Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

13. Nghiệp và Nghiệp Quả

Wednesday, February 23, 201100:00(View: 8760)
13. Nghiệp và Nghiệp Quả

PHÁ MÊ KHAI NGỘ
 Lê Sỹ Minh Tùng

13. Nghiệp và Nghiệp Quả

Đã là con người ở trong thế gian này, ai ai cũng phải trải qua những thành bại thịnh suy, nhục vinh vui khổ. Có người thì nghĩ rằng cuộc đời của chúng ta chẳng qua là sự an bài của số mạng hay thiên mạng. Họ tin rằng con người sinh ra mọi việc đều do số định sẵn, hoặc ông trời đã sắp đặt cho. Bởi thế trong nho giáo có câu:

“Nhơn nguyện như thử, thiên lý vị nhiên”

Tạm dịch : Người mong như thế, lẽ trời chưa vậy.

Hoặc là: “Thiên võng khơi khơi, sơ nhi bất lậu”, có nghĩa là: lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt.

 Câu này khẳng định là một khi số trời đã định thì không ai thoát ra khỏi được.

 Nhưng nếu quả thật có một ông trời mà có quyền quyết định mọi hành động và số mạng của chúng ta, thì đời sống của chúng ta thử hỏi có còn thú vị gì chăng? Khi ông trời muốn ta vui, thì ta được vui. Còn nếu ông trời muốn ta khổ, thì ta phải khổ. Nói một cách khác thì mọi sự khổ vui của con người do số định sẵn, thì con người phải chấp nhận số phận của mình, gặp hoàn cảnh nào cam chịu hoàn cảnh đó. Nếu gặp phải cảnh quá khắc nghiệt, thì họ đâm ra than trời trách đất, cho rằng trời đất đã chơi xấu họ và làm cuộc đời họ thêm điêu tàn.
 
 

Giáo lý của Đức Phật thì ngược lại. Con ngườiThượng đế của chính mình chớ không ai khác, bởi vì chỉ có mình mới có thể thay đổi vận mệnh cho mình bằng cách cải biến những nghiệp căn. Do đó hạnh phúc hay đau khổ là do chính chúng ta tự tạo lấy cho mình. Hễ mình tạo nghiệp nhân gì, thì mình phải chịu quả nghiệp ấy chứ không ai có thể cầm cân thưởng phạt, ban phước hoặc giáng họa cho mình cả.

 Chúng ta biết giáo lý của Đức Phật thì cao thâm còn kinh điển thì thiên kinh vạn quyển, nhưng nếu chúng ta ngẩm nghĩ lại thì tựu trung toàn bộ giáo pháp đã đăt trọng tâm vào một chữ "nghiệp" mà thôi. Bởi vì nếu không có nghiệp thì không có luân hồi, không còn sanh tử, không có tái sanh, không còn đau khổ, và sẽ không còn chúng sinh, không còn Bồ tát nữa. Thế giới này sẽ không còn gọi là trần gian, mà sẽ đổi lại thành thế giới Cực lạc.

 Vậy nghiệp nghĩa là gì?

 Nghiệp có nghĩa là do những tư tưởng, lời nói và hành động cố ý mà tạo thành. Có ba loại nghiệp là: thiện nghiệp, ác nghiệpvô ký nghiệp (không lành mà cũng chẳng dữ). Chẳng hạn như có một con muỗi đậu trên cánh tay của chúng ta, nếu chúng ta đưa tay đập chết nó thì đó là hành động cố ý sát sanh, thì dĩ nhiên là sẽ mang nghiệp quả. Nhưng khi nằm xuống, chúng ta không biết nên đè chết con muỗi, đây là việc làm không tác ý, như vậy hành động này không có nghiệp quả trong tương lai. Đôi khi chúng ta thấy có người cần sự giúp đở hay người xin tiền trên hè phố thì phản ứng tự nhiên là thò tay móc túi cho nhưng trong lòng không có ý niệm từ bi hay thương xót. Hành động nầy tiếp tục mãi thì một ngày nào đó chúng ta tuy vô tình mua tâm vé số mà vẫn được trúng (vô ký).

 Có người thắc mắc là tại sao trong xã hội có người yểu tử, có kẻ lại sống lâu, có người bịnh hoạn, kẻ khác thì mạnh khỏe, kẻ xinh đẹp, người xấu xí, kẻ giàu sang, người nghèo khổ. Nguyên nhân nào có sự bất bình đẳng như thế giữa con người với con người?

