Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất

Chương 3: Tạo Ra Tài Sản

26 Tháng Mười Một 201000:00(Xem: 11550)
Chương 3: Tạo Ra Tài Sản



LỜI DẠY CỦA ĐỨC PHẬT
Về Sự Thành Tựu Trong Gia Đình, Nơi Công Sở, Ngoài Xã Hội

Tỳ Kheo Tiến Sĩ Basnagoda Rahula
Chuyển Ngữ sang tiếng Việt: Diệu Liên Lý Thu Linh & Diệu Ngộ Mỹ Thanh 2010

Chương 3

Tạo Ra Tài sản

 Ta khám phá ra hai điều quan trọng: không tự mãn với những gì ta đã đạt được và không buông bỏ nỗ lực để đạt được điều tốt đẹp nhất. Chánh tinh tấn là bước khởi đầu để tiến đến thành côngChánh tinh tấn mang lại lợi íchhạnh phúc cho người cư sĩ.[1] Tăng Chi Bộ Kinh

 Đức Phật cố gắng hướng dẫn các đệ tử tại gia của Ngài đến sự thành công vật chất, vì đối với người cư sĩ đạt được sự sung túcđạt được thành công trong cuộc sống. Dựa trên phương diện này, Đức Phật đã bàn rộng đến một số đề tài được coi như cần thiết cho việc khởi đầu và phát triển của bất cứ nỗ lực cầu tiến nào. Sự hướng dẫn của Đức Phật để người cư sĩthể đạt được sự thành công vật chất là một quá trình hoàn chỉnh và hoàn toàn hữu hiệu. Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày về điều này, nhấn mạnh vào lời hướng dẫn của Đức Phật để khởi động sự nỗ lực đến thành công.

 Sự Chuẩn Bị Nội Tâm 

 Theo sự quán sát của Đức Phật, sự chuẩn bị nội tâm là một trong những điều kiện quan trọng nhất đối với bất cứ sự thành công nào. Do đó Ngài khuyên người cư sĩ cũng phải có một sự chuẩn bị như thế trên cuộc hành trình tiến tới sự thành đạt –ngụ ý rằng trên tất cả, sự chuẩn bị về tâm lý là rất cần để đạt được thành công vật chất.

 Đầu tiên, Đức Phật khuyên ta nên tháo gở bất cứ chướng ngại tâm lý nào có thể gây cản trở cho sự tiến bộ của ta. Kế tiếp, Đức Phật dạy cho ta thấy rõ rằng thái độ đúng đắn sẽ làm tăng thêm sức mạnh cho sự nỗ lực của ta như thế nào. Hai bước này là những đòi hỏi cơ bản cho sự chuẩn bị nội tâm.

  1. Tháo Gở Các Chướng Ngại Trong Tâm.

 Những giới hạnchúng ta tự đặt ra cho mình, theo Đức Phật, là những rào cản lớn nhất đối với sự tiến bộ về tâm linh hay trong đời sống thế tục. Những hạn chế này đánh dấu sự thoái hóa của chính khả năng, sức lực, và tiềm năng của ta. Nguồn gốc làm sản sinh ra tâm lý cho rằng mình thấp kém này, theo Đức Phật, chính là xã hội.

 Các lý thuyết xã hội công khai coi thường các khả năng của con người có thể làm ảnh hưởng đến tâm và dần dần chế ngự nó. Đức Phật khuyên hàng đệ tử tại gia không nên chấp vào những quan niệm như thế mà phải dựa vào chính khả năng của mình để vượt qua các chướng ngại. Để có thể hiểu rõ hơn thông điệp này, chúng ta chỉ cần xem xét lại lần nữa những quan điểm xã hội vào thời Đức Phật còn tại thế. Những quan điểm hạ thấp khả năng con người đã cản trở sự thăng tiến vật chất trong xã hội.

 Thí dụ người sinh ra trong giai cấp Shudra, theo thông lệ xã hội thời đó, không được nỗ lực kinh doanh. Người ta tin rằng nghề nghiệp đã được định sẵn cho những người thuộc giai cấp Shudra là phục vụ cho những người ở giai cấp cao hơn. Tương tự, chỉ những người thuộc giai cấp Bà-la-môn mới được ở cương vị lãnh đạo tinh thần. Ngay chính những người thuộc giai cấp cai trị cũng không được làm điều đó, vì Brahma, đấng sáng tạo đã dành riêng công việc đó cho giai cấp Bà-la-môn.

 Đức Phật đã phản đối quyết liệt những quan điểm này của các vị đồng thời với Ngài, những người rao truyền rằng hạnh phúc và khổ đau của con người đã được định sẵn. Đức Phật lý luận rằng sự chủ tâm và chánh tinh tấn mới chính là nền tảng căn bản cho sự thành công về vật chất.

 

 Nói tóm lại, Đức Phật đã phân tích, triển khaibài bác một cách hợp lý ba quan điểm sau: ý chỉ của Brahma, lý thuyết về nghiệp của Veda, và định luật tiền định phổ biến:[2]

 Ý chỉ của Brahma. Những người cho rằng sự thành công hay thất bại của con người tùy thuộc vào ý chỉ của Brahma lập luận rằng những địa vị xã hội cao quý và một số nghề nghiệp được quyết định bởi Brahma dựa trên cơ chế giai cấp. Do đó, họ khẳng định rằng xã hội cần tránh thay đổi bất cứ luật lệ xã hội nào.

 Lý thuyết về nghiệp của Veda. Những người ủng hộ lý thuyết về Nghiệp thì quả quyết rằng hạnh phúc hay khổ đau của con người hoàn toàn được định đoạt bởi những hành động của họ trong quá khứLý thuyết này cũng phủ nhận các nỗ lực của con người.

 Định luật tiền địnhLý thuyết thứ ba khẳng định rằng không gì có thể thay đổi được các định luật tiền định. Nếu phải xảy ra, chúng sẽ xảy ra, dầu ta có nỗ lực đến thế nào để thay đổi điều đó. Lý thuyết này dựa trên quan điểm cứng nhắc rằng mỗi cá nhân –thần thánh hay kẻ hạ tiện- đều được tái sinh một số lần trước khi hoàn toàn bị tiêu diệt

 Theo Đức Phật, tất cả ba quan điểm trên đều là những lý thuyết cực đoan, phủ nhận ý chí và sự nỗ lực của con người để thành công.[3] Lập luận của Đức Phật rất mạnh mẽ và hợp lý. Ngài cho rằng các lý thuyết gia ủng hộ những quan điểm như thế khó có những tiến bộ tâm linh nơi chính bản thân họ –vì suy cho cùng, làm sao mà thiền định và các phương pháp tu thích hợp có thể thanh tịnh hóa được họ, nếu sự nỗ lực, tinh tấn không có giá trị gì trong pháp tu này? Do đó Ngài đã nói với họ, “Các ông đã phủ nhận nhu cầu và nỗ lực để thay đổi của con người”.[4]

 Đức Phật không chấp nhận những quan điểm cực đoan này vì một mục đích rõ ràng: tháo gở những hàng rào nội tâm có thể làm cản trở sự tiến bộ về tinh thần và sự thành công về vật chất đối với các đệ tử của Ngài. Thông điệp của Ngài gửi đến với hàng đệ tử tại gia là hãy phá vỡ các hầm hố bên trong, những thứ đã chôn chặt khả năng của họ -và khi làm như thế là họ đã chuẩn bị cho bản thân một tương lai đầy hứa hẹn.

  1. 2.  Tin Vào Chính Khả Năng Của Mình.

 Sau khi đã loại trừ những chướng ngại bên trong, Đức Phật hướng dẫn các đệ tử tại gia của Ngài tiến tới sự tự tin. Đây là bước kế tiếp trong việc thiết lập nền tảng cho sự thành công trong tương lai. Trong một thời đại mà ở đó sức mạnh của cá nhân bị vùi dập phũ phàng, Đức Phật thấy rằng không có yếu tố nào khác hơn là dựa vào chính bản thân để có thể chuẩn bị cho sự thành công của mỗi cá nhân.

 Chính cuộc đời của Đức Phật là một thí dụ minh chứng cho những điều Ngài dạy chúng ta. Vào thời đó, niềm tin chắc chắnphổ biến là chỉ có những người thuộc giai cấp Bà-la-môn mới có thể trở thành những vị lãnh đạo tâm linh. Nhưng Đức Phật, là người thuộc về giai cấp cai trị, đã chứng minh được sự sai lầm của quan điểm đó bằng việc trở thành một trong những vị thầy tâm linh thành công nhất, từng có mặt trên trái đất này. Và Ngài đạt được sự thành công này với niềm tin không thể lay chuyển vào bản thân. Ngay cả trước khi đạt được Giác ngộ, Ngài đã bộc bạch về quyết tâm của mình:

 Hãy để máu thịt của tôi khô cạn, hãy để tôi chỉ còn da, mạch máu và xương cốt, dầu vậy tôi cũng sẽ không buông bỏ nỗ lực cho đến khi tôi đạt được đạo quả cao nhất có thể đạt được bằng khả năng, sự tinh tấn, và hành động của con người.[5]

 Thái độ này làm tăng thêm sức mạnh trong tâm Đức Phật trong trận chiến cuối cùng với lòng tham ái (lobha), sân (dosa) và si (moha). Với sự phát triển của trí tuệ siêu việttâm từ bi vô lượng, Ngài đạt được Giác Ngộ, mức độ cao nhất của nội tâm thanh tịnh. Đã ngồi dưới cây bồ đề một đêm với ý chí mãnh liệt, tiếp tục hành thiền, Ngài đã đứng dậy trong sự chiến thắng và hài lòng của buổi bình minh.

 Ở đây Ngài cũng nhấn mạnh đến một sự chuẩn bị ban đầu như thế –tăng thêm sức mạnh cho tâm bằng ý chí mãnh liệt- khi nói với các đệ tử xuất gia của người về những sự thành công tâm linh và khuyến khích các đệ tử tại gia tiến tới sự thành công vật chất. Đã thanh lọc tâm khỏi sự sợ hãinghi ngờ, chúng ta có thể đi vào công việc thực sự với lòng tự tin mãnh liệt. “Bạn có thể thành công nếu bạn theo đuổi mục đích của mình với lòng tự tin”.

Chánh Tinh Tấn

 Hai giai đoạn của sự chuẩn bị nội tâm – tháo gở các chướng ngại nội tâm và làm tăng trưởng lòng tự tin- đã làm nền cho sự thành công trong cuộc sống đời thường. Giờ, với chánh tinh tấn, chúng ta đã có một sự bắt đầu hoàn hảo cho bất cứ nỗ lực thành công nào.

 Đức Phật xác định hai đặc tính của tinh tấn. Trước hết, chỉ riêng việc có nỗ lực cũng đã khiến cho sự chuẩn bị nội tâmý nghĩa; sự chuẩn bị nội tâm mà không có nỗ lực thì không đủ để thành côngĐức Phật chẳng bao giờ tán thán những quan điểm như: “Chỉ cần hình dung, quán tưởng về một điều gì đó và chờ đợi; bạn sẽ đạt được nó”, mà theo Ngài, chánh tinh tấn phải đi liền sau chánh tư duy.

 Tiếp đến, tinh tấn không chỉ có nghĩa là làm nhiều. Triết lý của Đức Phật không đơn giản nói rằng: “Hãy cố làm việc và bạn sẽ đạt được thành công”. Thay vào đó Đức Phật nhấn mạnh vào sự cần thiết của việc hành động một cách khôn ngoan và đạt được thành công một cách có phương pháp. Chính quyết định khôn ngoan và hành động khéo léo -chớ không phải chỉ siêng năng làm việc- mới khiến cho những nỗ lực của người tại giaý nghĩa đích thực.

 Đối với những ai có đôi chút lòng sốt sắng, câu nói sau đây sẽ làm rõ hơn lời khuyên tách bạch của Đức Phật: “Bạn có thể làm được điều đó, nếu bạn có chánh tinh tấn”.

Bốn Bước Đến Thành Công

 Để giúp cho hàng đệ tử tại gia đạt được những kết quả tốt đẹp nhất, Đức Phật đã giải thích chánh tinh tấn trong bốn bước sau:

 Chánh tinh tấn [để thành công trong cuộc sống thế tục] là gì? Giả dụ như có người sinh sống bằng buôn bán, nuôi gia súc, làm cung, làm công chức hay bất cứ nghề nghiệp hay công nghiệp nào khác. Người đó phát triển sự hiểu biết, và khả năng trong nghề nghiệp của mình, có khả năng tổ chức, thực hiện những công việc cần thiết ở đúng thời điểm và trình bày được các kế hoạch tìm tòi các phương tiện phát triển tân tiến. Đó là cái mà ta gọi là chánh tinh tấn.[6]

 Lời dạy này của Đức Phật khá xúc tích -có thể vì các vị tỳ kheo đã tóm tắt một câu nói dài cho dễ nhớ- nhưng nó đã định nghĩa chánh tinh tấn thật đầy đủ dầu nhìn dưới bất cứ khía cạnh nào. Rõ ràng là sự quyết định khôn ngoan và hành động khéo léo, kết hợp lại sẽ đưa ta đến thành công. Bốn bước này rất quan trọng, chúng đáng để ta thảo luận kỹ càng, chi tiết hơn.

Bước 1: Phát triển sự hiểu biết và khả năng trong nghề nghiệp hay kinh doanh mà ta chọn lựa.

 Có được sự hiểu biết và khả năng trong ngành nghề hay kinh doanh mà ta lựa chọn là một yếu tố quan trọng trong chánh tinh tấn. Cụm từ Pali được sử dụng để chỉ điều này là dakkho alam katum, có nghĩa là “sự phát triển các khả năng, tài nghệ cần thiết cho công việc”. Dakkho bao gồm cả sự hiểu biết lẫn khả năng. Các đặc tính này giúp ta vững chải trong mọi lãnh vực nghề nghiệp hay kinh doanh của mình. Nhờ đó, người cư sĩ biết làm sao để hoàn thiện bất cứ công việc gì họ đảm nhiệm. Thí dụ, người buôn bán, sẽ thấu đáo thị trường bản sĩ và những lợi nhuận khi bán lại, do đó trở thành khéo léo trong việc mua vá bán.[7] Nói chung, việc có được khả năng và một sự hiểu biết đáng kể trong lãnh vực mà ta quan tâm là điều thiết yếu để thành đạt một cách chân chính.

 Quá trình phát triển này cần phải được cha mẹ khơi gợi khi dạy dỗ con cái lúc ấu thơ. Trong kinh Sigalovada, Đức Phật nhắc nhở cha mẹ cần phảitrách nhiệm ban đầu trong việc hướng dẫn con cái đến một nghề nghiệp thích hợp.[8] Nhờ đó, khi bước vào tuổi trưởng thành, chúng sẽ biết có bổn phận phải trau dồi thêm sự hiểu biết và khả năng của mình.

 Trong thời đại này, việc giáo dục, đào tạo các ngành nghề, và các nghiên cứu, học thuyết về kinh doanh, thương mại, đều là những điều kiện cần thiết trong việc trau dồi kiến thức và phát triển khả năng nghề nghiệp. Tất cả chúng ta đều biết rất rõ rằng để thành công trong thế giới đầy cạnh tranh này tùy thuộc rất nhiều vào khả năng, và trình độ chuyên môn của chúng ta. Những ai muốn nắm giữ các vị trí quan trọng trong guồng nhân lực tân tiến phải có tri thức và khả năng vượt bực, nhờ đó họ thăng tiến mau lẹ và ổn định trong việc kinh doanh. Điều này hỗ trợ quan điểm của Đức Phật cho rằng việc giáo dục và phát triển khả năng là thiết yếu đối với những ai muốn đạt được thành công.

 Ngành Tâm lý học ngày nay đánh giá mức độ tiến bộ này như là “giai đoạn tự khẳng định bản thân” trong quá trình phát triển khả năng. Trong bất cứ xã hội nào, đa số chỉ có được sự hiểu biết và khả năng cơ bản trong ngành nghề của họ. Tuy nhiên có một số ít người sẽ vượt lên trên để phát triển những hiểu biết và khả năng đặc biệtĐức Phật muốn các đệ tử tại gia của Ngài khẳng định được bản thân trong nghề nghiệp của họ. Vì thế Ngài kết luận rằng sự hiểu biết và khả năng vượt trội không thể thiếu trong giai đoạn bắt đầu tiến tới sự thành công vật chất.

Bước 2: Khéo Tổ Chức Công Việc Kinh Doanh.

 Khả năng tổ chức là một đòi hỏi quan trọng khác đối với những ai muốn thăng tiến trong bất cứ lãnh vực nào. Đức Phật luôn nhấn mạnh đến sự quan trọng của việc tổ chức công việc kinh doanh của một người. Trong kinh Mangala, Đức Phật dạy rằng “Biết tổ chức công việc, biết kinh doanh là một ân sủng đối với người thế tục”[9]Đức Phật dùng cụm từ Pali dakkho alam sanvi-dhatum, “trở nên thực sự khéo léo trong việc tổ chức”, để nói về khả năng tổ chức.

 Dĩ nhiên, khả năng tổ chức là một đề tài lớn. Trong giáo lý của Đức Phật, khả năng này bao gồm cả tính tự tổ chức nơi bản thân và sự tổ chức các công việc liên quan –và khả năng này cần thiết cho lúc khởi đầu công việc cũng như duy trì nó xuyên suốt các công đoạn để có kết quả tốt đẹp. Ở đây chúng ta sẽ bàn kỹ đến những khả năng đặc biệt quan trọng trong giai đoạn khởi đầu của một dự án trọng điểm, biết rằng các khả năng này cũng có thể được áp dụng ở những giai đoạn khác của công việc và sự kinh doanh.

 Chính cuộc đời của Đức Phật là một chứng cứ hùng hồn cho điều mà Ngài muốn nói về khả năng tổ chức. Sau khi đạt được mức độ thanh tịnh nội tâm cao độ nhất, Ngài đã phát động một trong những dự án nhân đạo thành công nhất từng được ghi nhận trong lịch sử, bao gồm một chương trình lớn, ảnh hưởng đến cách suy nghĩ và những biến đổi của xã hội. Để đạt được mục đích này, một trong những bước đầu tiên Đức Phật tiến hành là việc tổ chức. 

 Khởi đầu Đức Phật tự tổ chức, lo liệu cho bản thân. Công việc thường nhật của Ngài thể hiện rõ điều này: chúng được chia thành năm thời khóa[10]: đầu tiên là công phu sáng sớm là thời khóa mà Đức Phật dùng để tự hành thiền. Sau đó Ngài dành thời gian trong buổi sáng để thăm viếng những ai cần sự gíup đỡ của Ngài. Vào thời khóa buổi chiều, Ngài dạy dỗ các đệ tử xuất gia và bất cứ đệ tử cư sĩ nào đến thăm viếng Ngài. Hai thời khóa ban đêm được dùng để hướng dẫn các đệ tử xuất gia hành thiền và dành để thảo luận những đề tài Phật Pháp thâm sâu. Bằng phương cáchhệ thống này, Đức Phật đã tổ chức, xếp đặt một cuộc sống đầy năng động.

 Đức Phật cũng biểu lộ những khả năng siêu việt trong việc quản lý, tổ chức cộng đồng (tăng đoàn) mới thành lập của Ngài. Ngài là một nhà cải cách xã hội đầu tiên có thể tạo ra sự ổn định có hệ thống như thế đối với sự biến chuyển xã hội này. Đầu tiên, Đức Phật chỉ định ngài Xá Lợi Phất và ngài Mục Kiền Liên, hai vị đệ tử xuất gia lỗi lạc nhất, làm những người lãnh đạo chánh. Sau đó Ngài ban danh hiệu cho tám mươi vị tỳ kheochỉ định họ vào các vị trí lãnh đạo dựa trên sự hiểu biết và khả năng trong lãnh vựchọ thích hợp. Bằng sự lãnh đạo của mình, Đức Phật đã thể hiện cho ta thấy một sự nỗ lựchệ thống sẽ mang đến thành công mỹ mãn như thế nào.

 Khi Đức Phật giáo huấn hàng đệ tử tại gia, Ngài đặc biệt chú tâm đến việc tổ chức, quản lý nguồn nhân lực. Ngài nhấn mạnh rằng những người có khả năng cần được giao nhiệm vụ của người lãnh đạoĐức Phật cảnh báo: “Trao quyền lãnh đạo cho một người (nữ hay nam) chỉ biết làm theo thói quenlãng phí tài sản sẽ đưa đến sự sụp đổ”.[11] Như đã nói trong chương trước, người lãnh đạo cần giao cho công nhân những công việc và bổn phận thích hợp với khả năng và trình độ của họ. Thêm nữa, giới chủ nhân cần phải dành cho công nhân của mình những quyền lợi, như được nghỉ phép, và lương bổng đầy đủ.

 Cách làm này cũng đóng góp vào sự thành công của công việc kinh doanh theo cách khác. Khi được đối xử tốt như thế, người làm công phát sinh lòng yêu mến đối với chủ nhân. Do đó họ làm hết khả năng. “Tận tụy với công việc, tránh làm những điều xấu như là ăn cắp, và biết ơn chủ nhân”, là một số kết quả tích cực có thể có được từ những người làm công hài lòng với công việc của mình.[12] Những người làm công này chắc chắn sẽ đóng góp vào sự thành công của bất cứ ngành nghề kinh doanh nào.

 Đức Phật cũng nói về việc tổ chức của những người buôn bán nhỏ như việc sản xuất quần áo làm bằng vải sợi, bằng len ở nhà, một ngành kinh doanh rất phổ biến thời đó. Ngài coi công việc kinh doanh nhỏ này như là công việc trong gia đình, ở đó cả vợ và chồng cần phải chia sẻ trách nhiệm. Một điều thú vịĐức Phật dạy rằng người vợ cần phải giữ vai trò tổ chức, quản lý các công việc kinh doanh gia đình như thế.[13] Điều này cho ta thấy Đức Phật rất coi trọng khả năng và sức mạnh trí tuệ của người phụ nữ

 Tóm lại, Đức Phật khuyên hàng đệ tử tại gia cầu tiến của Ngài cần hành động có hệ thống, có tổ chức để đạt được mục đích của họ; và Ngài đã dành cho họ những lời dạy vô giá về cách làm thế nào để sắp xếp, tổ chức công việc riêng của họ và công việc kinh doanh. Những lời hướng dẫn này được chứng mình trong cuộc đời của Đức Phật và trong giáo pháp của Ngài; và sự tổ chức, sắp xếp công việc riêng và các hoạt động của Ngài một cách gián tiếp đã khiến Ngài trở thành một biểu tượng để ta noi theo.

Bước 3: Hoàn Thành Việc Cần Làm Đúng Lúc

 Hành động đúng thời, đúng lúc, theo Đức Phật, là một trong những yếu tố quan trọng nhất để thành công trong cuộc sống thế tụcDĩ nhiênyếu tố này liên quan đến sự tổ chức, sắp xếp. Tuy nhiên, hành động đúng lúc, đúng thời được nói riêng ở đây, vì sự quan trọng tột cùng của nó trong bất cứ nỗ lực nào. Trong lần thuyết giáo với vua Kosala, Đức Phật đã nhắc nhở rằng việc biết đúng thời điểm (timing) là yếu tố quan trọng nhất cho sự thành công vật chất:

 Yếu tố quan trọng nhất đối với sự thành công của con người là hành động đúng thời, đúng lúcDấu chân voi có thể che lấp dấu chân của bất cứ con vật biết đi nào khác. Tương tự, khi nói về mức độ quan trọng, hành động đúng thời, đúng lúc nổi bật lên trên tất cả mọi hành động khác.[14]

 Đức Phật cảnh báo rằng nếu không hành động đúng lúc, ta cũng sẽ “không tạo được tài sản mới, và những gì ta đã tích lũy được chẳng bao lâu sẽ vơi dần hết đi”.[15]

 Để trình bày yếu tố vô cùng quan trọng này đối với sự thành công, Đức Phật đã sử dụng những thuật ngữ như là analasaappamadaTuy nhiên, các từ ngữ dịch thuật hiện tại không thể chuyên chở hết những ý nghĩa rộng rãi của các từ ngữ Pali nguyên thủy này. Analasa thường được dịch là “không lười biếng”, trong khi appamada là “chú tâm”, hay “siêng năng”. Các từ ngữ dịch thuật này có thể được chấp nhận một cách tương đối, nhằm đơn giản nói rằng sự cố gắng làm việc, cũng là một phương cách để thành côngTuy nhiên, Đức Phật sử dụng chúng với hàm ý sâu xa hơn: Chúng nhấn mạnh đến sự quan trọng của hành động đúng thời, đúng lúc. “Hành động” ở đây có thể là một công việc nặng nhọc, cả về thể chất và tinh thấn, hoặc (hành động) có thể chỉ là một quyết định hay một giai đoạn mà ta cần phải có đôi phút đắn đo.

 Dựa trên thực tế, Đức Phật đưa ra những chứng cứ cho ta thấy có những người lười biếng trốn tránhtrì hoãn công việc, rồi lại đổ thừa cho thời tiết, kêu đói, kêu no, hay nói rằng quá sớm, quá trễ để không làm việc.[16] Những thí dụ như thế cho ta thấy rằng phản nghĩa của analasa là sự trì trệ, lơ đãng, lè phè, bỏ bê công việc, một thói quen nguy hiểm mà chắc chắn rằng nó sẽ làm thui chột nỗ lực để thành công của con người. Do đó, analasa ám chỉ việc sử dụng năng lượng vật lý đúng thời, đúng lúc.

 Trong cuộc đối thoại với vua Kosala, Đức Phật dùng thuật ngữ appamada để ngụ ý “hành động đúng thời”.[17] Ngài nói: “Nếu trong cuộc sống, ta luôn hành động đúng mà không trì trệ, là ta biết tự bảo vệ, tự cứu bản thân, cũng như cứu các gia cầm, và tài sản của ta”.[18]

 Thêm nữa, Đức Phật cũng nói rằng những hành động đúng thời, đúng lúc của vua Kosala sẽ khích lệ các cộng sự và người hầu của nhà vua làm tròn bổn phận của họ đúng thời, đúng lúc.

 Nói chung, theo Đức Phật, những hành động được cân nhắc đúng thời, đúng lúc, sẽ khiến cho các nỗ lực để thành công của người cư sĩ được đầy ý nghĩa. Không biết quyết định hay hành động đúng thời, đúng lúc khi cố gắng tạo ra tài sản, thì người đó cũng giống như là “một con diệc (heron) lã sức cạnh một hồ nước cạn khô”.[19]

Bước 4: Khám Phá Các Phương Tiện Phát Triển Có Chiến Lược.

 Theo Đức Phật, người cư sĩ còn cần thêm một bước nữa để đến được thành công vật chất, đó là sự tìm kiếm, khám phá ra các phương tiện phát triển có chiến lược. Đây có thể là một trong những phương cách mới mẻ và hữu hiệu nhất để đi đến thành công của một cá nhân. Nói tóm lại, muốn thành công ta cần có tư duy tiến bộ trong nghề nghiệp, trong những ngành kinh doanh và áp dụng các phương pháp mới này cho sự tiến bộ của tất cả mọi thứ nói chung.

 Cụm từ Pali là upaya vimamsaUpaya có nghĩa là “một phương cách có chiến lược”, hay cụ thể hơn, “sự suy nghĩ đột phá” để đối nghịch lại với những phương cách thông thường được chấp nhận khi thử nghiệm một điều gì đó. Vimamsa có một số ý nghĩa, như là, “quán sát” và “thử nghiệm”. Ghép chung hai từ ngữ này để ám chỉ đến một phương cách để thành công trong cuộc sống thế tục, upaya vimamsa có nghĩa là “sự khám phá có chiến lược về các phương tiện tiến bộ mới trong ngành nghề và lãnh vực kinh doanh” -một phương cách đáng được gọi là sự “phát minh” (innovation).

 Đức Phật cũng biết về những phát triển mới trong xã hội của Ngài, đặc biệt là trong lãnh vực thương mại, trao đổi. Như đã nói trong chương I, thế kỷ thứ VI trước công nguyên, là thời đại khởi đầu của ngành kinh doanh ở Ấn Độ, cùng với những phát minh mới. Hàng trăm xe mã từ các tiểu bang Magadha và Kosala lấy hàng hóa đến Gandhara để được vận chuyển đến các hòn đảo Hy Lạp. Hàng hóa cũng được mang đến hải cảng Barygaza, ở bờ biến phía tây Ấn Độ, để được chuyển tới thế giới phương Tây xuyên qua biển Đỏ. Các chiến lược mới được áp dụng trong tất cả các cuộc hành trình này, để bảo vệ, vận chuyển, bán buôn, và trao đổi hàng hóa.

 Thí dụ, vị đại thí chủ của Đức Phật, ngài Anathapindika, một đại thương gia ở Savatthi, đã thành lập một hội thương nghiệp để thu mua và xuất hàng hóa đến phương Tây. Upali, một vị thí chủ khác của Đức Phật, đã bắt đầu hệ thống ngân hàng đầu tiên. Sự ý thức của Đức Phật về những phát triển mới này trong ngành thương mại, trao đổi có thể đã khiến Đức Phật khuyến khích hàng đệ tử tại gia áp dụng các phương pháp mới cho sự thành công vật chất của họ.

 Dầu với lý do gì, khi Đức Phật nói về upaya vimamsa, là Ngài đã ban cho các đệ tử tại gia của Ngài một lời khuyên vô giá: “Hãy phát minh các tư duy và chiến lược mới để lèo lái cuộc hành trình của bạn đến thành công”. Bản thân Đức Phật cũng thực hành lý thuyết này khi Ngài tạo dựng, thiết lập một cộng đồng mới (tăng đoàn) trong một xã hội truyền thống cứng ngắt. Và, dĩ nhiên là Ngài đã đạt được những thành công khó ngờ bằng chính những nỗ lực của Ngài.

TÓM TẮT

 Đức Phật đã dành những lời khuyên hữu ích để hướng dẫn hàng đệ tử tại gia về những nỗ lực khởi đầu để thành công. Trước hết, Đức Phật hướng dẫn việc rèn luyện tâm trí, để tâm họ được mạnh mẽ hơn. Kế đến, Đức Phật hướng dẫn sự nỗ lực của họ. Ngài đưa ra những lời khuyên hữu ích, thực dụng khiến chúng thực sự có ý nghĩa đối với người cư sĩ tại gia

 Đức Phật không khuyến khích cộng đồng cư sĩ của Ngài chờ đợi một vận may bất ngờ, một biến cố đột ngột giống như trúng số trong thời đại này, mà Ngài cũng không chấp nhận việc tạo ra của cải một cách nhanh chóng và dễ dàng bằng bất cứ phương tiện nào. Thay vào đó, Ngài giúp các đệ tử của mình hành động có phương pháp, có hệ thống và tự khẳng định bản thân trong cuộc sống “giống như những con kiến xây tạo nên đồi kiến”[20] Tóm lại, theo Đức Phật, các kiến thức mới mẻ, sự phát triển kỹ năng, sự tổ chức, việc hành động đúng thời, đúng lúc và những phương pháp mới, sẽ tạo thành nỗ lực chân chánh để thành công của người cư sĩ.



[1] Câu trích từ: Tăng Chi Bộ Kinh II : Sotapatti Samyutta: Kinh Upannasa và Tăng Chi Bộ Kinh VIII: Phẩm Gotami: Kinh Vyagghapajja. Câu trích này từ hai nguồn như đã dẫn ở trên. Phần đầu của câu trích là từ Kinh Upannasa. Nói về sự chứng ngộ của mình, Đức Phật đã nói câu này để nhấn mạnh nguồn động lực để chứng ngộThuật ngữ Pali nguyên thủy asantutthita kusalesu dhammesu đã được dịch là ‘không tự mãn với những gì ta đã đạt được”. Cụm từ Kusalesu dhammesu khó dịch thẳng được. Trong đoạn này, cụm từ hàm ý sự chứng ngộ trong sự phát triển nội tâm của Đức Phật, không kể sự chứng ngộ cuối cùng của Giác Ngộ.

[2] Tăng Chi Bộ III: Phẩm Maha: Kinh Titthayatana

[3] Như Trên

[4] Như Trên

[5] Tăng Chi Bộ Kinh II: Vassupanayika : Kinh Uposatha

[6] Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikaya VIII: Phẩm Gotami: Kinh Vyagghapajja

[7] Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikaya III: Phẩm Rathakara: Kinh Dutiya Papanika

[8] Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya III): 31, 461-469

[9] Kinh Nipata: Phẩm Culla: Kinh Mangala

[10] Sumangala Vilasimi: Brahmajala Sutta Vannana

[11] Kinh Nipata: Phẩm Uraga: Kinh Parabhava

[12] Trường Bộ Kinh III: 31: Kinh Sigalovada; 461-469

[13] Tăng Chi Bộ Kinh VIII: Phẩm Uposatha: Kinh Anuruddha Manapakayika

[14] Tương Ưng Bộ Kinh I: Kosala Samyutta: Kinh Appamada; 179-180

[15] Trường Bộ Kinh III: 31: Kinh Sigalovada; 461-469

[16] Như trên

[17] Tương Ưng Bộ Kinh I: Kosala Smyutta: Kinh Kalyanamitta; 180-182

[18] Như trên

[19] Kinh Pháp CúKệ 155

[20] Trường Bộ Kinh III: 31: Kinh Sigalovada; 461-469


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 1626)
Giáo lý Duyên khởi là nền tảng của triết học Phật giáo, do đó luôn là tâm điểm của những nghiên cứu về sự uyên nguyên của đạo Phật.
(Xem: 1617)
Đức Phật khẳng định: “Trong giáo pháp nào nếu khôngtám Thánh đạo thời ở đó không có quả vị Sa-môn thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư.
(Xem: 1014)
Duyên khởi có nghĩa là hết thảy hiện tượng đều do nhân duyên mà phát sinh, liên quan mật thiết với nhau, nương vào nhau mà tồn tại. Nói theo thuật ngữ Phật giáo thời “tất cả pháp là vô thường, vạn vật vô ngã, hết thảy đều không”. “Không” có nghĩa là “vô tự tính,” không có yếu tính quyết định.
(Xem: 1488)
Trong các kinh điển thuộc Hán tạng, ‘Phật thị hiện thuyết pháp’ có thể được xem như là một ‘thuật ngữ’ quen thuộc, phổ biến đối với quý Phật tử Đại Thừa.
(Xem: 1472)
Con người được sinh ra đời, sống trong cuộc đời nhưng càng lớn lên càng cảm thấy mình như vẫn thiếu thốn cái gì, như vẫn là một người thất lạc.
(Xem: 1654)
Có lần khi nói về tám thức tâm vương trong Duy thức học, một người hỏi rằng “con người lo sợ là do thức nào?”.
(Xem: 1916)
Giác ngộ cũng tức là giải thoát. Giải thoát cái gì ? Giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, điên đảo mộng tưởng, giống như người đang nằm mơ chợt tỉnh dậy,
(Xem: 1500)
Nhân quả là một định luật tất yếu trong sự hình thành nhân sinh quan và vũ trụ quan qua liên hệ duyên khởi của cuộc sống con người, mà qua đó nhân quả được coi như là một luật tắc không thể thiếu được khi hình thành một xã hội nhân bản đạo đức.
(Xem: 1336)
Bồ-tát là từ gọi tắt của Bồ-đề Tát-đỏa, phiên âm từ Bodhi-sattva tiếng Phạn, còn gọi là Bồ-đề Tát-đa,… Bồ-tát là từ gọi tắt của Bồ-đề Tát-đỏa, phiên âm từ Bodhi-sattva tiếng Phạn (sanskrit), còn gọi là Bồ-đề Tát-đa
(Xem: 1358)
Kính lễ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn Nay con đem tâm phàm phu suy diễn thánh pháp Là nhờ những bậc tiền bối đã khai triển Pháp này Xin Ngài gia bị cho tâm phàm phu chuyển thành thánh trí
(Xem: 1526)
Con xin đê đầu kính lễ Phật – bậc Nhất thiết trí – đấng Mặt trời tròn thanh khiết. Những tia sáng lời dạy của Ngài đã phá tan bóng đêm trong bổn tâm của chư thiên, loài người và các đường ác.
(Xem: 1119)
Khái niệm Niết-bàn vốn thành hình cách đây hơn 2500 năm. Các học giả và các triết gia khác nhau trong suốt nhiều thế kỷ liền đã nỗ lực lý giải khái niệm này bằng cách tận dụng sự hiểu biết hạn chế của mình.
(Xem: 1243)
Dưới đây là một vài dẫn khởi có tính cách thực tiễn đối với sự tu tập công án, được đề ra do các Thiền sư qua nhiều thời đại; từ đó, chúng ta có thể thấy rõ một công án sẽ làm được việc gì để khai triển ý thức Thiền và cũng thấy rõ sự tu tập công án đã bộc lộ cho khuynh hướng nào theo thời gian.
(Xem: 1248)
Có hai hình ảnh quen thuộc gợi lên ý tưởng biến dịch: như dòng sông và như ngọn lửa bốc cháy trên đỉnh núi. Mỗi hình ảnh lại gợi lên một ý nghĩa tương phản: tác thành và hủy diệt.
(Xem: 1677)
Thời gian là một hiện tượng bí ẩn nhất và cũng là sít sao nhất với cuộc sống mỗi người.
(Xem: 1630)
Một thời Thế Tôn trú ở Nālandā, tại rừng Pāvārikamba. Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
(Xem: 2923)
Duyên khởi cho bài viết này là từ một bản tin BBC News có nhan đề “Thiền định chánh niệm có thể khiến con người xấu tính đi?”— và từ một số cuộc nghiên cứu khác đã giúp chúng ta có cái nhìn đa diện hơn về Thiền chánh niệm, một pháp môn nhà Phật đang thịnh hành khắp thế giới.
(Xem: 1805)
Khi sinh ra và lớn lên trong cuộc đời này mỗi người đều mang trong mình một huyết thống mà tổ tiên bao đời đã hun đúc, giữ gìntruyền thừa qua nhiều thế hệ.
(Xem: 1356)
Vấn đề tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni phạm tội ba-la-di, thời Phật nghiêm khắc không cho sám hối đều có lý do. Với những lý do đó giống với xã hội bây giờ, cho nên trong chương này chúng tôi thảo luận chung cả hai giai đoạn thời Phật và cuộc sống hiện tại.
(Xem: 1216)
Hiện nay trong nguồn văn hiến hệ Hán truyền, chúng ta tìm thấy nhiều từ ngữ liên quan đến ý nghĩa sám hối như “hối quá 悔過”, “sám hối 懺悔”, “sám-ma 懺摩”, “phát lồ 發露”, thực chất tất cả đều xuất thân từ nghĩa gốc Phạn ngữ (Sanskrit) là từ: kṣama, kṣamayati.
(Xem: 1267)
Trong dòng chảy tâm thức của nhân loại từ xa xưa và cho đến nay luôn chia thành hai hướng, một hướng chảy theo dòng chảy Luân hồi (Saṃsāra), là số chúng sinh tâm tư cấu bẩn phiền não, ngụp lặn trong bùn lầy ố trược.
(Xem: 1389)
Những người con Phật chơn chính, thì lúc nào và ở đâu, họ cũng thực hành phápchánh pháp trở thành đời sống của chính họ. Họ được nuôi dưỡng ở trong chánh pháp và họ vui sống trong chánh pháp mỗi ngày.
(Xem: 1309)
Sự ra đời của Đức Phật nghiễm nhiên đã trở thành sự kiện quan trọng nhất trong suốt mấy ngàn năm tư tưởng Đông phương. Hiện tượng Lâm-tỳ-ni, chính vì thế, đã trở thành một hiện tượng đặc sắc đáng để mọi người nghiên cứu Phật học quan tâm.
(Xem: 1909)
Tất cả đều là giả tạm và cuộc đời là một nỗi đau khổ lớn. Đây là động cơ lớn thúc đẩy Thái tử ra đi tìm chân lý.
(Xem: 1659)
Như huyễn là một tính cách, một phương diện của tánh Không. Tánh Khôngvô tự tánh của mọi cái hiện hữu, và vì vô tự tánh nên như huyễn.
(Xem: 1876)
Theo quan niệm nhà Phật thì con người tự ràng buộc mình trong nỗi khổ đau do chính mình gây ra.
(Xem: 1805)
Trên lộ trình hướng về Phật đạo, tôi có duyên được “làm người đưa đò” tại ...
(Xem: 2378)
Bình đẳng tánh trí là gì? Là tánh bình đẳng của đại viên cảnh trí, nghĩa là tánh bình đẳng của tất cả mặt gương và của tất cả bóng hình in vào đó.
(Xem: 1776)
Theo truyền thống Phật giáo Nam tông, y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, Vũ kỳ An cư (Vassavāsa) bắt đầu từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina).
(Xem: 2105)
Vào thời Đức Phật, xã hội Ấn Độ rất nhiều học thuyết ra đời, mỗi học thuyết là một quan điểm chủ trương.
(Xem: 2175)
Trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu sơ lược về Đại viên cảnh trí, và trích toàn bộ đoạn nói về trí này trong Kinh Phật Địa, do Tam tạng Pháp sư Huyền Trang dịch ra tiếng Hán.
(Xem: 2285)
am Vô Lậu Học là môn học thù thắng gồm: Giới, Định và Tuệ trong đạo Phật.
(Xem: 1833)
Khi đạo Phật nói về tánh chất của khổ, có nhiều mức độ khổ khác nhau.
(Xem: 1965)
Dân gian thường nói, không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời. Rất khó giải thích về“ba họ” và “ba đời”.
(Xem: 2011)
Chúng ta đã thấy nguồn gốc của kinh tạng Phật giáo phát khởi từ ba kỳ kết tập kinh điển (saṅgīti).[1]
(Xem: 1924)
“Tất cả là vô thường” là một trong ba nguyên lý căn bản của Phật giáo (vô thường, vô ngã và niết-bàn tịch tịnh)
(Xem: 2569)
Không có kinh sách nào, Đức Phật dạy: Phải cầu nguyện, hay nương tựa vào một ai đó, ngay cả việc nương nhờ vào chính Ngài.
(Xem: 1932)
Bản tâm, tự tâm, bản tánh, tự tánh là những danh từ được Lục Tổ Huệ Năng sử dụng trong những lời thuyết pháp của ngài để...
(Xem: 1863)
Muốn thực hiện một đời sống đạo đức, mang lại hạnh phúc cho bản thân cũng như tha nhân thì trước hết con người ấy phải được giáo dục.
(Xem: 1933)
Như chúng ta đã biết, từ xưa lắm các triết gia và sử gia phương Tây từng đưa ra những định nghĩa về con người,
(Xem: 1879)
Sám hối là một thực hành tu tập quan trọng và phổ biến trong Phật giáo. Sám hối là...
(Xem: 2138)
Chúng ta hãy khởi đầu đọc kinh Kim-cang như một tác phẩm văn học. Giá trị văn học là sự biểu hiện thẩm mỹ của nội dung tư tưởng.
(Xem: 2287)
“Bà lão nghèo ngộ pháp Duyên khởi” là bản kinh chúng tôi giới thiệu kỳ này. Nguyên tác “Phật thuyết lão nữ nhơn kinh 佛說老女人經
(Xem: 1953)
“Kinh Căn Tu Tập / Indriya bhàvanà sutta” là bài kinh cuối cùng trong số 152 bài kinh đăng trong Trung Bộ Kinh do...
(Xem: 2064)
Theo Phật giáo, pháp có nghĩa là giáo pháp của Phật. Những lời dạy của Đức Phật chuyên chở chân lý.
(Xem: 1843)
Như Đức Phật đã dạy, một đặc điểm của Giáo Pháp thuần túy là những hiệu ứng phải được thể nghiệm tức khắc lúc này và nơi này, ngay trong cuộc đời này
(Xem: 1887)
Căn cứ thông tin từ tác phẩm Ni trưởng Huỳnh Liên - cuộc đờiđạo nghiệp do Ni giới hệ phái Phật giáo Khất sĩ ấn hành vào năm 2016 thì...
(Xem: 2394)
Từ khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam, chúng ta thấy rõ là bất cứ khi nào truyền thống dân tộc nép mình để đi trong dòng sinh mệnh của đạo Phật thì...
(Xem: 2312)
Dựa vào lịch sử Đức Phật, chúng ta được biết, Thái tử Sĩ Đạt Ta (Siddhattha) khi chào đời, bước đi bảy bước, có bảy hoa sen đỡ chân
(Xem: 3936)
Giới, Định và Tuệ là ba môn tu học quan trọng trong Phật giáo. Ta thường hay nói “Nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Tuệ”.
(Xem: 2458)
Theo nghĩa đen của khái niệm, độc nhất là chỉ có một, mang nghĩa duy nhất. Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là
(Xem: 3161)
Bốn mươi chín ngày sau khi đạt giác ngộ, Đức Phật bi mẫn và thiện xảo đã thuyết Tứ Diệu Đế cho năm vị đệ tử may mắn tại Varanasi.
(Xem: 2455)
Nếu có ai đó yêu cầu tóm tắt toàn bộ giáo lý Phật giáo trong một vài từ ngữ gọn gàng, không cần dài dòng văn tự, tôi sẽ không do dự trả lời rằng, đó là : Ngũ uẩn giai không.
(Xem: 2037)
Bằng sự tu tập lâu dài, vượt qua vách sắt thành đồng của địa ngục Thiết Vi hay sự co duỗi của bàn tay trước mắt mà ta vươn tới sự giải thoát thời đoạn, cuối cùngsự giải thoát hoàn toàn.
(Xem: 1788)
Đức Di Lặc tiếp tục giảng cho đồng tử Thiện Tài về Bồ đề tâm: “Tại sao vậy? Vì nhân nơi Bồ đề tâm mà xuất sanh tất cả Bồ tát hạnh.
(Xem: 3289)
Cộng đồng Tăng Già gồm tứ chúng Tăng NiPhật tử tại gia Nam Nữ với một hội đồng gồm ít nhất là bốn vị Tăng, hay một cộng đồng Tăng Ni sống hòa hiệp với nhau trong tinh thần lục hòa.
(Xem: 2332)
Đến nay, vấn đề xác định kinh điển Phật thuyết hay phi Phật thuyết vẫn là nội dung được các học giả quan tâm nghiên cứu
(Xem: 3009)
Nhiều học giả phương Tây nhận định rằng khái niệm Niết bàn, tức nirvāṇa trong Sanskrit hay nibbāna trong Pali, có thể xem là ...
(Xem: 2686)
Hãy thử tưởng tượng một đoàn người đang ngồi trên một chiếc thuyền trôi giữa biển, trong đêm tối. Sự nhỏ nhoi của con thuyền...
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant