Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất

Trang 2

11 Tháng Ba 201100:00(Xem: 18203)
Trang 2

KINH HOA NGHIÊM 
Hán Dịch: Ðại-Sư Thật-Xoa-Nan-Ðà - Việt Dịch: HT Thích Trí Tịnh
Phật Học Viện quốc Tế Xuất Bản PL 2527 - 1983

PHẨM HIỀN THỦ
THỨ MƯỜI HAI

Nhà là chốn tham ái, ràng buộc

Muốn khiến chúng-sanh, đều khỏi lìa

Nên hiện xuất-gia được giải-thoát

Với các dục lạc không ưa thích.

Bồ-Tát hiện làm mười công-hạnh

Cũng làm tất cả pháp đại-nhơn

Làm hạnh chư Tiên đều không sót

Vì muốn chúng-sanh được lợi ích.

Nếu có chúng-sanh thọ vô-lượng

Phiền-não vi-tế thích đầy đủ

Trong đó Bồ-Tát được tự-tại

Hiện thọ các khổ : già, bịnh, chết.

Hoặc kẻ tham-dục, sân, ngu-si

Lửa mạnh phiền-não luôn hừng cháy

Bồ-Tát thị-hiện già, bịnh, chết

Khiến chúng-sanh đó đều điều-phục.

Như-Lai thập-lực, vô-sở-úy

Cùng với mười tám pháp bất-cộng

Tất cả vô-lượng các công-đức

Ðều đem thị-hiện độ chúng-sanh.

Thọ-ký, giáo-hóa và thần-túc

Ðều là sức tự-tại của Phật

Chư Ðại-Sĩ kia đều thị-hiện

Hay khiến chúng-sanh đều điều-phục.

Bồ-Tát đem các môn phương-tiện

Tùy thuận thế-pháp độ chúng-sanh

Ví như liên-hoa chẳng dính nước

Tại thế như vậy, khiến người tin.

Là vua văn tài, học uyên-bác

Ca vũ, luận bàn, người đều thích

Tất cả kỹ-thuật trong thế-gian

Như nhà ảo-thuật đều hiện đủ.

Hoặc làm trưởng-giả, chủ trong ấp

Hoặc làm thương mãi, người buôn bán

Hoặc làm quốc-vương cùng quan lớn

Hoặc làm lương-y, nhà hùng-biện.

Hoặc làm cây to giữa cánh đồng

Hoặc làm thuốc hay, những kho báu

Hoặc làm bửu-châu như-ý-vương

Hoặc đem chánh-đạo dạy chúng-sanh.

Nếu thấy thế-giới mới thành lập

Chúng-sanh chưa có vật cần dùng

Bấy giờ Bồ-Tát làm công-thợ

Vì họ bầy ra các nghề nghiệp.

Chẳng làm vật bức-não chúng-sanh

Chỉ nói chuyện thế-gian lợi-ích

Các luận : chú-thuật, dược-thảo thảy

Tất cả như vậy đều nói rành.

Thắng-hạnh của tất cả tiên-nhơn

Trời người, mọi loài đều tín-ngưỡng

Những pháp khổ-hạnh khó làm đó

Bồ-Tát tùy-nghi đều làm được.

Hoặc làm ngoại-đạo người xuất-gia

Hoặc ở núi rừng tự cần khổ

Hoặc để mình trần, không y-phục

Mà làm sư-trưởng của chúng kia.

Hoặc hiện những hạnh tà-mạng thảy

Tập làm phi-pháp cho là thắng

Hoặc hiện oai-nghi, làm phạm-chí

Ở trong chúng kia làm thượng-thủ.

Hoặc chịu ngũ-nhiệt, phơi dưới nắng

Hoặc giữ giới bò, chó và nai

Hoặc mặc áo rách, phụng-thờ lửa

Vì độ chúng kia, làm sư-trưởng.

Hoặc hiện yết-kiến các thiên-miếu

Hoặc lại hiện vào nước sông Hằng

Ăn củ, trái thảy, đều hiện làm

Nơi đó thường suy pháp tối-thắng.