 Đức Phật trả lời rằng:

“Chúng sanh thọ lãnh báo ứng của Nghiệp mà họ đã tạo tác và chính vì nghiệp báo nầy mà có sự bất bình đẳng giữa tất cả chúng sinh”.

 Thật vậy, Nghiệp là do chúng ta gây ra từ đời trước. Nếu đời trước hành động thiện thì đời này ta sinh ra gặp hoàn cảnh tốt, mọi việc đều như ý. Nếu đời trước hành động ác thì đời này sinh ra trong hoàn cảnh xấu xa, không vừa ý. Thế là hiện nay chúng ta sinh ra trong hoàn cảnh tốt hay xấu đều do hành động tốt xấu của chúng ta từ kiếp trước chuyển đến mà thôi. Trong kinh Nhơn Quả có nói:” Muốn biết nhân đời trước, chỉ cần xem quả hiện tại ta đang lãnh; và nếu muốn biết quả đời sau, chỉ cần xem nhân mà ta tạo trong đời này”.

 Vậy Nghiệp từ đâu mà có?

 Phàm là con người thì chúng ta dễ dàng bị Vô minh, vọng tưởng làm mê muội, mà Tham, Sân, Si là tác động chính. Thật vậy, chính tham, sân, si là ba con rắn độc đã sát hại không biết bao người trong đời nầy. Chẳng những chúng hại người trong đời này, mà còn gây tai ương cho không biết bao kiếp nữa. Còn tham sân sicon người còn đau khổ. Trong ba con rắn độc nầy, thì con rắn Si mêđộc hại hơn cả, bởi si mê nên ta cứ tưởng cảnh giả dối là chơn thật quý báu, và vì thấy những ảo tưởng như thế, nên lòng tham nổi lên để tìm mọi cách chiếm đoạt. Nếu không đoạt được thì tâm sân sẽ nỗi dậy làm cho chúng ta cuồng điên. Thế là từ si khởi tham, từ tham sanh sân, để tạo nghiệp gây khổ cho mình và cho người. Muốn phá tan cây tam độc này, thì chúng ta phải dùng cuốc xẻn để đào tung cái gốc si mê lên. Một khi gốc si mê đã tróc thì thân tham và cành lá sân cũng đổ ngã theo và do đó cây tam độc từ đây sẽ khô khan và bị tiêu hủy.

 Nhưng tham sân si đã phát hiện bằng cách nào? Xin thưa, chúng phát khởi từ thân, khẩu và ý của chúng ta.

Ø Thân: là những việc làm mà thân phát sinh là: sát sanh, trộm cắp, và dâm dục. Nếu chúng ta phạm những điều này thì gọi là ác nghiệp, mà nếu chúng ta quyết chí tránh xa nó thì gọi là thiện nghiệp.

Ø Khẩu: là miệng của chúng ta tạo ra lắm điều phiền toái chẳng hạn như: nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, và nói lời hung ác. Nếu phạm những điều trên, thì chúng ta đã tạo ra ác nghiệp. Còn nếu tu chỉnh, ăn ngay nói thật, thì chúng ta sẽ tạo ra thiện nghiệp.

Ø Ý: là tư tưởng mà dễ dàng phát sinh ra tam độc: tham lam, giận hờn, si mê. Nếu ta theo nó thì ác nghiệp phát sinh, còn tránh xa nó thì thiện nghiệp sẽ được vun bồi.

 Vậy thân, khẩu, ý đã tạo ra 10 cái nghiệp mà thường được gọi là thập ác nghiệp. Đó là sát sanh, trộm cắp, dâm duc, nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác, tham, sân , si. Nếu chúng ta phạm những điều này thì chính mình đã tạo ra thập ác nghiệpdĩ nhiên đường dữ sẳn sàng chờ đón chúng ta. Còn nếu chúng ta tránh xa 10 con quái vật này thì đường hậu vận của mình sẽ huy hoàng sáng lạng, cõi cực lạc sẽ chờ đón chúng ta.

 Thế thì cuộc sống hiện tại chúng ta thấy có những nghiệp gì?

Sanh nghiệp: là nghiệp chi phối sự tái sanh. Thần thức tái sanh và sắc ngũ uẩn đầu tiên sẽ tùy thuộc vào sanh nghiệp này.

o Trí nghiệp: là nghiệp lực duy trì sự sinh tồn của chúng ta từ khi mới sanh cho đến khi chết. Sự sung sướng hay khổ đau trong kiếp sống của chúng tatùy thuộc vào trí nghiệp này.

Chướng nghiệp: là nghiệp làm trở ngại sanh nghiệp khiến cho đời sống đang bình thường bổng gặp khó khăn.

o Đoản nghiệp: là nghiệp lực cắt đứt sanh nghiệp, đây là trường hợp những người chết bất đắc kỳ tử. Khi đoản nghiệp của một người phát sinh quá mạnh, thì kiếp sống của họ bị đứt đoạn nữa chừng.

Đã nói về nghiệp, thì phải có nghiệp báo.

Vậy có nhửng nghiệp báo nào?

Cực trọng nghiệp: đây là một nghiệp lực rất mạnh và nếu là nghiệp ác thì sẽ luân hồi vào địa ngục ngay. Đó là những tội giết cha, giết mẹ, giết thầy…

Cận tử nghiệp: là nghiệp tạo ra lúc lâm chung. Nghiệp này có thể do hành động, lời nói, hay chỉ nhớ lại những nghiệp đã làm lúc sanh tiền. Một người có thể suốt đời làm việc thiện nhưng khi chết lại nhớ một điều ác gì đó rồi sanh vào cảnh khổ. Trái lại một người luôn luôn làm chuyện ác, nhưng lúc lâm chung giữ được tâm niệm lành thì vẫn được sanh vào nhân cảnh. Tuy nhiên, những việc làm thiện hay ác trước kia vẫn còn tích trữ cho đến khi hội đủ nhân duyên thì sẽ phát khởi.

v Tập quán nghiệp: là nghiệp thường được tạo tác trong suốt kiếp sống của ta và nó đã trở thành tập quán. Chúng ta tụng kinh, niệm Phật hằng ngày là phát huy trong ta một thói quen tốt. Thói quen này trở thành tập quán thiện và sẽ mang lại kết quả viên mãn.

Tích lũy nghiệp: là những nghiệp lực còn duy trì chưa phát hiện vì chưa đủ nhân duyên.

Nếu đã có nghiệp báo thì nghiệp báo xảy ra như thế nào?

 Luật nghiệp báo còn được gọi là luật nhân quả của hành động thiện hay bất thiện. Vì thế có nghiệp thì xảy ra nhanh, có nghiệp phải đợi đến kiếp sau mới thấy ứng nghiệm. Chúng ta có:

1) Hiện báo nghiệp: là những nghiệp gây hậu quả trong kiếp hiện tại. Thí dụ kẻ giết người thì phải đền tội tử.

2) Sanh bảo nghiệp: là những nghiệp đem lại hậu quả cho kiếp sau. Nếu hiện tại mình tu tâm bố thí, tạo dựng phước đức, thì kiếp sau được hưởng giàu sang.

3) Hậu báo nghiệp: nếu nghiệp chưa được trả xong kiếp hiện tại hay kiếp kế tiếp, thì sẽ được phát khởi trong bất cứ một kiếp nào về sau khi hội đủ nhân duyên.

4) Vô hiệu nghiệp: là những nghiệp đáng lý có kết quả trong hiện kiếp hoặc kiếp sau, nhưng không đủ yếu tố để phát sinh nên trở thành vô hiệu quả.

Tóm lại, sự khổ hay vui đều do nghiệp mà chúng ta đã tạo ra, cho nên dù gặp hoàn cảnh nào, chúng ta cũng can đảm nhận chịu, không than thở oán trách ai. Tuy nhiên, nghiệp thì biến chuyển, khi xưa ta hành động ngu tối, thiếu sáng suốt nên chiêu cảm quả khổ. Nay chúng ta đổi hành động theo tâm hồn trong sáng thì quả khổ cũng giảm theo. Hành động luôn luôn thay đổi, nghiệp cũng theo đó mà đổi thay. Nghiệp không phải cố định cứng ngắc, mà biến chuyển linh động tùy theo tâm tư và hành động của con người. Vì thế trong hiện tại chúng ta cảm thọ cảnh vui hay khổ đều là do nghiệp lành hay dữ trước kia tạo nên. Nếu hiện nay chúng ta chuyển tâm niệm hành động thì sự cảm thọ cũng theo đó mà chuyển.

Nghiệp do mình tạo ra thì chính mình có quyền thay đổi từ nghiệp xấu thành nghiệp tốt. Chẳng hạn như trước kia chúng ta làm nghề trộm cướp, sau này hối cải đổi thành nghề lương thiện. Nghề nghiệp đổi thay tùy theo tâm tỉnh giác của mình, đổi sang nghề nghiệp mới thì nghề nghiệp cũ từ từ phai nhạt. Vì thế nghiệp nói là sửa đổi, cố gắng tích cực chớ không cam chịu đầu hàng. Nghiệp thì có thể chuyển được, nhưng đòi hỏi chúng ta phải giàu ý chí và đủ nghị lực. Vì thế nghiệp là quyền năng trong tay mình định đoạt. Cuộc sống đời nay và đời sau đều do mình an bày lấy. 
 
 

Muốn an vui thì do mình, mà muốn đau khổ thì cũng do mình. Ta là chủ của mọi cuộc sống nếu ta còn muốn tiếp tục. Không ai có thể thay đổi hoặc sắp đặt cuộc khổ vui, chỉ có ta mới là người ban vui cứu khổ cho ta. Ta phải dùng trí tuệ để chọn cho ta một cuộc sống đẹp đẽ vui tươi trong hiện tạimai sau. Nếu có khổ đau đến với chúng ta, ta hãy cười vì đây là kết quả của những hành vi vụng dại ngày trước của mình mà thôi. Chúng ta hãy trả và chuyển những cái gì không hay của quá khứ, đồng thời xây dựng những điều an vui hạnh phúc cho tương lai. Nên nhớ rằng nghiệp tức là sinh tử luân hồi. Ngày nào còn tạo nghiệp thì ngày ấy chúng ta còn phiền não khổ đau. 
 
 

Phải biết tư duy quán chiếu để thấy rằng thế gian vủ trụ là tạm bợ, chỉ là những duyên khởi, không bền không chắc, nay có mai không. Con người chúng ta có được ngày nay chẳng qua là kết quả của tất cả những nghiệp quảchúng ta đã tạo tác trong những kiếp quá khứ cộng với những nhân duyên vì thế muốn có cuộc sống vui tươi hạnh phúc, thân thểhình dáng tốt đẹp thì đời nầy nên tạo nhiều thiện nghiệp. Chúng ta phải luôn luôn lấy thập thiện nghiệp làm căn bản cho cuộc sống bởi vì chính mười nghiệp lành này có công năng ngăn ngừa những hành vi độc ác, làm cho thân, khẩu, ý được thanh tịnh. Nhờ đó chúng ta mới có hy vọng thoát ly cảnh sanh tử và chứng được Niết Bàn
 
 

Nên nhớ rằng tuy Thân-Khẩu-Ý tạo ra nghiệp để dẫn dắt con người quây cuồng trong sinh tử luân hồi. Nhưng quý vị có biết nguồn gốc tại sao sinh khởi ra tham-sân-si không? Bởi vì chúng ta nghĩ rằng tấm thân tứ đại của mình là thật. Vì tin chắc nó là thật nên con người mới tìm cách bảo vệ, cung phụng và cố tạo những sở hữu chung quanh như nhà cao, cửa rộng, tiền tài, danh vọng, ăn sang mặc sướng, vợ đẹp, con xinh…Lo lắng bảo vệ cho mình cũng chưa đủ mà con người còn cố gắng tạo tác thêm cho bà con dòng họ…
 
 

Vì thế mà họ bất chấp mọi việc thiện ác trong đời miễn sao có lợi thì làm. Lợi dĩ nhiên là có nhưng nghiệp cũng vì thế mà tăng theo. Có thêm một chút thì tạo thêm một chút nghiệp. Mà có nghiệp là còn sinh tử luân hồi. Nhưng khi xuôi tay nhắm mắt thì có ai đem theo tiền tài, danh vọng, vợ đẹp, con xinh…theo mình được đâu? Ngay cả tấm thân mà ngày xưa họ tin chắc là thật của họ thì cũng phải bỏ lại cho trời đất. Nếu thân nầy là thật, là bền vững muôn đời thì tại sao chúng ta không đem theo khi chết? 
 
 

Ngay cả ông Bành Tổ là người tuy sống lâu nhất trong thế gian mà còn phải chết thì con người có ai sống đời đâu? Nếu thân xác là của thế gian thì nó đâu phải là của ta. Chúng ta chỉ mượn đở để dùng trong đời nầy và trả lại cho trời đất khi ra đi. Khi ra đi thì thân xác, thân bằng quyến thuộc, tiền tài, danh vọng… đều phải bỏ lại hết cho thế gian. Còn cái chắc chắn con người sẽ mang theo là cái nghiệp mà họ đã tạo tác trong lúc sinh tiền để tạo cho tất cả những cái mà họ phải bỏ lại. Vì thế con người nên thức tỉnhtu tâm dưỡng tánh để không gây ra nghiệp và tìm những sự an lạc trong tâm thứcvật chất không bao giờ có thể đem đến được. Đây là những hành trang chứa toàn phước đức và công đứccon người có thể mang theo họ vào cõi an lành.


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 35254)
Các chuyên gia đã từng nói cơ năng não bộ của con người so với máy vi tính phức tạp nhất trên thế giới lại càng phức tạp hơn.
(View: 6994)
Phật Đà Thập Đại Đệ Tử Tán - Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, Nguyễn Minh Tiến Việt dịch
(View: 12018)
Các tác phẩm của Thầy phần lớn được dịch từ Hán tạng, gồm giới kinh và các nguồn văn học Phật giáo Đại thừa với tư tưởng uyên thâm về triết họctâm lý học.
(View: 30817)
Đã phát khởi chí nguyện Đại thừa, lại kiên quyết thực hiện chí nguyện ấy, đó thực sự là cung cách hùng dũng của con sư tử đang vươn mình, và do đó phải được nhìn đến bằng cung cách của con voi chúa.
(View: 30847)
Vua và phu nhân gởi thơ cho Thắng Man, đại lược ca ngợi công đức vô lượng của Như Lai, rồi sai kẻ nội thị tên Chiên Đề La đem thư đến nước A Du Xà... HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 8329)
Tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân.
(View: 12769)
Bảy Đức Thế Tôn quá khứ từ Thế Tôn Tỳ Bà Thi, Thế Tôn Thích Ca, và chư Thế Tôn vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ sự chứng ngộ sự thật Duyên khởi.
(View: 12614)
Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali.
(View: 11998)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau:
(View: 13734)
Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama
(View: 36200)
Quy Sơn Cảnh Sách Học Giải - Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thích Thiện Trí (Thánh Tri) Phỏng Việt Dịch và Viết Bài Học Giải
(View: 10215)
Kinh này khởi đầu bằng lời người Bà La Môn hỏi rằng làm thế nào người ta có thể tự thanh tịnh hóa khi nhìn thấy một vị Thượng nhân đã Thanh tịnh,
(View: 52911)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. - Chú giải: Ngài Quán Nguyệt; Dịch giả: HT Thích Khánh Anh
(View: 11215)
Tôi nghe như vậy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại thành phố Śrāvastī (Xá-vệ), nơi rừng cây Jeta (Kì-đà), vườn của Ông Anāthapiṇḍada (Cấp-cô-độc),
(View: 10893)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng ...
(View: 11104)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(View: 10911)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(View: 13521)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(View: 16834)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(View: 22530)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 9938)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(View: 7447)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(View: 10760)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(View: 13471)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(View: 13276)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(View: 16724)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(View: 16955)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(View: 14220)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(View: 17170)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(View: 12603)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(View: 14308)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(View: 14700)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(View: 9591)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(View: 12124)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(View: 11709)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(View: 16948)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(View: 14781)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(View: 16588)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(View: 13027)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(View: 12497)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(View: 12161)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(View: 16081)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(View: 11932)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(View: 14408)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(View: 12445)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(View: 13182)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(View: 15430)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(View: 12294)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(View: 13520)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(View: 14963)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(View: 21444)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(View: 13635)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(View: 11303)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(View: 21166)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(View: 14757)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(View: 21098)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(View: 18225)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 14481)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(View: 32274)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(View: 12387)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant