Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,142,845
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250

Tìm Hiểu Kinh Mettâ-sutta - Bài Kinh Về Lòng Nhân Ái

20 Tháng Giêng 201501:00(Xem: 6041)
Tìm Hiểu Kinh Mettâ-sutta - Bài Kinh Về Lòng Nhân Ái

TÌM HIỂU KINH
Mettâ-sutta
BÀI KINH VỀ LÒNG NHÂN ÁI


Hoang Phong

Kinh Mettâ-sutta Mettâ-sutta là một bản kinh ngắn rất phổ biến trong các quốc gia theo Phật Giáo Nguyên Thủy cũng như các quốc gia theo Phật Giáo Đại Thừa. Tên quen thuộc bằng tiếng Việt của bản kinh này là "Kinh Từ Bi" , thế nhưng chữ mettâ trong tiếng Pa-li không có nghĩa là từ bi mà chỉ có nghĩa là lòng tốt, lòng từ tâm, lòng thương yêu. Các bản dịch sang các ngôn ngữ Tây phương thì mang tựa là: Discourse on Loving Kindness, Discourse on Good Will, Discourse on Friendliness, Discours sur la Bonté, Discours sur la Bonté Bienveillante, Discours sur l' Amour Bienveillant v.v..., tóm lại tất cả đều có nghĩa là Bài thuyết giảng về Lòng Tốt, Lòng Thiện Cảm, Tình Thương Yêu...

Do đó thiết nghĩ nếu dịch ra tiếng Việt thì có lẽ bản kinh này nên mang tựa đề là "Kinh về Lòng Từ Ái", chữ từ trong tiếng Hán có nghĩa là thươngáiyêu. Trong quyển Hán-Việt Tự-Điển của Đào Duy Anh thì chữ từ ái được định nghĩa là lòng thương yêu. Tuy rằng hầu hết các quyển tự điển khác, từ quyển Việt-Nam Tự Điển của hội Khai-Trí Tiến-Đức (1931) cho đến các quyển tự điển mới gần đây đều có nêu lên và định nghĩa chữ từ ái, thế nhưng trên thực tế thì không mấy khi thấy chữ này được sử dụng và hình như đã biến thành một từ "cũ" (?). Do đó thiết nghĩ cũng có thể thay chữ Từ Ái bằng chữ Nhân Ái thông dụng hơn, để gọi kinh Mettâ Sutta"Kinh về Lòng Nhân Ái", và dù sao thì cách dịch này cũng có phần sát nghĩa hơn so với tên gọi quen thuộc trước đây là "Kinh Từ Bi". Đôi khi kinh Mettâ Sutta lại còn được gọi là kinh Karaniya Mettâ Sutta, tức có nghĩa là kinh "Hãy thực thi lòng Nhân Ái" (tiếng Pa-li karaniyam có nghĩa là hãy nên thực thi). Bản kinh này được tìm thấy trong Tập Bộ Kinh (Suttanipata - Sn 1.8), thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddakapatha - Khp 9). [Cũng xin minh chứng là người viết các dòng này không biết tiếng Pa-li, và chỉ dựa vào các bản dịch song ngữ có sẵn và tra cứu tự điển].

Kinh Mettâ Sutta gồm có rất nhiều bản dịch khác nhau bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, từ các ngôn ngữ Tây Phương đến các ngôn ngữ Á Châu. Riêng đối với tiếng Việt thì cũng có khá nhiều bản dịch của nhiều dịch giả khác nhau. Vì thế bài viết này không hề có ý định đề nghị thêm một bản dịch mới, vì tất nhiên đấy là một việc hoàn toàn dư thừa, mà chỉ đơn giản đưa ra một bản chuyển ngữ gần nhất với bản gốc bằng tiếng Pa-li.

Bản Kinh về lòng Nhân Ái gồm có 10 tiết, mỗi tiết gồm có 4 câu. Dưới đây là phiên bản gốc bằng tiếng Pa-li viết theo ngữ tự La-tinh, phần chuyển ngữ sang tiếng Việt được trình bày song hành kèm theo từng tiết một của bản kinh. Phần chuyển ngữ này được dựa vào một số bản dịch từ tiếng Pa-li sang tiếng Anh của các nhà sư học giả lỗi lạc người Tích Lan như: Thanissaro Bhikkhu, Ñanamoli Thera, Piyadassi Thera, Ānandajoti Bhikkhu, v.v... :

KINH VỀ LÒNG NHÂN ÁI
Mettâ-sutta

I

Karaṇīyam-attha-kusalena
yantaṃ santaṃ padaṃ abhisamecca,
Sakko ujū ca suhujū ca
suvaco cassa mudu anatimānī,

1- Ai hằng thực hiện được những điều tốt lành,
2- Và mưu cầu đạt được thể dạng an bình thì phải hành động như sau:
3- Phải cố gắng, ngay thậthoàn toàn liêm khiết,
4- Tuân thủ, hòa nhã và nhún nhường.

II

Santussako ca subharo ca
appakicco ca sallahuka-vutti,
Santindriyo ca nipako ca
appagabbho kulesu ananugiddho.
5- An phận, không tạo ra gánh nặng cho người khác,
6- Từ bỏ các mối lo toan thế tục, chọn một nếp sống đơn sơ,
7- Chủ động được xúc cảm, thận trọng, không xấc xược,
8- Không tranh dành với các người quyến thuộc trong gia đình.

III

Na ca khuddaṃ samācare kiñci
yena viññū pare upavadeyyuṃ.
Sukhino vā khemino hontu
sabbe sattā bhavantu sukhitattā.
9- Không phạm vào một sai lầm nhỏ nhoi nào,
10- Khiến các vị hiền nhân có thể chê trách.
11- Ước nguyện tất cả chúng sinh được hạnh phúcan lành,
12- Và trong thâm tâm họ, niềm hân hoan luôn hiển hiện.

IV

Ye keci pāṇa-bhūtatthi
tasā vā thāvarā vā anavasesā,
Dīghā vā ye mahantā vā
majjhimā rassakā aṇuka-thūlā,
13- Nguyện cầu cho tất cả chúng sinh có giác cảm,
14- Dù yếu đuối hay khoẻ mạnh,
15- Khẳng khiu, béo phì hay trung bình,
16- Thấp lùn, nhỏ bé hay gọn gàng.

V

Diṭṭhā vā ye ca adiṭṭhā
ye ca dūre vasanti avidūre,
Bhūtā vā sambhavesī vā
sabbe sattā bhavantu sukhitattā.
17- Các chúng sinh nhìn thấy hay không nhìn thấy,
18- Đang ở bên cạnh hay trong những nơi xa xôi,
19- Đang hiện hữu hay mong muốn sẽ được sinh ra,
20- Không gạt bỏ một chúng sinh nào, tất cả đều tìm thấy an vui.

VI

Na paro paraṃ nikubbetha
nātimaññetha katthaci naṃ kiñci,
Byārosanā paṭīgha-saññā
nāññam-aññassa dukkham-iccheyya.
21- Cầu xin tất cả mọi người đừng lường gạt lẫn nhau,
22- Dù ở tận chốn nào, cũng không khinh miệt lẫn nhau,
23- Dù oán giận hay hận thù,
24- Cũng không làm hại nhau.

VII

Mātā yathā niyaṃ puttaṃ
āyusā eka-puttam-anurakkhe,
Evam-pi sabba-bhūtesu
māna-sambhāvaye aparimāṇaṃ.
25- Tương tự như người mẹ che chở cho đứa con duy nhất,
26- Dù phải hy sinh cả tánh mạng mình,
27- Thế nhưng luôn phải hướng vào tất cả chúng sinh,
28- Với tâm từ vô hạn.

VIII

Mettañca sabba-lokasmiṃ
māna-sambhāvaye aparimāṇaṃ,
Uddhaṃ adho ca tiriyañca
asambādhaṃ averaṃ asapattaṃ.
29- Hãy trải rộng tình thương vô biên trong khắp thế gian này,
30- Từ trên cao, dưới thấp và trong khắp mọi hướng,
31- Không có gì cản ngăn,
32- Không mảy may căm ghét, chẳng một chút hận thù.

IX

Tiṭṭhañ’caraṃ nisinno vā
sayāno vā yāvatassa vigatam-iddho,
Etaṃ satiṃ adhiṭṭheyya
brahmam-etaṃ vihāraṃ idham-āhu.
33- Dù đang đứng, đang đi, đang ngồi,
34- Hay đang nằm, trong những lúc tỉnh táo,
35- Luôn phát động một tâm linh tỉnh thức.
36- Đấy là cách sống cao quý nhất trong thế gian này.

X

Diṭṭhiñca anupagamma
sīlavā dassanena sampanno,
Kāmesu vineyya gedhaṃ,
Na hi jātu gabbha-seyyaṃ punaretīti.
37- Không rơi vào các quan điểm,
38- Hướng vào đạo đức và phát huy sự quán thấy,
39- Không bám víu vào những thèm khát giác cảm,
40- Người ấy sẽ không bao giờ còn quay lại để nằm trong một tử cung nào nữa.

Etena sacca vajjena - Sotthi me hotu sabbadā
Etena sacca vajjena - Sabba rogo vinasatu
Etena sacca vajjena - Hotu me jaya mangala

Vững tin vào sự thực đó - tôi cầu xin được mãi mãi tìm thấy an vui !
Vững tin vào sự thực đó - tôi cầu xin tránh khỏi mọi ốm đau !
Vững tin vào sự thực đó - tôi cầu xin đạt được sự an bình !

Bối cảnh của bài kinh

 

Sau đây là tóm lược bối cảnh đưa đến sự hình thành của bài kinh trên đây:

một lần Đức Phật đang ngụ tại thành Xá Vệ (Savatthi) thì có một toán tỳ kheo từ nơi xa đến đây tìm Ngài để được nghe giảng về các phép thiền định. Sau đó thì họ tìm đến một khu rừng gần đấy để an cư trong mùa mưa (vassana). Thế nhưng các vị thần linh ngụ tại các gốc cổ thụ trong rừng rất đỗi lo ngại vì đám người tỳ kheo có thể quấy rối và làm mất đi cảnh thâm u nơi khu rừng của họ. Các vị thần linh liền hiện ra và tỏ vẻ không bằng lòng và mong rằng toán người tỳ kheo sẽ sớm rời khỏi nơi này. Thế nhưng họ lại cứ tiếp tục lưu lại vì thời gian kiết hạ kéo dài đến ba tháng. Vì thế cứ đêm đêm các vị thần linh lại hiện ra để quấy phá và dọa nạt họ.

Các vị tỳ kheo không thể an tâmthiền định trong quang cảnh đầy sợ hãi ấy, họ đành phải tìm đến Đức Phật để bày tỏ sự lo âu của mình. Đức Phật liền giảng cho họ bài Kinh về lòng Nhân Ái và khuyên họ hãy cứ quay về nơi khu rừng trước đây và dùng bài kinh này để tự che chở cho mình.

Các vị tỳ kheo quay trở lại nơi trú ngụ trước đây và đem bài kinh ra tụng niệm. Khi họ tụng niệm thì một bầu không khí êm ả, tràn ngập yêu thươnglòng nhân từ vụt tỏa rộng trong khắp khu rừng âm u. Các vị thần linh đều bị chấn động bởi sức mạnh vô biên của tình nhân ái phát động trong lòng các vị tỳ kheo. Thế rồi các vị thần linh cũng cảm thấy thiện cảm đối với những người tu hành và đã để yên cho họ thiền định trong quang cảnh êm ả của khu rừng.

Ghi Chú

Trên phương diện hình thức thì bài kinh được trình bày dưới thể dạng một bài thơ, tức một loại thi kệ (tiếng Phạn gọi là gatha), dùng để trì tụng hơn là để trình bày một triết lý thâm sâu hay một khái niệm giáo lý trong Đạo Pháp. Nếu chú ý người ta cũng sẽ nhận thấybài kinh không bắt đầu bằng một câu rất công thức"Evam m'a sutam", có nghĩa là "Tôi đã từng được nghe như thế này", đấy là cách xác định bài kinh là những lời giảng đích thật của Đức Phật. Trong phần cuối của bài kinh cũng không thấy nói đến tác động mang lại cho các vị tỳ kheo và các người được nghe giảng, giống như trong các bài kinh khác.

Về phần nội dung thì có hai khía cạnh thật chính yếu cần nêu lên: khía cạnh thứ nhất là tính cách thực tiễnthực dụng của bài kinh nhằm giúp các vị tỳ kheo hóa giải mọi sự sợ hãi của mình, khía cạnh thứ hai là một sự "kết hợp" hay "chuyển tiếp" thật đẹp và hài hòa giữa căn bản giáo lý của Phật Giáo Nguyên ThủyPhật Giáo Đại thừa, tức là giữa sự giải thoát cá nhânlòng từ bi hướng vào tất cả chúng sinh.

Vào khoảng thời gian còn tu khổ hạnh trong khu rừng Ưu-lâu Tần-loa cùng với năm anh em Kiều Trần Như, vị bồ-tát Tất-đạt-đa cũng đã từng ngồi thiền trong đêm vắng, và trong những lúc ấy vị tu hành trẻ tuổi cũng khó tránh khỏi những lúc sợ hãi: "Phải tu tập trong đêm khuya và giữa cảnh vật như thế này thì thật là ái ngại, nhất là khi có một con thú vụt chạy ngang hay một con công làm gẫy một cành cây, hoặc trong những lúc gió rít qua cành lá. Trong bối cảnh như thế thì thật là dễ sinh ra sự hốt hoảng và khiếp sợ" (Trung A Hàm, 4).

Trong đêm khuya giữa mùa mưa bão, các vị tỳ kheo ngồi trong các túp lều dựng lên bằng cành lá cây rừng, rải rác trong quang cảnh âm u của khu rừng thì tránh sao khỏi sự khiếp sợ. Sự khiếp sợ đó có thể đã phát sinh trong đầu của các vị tỳ kheoĐức Phật đã ban cho họ một liều thuốc hóa giải là bài Kinh về lòng Nhân Ái. Trong liều thuốc đó nhân tố hiệu lực làm tan biến sự sợ hãi chính là tình Yêu Thương. Trong cuộc sống thường nhật của chúng ta cũng thế, nếu chúng ta ngờ vực những người xa lạ, dò xét và canh chừng những người không giống chúng ta, thì sự sợ hãinghi ngờ rất dễ phát sinh. Mở rộng tình thương và lòng trìu mến đến tất cả mọi người chung quanh chính là viên thuốc mầu nhiệm nhất làm tan biến mọi nỗi khiếp sợ và lo âu trong tâm thức của chính mình.

Thật thế, sự hung dữ, ích kỷnghi kỵ biết đâu là những gì ẩn nấp một cách thật sâu kín trong tâm thức của mỗi người, và chúng chỉ hiện lên trong đêm tối để dọa nạt khiến chúng ta phải khiếp sợ. Tiếng hát của yêu thương trong lòng của các vị tỳ kheo vang lên qua những lời tụng niệm đã mang lại cho khu rừng trong mùa mưa kiết hạ một bầu không khí thật ấm áp, an bình và tràn ngập yêu thương. Chính tiếng hát đó đã làm tan biến những sợ hãi đang ẩn nấp trong những góc kẹt nơi tận cùng của tâm thức họ. Mầu nhiệm thay một liều thuốc của Yêu Thương.

Khía cạnh thứ hai của bài kinh phản ảnh một sự kết nối thật đẹp giữa phép tu tập của Phật Giáo Nguyên Thủy giúp mỗi người trong chúng ta tìm thấy con đường Giải Thoát, và lý tưởng của Đại Thừa chủ trương trải rộng lòng Từ Bi vô biên đến tất cả chúng sinh. Câu 1 đến câu 10 của bài kinh nêu lên các nguyên tắc căn bản trong giáo lý của Phật giáo Nguyên Thủy, phản ảnh phần nào Bát Chánh Đạo, nhằm giúp cho một cá thể hướng về sự Giác Ngộ. Các câu 11 đến 32 thì nêu lên tình yêu thương hướng vào tất cả chúng sinh, phản ảnh lý tưởng Từ Bi của Đại Thừa. Trong phần kết luận từ câu 33 đến câu 40 thì lại nhắc trở lại căn bản giáo lý của Phật Giáo Nguyên Thủy liên quan đến sự quán thấy và loại trừ dục vọng và mọi thèm khát giác cảm hầu giúp cho người tu tập vượt thoát khỏi cảnh giới của luân hồi.

Trên đây là vài nét tổng quát về nội dung của bài kinh, và trong phần dưới đây thì một vài ghi chú liên quan đến ý nghĩa của vài chữ hay vài đoạn sẽ được nêu lên trong mục đích giúp chúng ta tìm hiểu bài kinh một cách chính xác hơn. Đồng thời một vài chi tiết khác biệt giữa các bản dịch cũng sẽ được nêu lên để cho thấy là việc dịch thuật cũng như quá trình lưu giữ và quảng bá kinh sách đôi khi cũng khó tránh khỏi một vài sai lạc thứ yếu.

- Các câu 1 và 2:

1- Ai hằng thực hiện được những điều tốt lành,
2- Và mưu cầu đạt được thể dạng an bình thì phải hành động như sau:

Người ta thấy trong một số bản dịch bên cạnh chữ an bình còn có ghi thêm chữ Niết-bàn trong hai dấu ngoặc nhằm để giải thích cho chữ an bình. Cách giải thích thêm này e rằng không được đúng lắm, vì một người mới "thực hiện được những điều tốt lành" và chỉ biết giữ giới để mang lại cho mình một thể dạng an vui chắc hẳn cũng chưa hội đủ khả năng để ý thức được được Niết-bàn là gì.

- Các câu 13 đến 20:

13- Nguyện cầu cho tất cả chúng sinh có giác cảm,
14- Dù yếu đuối hay khoẻ mạnh,
15- Khẳng khiu, béo phì hay trung bình,
16- Thấp lùn, nhỏ bé hay gọn gàng.

Ý của các câu này là nêu lên các chúng sinh mang nhân dạng con người, dù họ mang hình tướng bên ngoài như thế nào, thí dụ như khẳng khiu, béo phì, nhỏ bé hay thấp lùn..., thì cũng không nên vin vào đấy để phân biệtđánh giá họ, thế nhưng nhiều dịch giả lại xem đấy là các thứ loại chúng sinh khác nhau. Có lẽ cách trình bày trong nguyên bản bằng tiếng Pa-li là "các chúng sinh dài hay to lớn, ngắn hay trung bình, nhỏ bé hay gọn gàng" không được rõ ràng lắm để chỉ định đấy là những nhân dạng. Sự suy đoán này được căn cứ vào bốn câu trong tiết tiếp theo sau, vì trong tiết này bản kinh mới đề cập đến các chúng sinh khác hơn với con người:

17- Các chúng sinh nhìn thấy hay không nhìn thấy,
18- Đang ở bên cạnh hay trong những nơi xa xôi,
19- Đã sinh ra hay mong muốn sẽ được sinh ra,
20- Không gạt bỏ một chúng sinh nào, tất cả đều tìm thấy an vui.

Đối với bốn câu này cũng có một số dịch giả hiểu sai các chữ "các chúng sinh nhìn thấykhông nhìn thấy" và dịch là "các chúng sinh thuộc cõi sắc giớivô sắc giới". Thật ra thì rất có thể bài kinh chỉ muốn nêu lên một số các chúng sinhchúng ta có thể nhìn thấy được chung quanh và một số khác thì vì quá nhỏ bé hoặc sống trong các môi trường mà chúng ta không nhìn thấy được, chẳng hạn như các sinh vật sống trong đáy nước, dưới các lớp đất sâu, v.v... Sau đó thì câu 18 còn nhắc thêm chúng ta không được quên các sinh vật ở những nơi xa xôi, chẳng hạn như các sinh vật sống trong rừng sâu, nơi sa mạc và có thể cả bên ngoài vũ trụ...

Câu 19 nêu lên các chúng sinh "đã được sinh ra" và còn nhắc đến cả "các chúng sinh mong muốn sẽ còn được hình thành", có nghĩa là còn mang nhiều tham dụcbám víuước mong sẽ còn quay lại với chúng ta trong thế giới luân hồi. Ngoại trừ một số bản dịch của các nhà sư Tích Lan trình bày đúng với ý nghĩa trong nguyên bản, còn lại thì hầu hết các dịch giả khác đều dịch là "các chúng sinh đã và sẽ được sinh ra", cách dịch này không nói lên được ý nghĩa thật tế nhị trong nguyên bản là mong được tái sinh (sambhavesī = those who seek birth).

- Câu 37:

37- Không rơi vào các quan điểm,

Nhiều dịch giả thêm vào bên cạnh chữ quan điểm tĩnh từ sai lầm đặt trong ngoặc kép, hoặc dịch thẳng chữ quan điểm (diṭṭhiñ = views) là tà kiến, mê lầm, lầm lạc, v.v... Theo giáo lý Phật Giáo thì tất cả các quan điểm đều mang bản chất sai lầm, vì đã là quan điểm thì tất nhiên mang tính cách công thức, nhị nguyênquy ước. Hiện thực tượng trưng bởi con đường Trung Đạo vượt lên trên tất cả mọi quan điểm. Đấy chính là chỗ cao siêu và tinh tế trong câu kinh, không cần phải giải thích thêm hay ghép thêm một từ nào khác để chỉ định tính cách sai lầm của các quan điểm.

- Câu 40:

40- Người ấy sẽ không bao giờ còn quay lại để nằm trong một tử cung nào nữa.

Ngoại trừ một số các bản dịch sang tiếng Anh của các nhà sư học giả người Tích Lan ra thì hình như không thấy có bất cứ một bản dịch nào bằng bất cứ ngôn ngữ nào giữ câu "không nằm trở lại trong một tử cung nào nữa" (gabbha seyyaṁ puna-r-etī) đúng với bản kinh gốc, mà đều dịch trại ra là "không còn quay lại thế giới này". Tuy rằng ý nghĩa của hai câu phát biểu có phần tương tự nhau, thế nhưng cách diễn đạt "không nằm trở lại trong một tử cung nào nữa" mang nhiều ý nghĩatinh tế hơn, tức không quay trở lại cõi dục giớisắc giới (nhưng cũng có thể quay trở lại cõi vô sắc giới, vì chúng sinh vô hình tướng trong cõi vô sắc giới không sinh ra nhờ vào một tử cung). Hơn nữa cách diễn đạt trên đây tuy có hơi "quá mạnh" thế nhưng cũng có thể gây ra nhiều tác động hơn đối với người đọc so với cách phỏng dịch.

- 3 câu cuối:

Một vài bản kinh hiếm hoi có thêm ba câu mang hình thức những lời nguyện cầu như dưới đây:

Vững tin vào sự thực đó - tôi cầu xin được mãi mãi tìm thấy an vui !
Vững tin vào sự thực đó - tôi cầu xin tránh khỏi mọi ốm đau !
Vững tin vào sự thực đó - tôi cầu xin đạt được sự an bình !

Rất có thể đấy là những câu được thêm vào, không thuộc vào bản kinh gốc.

Tóm lại trên phương diện dịch thuật cần phải thận trọng, nhất là dịch kinh sách. Một câu không chính xác hay một chữ không sát nghĩa cũng có thể mang lại sự hoang mang cho người đọc. Ngay trong bối cảnh của hiện tại, thế mà một bài kinh thật ngắn như bài kinh Mettâ Sutta cũng đã được dịch ra không biết bao nhiêu phiên bản mang ít nhiều khác biệt. Nếu nhìn lại quá khứ qua hàng nhiều trăm năm truyền khẩu trước khi các bài kinh được ghi chép bằng chữ viết thì biết đâu sự sai biệt còn có thể nặng nề hơn nhiều. Các lần kết tập Đạo Pháp trong quá khứ là các dịp để người xưa kiểm soát lại kinh điển, loại bỏ những thêm thắt đi trệch ra ngoài giáo lý, thí dụ lần kết tập do vua A-dục tổ chức vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch là một trong những lần kết tập quan trọng nhất nhằm vào chủ đích trên đây.

Tóm lại người xưa đã lưu lại cho chúng ta những lời thuyết giảng vô cùng uyên bácthâm sâu của Đức Phật, chúng ta nên cố gắngthận trọng khi đem ra để cùng nhau nghiên cứu và học tập, hầu bảo tồn và chia sẻ một cách trung thực với các thế hệ sau cái gia tài vô giá đó của nhân loại.

Phần đọc thêm

Người đọc có thể đánh các chữ Mettâ Sutta hay Karaniya Mettâ Sutta vào bất cứ trang tìm kiếm nào trên mạng Internet thì đều có thể tìm thấy hàng chục bản dịch của kinh này của nhiều dịch giả khác nhau và bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Riêng đối với các bản Việt dịch thì có thể sử dụng các chữ Kinh Từ Bi làm "chìa khóa" dò tìm, hoặc cũng có thể gõ thẳng các chữ này vào khung tìm kiếm của trang web thuvienhoasen.org thì sẽ tìm được một số các bản Việt dịch đã được chọn lọc.

Ngoài ra cũng xin trích ra trong phần phụ lục dưới đây một bản chuyển ngữ song hành toàn bộ bài kinh từ tiếng Pa-li sang tiếng Anh do nhà sư Tích Lan Ānandajoti Bhikkhu thực hiện, hầu giúp những ai muốn phân tích kỹ lưỡng hơn về bài kinh này.

Karaniya Mettâ Sutta
(Edited & Translated by Ānandajoti Bhikkhu)
(http://www.ancient-buddhist-texts.net/Texts-and-Translations/Short-Pieces/Mettasuttam.htm)

Karaṇīyam-atthakusalena yan-taṁ santaṁ padaṁ abhisamecca
What should be done by one skilful in good, who has comprehended the state of peace:

Karaṇīyam : what should be done (những gì cần nên làm)
attha (= atthe) : in good (một cách hoàn hảo, đúng đắn)
kusalena : by one skilful (bởi một người khôn ngoan, khéo léo)
yan-taṁ : (the one) who (người ấy)
santaṁ : of peace (an bình)
padaṁ : the state (thể dạng)
abhisamecca : has comprehended (đã hiểu được, đã ý thức được)


sakko ujū ca sūjū ca suvaco c' assa mudu anatimānī
he ought to be able, straight, and upright, easy to speak to, meek, without conceit,

sakko : able (có thể)
ujū : straight (thẳng thắn, chân thật)
ca : and (và)
sūjū : upright (chính trực, liêm khiết)
ca : and (và)
suvaco
: easy to speak to (dễ bảo, tuân thủ)

c' (= ca) : and (và)
assa : he ought to be (hắn phải)
mudu : meek (nhu mì, hiền lành)
anatimānī : without conceit (không tự phụ, tự kiêu, ngạo mạn)


santussako ca subharo ca appa-kicco ca sallahuka-vutti
satisfied (with little), easy to support, with few duties, and light in living,

santussako : satisfied (hài lòng, vừa lòng)
ca : and (và)
subharo : easy to support (không đòi hỏi, "dễ nuôi")
ca and (và)
appa- : few (ít)
kicco : duties (sự lo toan, các mối bận tâm)
ca and
sallahuka- (= sa+lahuka) : (with) light (đơn sơ, thanh nhàn)
vutti : living (nếp sống, cuộc sống)


sant' indriyo ca nipako ca appagabbho kulesu ananugiddho
with faculties at peace, prudent, not forward, and greedless among the families,

sant' (= santa) : peace (bình tâm, chủ động)
indriyo : faculties (khả năng, đức tính)
ca : and (và)
nipako : prudent (thận trọng)
ca and (và)
appagabbho (= a+pagabbho) : not forward (không xấc xược, trân tráo, trơ trẻn)
kulesu : among the families (trong gia đình quyến thuộc)
ananugiddho (= an+anugiddho) : greedless (không đòi hỏi quá đáng, tham lam quá độ)


na ca khuddaṁ samācare kiñci yena viññū pare upavadeyyuṁ
he should not do the slightest thing whereby others who are wise might find fault (with him).

na : not (không)
ca : (connective particle) (liên từ)
khuddaṁ : slightest (nhỏ nhất, nhẹ nhất)
samācare : he should do (hắn cần phải làm, cần phải thực hiện)
kiñci thing (việc)
yena : whereby (theo đó, dựa vào đó)
viññū : wise (lịch duyệt, uyên bác)
pare others (các người khác)
upavadeyyuṁ : might find fault (có thể khiển trách)


"Sukhino vā khemino hontu sabbe sattā bhavantu sukhitattā
"(May all beings) be happy and secure, may all beings in their hearts be happy!

Sukhino : happy (hạnh phúc, an vui)
vā (= va) : (emphatic) (chữ dùng để nhấn mạnh, tỏ sự cương quyết)
khemino : secure (an lành, được che chở)
hontu : be (được)
sabbe : all (tất cả)
sattā : beings (chúng sinh)
bhavantu : may (they) be (cầu xin cho tất cả được)
sukhitattā (= sukhita+attā) happy in heart (hân hoan trong lòng)

Ye keci pāṇa-bhūt' atthi tasā vā thāvarā vā anavasesā
Whatsoever breathing beings there are - trembling, firm, or any other (beings),

Ye keci : Whatsoever (dù là)
pāṇa- : breathing (thở, linh hoạt, đang sống)
bhūt' (= bhūtā) : beings (chúng sinh)
atthi : there are (là, thì...)
tasā : trembling (run rẩy, yếu đuối)
: or (hay là)
thāvarā : firm (cứng cáp, khoẻ mạnh)
: or (hay là)
anavasesā : any other (lit.: what remains) (tất cả số [chúng sinh] còn lại)


dīghā vā ye mahantā vā majjhimā rassakāṇuka-thūlā
whether they be long or great, of middle size, short, tiny, or of compact (body),

dīghā : long (dài, khẳng khiu)
or (hay là)
ye : they (who) (họ là, thì)
mahantā : great (to lớn, béo phì)
or (hay là, họ thì)
majjhimā : middle (size) (vừa phải, trung bình)
rassak(a)- : short (ngắn, thấp lùn)
(a)ṇuka : tiny (tí tẹo, bé nhỏ)
thūlā : compact (body) (gọn gàng)

diṭṭhā vā ye ca addiṭṭhā ye ca dūre vasanti avidūre
those who are seen, and those who are unseen, those who live far away, those who are near,

diṭṭhā : seen (trông thấy được)
: or (hay là)
ye : those who (họ là, họ thì)
ca : and (và)
addiṭṭhā (= a+diṭṭhā) unseen (không nhìn thấy được)
ye : those who (họ là, họ thì)
ca : and (và)
dūre far (away) (ở xa, cách xa)
vasanti live (sống)
avidūre near (gần, bên cạnh)


bhūtā vā sambhavesī vā sabbe sattā bhavantu sukhitattā
those who are born, and those who still seek birth - may all beings in their hearts be happy!"

bhūtā : those who are born ([chúng sinh]đã được sinh ra, đang hiện hữu)
: or (hay là)
sambhavesī : those who seek birth (những ai mong muốn sẽ được sinh ra)
: or (hay là)
sabbe : all (tất cả)
sattā beings (chúng sinh)
bhavantu may (they) be (cầu xin cho tất cả được)
sukhitattā (= sukhita+attā) : happy in heart (hân hoan trong lòng)


Na paro paraṁ nikubbetha nātimaññetha katthaci naṁ kañci
No one should cheat another, nor should he despise anyone wherever they be,

Na : no (không)
paro : one (lit.: other) (người này)
paraṁ another (người kia)
nikubbetha should cheat (lường gạt)
nātimaññetha (= na+atimaññetha) : nor should he despise (cũng không khinh miệt)
katthaci : wherever (dù sao, dù như thế nào)
naṁ kañci : anyone (bất cứ ai)


byārosanā paṭigha-saññā nāññam-aññassa dukkham-iccheyya
he should not long for suffering for another because of anger or resentment.

byārosanā : because of anger (vì giận dữ)
paṭigha-saññā because of (an idea of) resentment (vì oán hờn)
n(a) : not (không)
(a)ññam-aññassa for another (cho người khác)
dukkham suffering (khổ đau)
iccheyya : he should long (không nên, không được làm cho)


Mātā yathā niyaṁ puttaṁ āyusā eka-puttam anurakkhe
in the same way as a mother would protect her child, her only child, with her life,

Mātā : a mother (một người mẹ)
yathā in the same way as (cũng thế)
niyaṁ her (lit.: one's own) (của bà ấy)
puttaṁ son (đứa con trai)
āyusā : life (mạng sống, tính mạng)
eka- : only (lit.: one) (duy nhất, độc nhất)
puttam child (đứa con)
anurakkhe would protect (phải bảo vệ, che chở)


evam-pi sabba-bhūtesu mānasaṁ bhāvaye aparimāṇaṁ
so toward all beings he should develop the measureless thought (of friendliness).

evam : so (vậy, như vậy)
pi : (emphatic) (từ dùng để nhấn mạnh một hành động)
sabba- : all (tất cả)
bhūtesu toward beings (đối với chúng sinh)
mānasaṁ : thought (tâm, tâm [từ])
bhāvaye he should develop (hắn phải phát huy, phát động)
aparimāṇaṁ measureless (vô biên)


Mettañ-ca sabba-lokasmiṁ mānasaṁ bhāvaye aparimāṇaṁ
Towards the whole wide world he should develop the measureless thought of friendliness,

Mettañ : friendliness (lòng thân thiện, thiện cảm)
ca (connective particle) (liên từ)
sabba- whole (toàn thể, toàn diện)
lokasmiṁ : towards the world (đối với thế giới này)
mānasaṁ thought (tâm, tâm [từ])
bhāvaye he should develop (hắn phải phát động, phát huy)
aparimāṇaṁ : measureless (vô biên)

uddhaṁ adho ca tiriyañ-ca asambādhaṁ averaṁ asapattaṁ
above, below, and across (the middle), without barriers, hate, or enemy.

uddhaṁ : above (bên trên)
adho : below (bên dưới)
ca and (và)
tiriyañ across (xuyên ngang, khắp hướng)
ca and (và)
asambādhaṁ (= a+sambādhaṁ) : without barriers (không có gì cản ngăn)
averaṁ (= a+veraṁ) : hate (thù ghét)
asapattaṁ (= a+sapattaṁ) without enemy (không kẻ thù)


Tiṭṭhaṁ caraṁ nisinno vā sayāno vā yāvat' assa vigatamiddho
Standing, walking, sitting, lying, for as long as he is without torpor,

Tiṭṭhaṁ : Standing (đang đứng)
caraṁ : walking (đang đi)
nisinno sitting (đang ngồi)
(or) (hay là)
sayāno : lying (đang nằm)
(or) (hay là)
yāvat' (= yāvatā) for as long as (miễn là, chừng nào, bất cứ lúc nào)
assa he is (hắn còn)
vigata without (không)
middho : torpor (hôn mê, hốt hoảng, mất sự tỉnh táo)


etaṁ satiṁ adiṭṭheyya brahmam-etaṁ vihāraṁ idha-m-āhu
he should be resolved on this mindfulness, for this, they say here, is the (true) spiritual life.

etaṁ : this (điều ấy, việc ấy)
satiṁ : mindfulness (tâm linh tỉnh thức)
adiṭṭheyya should be resolved on (nên thực hiện, phải thực hiện)
brahmam : spiritual (tâm linh, tinh thần)
etaṁ this (đấy, điều ấy)
vihāraṁ : life (nếp sống, cách sống)
idha : here (nơi này)
m : (euphonic particle) (từ tạo ra âm hưởng êm tai, không có nghĩa)
āhu : they say (người ta nói thế)


diṭṭhiñ-ca anupagamma sīlavā dassanena sampanno
without going near to (wrong) views, virtuous, and endowed with (true) insight,

diṭṭhiñ : views (quan điểm)
ca : (and) (và)
anupagamma (= an + upagamma) : without going near (không bám vào)
sīlavā : virtuous (đạo đức)
dassanena : insight (sự quán thấy sâu sắc)
sampanno : endowed (mang lại, tạo ra)


kāmesu vineyya gedhaṁ na hi jātu gabbha seyyaṁ puna-r-etī ti
having removed (all) greed for sense pleasures, he will never come to lie in a womb again.

kāmesu : for sense pleasures (lạc thú giác cảm)
vineyya : having removed (loại bỏ được)
gedhaṁ : greed (ham muốn, đòi hỏi)
na : not (không)
hi : emphatic (từ dùng để nhấn mạnh)
jātu : emphatic (từ dùng để nhấn mạnh)
gabbha : womb (tử cung)
seyyaṁ lie (nằm vào)
puna : again (thêm nữa)
r (euphonic particle) (liên từ)
eti will come (sẽ, sẽ trở thành)
ti (quotation marker) (từ chỉ định một sự trích dẫn)

Bures-Sur-Yvette, 05.11.11
Hoang Phong

 

ĐỌC THÊM CÁC BẢN DỊCH KHÁC:

KINH TỪ BI (METTA SUTTA) - Ni sư Ayya Khema - Diệu Liên Lý Thu Linh chuyển ngữ

KINH TỪ BI (METTA SUTTA) - Phạm Kim Khánh dịch

KINH TỪ BI (METTA SUTTA) - Thích Nhất Hạnh dịch

KINH TỪ BI (METTA SUTTA) Thích Thiện Châu dịch

KINH TỪ BI (METTA SUTTA) Vietnamese and English text

CA KHÚC TỪ BI The Chant of Metta Text Nhạc sĩ: Imee Ooi Nguyên Giác, Imee Ooi

THE METTA SUTTA (Discourse on loving-kindness)

Theo ngài Narada Thera trong quyển Đức Phật và Phật Pháp, bản Việt dịch của Phạm Kim Khánh thì " Mettã, dịch là "Tâm Từ", và Mettã Sutta dịch là "Kinh Từ Bi". "Mettã là cái gì làm cho lòng ta êm dịu, là tâm trạng của một người bạn tốt, là lòng ước mong chân thành cho tất cả chúng sinh đều được sống an lành vui vẻ."

"So sánh tâm Từ với tình mẫu tử trong kinh Từ Bi, Đức Phật không đề cập đến lòng trìu mến thương yêu (passionate love) ít nhiều vị kỷ của người mẹ. Đức Phật chỉ nhằm vào sự mong mỏi chân thành của bà mẹ hiền muốn cho đứa con duy nhất của mình được sống an lành. Trìu mến thương yêu đem lại phiền não. Tâm từ chỉ tạo an lành hạnh phúc. "Đây là một điểm tế nhị mà ta không nên hiểu lầm. Cha mẹ thương yêu, trìu mến con, con thương yêu cha mẹ, chồng thương yêu vợ, vợ thương yêu chồng. Tình luyến ái giữa những người thân yêulẽ thường, là một sự kiện tự nhiên. Thế gian không thể tồn tại được nếu khôngtình thương. Nhưng tình thương luôn luôn ích kỷ, hẹp hòi, không so sánh được với tâm Từtình thương đồng đều đối với tất cả chúng sinh trong vũ trụ bao la. Do đó tâm Từ không đồng nghĩa với tình thương yêu ích kỷ. "Tâm từ (mettã) không phải sự yêu thương xác thịt, cũng không phải lòng luyến ái đối với người nào. Tình dụcluyến ái là nguồn gốc của bao điều phiền não.

"Tâm từ cũng không phải là tình thương riêng biệt đối với người láng giềng, bởi vì người có tâm từ không phân biệt người thân kẻ sơ. "Tâm từ không phải chỉ là tình huynh đệ rộng rãi giữa người và người, mà phải bao trùm tất cả chúng sinh, không trừ bỏ một sinh vật nhỏ bé nào, bởi vì loài cầm thú, các người bạn xấu số của chúng ta, cũng cần nhiều đến sự giúp đỡ và tình thương của chúng ta. "Tâm từ cũng không phải là tình đồng chí, không phải tình đồng chủng, không phải tình đồng hương, cũng không phải tình đồng đạo. "Tâm từ êm dịu vượt hẳn lên trên các thứ tình hẹp hòi ấy. Phạm vi hoạt động của tâm Từ không bờ bến, không biên cương, không hạn định. Tâm Từ không có bất luận một loại kỳ thị nào. Nhờ tâm Từ mà ta có thể xem tất cả chúng sinh là bạn hữu, và khắp nơi trên thế gian như chỗ chôn nhau cắt rún.

"Tựa hồ như ánh sáng mặt trời bao trùm vạn vật, tâm Từ cao thượng rải khắp đồng đều phước lành thâm diệu cho mọi người, thân cũng như sơ, bạn cũng như thù, không phân biệt giầu nghèo, sang hèn, nam nữ, hư hèn hay đạo đức, người hay thú. "Người thực hiện tâm Từ đến mức cùng tột sẽ thâý mình đồng hoá với tất cả chúng sinh, không còn sự khác biệt giữa mình và người. Cái gọi là "ta" lần lần mở rộng lan tràn cùng khắp càn khôn vạn vật. Mọi sự chia rẽ đều tiêu tan, biến mất như đám sương mờ trong nắng sáng. Vạn vật trở thành một, đồng thể, đồng nhất. [Đức Phật và Phật Pháp, trang 584-588]



Mettā

From Wikipedia, the free encyclopedia

Mettā (Pali: मेत्ता in Devanagari) or maitrī (Sanskrit: मैत्री) is loving-kindness,[1][2] friendliness,[3][4][5] benevolence,[2][4] amity,[3] friendship,[4] good will,[4] kindness,[6] love,[3] sympathy,[3] close mental union (on same mental wavelength),[4] and active interest in others.[3] It is one of the ten pāramīs of the Theravāda school of Buddhism, and the first of the four sublime states (Brahmavihāras). This is love without clinging (upādāna).

The cultivation of loving-kindness (mettā bhāvanā) is a popular form of meditation in Buddhism. In the Theravadin Buddhist tradition, this practice begins with the meditator cultivating loving-kindness towards themselves,[7] then their loved ones, friends, teachers, strangers, enemies, and finally towards all sentient beings. In the Tibetan Buddhist tradition, this practice is associated with tonglen (cf.), whereby one breathes out ("sends") happiness and breathes in ("receives") suffering.[8] Tibetan Buddhists also practice contemplation of the four immeasurables, which they sometimes call 'compassion meditation'[9]

"Compassion meditation" is a contemporary scientific field that demonstrates the efficacy of metta and related meditative practices.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 6218)
Kinh Đại Bát Niết Bàn (Maha-parinirvana-sutra), cũng được gọi tắt là Kinh Đại Niết Bàn, hoặc ngắn hơn là Kinh Niết Bàn
(Xem: 7840)
Đức Phật A Di Đà do lòng Đại từ bi, Đại nguyện lực, như nam châm hút sắt, nhiếp thọ hết tất cả chúng sanh trong mười phương vào trong cõi nước Tịnh độ của Ngài,
(Xem: 6581)
Kinh Sa-môn quả đã được đức Phật dạy cách đây trên hai mươi lăm thế kỷ. Nội dung tất cả các phương pháp Phật trình bày trong kinh này đều xoáy sâu vào ba vô lậu học là giới – định – tuệ.
(Xem: 8318)
Sáu chữ BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA sẽ được giải ở câu đầu tiên của phần nội văn, bây giờ giải đề Kinh chỉ giải hai chữ TÂM KINH
(Xem: 6678)
Đề cương kinh Pháp Hoa là học phần cương yếu, Thượng nhân Minh Chánh nêu lên cốt lõi của kinh qua cái nhìn của thiền sư Việt Nam...
(Xem: 6451)
Tên của bộ Kinh này là Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn, tên riêng là "Lục Tổ Pháp Bảo Đàn." "Kinh" là tên chung của các bộ Kinh
(Xem: 6201)
Duy ma trọng nhất là bồ đề tâmthâm tâm. Bồ đề tâm thì vừa cầu mong vừa phát huy tuệ giác của Phật. Thâm tâmchân thành sâu xa trong việc gánh vác chúng sinh đau khổ và hội nhập bản thể siêu việt.
(Xem: 6055)
Bài Bát-nhã Tâm kinh do ngài Huyền Trang đời Đường dịch vào năm 649 dương lịch, tại chùa Từ Ân. Toàn bài kinh gồm 260 chữ.
(Xem: 5873)
Thế Tôn đã để lại cho chúng ta một phương pháp để thẩm định đâu là giáo lý Phật Giáo, đâu không phải là những lời dạy của đức Phật.
(Xem: 6774)
Quyển Pháp Hoa Đề Cương là một tác phẩm thật có giá trị của một Thiền sư Việt Nam gần thời đại chúng ta.
(Xem: 7168)
Hội Phật Học Nam Việt - Chùa Xá Lợi Saigon Xuất Bản 1964, Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam-Hoa Kỳ Chùa Huệ Quang Tái Xuất Bản
(Xem: 7997)
Phật pháp không phải là một, không phải là hai, từ lâu truyền lại, ngoài tâm có pháp tức ngoại đạo. Người học đạo Phật ai ai cũng biết như thế.
(Xem: 6960)
Kinh Đại Bát Niết Bànbài kinh nói về giai đoạn cuối đời của đức Phật Thích Ca, từ sáu tháng trước cho tới khi ngài viên tịch, tức là nhập Bát Niết Bàn.
(Xem: 8337)
Nghĩa lý kinh Kim cương là ngoài tầm nghĩ bàn, phước đức kinh Kim cương cũng siêu việt như vậy.
(Xem: 10527)
Phật dạy tất cả chúng sanh đều sẵn có Trí huệ Bát Nhã (Trí huệ Phật) từ vô thỉ đến nay. Trí huệ Bát Nhã rất là quý báu và cứng bén, như ngọc Kim cương hay chất thép.
(Xem: 7015)
Giới bản tân tu này tuy cũng có 348 giới điều như giới bản cổ truyền nhưng đáp ứng được một cách thỏa đáng cho nhu yếu thực tập của người xuất gia trong thời đại hiện tại.
(Xem: 6331)
Giới bản tân tu này tuy cũng có 250 giới điều như giới bản cổ truyền nhưng đáp ứng được một cách thỏa đáng cho nhu yếu thực tập của người xuất gia trong thời đại hiện tại.
(Xem: 6865)
Tạng Kinh là bản sưu tập gồm tất cả những bài Kinh đều do Đức Phật thuyết vào những lúc khác nhau.
(Xem: 6475)
Bài kinh được bắt đầu bằng những điều ta cần làm để được bình an. Không phải là những điều ta cần làm cho tha nhân.
(Xem: 5950)
Pháp ấn này chính là ba cánh cửa đi vào giải thoát, là giáo lý căn bản của chư Phật, là con mắt của chư Phật, là chỗ đi về của chư Phật.
(Xem: 7165)
Thích Đức Nhuận, Viện Triết Lý Việt Nam & Triết Học Thế Giới California, USA Xuất bản 2000
(Xem: 6688)
Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập, đời Dao Tần dịch. Sa môn Hám Sơn Thích Đức ThanhTào Khê, đời Minh soạn - Việt Dịch: Hạnh Huệ
(Xem: 6235)
Hán dịch: Thiên Trúc Tam Tạng Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi - Đời Nguyên Ngụy, Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ - Phan Rang - Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh
(Xem: 6188)
Bồ tát Long Thọ ra đời khi các cánh cửa của Phật giáo Đại thừa được bắt đầu mở rộng.
(Xem: 6254)
Kinh Căn Bản Pháp Môn nêu lên hai cách tu tập: Chỉ (samātha) và Quán (vipassana). Đây là hai cách tu tập cần yếu trong hành trình dẫn đến giác ngộ.
(Xem: 7378)
Trong tác phẩm này, chúng tôi đã cố gắng giới thiệu một phần quan trọng của tạng kinh thuộc Nhất thiết hữu bộ (Sarv.) là kinh Trung A-hàm (Madhyama Àgama) trong hình thức toàn vẹn của nó.
(Xem: 7296)
Hòa thượng Tịnh Không giảng tại Tịnh Tông Học Hội Tân Gia Ba, bắt đầu từ ngày 28/5/1998, tổng cộng gồm năm mươi mốt tập (buổi giảng).
(Xem: 8511)
Bộ kinh này có mặt ở Trung Quốc từ đời nhà Đường (618-907). Ngài Bát Lạt Mật ĐếDi Già Thích Ca dịch từ Phạn văn ra Hán văn.
(Xem: 8020)
Kinh Pháp Cú là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh trong Kinh tạng Pali. Đây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.
(Xem: 6914)
Diệu Pháp Liên Hoa có thể nói là bộ kinh nổi tiếng nhất trong khu vườn kinh điển Phật giáo Đại thừa.
(Xem: 5355)
Phật pháp dạy mọi người lìa khổ được vui, điều này ai cũng đều biết. Nếu như Phật pháp dạy mọi người lìa vui được khổ thì có lẽ không có ai học.
(Xem: 9888)
Thế Tôn đã từng dạy, chỉ có từ bi mới có thể hóa giải được gốc rễ hận thù, tranh chấp, đối kháng và loại trừ lẫn nhau, ngoài từ bi không có con đường nào khác.
(Xem: 6441)
Kinh Kim Cương là một bộ kinh có một vị trí đặc biệt trong lịch sử học tập và tu luyện của Phật giáo nước ta. Từ giữa thế kỷ thứ 7, trước cả Lục tổ Huệ Năng, thiền sư Thanh Biện của dòng thiền Pháp Vân đã nhờ đọc kinh này mà giác ngộ.
(Xem: 5080)
“Ư bỉ nhị thập nhất câu chi Phật độ, công đức trang nghiêm chi sự, minh liễu thông đạt, như nhất Phật sát, sở nhiếp Phật quốc, siêu quá ư bỉ.” Chỉ một câu văn trong kinh Vô Lượng Thọ mà ta đã có ba chữ nói về cõi Phật.
(Xem: 6433)
Chúng ta biết rằng, lý do tồn tại của Thiền cốt ở tâm chứng, không phải ở triết luận có hệ thống. Thiền chỉ có một khi mọi suy luận được nghiền nát thành sự kiện sống hàng ngày và trực tiếp thể hiện sinh hoạt tâm linh của con người.
(Xem: 6507)
Bài kinh này được chọn trong bộ kinh Theragatha mà kinh sách Hán ngữ gọi là Trưởng Lão Tăng Kệ, thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka).
(Xem: 5556)
Này người Bả-la-môn, ngay cả trước khi việc hiến sinh bắt đầu thì người đốt lửa, dựng đàn hiến sinh cũng đã vung lên ba thanh kiếm bất hạnh...
(Xem: 7272)
Câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” không chỉ là yếu chỉ tu hành của những người tu Phật mà còn có công năng chuyển hóa những tâm hồn bi quan, khổ đau trong cuộc đời, giúp họ sống tỉnh giác và xả ly, tự tin, làm chủ bản thân trước mọi hoàn cảnh sống.
(Xem: 10052)
BÁT NHÃ TÂM KINH (Prajnaparamitahridaya Sùtra) là một bản văn ngắn nhất về Bát nhã ba la mật (Prajnaparamità).
(Xem: 6783)
Bát-nhã là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Trung-hoa có nghĩa là trí-huệ, tiếng Việt-nam mình cũng giữ chữ đó là trí-huệ.
(Xem: 6463)
Giáo lý Tứ diệu đế với bốn chân lý vượt lên trên mọi tác động của điều kiện bên ngoài, bàn về bản chất của kiếp nhân sinh và khả năng vượt thắng mọi nỗi khổ niềm đau của con người đã trở thành động lựcniềm tin của nhân loại.
(Xem: 7778)
Đại Thừa Khởi Tín Luận - Con đường đưa đến giác ngộ, Tác Giả: Mã Minh - Dịch & Giải: Chân Hiền Tâm.
(Xem: 10527)
Tỳ Kheo GiớiTỳ Kheo Ni Giới do HT Thích Trí Quang dịch và giải
(Xem: 8083)
Hán dịch: Tam tạng Phật-đà Da-xá và Trúc-phật-niệm. Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng. Hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng
(Xem: 17097)
600 câu hỏi và trả lời liên quan đến giáo lý, hành trì, sự phát triển của Phật Giáo; đến lịch sử, văn hóa của các nước thọ nhận Phật Giáo; đến các vấn đề văn hóa, xã hội, chính trị thời đại.
(Xem: 5546)
Kinh 42 Bài là dịch từ chữ Hán Tứ Thập Nhị Chương. Kinh nầy có nhiều bản chữ Hán. Bản lưu hành cho đến gần đây, theo sự ước đoán của Hòa Thượng Trí Quang
(Xem: 6290)
Ấn là chiếc ấn hay khuôn dấu. Pháp có nghĩa là chánh pháp hay toàn bộ hệ thống tư tưởng trong lời dạy của Đức Phật được ghi lại trong ba tạng thánh điển. Pháp ấn có nghĩa là khuôn dấu của chánh pháp
(Xem: 5535)
Đây là Kinh thứ 16 của Nghĩa Túc Kinh và cũng có chủ đề “Mâu Ni”: Một vị mâu ni thấy như thế nào và hành xử như thế nào khi đứng trước tình trạng bạo động và sợ hãi?
(Xem: 6699)
Các nhà học giả Tây phương cũng như Đông phương đều công nhận hệ thống Bát-nhã là cổng chính yếu dẫn vào Đại thừa.
(Xem: 6252)
Mỗi khi nói về vấn đề niềm tin trong đạo Phật, chúng ta thường hay dẫn chứng những lời Phật dạy trong kinh Kalama.
(Xem: 17434)
Kinh Quán Thế Âm bồ tát cứu khổ nằm trong Vạn tự chánh tục tạng kinh, ta quen gọi là tạng chữ Vạn, quyển1, số 34. Kinh này là một trong những kinh Ấn Độ soạn thuật, thuộc Phương đẳng bộ.
(Xem: 7115)
Trong Kinh Kim Cang có câu, “Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai.” Nghĩa là, nếu thấy các tướng đều xa lìa tướng, tức là thấy Phật.
(Xem: 6418)
Kinh Kim Cương (hay Kim Cang), tên đầy đủ là Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa (Vajracchedika-prajñaparamita), là một trong những bài kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại Thừa
(Xem: 6516)
Trong sách Nhật Tụng Thiền Môn, chúng ta có Kinh Phước Đức, một Kinh nói về đề tài hạnh phúc. Kinh được dịch từ tạng Pali và nằm trong bộ Kinh Tiểu Bộ (Khuddhaka-nikāya).
(Xem: 6644)
Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật là một bộ kinh hoằng dương rất thịnh, phổ biến rất rộng trong các kinh điển đại thừa.
(Xem: 10429)
Chúng tôi giảng rất nhiều lần bộ kinh Vô Lượng Thọ, tính sơ đến nay cũng khoảng mười lần. Mỗi lần giảng giải đều không giống nhau.
(Xem: 22961)
Phương pháp sám hối Từ bi đạo tràng Mục Liên Sám Pháp - Nghi Thức Tụng Niệm
(Xem: 24333)
Từ bi Đạo Tràng, bốn chữ ấy là danh hiệu của pháp sám hối nầy... Thích Viên Giác dịch
(Xem: 12149)
Giáo pháp được đưa vào thế giới khi Đức Thích Ca chứng đạo tối thượng, lần đầu tiên thuyết về Chân Như và về những phương pháp hành trì đưa đến chứng ngộ.
(Xem: 6525)
Năm 1984 khi bắt đầu lạy kinh Ngũ Bách Danh bằng âm Hán Việt thuở ấy, tôi không để ý mấy về ngữ nghĩa. Vì lúc đó lạy chỉ để lạy theo lời nguyện của mình.
Quảng Cáo Bảo Trợ