Hoặc hiện ngồi xổm, hoặc co chơn

Hoặc nằm cỏ gai, hoặc trên tro

Hoặc nằm trên chày, cầu xuất-ly

Mà ở chúng kia làm sư-thủ.

Như vậy các phái, các ngoại đạo

Quan-sát ý-giải cùng đồng-sự

Hiện làm : khổ-hạnh đời chẳng kham

Khiến họ xem thấy đều điều-phục.

Chúng-sanh mê-lầm bẩm tà-giáo

Trụ nơi ác-kiến, thọ những khổ

Vì họ, phương-tiện, nói diệu-pháp

Ðều khiến được hiểu lý chơn-thật.

Hoặc theo chú-ngữ nói tứ-đế

Hoặc giỏi mật-ngữ nói tứ-đế

Hoặc dùng tiếng người nói tứ-đế

Hoặc Trời mật-ngữ nói tứ-đế.

Phân-biệt văn-tự, nói tứ-đế

Quyết-định nghĩa-lý, nói tứ-đế

Khéo phá nơi người, nói tứ-đế

Chẳng bị dao-động, nói tứ-đế,

Hoặc tiếng bát-bộ, nói tứ-đế

Hoặc tất cả lời, nói tứ-đế

Tùy ngôn-âm thế-gian hiểu được

Diễn thuyết tứ-đế, khiến giải-thoát.

Tất cả bao nhiêu các phật-tử

Ðều nói như vậy đủ tất cả

Biết cảnh-giới lời bất-tư-nghị

Ðây là thuyết-pháp tam-muội-lực.

Có thắng tam-muội tên an-lạc

Hay khắp cứu độ các quần sanh

Phóng đại quang-minh bất-tư-nghị

Khiến ai được thấy đều điều phục.

Quang-minh đã phóng tên thiện-hiện

Nếu có ai gặp quang-minh này

Tất được lợi-ích chẳng luống uổng

Nhơn đây được thành trí vô-thượng,

Bồ-Tát trước hiện nơi chư Phật

Hiện Pháp, hiện Tăng, hiện chánh-đạo

Cũng hiện tháp Phật và hình tượng

Vì thế nên thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên chiếu-diệu

Chói lấn tất cả sáng chư Thiên

Bao nhiêu ám-chướng đều tiêu-trừ

Khắp vì chúng-sanh làm lợi-ích.

Quang này giác-ngộ tất cả chúng

Khiến cầm đèn sáng cúng-dường Phật

Do dùng đèn sáng cúng-dường Phật

Ðược thành thế-gian Vô-Thượng-Ðăng.

Thắp những đèn dầu và đèn tô

Cũng thắp các thứ đuốc sáng tỏ

Những ngọn nến báu thơm đẹp nhất

Dùng đây cúng Phật được quang này.

Lại phóng quang-minh tên tế-độ

Quang này giác ngộ tất cả chúng

Khiến họ phát tâm đại thệ-nguyện

Ðộ thoát quần-sanh trong dục-hải

Thời hay vượt qua bốn dòng nước

Bước đến thành vô-ưu giải-thoát.

Nơi những đường đi ngang sông lớn

Xây cất cầu đò và thuyền bè

Quở rầy hữu-vi khen tịch-tịnh

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên diệt-ái

Quang này giác-ngộ tất cả chúng

Khiến họ xa lìa cảnh ngũ-dục

Gẩm suy diệu-vị pháp giải-thoát.

Nếu hay bỏ lìa cảnh ngũ-dục

Gẩm suy diệu-vị pháp giải-thoát

Thời hay dùng Phật pháp cam-lồ

Rưới tắt thế-gian những khát-ái.

Bố-thí ao, giếng, và khe suối

Chuyên cầu bồ-đề đạo vô-thượng

Quở trách ngũ-dục, khen thiền-định

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên hoan-hỷ

Quang này giác-ngộ tất cả chúng

Khiến họ ái-mộ Phật bồ-đề

Phát tâm nguyện chứng vô-sư-đạo.

