tiến thêm một bậc, ngộ biết chứng chẳng phải là ta, ngộ này siêu việt tất cả chứng, nhưng còn giữ tâm ngộ tức là nhơn tướng.

 Thiện nam tử! Những tâm biết có năng sở đều thuộc về ngã, tâm dù chỉ còn chút năng ngộ để chứng lý cùng tột của Niết Bàn đều gọi là nhơn tướng.

 Thiện nam tử! Thế nào là chúng sanh tướng? Chỗ này là những chúng sanh có tâm biết năng chứng năng ngộ đều chẳng thể biết.

 Thiện nam tử! Ví như có người nói rằng: “Ta là chúng sanh”, thì biết kẻ nói chúng sanh kia chẳng phải ta cũng chẳng phải ngươi. Sao nói chẳng phải ta? Vì “ta là chúng sanh” thì chẳng phải ta, sao nói chẳng phải ngươi? Vì nói “ta là chúng sanh” thì chẳng phải ngươi cũng chẳng phải ta vậy.

Lược giải:
Nói “ta là chúng sanh” vì chúng sanh là nhiều người nhiều loài. Nay nói “ta” chỉ có một mình ta, như thế thì chúng sanh chẳng phải “ta”; nói ngươi cũng vậy, nghĩa là chỉ có một mình ngươi chẳng phải nhiều chúng sanh, nên nói “ta là chúng sanh” thì chẳng phải “ngươi” cũng chẳng phải “ta” vậy.
 (lược giải hết).
 
 Thiện nam tử! Nếu những chúng sanh có tâm biết năng chứng năng ngộ đều là Ngã tướng, Nhơn tướng. Nay tiến thêm một bậc, liễu tri chỗ này là Ngã tướng, Nhơn tướng chẳng thể đến, nhưng còn có sở liễu tri, biết có năng chứng năng ngộ để lìa, nên gọi là Chúng sanh tướng.

 Thiện nam tử! Thế nào là Thọ mạng tướng? Những chúng sanh tiến thêm một bậc nữa, tâm quán chiếu sáng tỏ chiếu soi tâm liễu tri cũng bất khả đắc, chỉ còn một giác thể trong sạch; giác thể này tất cả nghiệp trí trong luân hồi đều chẳng thể tự thấy được, cũng như con mắt chẳng tự thấy mắt, tất cả tịch diệt. Vì trụ nơi tịch diệt thì mạng căn chưa dứt, nên gọi là Thọ mạng tướng.

 Thiện nam tử! Nếu tâm chiếu soi thấy tất cả người giác tri và cấu bẩn của trần lao. Có năng giác sở giác là chẳng lìa được trần lao. Ví như nước canh làm băng tan, nước canh là năng tan, băng là sở tan; khi băng đã tan thì nước canh và băng đều thành nước, năng tan (nước canh) sở tan (băng) đều diệt, nếu còn có kẻ biết băng tan thì còn cái năng biết, cái biết đó là ngã. Nói “còn Thọ mạng tướng” thì nghĩa cũng như vậy.

 Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp chẳng rõ 4 tướng không thật, dù trải qua nhiều kiếp siêng năng khổ hạnh tu hành, chỉ gọi là pháp hữu vi, rốt cuộc chẳng thể thành tựu tất cả Thánh quả (pháp vô vi), cho nên gọi là “chánh pháp trong đời mạt pháp”. Tại sao? Vì lầm nhận tất cả ngã tướng cho là tướng Niết Bàn; cho có chứng có ngộ mới gọi là thành tựu. Cũng như có người nhận giặc làm con thì tài sản nhà họ chẳng thể thành tựu. Tại sao? Như có người luyến ái ngã, cũng luyến ái Niết Bàn, đè nén gốc luyến ái ngã trở thành tướng Niết Bàn; có người chán ngã, cũng chán sanh tử, chẳng biết gốc luyến ái ấy mới thật là chơn sanh tử vậy. Nay có tâm nhàm chán sanh tử, nên gọi là chẳng giải thoát.

 Tại sao biết được pháp ấy chẳng giải thoát?

 Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp tu tập Bồ đề, cho sự chứng của mình tự trong sạch, chứng được chút ít cho là đủ, chưa dứt sạch cội gốc của ngã tướng nên chẳng giải thoát. Nếu có người tán thán pháp mình thì liền sanh tâm hoan hỉ, muốn cứu độ họ; nếu phỉ báng pháp sở đắùc của mình thì liền sanh tâm sân hận. Vậy thì biết cái tâm chấp ngã tướng rất kiên cố, tiềm ẩn trong tạng thức, gặp ngoại cảnh kích thích thì phát khởi hiện hành nơi các căn, mãi chẳng gián đoạn.

 Thiện nam tử! Người tu hành vì chẳng dứt sạch ngã tướng nên chẳng thể ngộ nhập bản giác trong sạch.

 Thiện nam tử! Nếu biết ngã tướng vốn không, thì chẳng có cái bản ngã để cho họ tán thánphỉ báng; nay thấy “có ta thuyết pháp” thì ngã tướng chưa dứt, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ mạng tướng đều cũng như thế.

 Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp vì chưa dứt ngã tướng, cho sự thuyết pháp là “do ta thuyết”, nên pháp của họ thuyết là cái bệnh của ngã tướng, chẳng phải thuyết cái pháp của Niết Bàn vậy, cho nên gọi là kẻ đáng thương xót! Dù siêng năng tinh tấn, chỉ tăng thêm các pháp bệnh, nên chẳng thể ngộ nhập bản giác trong sạch.

 Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp vì chẳng thấu rõ 4 tướng kể trên, chấp chỗ hành và kiến giải của Như Lai cho là kiến giải của mình, vì chẳng phải do tự mình tu chứng, nên rốt cuộc chẳng thể thành tựu. Hoặc có chúng sanh chưa đắc nói đắc, chưa chứng nói chứng, thấy người hơn ta thì sanh ganh tỵ, ấy là do chúng sanh chưa dứt ngã kiến, nên chẳng thể ngộ nhập bản giác trong sạch.

 Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp muốn tu thành đạo, chớ nên sanh tâm cầu ngộ; người sanh tâm cầu ngộ thì muốn học rộng nghe nhiều để hiểu thêm giáo lý, vậy chỉ thêm đa văn tăng trưởng ngã kiến, chẳng phải người chơn tu.
 
Người chơn tu chỉ nên tinh tấn hàng phục phiền não, khởi tâm đại dũng mãnh: Niết Bàn chưa đắc khiến cho đắc, phiền não chưa dứt khiến cho dứt. Những tâm tham, sân, si, mạn, siểm khúc, ganh tỵ đối cảnh chẳng sanh, ân ái giữa mình và người tất cả đều tịch diệt, Phật nói người ấy sẽ dần dần thành tựu Thánh quả. Nương theo nhân địa này tu hành để cầu thiện trí thức thì chẳng đọa tà kiến, nếu có sở cầu khác với nhân địa phát tâm kể trên, lại sanh lòng yêu ghét thì chẳng thể ngộ nhập biển giác trong sạch.

Lúc ấy Thế Tôn muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:
 Tịnh Nghiệp Chướng nên biết,
 Tất cả những chúng sanh,
 Đều do chấp ngã tướng,
 Luân hồi từ vô thỉ.
 Chưa dứt sạch bốn tướng,
 Chẳng được thành Bồ Đề.
 Yêu ghét sanh nơi tâm,
 Siểm khúc giữ trong niệm.
 Cho nên bị mê muội,
 Chẳng thể vào giác thành.
 Nếu muốn về cõi Phật,
 Phải bỏ tham sân si,
 Tâm chẳng luyến ái pháp
(pháp Niết Bàn),
 Dần dần được thành tựu.
 Thân ta vốn chẳng có,
 Yêu ghét do đâu sanh?
 Cầu thầy bạn chánh tu,
 Thì chẳng đọa tà kiến.
 Nếu tâm cầu pháp khác,
 Rốt cuộc chẳng thành tựu.

 “Ta đã chứng Niết Bàn” thì Thiền tông gọi là mạng căn chưa dứt, cũng còn ngã tướng. Trong kinh Viên Giác diễn tả: “Ngã, Nhân, chúng sanh, thọ mạng”, còn kinh Kim Cang nói: “Ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả”. Vì nhận lầm 4 tướng này, nên tu hành không dứt được ngã kiến.

Hỏi:
 Ngài Hương nghiêm nói với một vị Tăng rằng: “Có người ngậm một cành cây, dưới cây có một hố sâu, có một người đi ngang qua hỏi: Thế nào là Phật? Người ấy trả lời liền mất mạng. Nếu không trả lời thì phụ câu hỏi của người kia. Ngưỡng mong Hòa thượng khai thị cho chúng con rõ?

Đáp:
 Ông Newton thấy trái bôm ở trên cây rơi xuống đất, ông phát nghi tại sao trái bôm không rơi lên trời, mà lại rơi xuống đất? Từ đó ông mới dùng bộ não đi nghiên cứu tìm hiểu, cuối cùng ông ngộ được hấp dẫn lực của quả đất, rồi đến ngộ hấp dẫn lực vạn hữu.

 Pháp thiền của Phật cũng từ nghi đến ngộ, nhưng không phải tìm hiểu; tìm hiểu không thể ngộ được, vì tìm hiểu là sản phẩm của bộ não, bộ não là che lấp chơn tâm, nên Phật dạy phương pháp dẹp nó.

 Nếu tiếp tục tìm hiểu thì giống như mây đen nhiều thêm che lấp ánh sáng mặt trời không hiện ra được. Cho nên công án là để cho mình ngộ, chứ không cho mình tìm hiểu; còn những người không ngộ tất nhiên là không hiểu, nhưng giữ cái không hiểu đó (nghi tình), sau này sẽ được ngộ.

Hỏi:
 Lúc tham thiền bị hôn trầm thì phải làm sao? Và tán loạn thì phải như thế nào?

Đáp:
 Nếu hôn trầm thì phải mở mắt to ra, mở mắt to mà còn hôn trầm thì lấy nước lạnh rửa mặt, rửa mặt bằng nước lạnh mà còn hôn trầm thì phải đứng dậy đi kinh hành hay kiếm công việc làm, cũng phải tiếp tục thiền nữa. Nếu có tán loạn thì phải nhắm mắt lại.

Hỏi:
 Thiền sư Duy Tính nói: “Lão Tăng 30 năm trước, khi chưa có vào đạo, thấy núi là núi, thấy nước là nước; sau này được Thiện tri thức dẫn cho lối vào thì thấy núi không phải núi, thấy nước không phải nước. Rồi sau này ngộ nhập thiền rồi, thấy núi là núi, thấy nước là nước”. Vậy cái đầu tiên thấy núi là núi, thấy nước là nước và cái sau cùng thấy núi là núi, thấy nước là nuớc, khác nhau chỗ nào?

Đáp:
 Đó là nghĩa ba câu của kinh Kim Cang, tôi có dịch kinh Kim Cang, trong đó giải thích rất kỹ càng. Nhưng bây giờ có câu hỏi rồi thì tôi giải thích.

 Kinh Kim Cang từ đầu đến cuối đều là nghĩa ba câu. Như Phật nói: “chúng sanh, tức phi chúng sanh, thị danh chúng sanh. Thế giới, tức phi thế giới, thị danh thế giới. Đệ nhất ba la mật, tức phi đệ nhất ba la mật, thị danh đệ nhất ba la mật”, đều là nghĩa ba câu.

 Vừa rồi thầy hỏi, ban đầu thấy núi sông thì chấp thật có núi sông, khi tu đến giai đoạn thấy núi sông không phải thật tức là phi (chẳng phải) núi sông; sau cùng đã ngộ rồi thấy núi sông vẫn là núi sông.

 Câu thứ nhất “núi sông” là giả danh, câu thứ nhì “phi núi sông” cũng giả danh, câu thứ ba “thị danh núi sông” cũng giả danh. Tức là chẳng trụ nơi câu thứ nhất, chẳng trụ nơi câu thứ nhì và chẳng trụ nơi câu thứ ba. Ấy là nghĩa “vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” của kinh Kim Cang

Khai thị Thiền thất ngày 15-5 =>21-5-1999 tại chùa Hưng Phước.

Hỏi:
 Con tham Tổ Sư thiền khoảng 2 tháng, khi tham một tháng bắt đầu quen; con ăn rồi tắm, chừng nửa giờ sau, không biết mình ăn và đã tắm xong; lúc ấy con đi chợ mua đồ, đưa tiền cho người bán, người bán thối tiền, con cũng không nhớ; hiện tại con dọn dẹp đồ đạc trong nhà không biết cất ở đâu, sự sinh hoạt của con hằng ngày có phần xáo trộn. Vậy cái quên của con có tương ưng với công phu không?

Đáp:
 Nếu tham Tổ Sư thiền, hỏi và nhìn mà quên như vậy là hiện tượng tốt, không có ảnh hưởng đến sự sống; nếu sự tu tiến bộ như cảnh giới này thì dùng tiền đâu có thể mua được!

 Tham thiền quên mọi cảnh xung quanh là tốt, nếu là bệnh tâm thần mà quên thì không được. Như Truyền Nam mua bán không để ý đến tiền, người ta trả bao nhiêu thì lấy, mỗi ngày bán bao nhiêu lời lỗ không cần biết! Nhưng thật sự công phu đến mức này mới được.

Hỏi:
 Tham thiền đang đi ở ngoài đường, đến mức độ quên không biết về nhà. Có trường hợp này không?

Đáp:
 Có chứ, nhưng không hại gì hết, cũng có người như vậy, như Trương quốc Anh tham thiền trong lúc đi về nhà mà không biết vô nhà.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 11752)
Các chuyên gia đã từng nói cơ năng não bộ của con người so với máy vi tính phức tạp nhất trên thế giới lại càng phức tạp hơn.
(View: 3510)
Phật Đà Thập Đại Đệ Tử Tán - Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, Nguyễn Minh Tiến Việt dịch
(View: 6570)
Các tác phẩm của Thầy phần lớn được dịch từ Hán tạng, gồm giới kinh và các nguồn văn học Phật giáo Đại thừa với tư tưởng uyên thâm về triết họctâm lý học.
(View: 26903)
Đã phát khởi chí nguyện Đại thừa, lại kiên quyết thực hiện chí nguyện ấy, đó thực sự là cung cách hùng dũng của con sư tử đang vươn mình, và do đó phải được nhìn đến bằng cung cách của con voi chúa.
(View: 27428)
Vua và phu nhân gởi thơ cho Thắng Man, đại lược ca ngợi công đức vô lượng của Như Lai, rồi sai kẻ nội thị tên Chiên Đề La đem thư đến nước A Du Xà... HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 5684)
Tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân.
(View: 8535)
Bảy Đức Thế Tôn quá khứ từ Thế Tôn Tỳ Bà Thi, Thế Tôn Thích Ca, và chư Thế Tôn vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ sự chứng ngộ sự thật Duyên khởi.
(View: 9406)
Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali.
(View: 8219)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau:
(View: 6522)
Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama
(View: 21266)
Quy Sơn Cảnh Sách Học Giải - Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thích Thiện Trí (Thánh Tri) Phỏng Việt Dịch và Viết Bài Học Giải
(View: 6610)
Kinh này khởi đầu bằng lời người Bà La Môn hỏi rằng làm thế nào người ta có thể tự thanh tịnh hóa khi nhìn thấy một vị Thượng nhân đã Thanh tịnh,
(View: 47230)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. - Chú giải: Ngài Quán Nguyệt; Dịch giả: HT Thích Khánh Anh
(View: 7359)
Tôi nghe như vậy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại thành phố Śrāvastī (Xá-vệ), nơi rừng cây Jeta (Kì-đà), vườn của Ông Anāthapiṇḍada (Cấp-cô-độc),
(View: 7434)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng ...
(View: 7365)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(View: 7510)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(View: 9422)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(View: 11260)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(View: 18085)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 7022)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(View: 4765)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(View: 7591)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(View: 8425)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(View: 9376)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(View: 12597)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(View: 13094)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(View: 10320)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(View: 8996)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(View: 8224)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(View: 10895)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(View: 11638)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(View: 6835)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(View: 9224)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(View: 8597)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(View: 12397)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(View: 10787)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(View: 12706)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(View: 9898)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(View: 8959)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(View: 8316)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(View: 12895)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(View: 8603)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(View: 10980)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(View: 8717)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(View: 9397)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(View: 11248)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(View: 9367)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(View: 9519)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(View: 11132)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(View: 15961)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(View: 9919)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(View: 8508)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(View: 16405)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(View: 10425)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(View: 15708)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(View: 13425)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 10089)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(View: 28392)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(View: 9335)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
Quảng Cáo Bảo Trợ