Tạo lập Như-Lai tượng đại-bi

Tướng hảo trang-nghiêm, ngự liên-tòa

Luôn khen những công-đức tối-thắng

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên ái-nhạo

Quang này giác-ngộ tất cả chúng

Khiến lòng họ mến kính chư Phật

Mến kính tôn-pháp mến kính tăng;

Nếu tâm thường kính mến chư Phật

Kính mến Pháp và kính mến Tăng

Thời ở trong chúng-hội Như-Lai

Thành được pháp-nhẫn sâu vô-thượng.

Khai-ngộ chúng-sanh số vô-lượng

Khiến họ niệm Phật, Pháp, Tăng-Bửu

Và dạy phát tâm tự-tại công-đức

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên phước-tụ

Quang này giác-ngộ tất cả chúng

Khiến họ thật hành nhiều bố-thí

Dùng đây nguyện cầu đạo vô-thượng.

Lập hội đại bố-thí vô-hạn

Ai đến cầu xin đều thỏa mãn

Chẳng để lòng họ còn thấy thiếu

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên cụ-trí

Quang này giác-ngộ tất cả chúng

Khiến nơi một pháp, trong một niệm

Ðều hiểu vô-lượng các pháp-môn.

Ví các chúng-sanh phân-biệt pháp

Nhẫn đến quyết-liễu nghĩa chơn-thật

Khéo nói pháp nghĩa không thiếu bớt

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên huệ-đăng

Quang này giác-ngộ tất cả chúng

Khiến biết chúng-sanh tánh không-tịch

Tất cả các pháp vô-sử-hữu.

Diễn-thuyết các pháp không, vô-chủ

Như huyễn, như diệm, trăng dưới nước

Cũng như giấc mơ, cùng bóng tượng

Do đây được thành quang-minh này.

Phóng quang-minh tên pháp-tự-tại

Quang này giác-ngộ tất cả chúng

Khiến được vô-tận đà-la-ni

Tổng-trì tất cả các phật-pháp,

Cung-kính cúng-dường người trì-pháp

Cung-cấp hầu-hạ chư thánh-hiền

Ðem chánh-pháp thí cho chúng-sanh

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên năng-xả

Quang này giác-ngộ kẻ xan-tham

Khiến biết tài vật là vô-thường

Thường thích bố-thí lòng không nhiễm.

Lòng keo-kiết khó điều, được điều

Biết của như mộng, như mây nổI

Thêm lớn tâm bố-thí thanh-tịnh

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên trừ-nhiệt

Quang này giác-ngộ kẻ phạm giới

Khiến họ thọ-trì giới thanh-tịnh

Phát tâm nguyện chứng đạo vô-sư.

Khuyên đắc chúng-sanh thọ-trì giới

Mười nghiệp đạo lành đều thanh-tịnh

Lại khiến phát hướng bồ-đề tâm

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên nhẫn-nghiêm

Quang này giác-ngộ kẻ sân hận

Khiến họ lìa sân, trừ ngã-mạn

Thường thích pháp nhu-hòa nhẫn-nhục.

Chúng-sanh bạo ác khó nhẫn được

Vì bồ-đề nên tâm chẳng động

Thường thích chánh-pháp-ngợi đức nhẫn-nhục

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên dũng-mãnh

Quang này giác-ngộ kẻ giải-đãi

Khiến họ thường đối với Tam-Bảo

Cung-kính cúng-dường không nhàm mỏi.

Nếu họ thường đối với Tam-Bảo

Cung-kính cúng-dường không nhàm mỏi

Thời hay vượt khỏi cảnh tứ-ma

Mau thành bực bồ-đề vô-thượng.

Khuyến hóa chúng-sanh khiến tinh-tấn

Thường siêng cúng-dường ngôi Tam-Bảo

Lúc pháp sắp diệt chuyên ủng-hộ

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên tịch-tịnh

Quang này giác-ngộ kẻ loạn tâm

Khiến họ xa lìa tham, sân, si

Tâm chẳng dao động được chánh-định,

Xa lìa tất cả ác-trí-thức

Luận đàm vô-nghĩa, hạnh tạp nhiễm

Khen ngợi thiền-định, hạnh tịch-tịnh

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên huệ-nghiêm

Quang này giác-ngộ kẻ ngu mê

Khiến họ chứng lý, hiểu duyên khởi

Lục căn, trí-huệ đều thông đạt,

Nếu hay chứng lý, hiểu duyên-khởi

Lục-căn, trí-huệ đều thông đạt

Thời được pháp tam-muội nhựt-đăng

Trí-huệ sáng tỏ thành phật-quả,

Của ngoài, trong thân đều hay xả

Vì đạo bồ-đề cầu chánh-pháp

Nghe xong, chuyên cần vì chúng nói

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên phật-huệ

Quang này giác-ngộ các hàm-thức

Khiến thấy vô-lượng vô-biên Phật

Ðều ngự trên bửu-tọa liên-hoa.

Khen Phật oai-đức và giải-thoát

Ngợi Phật tự-tại vô-hạn-lượng

Hiển thị phật-lực và thần-thông

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên vô-úy

Quang này chiếu đến kẻ sợ hãi

Quỷ-mị bắt giữ, những độc hại

Tất cả đều khiến mau trừ diệt,

Hay ban vô-úy cho chúng-sanh

Gặp kẻ não-hại đều khuyên ngăn

Chẩn-tế kẻ cô cùng ách-nạn

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên an-ổn

Quang này chiếu đến người tật bịnh

Khiến trừ tất cả sự khổ đau

Ðều được sự vui trong chánh-định,

Ban cho thuốc hay cứu các bịnh

Diệu-bửu sống lâu, hương thoa thân

Tô, dầu, sữa, mật làm thức ăn

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên kiến-Phật

Quang này giác-ngộ người sắp chết

Khiến, tùy nhớ tưởng, thấy Như-Lai

Mạng chung được sanh cõi nước Phật,

Thấy kẻ lâm-chung khuyên niệm Phật

Lại chỉ tượng Phật bảo nhìn ngắm

Khiến đối với Phật rất kính ngưỡng

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên lạc-pháp

Quang này giác-ngộ tất cả chúng

Khiến nơi chánh-pháp luôn mến thích

Lóng nghe, diễn thuyết và biên chép,

Lúc pháp sắp diệt hay diễn thuyết

Khiến người cầu pháp ý thỏa-mãn

Mến thích chánh-pháp siêng tu tập

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên diệu-âm

Quang này khai-ngộ chư Bồ-Tát

Hay khiến các tiếng trong ba cõi

Người đều nghe là tiếng của Phật,

Dùng âm-thinh lớn ca ngợi Phật

Bố-thí lạc, linh các âm nhạc

Khiến kháp thế-gian nghe tiếng Phật

Do đây được thành quang-minh này.

Phóng quang-minh tên thí cam-lộ

Quang này khai-ngộ tất cả chúng

Khiến bỏ tất cả hạnh phóng-dật

Tu hành đầy đủ các công-đức,

Nói pháp hữu-vi chẳng an-ổn

Vô-lượng khổ-não đều đầy khắp

Hằng thích ca ngợi vui tịch-diệt

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên tối-thắng

Quang này khai-ngộ tất cả chúng

Khiến ở chỗ Phật khắp lóng nghe

Giới, định, trí-huệ pháp tăng thượng,

Thường thích ca ngợi tất cả Phật

Thắng-giới, thắng-định, thắng trí-huệ

Ðó là vì cầu đạo vô-thượng

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên Bửu-nghiêm

Quang này giác-ngộ tất cả chúng

Khiến được bửu-tạng vô-cùng tận

Dùng đây cúng-dường chư Như-Lai,

Ðem các loại bửu-châu thượng-diệu

Dâng lên chư Phật và tháp Phật

Cũng khiến ban cho kẻ nghèo thiếu

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên hương-nghiêm

Quang này giác-ngộ tất cả chúng

Khiến người nghe pháp lòng vui đẹp

Quyết-định sẽ thành công-đức Phật,

Hương tốt quý giá dùng thoa đất

Cúng-dường tất cả đấng Tói-Tôn

Cũng dùng xây tháp và tượng Phật

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên tạp trang-nghiêm

Bửu-tràng, phan lọng số vô-lượng

Thắp hương, rải hoa, tấu âm-nhạc

Thành ấp trong ngoài đều khắp cả,

Ðem những kỹ-nhạc vi-diệu ấy

Cùng những hương, hoa, phan, lọng đẹp

Các thứ trang-nghiêm cúng-dường Phật

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên nghiêm-khiết

Khiến mặt đại-địa đều bằng phẳng

Trang-nghiêm tháp Phật và chỗ ấy

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên đại-vân

Hay khởi mây thơm hay nước thơm

Nước thơm rưới tháp và đình viện

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên nghiêm-cụ

Khiến người thiếu áo được thượng-phục

Vật tốt nghiêm thân đem bố-thí

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên thượng-vị

Hay khiến kẻ đói được mỹ-thực

Các thứ ăn ngon đem bố-thí

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên đại-tài

Khiến kẻ nghèo cùng được của báu

Ðem vật vô-tận cúng Tam-Bảo

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên nhãn-thanh-tịnh

Hay khiến kẻ mù được ngó thấy

Ðem đèn cúng Phật và tháp Phật

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên nhĩ-thanh-tịnh

Hay khiến kẻ điếc được nghe rõ

Trổi nhạc cúng Phật và tháp Phật

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên tỹ-thanh-tịnh

Xưa chưa nghe hương, đều được nghe

Ðem hương cúng Phật và tháp Phật

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên thiệt-thanh-tịnh

Hay dùng tiếng tốt ca ngợi Phật

Trừ hẳn lời nói thô và ác

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên thân-thanh-tịnh

Kể năm căn thiếu khiến hoàn cụ

Ðem thân lễ Phật và tháp Phật

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên ý-thanh-tịnh

Khiến kẻ quên-lãng được chánh-niệm

Tu-hành tam-muội đều tự-tại

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên sắc-thanh-tịnh

Khiến thấy Phật-sắc bất-tư-nghị

Ðem những diệu-sắc trang-nghiêm tháp

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên thinh-thanh-tịnh

Khiến biết thinh-tánh vốn không tịch

Quán thinh duyên-khởi, như tiếng vang

Do đây được thành quang-minh ấy.

Lại phóng quang-minh tên hương-thanh-tịnh

Khiến vật hôi nhơ đều thơm sạch

Nước thơm rửa tháp, cây bồ-đề

Do đây được thành quang-minh ấy.

Lại phóng quang-minh tên vị-thanh-tịnh

Hay trừ tất cả độc trong vị

Hằng cúng Phật, Tăng cùng cha mẹ

Do đây được thành quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên xúc-thanh-tịnh

Hay khiến thô-nhám đều dịu mềm

Ðao, mâu, kiếm, kích trên rơi xuống

Ðều khiến biến làm tràng hoa đẹp,

Bởi xưa từng ở giữa đường sá

Thoa hương, rải hoa, trải y-phục

Rước đưa chư Phật đi trên đó

Vì thế nay được quang-minh này.

Lại phóng quang-minh tên pháp-thanh-tịnh

Hay khiến tất cả những chưn lông

Ðều diễn diệu-pháp bất-tư-nghị

Ai nghe pháp này đều vui hiểu,

Nhơn duyên sanh ra, vốn vô-sanh

Pháp-thân của Phật, chẳng phải thân

Pháp-tánh, thường-trụ như hư-không

Do thuyết nghĩa trên được quang ấy.

Những môn quang-minh như đã thuật

Hằng-hà sa-số vô-hạn-lượng

Ðều từ chưn lông Ðại-Tiên phóng

Mỗi quang công-dụng đều sai-biệt.

Như một chưn lông phóng quang-minh

Vô-lượng vô-số như hằng-sa

Tất cả chưn lông đều như vậy

Ðây là Ðại-Tiên tam-muội-lực.

Như bổn-hạnh xưa, được quang-minh

Tùy ai, túc duyên, đồng tu-hành

Nay phóng quang-minh nên như vậy

Ðây là Ðại-Tiên trí tự-tại.

Thuở xưa đồng tự-tại nơi phước-nghiệp

Và người mến thích hay tùy-hỉ

Thấy kia thật hành cũng vui theo

Nay nơi quang này đều được thấy.

Nếu ai tự tu các phước-nghiệp

Cúng-dường chư Phật vô-lượng-số

Nơi công-đức Phật thường nguyện cầu

Ðược quang-minh này làm giác-ngộ.

Như kẻ sanh-manh chẳng thấy trời

Chẳng phải mặt trời không mọc lên

Những người mắt tỏ đều thấy rõ

Riêng theo phận mình làm công việc,

Quang-minh Bồ-Tát cũng như vậy

Người có trí-huệ đều thấy cả

Phàm-phu tà-tín, kẻ mê-si

Nơi quang-minh này không thấy được.

Ma-ni cung-điện và xe kiệu

Báu đẹp hương thơm dùng thoa sáng

Người có phước-đức tự nhiên đủ

Người không phước-đức chẳng ở được.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 14644)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 11697)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 12645)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 10186)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 11950)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 15160)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 10953)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 10397)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 12351)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 16283)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 14141)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 11650)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 14649)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 11911)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 16693)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 11482)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 12629)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 11243)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
(Xem: 11935)
Lời dạy của Đức Phật được kiết tập thành kinh điển và bảo lưu trong nhiều truyền thốngbộ phái Phật giáo.
(Xem: 51773)
Toàn bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên 203 tập đã dịch và in xong...
(Xem: 15337)
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ...
(Xem: 13865)
Nếu thấy thân người nữ Cùng với vẻ diễm kiều Người ngu không biết rõ Vọng sinh ý dâm nhiễm.
(Xem: 11358)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, Luận tập bộ toàn, kinh văn số 1691. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 13077)
Được nghe Đức Phật đích thân thuyết pháp là một nhân duyên hy hữu, một công đức vô lượng, và may mắn hãn hữu trong đời.
(Xem: 12668)
Lời Đức Phật dạy rất mực thâm sâu. Kinh nào cũng cần nghiền ngẫm, cần tu học với từng lời dạy một.
(Xem: 13110)
Tôi nghe như vầy: Một thuở nọ, Đức Phật cùng với 1.250 vị đại Bhikṣu ở trên núi Thứu Phong gần thành Vương Xá...
(Xem: 17740)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, Luận tập bộ toàn, kinh văn số 1686. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 12354)
Tỉnh giác từ ngủ say Nên hoan hỷ tư duy Lắng nghe điều Ta nói Soạn tập lời Phật dạy
(Xem: 12522)
Tại thành Xá Vệ, vào buổi sáng sớm, Tỳ-kheo-ni Avalika khoác y ôm bình bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực.
(Xem: 54050)
Trong kinh Bách Dụ, Phật đã dùng những chuyện xưa để thí dụ cụ thể sự dại dột mê lầm chung của chúng ta. Nếu chúng ta biết trừ bỏ mê lầm ở đâu thì Niết Bàn sẽ thực hiện ở đó.
(Xem: 14286)
Khi ấy, đức Thế Tôn ở trong Xá-vệ đại thành bộ hành, để khất thực[32]; dùng cơm xong, việc thọ thực hoàn tất, từ bỏ việc khất thực ở phía sau (quay về bổn xứ).
(Xem: 9850)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, Luận tập bộ toàn, kinh văn số 1634, HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 13715)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1644 - HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 57635)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1679 - Pháp Thiên dịch Phạn ra Hán, HT Thích Như Điển dịch Hán ra Việt
(Xem: 14358)
Dịch từ văn Phạn sang văn Trung Hoa: Pháp sư Pháp Đăng; Thật Xoa Nan Đà (Siksananda), Lược giải: Tỳ kheo Thích Minh Điền
(Xem: 19983)
Nguyên tác Hán văn: sa-môn Pháp Tạng, chùa Sùng Phúc, Kinh Triệu thuật
(Xem: 13623)
Thời đại Dao Tần, Pháp Sư ba tạng Cưu Ma La Thập, dịch văn Phạn sang văn Trung Hoa, Lược giải: Tỳ kheo Thích Minh Điền
(Xem: 15291)
Kinh "Chiếc lưới ái ân" được dịch từ kinh Pháp Cú, Hán tạng.
(Xem: 17368)
Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinhbài kinh được tụng đọc tại các chùa theo hệ thống Phật Giáo Đại Thừa, là bài kinh rất phổ thông...
(Xem: 13220)
Lành thay, Thế Tôn! Nay xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau khi nghe pháp, con sẽ ở một mình nơi chỗ vắng, tu tập không buông lung.
(Xem: 11829)
Hãy bứng gốc và buông bỏ tất cả các pháp sắc, thọ, tưởng, hành, thức – nghĩa là hãy bứng gốc và buông bỏ toàn bộ thế giới trong và ngoài mà ...
(Xem: 13381)
Luận rằng: Ông bảo lời ta không có đạo lý, nếu thế thì lời ông cũng không có đạo lý. Nếu lời ông không có đạo lý thì lời ta ắt có đạo lý.
(Xem: 14560)
Như Lai là vua của các pháp, là bậc Chí tôn của các pháp. Lành thay Thế Tôn! Nên thuyết nghĩa này cho các Tỳ-kheo.
(Xem: 12370)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh,Luận Tập Bộ Tòan thứ 32, Thứ tự Kinh Văn số 1631
(Xem: 12051)
Thiền-Đà-Ca vương phải nên biết, Sinh tử khổ não, nhiều lỗi lầm, Trọn bị vô minh che, ngăn ngại, Ta nay vì họ hưng lợi ích.
(Xem: 11964)
Như Bà-la-môn nói, trong các kinh điển, bốn Vệ-Đà là chính; Lại, trong đó, niệm là chính ; lại trong niệm này, năng thuyênsở thuyên là chính;
(Xem: 13179)
Nếu hiểu được Luận này, Ắt được các pháp luận, Nghĩa sâu xa như thế, Nay sẽ rộng tuyên nói.
(Xem: 12417)
Kinh văn số 1672, Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32
(Xem: 13538)
Này các đệ tử, sau khi Như Lai qua đời, các vị phải trân trọng, cung kính giới luật như kẻ nghèo hèn được giàu có, như kẻ đui mù được sáng mắt.
(Xem: 13234)
Tôi nghe như vầy: Bấy giờ, có số đông Tỳ-kheo Thượng tọa trú ở tại vườn Cù-sư-la, nước Câu-xá-di[2].
(Xem: 25384)
Duy Thức Học, người nào nếu như nghiên cứu đến cũng phải công nhận là một môn học rất thực tế, rất sống động...
(Xem: 12101)
Đức Phật thường nói rằng chỉ có một cách duy nhất vượt qua bờ phiền não là: xa lìa tham sân si.
(Xem: 14424)
Từ A-Di Đà, tức là phiên âm từ chữ Sanskrit: अमित​ amita, có nghĩa là: Vô lượng, đây là dịch sát theo ngữ nguyên अमित​ amita của Sanskrit.
(Xem: 11748)
Thuộc Tăng Chi Bộ (Anguttaranikàya) của Kinh tạng Pàli, đây là một bài kinh được tụng đọc thường nhật ở các xứ Phật giáo Nam Truyền
(Xem: 41949)
Bản dịch Việt ngữ từ bản chữ Hán năm 1898 Chùa Xiển Pháp tại thôn An Trạch, Tỉnh Hà Nội...
(Xem: 28177)
Nhiều người đọc Kinh Dược Sư hiểu sai ý của Phật Thích Ca muốn nói, hiểu sai nên đã đưa vào đường mê tín mà không biết, vì ở phần đầu của kinh Dược Sư...
(Xem: 38586)
Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm bản chữ Hán và Việt dịch của Quảng Minh
(Xem: 14619)
Tây Thiên dịch kinh Tam tạng, Triều tán Đại phu, Thí Hồng Lư khanh, Truyền pháp Đại sư, Thần Thí Hộ phụng chiếu dịch; Phước Nguyên dịch Việt và chú.
(Xem: 12593)
đệ tử Phật, ngày cũng như đêm, thường xuyên chí thành, hết lòng trì tụng, quán niệm khắc ghi, tám điều giác ngộ, của bậc Đại nhân.
(Xem: 16118)
Sau khi Ta diệt độ nhập Niết-Bàn, hãy tự thắp đuốc lên mà đi; thắp lên với chính pháp, đừng thắp lên với pháp nào khác; hãy nương tựa với chính mình, đừng nương tựa với một pháp nào khác
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant