Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất

Phần 3: Phật giáo trong thế kỷ 21

25 Tháng Hai 201520:16(Xem: 7971)
Phần 3: Phật giáo trong thế kỷ 21
QUÁN CHIẾU VỀ SỰ TIẾP CẬN PHẬT GIÁO THỰC TIỂN 

Reflections on the Realistic Approach of Buddhism:
Talks to Former Dharamsala Residents from the West
His Holiness the Fourteenth Dalai Lama 
Dharamsala, India, November 2 – 3, 2010 
Ghi lại:  Sean Jones và Michael Richards 
Hiệu đính: Luke Roberts và Alexander Berzin
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển


PHẦN BA: PHẬT GIÁO TRONG THẾ KỶ 21

Làm Thế Nào Để Là Phật Tử Của Thế Kỷ 21

Tôi luôn nói với những ngưởi Tây Tạng cũng như người Trung Hoa và Nhật Bản, và những người Ladakh và tất cả những Phật tử Himalaya - Tôi cũng đang luôn nói với họ rằng bây giờ chúng ở trong thế kỷ 21, chúng ta phải là những Phật tử của thế kỷ 21. Điều ấy có nghĩa là hãy có một kiến thức toàn diện về nền giáo dục hiện đại, khoa học hiện đại, và tất cả những thứ này, và cũng như việc sử dụng những phương tiện hiện đại, nhưng đồng thời cũng phải có niềm tin vững vàng về những giáo huấn của Đức Phật về lòng vị tha vô hạn, tâm bồ đềquan điểm về sự liên hệ hổ tương, duyên khởi. Thế thì quý vị có thể là một Phật tử chân thành và cũng thuộc vào thế kỷ 21.

Mới đây tôi ở Nabra [Ladakh], và dừng lại một con đường để dùng buổi trưa. Một số người địa phương đến - một số người trong họ chúng tôi đã biết nhau trong 20 hay 30 năm - và tôi đã cũng đã trò chuyện với họ. Tôi đã nói với họ rằng chúng ta cần là những Phật tử của thế kỷ 21, và cũng như là học vấn là rất, rất quan trọng. Rồi thì tôi hỏi họ, "Phật Giáo là gì?" Và họ nói, " Buddham saranam gacchami. Dharmam saranam gacchami. Sangham saranam gacchami " [Con quy y Phật, Pháp, và Tăng.] Đấy là Phật Giáo." Như vậy quá đơn giản.  Rồi thì tôi hỏi họ những gì là khác biệt giữa Đức Phật, chúa Giê-su, nhà tiên tri Mô-ha-mét? Họ nói, "Không có gì khác biệt." Như vậy là không đúng. Như được xem là những bậc thầy vĩ đại của nhân loại, các ngài là giống nhau. Nhưng cho đến khi mà những giáo huấn của các ngài được quan tâm đến, có một sự khác biệt lớn lao. Phật Giáovô thần[1]. Tôi hỏi quý vị một ngày nào đó Phật Giáo có là một hình thức của chủ  nghĩa vô thần hay không, và quý vị nói rằng chủ  nghĩa vô thần có nghĩa là "chống lại Thượng đế." Phật Giáo không chống lại Thượng đế - Phật Giáo tôn trọng tất cả các tôn giáo - nhưng Phật Giáovô thần trong ý nghĩa rằng không có một đấng tạo hóa, không có khái niệm về một đấng tạo hóa. Cho nên về phía giáo lý, về phía triết lý, có những sự khác biệt giữa Phật Giáo và những tôn giáo khác này, nhưng những người dân làng này cảm thấy tất cả [các giáo chủtôn giáo] là giống nhau.

Điều này nhắc tôi: Một lần nọ ở Tây Tạng, một lạt ma thuyết giảng, và thính chúng hỏi vị ấy, "Ba Ngôi Tôn Quý ở đâu? Đức Phật ở chốn nào?" Và vị ấy im lặng trong một lú, và rồi thì chỉ lên bầu trời và  nói, "Ô, Đức Phật ở trong một cung điện pha lê ở trong không trung, vây quanh bởi những hào quang rực rở." Như vậy là không đúng. Đức Phật xét cho cùng ở trong tâm thức của chúng ta - Phật tánh.

thế cho nên tôi muốn chia sẻ với quý vị rằng chúng ta phải đi đến căn bản thật sự của Phật Pháp [giáo huấn của Đức Phật]. Giống như khi quý vị có thức ăn chính - cơm hay bột, hay trong trường hợp của Tây Tạng là tsampa - và rồi thì một ít rau cải. Những rau cải thật tươi ngon; chúng là rất tốt. Nhưng nếu khôngthức ăn chính, chỉ có một ít rau cải - ăn một vài dĩa rau cải - không đủ. Và điều ấy là quan trọng để thấu hiểu.

Thân Chính Và Những Chi Nhánh Của Truyền Thống

Tôi thường diễn tả Phật Giáo Tây Tạng như hiện thân thuần khiết của truyền thống Na Lan Đà [trong ý nghĩa rằng nó thừa kế những giáo huấn của 17 đại đạo sư của Đại học tu viện Ấn Độ Na Lan Đà cổ truyền.] Đấy là điều căn bản. tôi cũng giải thích đến những nhóm Phật tử, kể cả những người ở Ladakh, về sự tương tự của thân cây và những chi nhánh khác nhau. Truyền thống Na Lan Đà giống như thân cây. Rồi thì những truyền thống của Tây Tạng như Nyingma, Sakya, Kaguy, Gelug, Kadam, Jonang - tất cả giống như những chi nhánh.

Mới đây tôi ở Trung tâm Dorzong, một trung tâm của Drugpa Kagyu. Những rinpoche ở đấy thường có những chương trình học tập rất hoàn hảo, không chỉ cho những tu sĩ của họ mà cả đến những học nhân cư sĩ Tây Tạng. Vì thế tôi đã giải thích cho họ ở đấy về thân chính và những chi nhánh và vấn đề, như sự thống nhất được quan tâm, Sakya, Nyingma, Kagyu, Gelug, Kadam, và Jonang tất cả đều đi về gốc rể. Không có sự khác biệt. Nhưng khi nhấn mạnh quá nhiều vào những cành lá, thế thì những sự khác biệt nho nhỏ ở đây ở kia biểu hiện quá nhiều. Những chi nhánh này, là quan trọng; một số điều đặc biệt là ở đấy, như Đại Toàn Thiện [dzogchen ] và Đại Thủ Ấn [mahamudra] và Sakya Tùng quả hướng nhân đạo [lamdray] và Hợp Nhất Tịnh Quang và Tánh không [seltong-zungjug]. Mỗi thứ là tốt đẹp, nhưng tất cả đều liên hệ với thân chính. Thật là tốt đẹp khi những chức năng đặc biệt này đi đến đỉnh tri thức trọn vẹn của giáo huấn căn bản của thân chính. Thế là hoàn toàn. Nhưng nếu quý vị quên những giáo huấn căn bản và chỉ nắm giữ những chi nhánh này, như vậy là không hoàn toàn, và cũng có hiểm họa của việc diễn giải sai lầm.

Cho nên như vậy là thân chính, những đạo sư Na Lan Đà. Tôi thường diễn tả 17 đạo sư Na Lan Đà. Những luận điển của các ngài là những sự diễn giải về căn bản của Phật Giáo. Những thứ khác là các chi nhánh.

Tầm Quan Trọng Của Sự Nghi Ngờ

Theo thân chính - những giáo huấn Phật Giáo căn bản - sự nghi ngờ là rất cần yếu. Bây giờ, tôi nghĩ và hy vọng tôi là một Phật tử, nhưng tôi không còn bất cứ sự tin tưởng nào về Núi Tu Di. Hai chân lý và Bốn Chân Lý Cao Quý là những giải thích thật sự về vũ trụ, cho những giải thiên hà và Big Bang. Đấy là giáo huấn thật sự của Đức PhậtPhật Giáo.

Sự trình bày của những kinh luận cổ điển được cấu trúc chung quanh 4 sự đặt niềm tin vững vàng [tứ y: không đặt niềm tin vào con người, hãy đặt nó vào sự giáo huấn; đừng đặt niềm tin vào lời nói của vị ấy, hãy đặt niềm tin vào ý nghĩa của chúng;đừng đặt niềm tin vào ý nghĩa nông cạn của chúng, hãy đặt niềm tin vào ý nghĩa tột cùng của nó, (để thấu hiểu chúng) đừng đặt niềm tin vào thức phân biệt của quý vị, hãy đặt nó vào sự tỉnh giác sâu xa của quý vị] Những kinh luận cổ điển đề cập rằng những người xem thật sự của những sách vở này, những độc giả nghiêm túc của chúng, phải có một thái độ nghi ngờ. Người ta cần khảo sát cho dù nội dung của quyển sách là điều gì đó có liên hệ đến đời sống của họ hay không. Chúng có lợi ích tạm thời là gì? Và về lâu dài, nó có lợi ích gì? Độc giả nghiêm túc phải nhận thức rõ ràng về sự liên hệ của kinh luận trước khi tuân theo lời dạy của nó.

Đấy chính xác là sự tiếp cận của Na Lan Đà. Mọi người trong thính chúng phải nghi ngờ. Nghi ngờ đem đến câu hỏi; câu hỏi đem đến sự khảo sát; sự khảo sát đem đến những câu trả lời. Đấy là sự tiếp cận hợp lý duy nhất.

Phủ Nhận Những Niềm Tin Về Núi Tu DiVị Trí Của Những Thế Giới Địa Ngục

Khi tôi ở Sar Ashram 40 năm trước, trong một trường hợp tôi đã đề cập rằng, "Đức Phật đã không đến hành tinh này để vẽ một bản đồ. Vì thế không phải là vấn đề của Phật Giáo cho dù có Núi Tu Di hay không. Không hề gì." Giống như thế. Cho nên chúng ta tự do phủ nhận sự giải thích của Thế Thân [trong A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, kho tàng những đề tài đặc biệt của tri thức] Chúng ta phải thực hiện một sự phân biệt giữa ý nghĩa thông thường và biểu tượng. Trong Mật pháp Thời Luân, nó cũng đề cập rằng Núi Tu Di và tất cả những thứ này tượng trưng thân thể con người, từ đầu đến bàn chân. Có nhiều sự giải thích mật tông tương tự. Cho nên những biểu tượng này có một ý nghĩa nào đó, một mục tiêu nào đó.

Và về những địa ngục, khái niệm về địa ngục: tôi thấy rất khó để chấp nhận những gì A tỳ Đạt ma Câu Xá luận của Thế Thân để cập: rằng 20 do tuần [yojana] dưới Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) là 8 thế giới địa ngục khác nhau.  Do tuần dài hơn một cây số. Cho nên nếu quý vị đi sâu hơn và sâu hơn, rồi thì chắc chắn rằng các địa ngục tồn tại ở Mỹ! Nhưng thật hổ thẹn nếu nói rằng Mỹ là một địa ngục. Cho nên những thứ này thật không khó để bác bỏ.

Có ba cách để thấu hiểu mọi việc: qua nhận thức cảm giác, qua kết luận căn cứ trên lý trí. Và qua việc dựa trên thẩm quyền của kinh điển. Điều ấy có nghĩa là [trong trường hợp của kinh điển] dựa vào người thứ ba. Tôi thường nói với mọi người rằng giống như ngày sinh của chúng ta: Chúng ta không có cách nào để khảo sát ngày sinh thật sự của chúng ta thế nào. Chúng ta phải dựa vào người thứ ba; thí dụ, mẹ của chúng ta. Và nhằm để chấp nhận sự diễn giải của người thứ ba, trước nhất chúng ta phải chứng tỏ người ấy là trung thực, đáng tin  cậy, và có một tâm thức bình thường. Cho nên chúng ta cần thử nghiệm một lãnh vực khác mà người thứ ba đã đề cập, thứ nào đó mà chúng ta có thể khảo sát. Nếu chúng ta khảo sát và thấy rằng nó là đúng, chúng ta biết người này là chân thậtkhông có lý do gì để dối trá hay hay những thứ giả vờ như vậy. Thế thì chúng ta có thể chấp nhận những tuyên bố khác của người ấy.

Cho nên giống như thế, có thể có những hiện tượng huyền bí ngoài trình độ thấu hiểu của chúng tachúng ta không có kinh nghiệm về vấn đề ấy. Nếu có những  người nói là họ thật sự trải nghiệm những hiện tượng này, chúng ta có thể kiểm chứng những tác phẩm của họ và để thấy chúng đáng tin cậy hay không liên hệ đến những điểm khác. Nếu như thế, chúng ta có thể dựa vào sự giải thích của người thứ ba này về những thứ vượt ngoài tầm lý trí của chúng taChúng ta phải tiếp nhận loại tiếp cận thế này với một số những sự giải thích trong kinh điển Phật Giáo.

Bây giờ theo lượng [pramana] - lý luậnnhận thức học - [có những loại chứng cứ và phủ nhận] Một loại phủ nhận liên hệ đến một hiện tượng phải được quán sát, nhưng không thể]. Thí dụ, theo A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, mặt trờimặt trăng có cùng khoảng cách từ Trái Đất, và khi chúng xoay quanh Núi Tu Di, thành ra ngày và đêm. Dường như chúng ta thật sự kinh nghiệm bóng của Núi Tu Di [vào buổi tối], nhưng nếu chúng ta trải nghiệm bóng của nó, thế thì chúng ta cũng phải có thể thấy ngọn núi. Vào thời xưaẤn Độ, Thế Thân không thể kiểm chứng để thấy có một ngọn Núi Tu Di  hay không. Nhưng bây giờ chúng ta có phi thuyền không gian, hay tàu vũ trụ, vì thế chúng ta phải có thể thấy nó. Nếu Núi Tu Di hiện hữu, thì chúng ta phải thấy nó. Nhưng vì chúng ta không thể thấy nó, cho nên chúng ta có thể thấy rằng nó không tồn tại.

Thế nên có những phủ nhận liên hệ đến việc không thể quán sát hiện tượng mà quý vị đang cố gắng để chứng minh hay chỗ mà quý vị quán chiếu đối lập với nó. Trần NaPháp Xứng  đề cập rõ ràng về những thứ này trong những luận điển của họ. Vì vậy việc sử dụng chính nhận thức luận Phật Giáo, sự không hiện hữu của Núi Tu Di được chứng minh một cách dễ dàng. Không có vấn đề gì trong việc phủ nhận những thứ này.

Một lần nọ ở  Nam Ấn, tại một cuộc tập hợp lớn của các tăng sĩ - tôi nghĩ là hơn 10 nghìn tăng sĩ (tất cả những tăng sĩ của các tu viện chính tập hợp ở đấy)- Tôi đã đề cập quan điểm của tôi về tầm quan trọng của khoa học và rằng chúng ta phải học hỏi khoa học, khoa học hiện đại. Và rồi tôi đã đề cập rằng tôi không tin tưởng về Núi Tu Di và tất cả những thứ này. Sau đó tôi đã nói, "Ô, nhưng đừng xem tôi như một người theo chủ thuyết hư vô." Ngày đầu tiên, sự giảng dạy của tôi nhiều hơn trong mối liên hệ giữa khoa học Phật Giáo và khoa học phương Tây. Rồi thì ngày thứ hai tôi đã giải thích về giáo lý nhà Phật. Thế nên, ngày đầu tiên tôi đã có tính chất đổi mới trong sự giảng dạy của tôi, và ngày thứ hai là giáo lý truyền thống hơn. Do thế, không có rắc rối gì trong việc phủ nhận những thứ này.

Những Khả Năng Nguy Hiểm Của Sự Sùng Mộ Đạo

Bây giờ nếu chúng ta đi vào gốc rể, không có nhấn mạnh về tầm quan trọng của sự sùng mộ. Nhưng nếu đi vào những chi nhánh, giống như đại thủ ấn hay đại toàn thiện, thế thì bổn tôn du già (guru-yoga) là rất quan trọng. Điều ấy thật sự đầu độc một số những lạt ma này, và sau đó những trung tâm của họ có thể trở thành những giáo phái. Tại sao? Do bởi sự lãng quên những giáo lý căn bản của Đạo Phật và chỉ tập trung vào những thứ nhánh nhóc.

Giống như Naropa, bổn sư là Marpa, vị thầy chính của dòng truyền thừa Kagyu. Naropa là một trong những học giả lớn của Đại học Na Lan Đà. Rồi thì sau này ngài thực tập Mật tông nhìn giống như một hành khất hay một thành tựu giả. Naropa đúng là có khả năng thực tập những thứ này bởi vì ngài đã học hỏi về tất cả những luận điển quan trọng có trong truyền thống Na Lan Đà. Nhưng bây giờ một số hành giả ở phương Tây - cũng như trong người Tây Tạng, trong những người Ladakh cũng thế - không biết đến nền tảng của Phật Pháp, chỉ làm bất cứ điều gì đạo sư của họ nói mà thôi. Ngay cả nếu đạo sư của họ nói, "Tây là đông," học nhân tin: "Ô, đấy là phương đông." Như vậy là chống lại truyền thống Na Lan Đà.

Dĩ nhiên, một người thật sự đầy đủ phẩm chất trong tri thức căn bản Phật Giáo là khác với một lạt ma ngồi trên tòa cao - giống như tôi ngồi trên một tòa cao - nhưng nhưng kinh nghiệm của người ấy thật rất giới hạn. Bây giờ nhìn vào giống như tôi hơi có chút ganh tỵ với những lạt ma ấy! Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, tôi nghĩ rằng họ không thích đáng, tri thức đầy đủ, và họ chỉ nhấn mạnh đến chi nhánh của họ mà thôi. Như vậy đã tạo nên nhiều sự thấu hiểu sai lầm. Điều ấy là quan trọng để thấu hiểu.

Phật Giáo Thích ứng Với Phương Tây

Ý tưởng về Phật Giáo phương Tây là hoàn toàn đúng, hoàn toàn đúng. Quý vị biết rằng Phật Giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ. Rồi khi đến những vùng đất khác nhau, nó trộn lẫn với những truyền thống văn hóa địa phương và trở thành Phật Giáo Tây Tạng, Phật Giáo Trung Hoa, Phật Giáo Nhật Bản: như thế.

Một số nhạc cụ mà những tu viện Tây Tạng sử dụng không đến từ truyền thống Na La Đà, mà đến từ phía Trung Hoa. Có một nhạc cụ gọi là gyaling, nghĩa là "sáo  Trung Hoa". Tức cười, có phải không? Thứ ấy không là một bộ phận của Phật Giáo; đấy chỉ là một khía cạnh của văn hóa. Tương tự như ở cộng đồng Phật Giáo phương Tây, quý vị có thể sử dụng những nhạc cụ hiện đạicầu nguyện trong giai điệu của âm nhạc phương Tây. Tốt thôi. Không hề gì.

Nhưng cho đến khi mà những ý tưởng của Bốn Chân Lý Cao Quý và lòng vị tha và tất cả những thứ này được quan tâm: Quý vị thấy, Phật Giáo đối phó với những cảm xúc, và cảm xúc ngày nay của loài người là giống với những cảm xúc của con người 2600 năm trước. Cảm xúc của nhân loại đã giống như nhau tôi nghĩ là trong 3 hay 4 nghìn năm qua và sẽ vẫn như vậy trong vài nghìn năm tới nữa.  Sau 10 nghìn hay 20 nghìn năm, một cấu trúc mới nào đó của não bộ sẽ tiến hóa, và rồi thì có thể mọi thứ sẽ hơi khác biệt một chút. Nhưng nói thế là quá xa phía trước. Không cần phải điều chỉnh các giáo huấn cho thế hệ của chúng ta, thế  hệ thứ hai, thế hệ thứ ba - đó là cùng não bộ và cùng những cảm xúc của con người. Quý vị có thể hỏi những nhà khoa học về điều này, những nhà chuyên môn về não bộ, và họ sẽ nói, "Ô, sẽ là cùng não bộ cho tối thiểu vài thế kỷ tới. Không có gì thay đổi." Giống như thế. Cho nên giáo lý căn bản của Đạo Phật phải là đáng tin cậy.

Một lần ở Pháp, tôi đã đề cập với những người Tân Thời Đại (New Age) - quý vị lấy điều gì đó nơi đây, điều gì đó nơi kia, điều gì đó nơi kia, và kết quả cuối cùng là không đáng tin cậy. Như vậy là không tốt. Tôi nghĩ chúng ta phải gìn giữ truyền thống Na La Đà chân thật. Đấy là quan trọng. Nhưng những khía cạnh văn hóa có thể thay đổi.

Vấn Nạn Của Việc Hiểu Sai Những Giáo Lý Phát Triển

Bây giờ tôi nghĩ có lẽ tôi có một phê phán xây dựng nào đó. Ở phương Tây, tôi đã từng gặp một số người chỉ biết một chút ít, nhưng lại nghĩ: "Ô, tôi có đầy đủ tri thức!" Sau đó, qua tri thức giới hạn thấu hiểu sai lạc của họ, họ lại hình thành sự giảng dạy. Dĩ nhiên, trong những người Tây Tạng cũng có việc này, đặc biệt những người không học hỏi nghiên cứu những luận điển triết lý lớn này.

Có một thí dụ mà tôi nghĩ tôi có thể chia sẻ với quý vị. Tôi đã thăm San Francisco ngay sau một vụ động đất lớn. Tài xế của tôi vào lúc ấy không phải từ Bộ Ngoại Giao. Đấy là một chiếc taxi tư nhân, và tài xế là một thành viên của một trung tâm Phật Pháp, người thực hành Đại Toàn Thiện. Tôi ngẫu nhiên hỏi ông ấy, "Khi trận động đất xảy ra, ông đã nghĩ gì?" Và người ấy nói, "Ô, đấy là một cơ hội lớn để thực hành Đại Toàn Thiện, bởi vì đấy là một cơn sốc, một cơn sốc lớn."

Nhưng ở trong tình trạng của cơn sốc không có suy nghĩ nào - nếu ông ấy cảm thấy đấy là một sự thực hành Đại Toàn Thiện chân thành, thế thì tôi nghĩ thật quá dễ dàng: bị rung động và quý vị có thể thực hành Đại Toàn Thiện! Đại Toàn Thiện không dễ dàng như thế. Chính tôi cũng từng thực hành Đại Toàn Thiện. Ô, rất khó, rất khó khăn.

châm ngôn rằng: "Một chút tri thức là một thứ nguy hiểm." Có một chút sự thật ở đấy, cho nên hãy cẩn thận. Hãy học tập. Và đừng dựa vào sự hướng dẫn của một lạt ma; hãy dựa vào những sách vở đáng tin cậy này. Đấy là quan trọng. Đừng dựa vào lời nói của tôi. Hãy học hỏi những luận điển đáng tin cậy này của Long Thọ, Thánh Thiên, tất cả những đạo sư Phật Giáo này. Những giáo lý này đã từng được thể nghiệm qua hàng thế kỷ bởi những học giả ấy. Tôn giả Vô Trước đã trước tác và tranh luận với một số triết gia khác. Thí dụ, một tác phẩm nào đó của Long Thọ được bình phẩm một ít bởi tôn giả Vô Trước; và rồi thì một đạo sư khác phân tích và bình phẩm những tác phẩm của tôn giả Vô Trước. Những luận điển lớn này được hình thành bởi những đạo sư này được nghiên cứukiểm tra qua hàng thế kỷ, vì thế chúng thật sự đáng tin cậy.

Và rồi thì có doha, những bài hát tâm linh [những bài hát tâm linh tự phát của những vị chứng đạo sư]. Những hành giả độc đáo này, như Naropa hay Tilopa, học hỏi hoàn hảo truyền thống Na Lan Đà. Rồi thì, qua thực hành, các ngài từ bỏ hoàn toàn đời sống trần tục, kể của đời sống tu viện, và sống hoàn toàn như những khất sĩ hay hành giả du già. Và rồi thì qua những kinh nghiệm của chính mình, các ngài đã sáng tác những thi kệ này tương ứng với sự thấu hiểu sâu xatừ ngữ giản dị của các ngài. Thế nên có một hiểm họa về sự thấu hiểu sai lạc những thứ này nếu một người chỉ biết truyền thống căn bản [và không biết xa hơn].

Truyền thống Nyingma diễn tả một hệ thống của 9 thừa [9 cổ xe]. Ba thừa đầu - thanh văn thừa, duyên giác thừa, và Bồ tát thừa [ba kinh thừa] - căn cứ chỉ trên sự thấu hiểu về Bốn Chân Lý Cao Quý. Và rồi thì ba thừa tiếp theo - kriya, upa, và yoga [những thừa liên hệ đến ba lớp tantra ngoại] - nhấn mạnh đến sự thanh tịnh. Và rồi thì ba thừa cuối cùng - maha, anu, và ati [ba thừa liên hệ đến ba lớp tantra nội] - nhấn mạnh những sự thực tập cho việc kiểm soát tâm thức.

Ý nghĩa thật sự đằng sau ba thừa cuối cùng này là để cho phép cảm xúc phát triển, và rồi thì, thay vì trở thành bị nô lệ bởi cảm xúc ấy, quý tâm thức chính của quý vị có thể nhìn vào bản chất cứu kính của cảm xúc. Đấy là tịnh quang. Cho nên trong ba thừa cuối cùng này, những cảm xúc tàn phá không phải được xem như điều gì đó mà quý vị phải vượt thắng, nhưng quý vị nhìn vào bản chất của những cảm xúc tàn phá này để thấy thực tại. Cho nên đây là trên căn bản của kinh nghiệm sâu xa, và nó là một loại thực hành rất khó khăn đối với những giai tầng trước. Vì vậy, một số giáo huấn từ những hành giảtrình độ cao cấp những người dã đi qua những giai tầng  này là khó khăn để thực hành trong trong trình độ của chúng ta. 9 giai tầng này không dễ dàng.

Chúng Ta Nên Hành Động Nhân Danh Loài Người Hay Nhân Danh Phật Giáo?

Mới đây tôi đã ở Patna, tiểu bang Bihar. Người ta thực hiện một công trình xây dựng to lớn, một tịnh xá Phật Giáo, một ngôi chùa Phật Giáo. Họ thỉnh cầu có một số xá lợi từ những quốc gia Phật Giáo khác nhau, và tôi cũng đã cúng dường cho họ một số xá lợi. Tại buổi lễ ấy, vị thủ hiến phát biểu rằng qua sự gia hộ của Đức Phật, tiểu bang Bihar sẽ phát triển một cách nhanh chóng. Sau đó tôi nói với ông - vì tôi biết ông, và ông là một người rất thân - "Nếu sự gia hộ của Đức Phật có thể giúp để phát triển tiểu bang Bihar, nó đã phát triển lâu rồi, bởi vì sự gia hộ của Đức Phật đã sẳn rồi. Cho đến khi một vị thủ hiến có hiệu lực đến, sự phát triển sẽ không diễn ra. Sự gia hộ của Đức Phật phải qua hành động của con người."

Cầu nguyện không thật sự tác động, mặc dù lời cầu  nguyện là điều gì đấy rất dễ thương nhưng hành động lại là điều gì khác biệt, có phải không? Kết quả thật sự đòi hỏi hành động. Đó là tại sao Phật Giáo nói, "Nghiệp, nghiệp." Nghiệp hàm ý "hành động". Do vậy chúng ta phải hoạt động.

Hành động phải được thực hiện với niềm tin: "Tôi là một trong gần 7 tỉ người. Tôi có trách nhiệm để quan tâm nghiêm túc về sự cát tường của gần 7 tỉ người." Giống như thế. Khi chúng ta tiến hành cầu nguyện, chúng ta luôn nói nó là cho tất cả chúng sanh. Không người Phật tử nào phát lời cầu nguyện chỉ cho người Tây Tạng. Không bao giờ cầu nguyện cách ấy. Hay chỉ cho thế giới này - có vô số thế giới, vô lượng chúng sanh. Và rồi thì chúng ta phải thêm vào điều ấy; bằng khác đi sự cầu nguyện của chúng ta trở thành đạo đức giả. Sự cầu nguyện trên căn bản của một cái ''chúng tôi'' lớn, nhưng với nghiệp thật sự của chúng ta - ''những hành động'' thật sự của chúng ta - được căn cứ trên một cảm giác mạnh mẽ của ''chúng ta'' và ''họ'' là đạo đức giả.

Bây giờ, hành động của chúng ta phải nên được hoàn tất nhân danh con người hay nhân danh Phật Giáo? Nếu quý vị cố gắng để thúc đẩy những giá trị căn bản của loài người trên căn bản của giáo lý Đạo Phật,thế thì nó trở thành hạn hẹp và nó không thể phổ quát. Truyền thống nghìn năm tuổi của Ấn Độ liên hệ đến sự đa nguyên trong tất cả mọi tôn giáo, và nó là thế tục - không ưu tiên trên một tôn giáo đặc thù nào; tôn trọng mọi tôn giáo. Bên cạnh những tôn giáo bản địa, tất cả mọi tôn giáo quan trọng của thế giới cuối cùng được thiết lập tại Ấn Độ. Vì vậy trong hai nghìn năm vừa qua, tất cả mọi truyền thống tôn giáo quan trọng của thế giới đã chung sống với nhau trên xứ sở này. Cho nên một cách tự nhiên, do bởi thực tế ấy, họ đã phát triển những nguyên tắc thế tục. Điều ấy là rất tốt. Có rất nhiều tôn giáo quan trọng cho nên chúng ta không thể nhấn mạnh trên niềm tin tôn giáo của chúng ta. Vì thế cho nên cách thực tiển, thực tế duy nhất là không đụng chạm đến tôn giáo - đơn giản chỉ là những nguyên tắc thế tục.

Tôi là một Phật tử chí nguyện tròn vẹn. Nếu ai đấy cho thấy một sự thích thú về Phật Giáo, đôi khi tôi cảm thấy hạnh phúc; nhưng tôi không bao giờ có gắng tuyên truyền về Phật Giáo. Niềm tin tôn giáo là một vấn đề cá nhân. Những nguyên tắc thế tụcvấn đề của toàn thể nhân loại. Cho nên chúng ta, cộng đồng Phật Giáo - bên cạnh sự thực tập hàng ngày như một Phật tử - nên suy nghĩ thêm về những dòng này.

 Tôi thật sự cảm kích việc làm của những anh chị em Ki Tô giáo. Tôi nghĩ họ đã thực hiện sự cống hiến to lớn nhất cho giáo dục trên toàn hành tinh này. Quý vị không thấy bất cứ tôn giáo nào làm việc ấy. Mới đâyẤn Độ Tổ chức Ramakrishna đang làm việc gì đó [trong lãnh vực của  giáo dục tập trung], nhưng tất cả những nhóm tôn giáo khác vẫn khép kín trong đền thờ của họ và để thu tiền. Quý vị, phải phải năng động trong việc thúc đẩy cho một xã hội tốt đẹp hơn, lành mạnh hơn. Trên cấp độ ấy, tôi nghĩ những anh chị em Ki Tô giáo của chúng ta đã thực hiện một sự phục vụ tuyệt vời cho nhân loại. Nhưng cùng lúc, họ cũng thực hiện hoạt động truyền giáo, việc đổi đạo, và đó là một điều phức tạp.

Một lần ở Salt Lake City, những người Mormon đã mời tôi vào tổng hành dinh của họ. Tôi đã gặp lãnh đạo của họ, và rồi thì tôi đã diễn thuyết công cộng ở đấy. Tôi đã đề cập rằng khi những người truyền giáo đi vào những vùng nơi không có những tôn giáo cụ thể, thế thì thật tốt đẹp để biến đổi những người ở đấy thành Ki Tô hữu. Khi không có triết lý cụ thể nào ở đấy, thì rất tốt. Nhưng trong những vùng đã có những niềm tin tôn giáo cụ thể, sự đổi đạo tạo ra những sự xung độtrắc rối.

Đôi khi họ cung cấp tiền bạc khi họ tiến hành những sự cải đạo. Khi mỗi sự đổi đạo xảy ra, họ cho 15 đô la. Những người Mông Cổ rất tài tình về điều này; họ trải qua sự đổi đạo mỗi năm, và vì thế  mỗi năm họ nhận được 15 đô la.

 

Ẩn Tâm Lộ Friday, December 19, 2014



[1] Phật Giáovô thần trong ý nghĩa rằng không có một đấng tạo hóa, không có khái niệm về một đấng tạo hóa.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 15488)
Đối với vũ trụ học Phật Giáo, vòng lưu chuyển của đời sống của một vũ trụtuần hoàn. Có một thời điểm hình thành (thành), một thời điểm trải qua (trụ), một thời điểm suy tàn...
(Xem: 13175)
Với trí tuệ của bậc toàn giác, Đức Phật đã chỉ ra chân lí của sự sống, rằng mọi loài sống trên trái đất này đều có quan hệ hữu cơ, gắn bó khăng khít với nhau...
(Xem: 19334)
Nghiệp là một trong các giáo lý căn bản của Phật giáo. Mọi việc khổ vui, ngọt bùi trong hiện tại của chúng ta đều do nghiệp của quá khứhiện tại chi phối.
(Xem: 24580)
Làm sao cái Biết nhận thức được tự tính không của đối tượng? Đối tượng mà ta nhận thấy (nhận biết của tâm) thật ra chỉ là thấy hình ảnh không của đối tượng mà thôi.
(Xem: 15717)
Chú Đại bi còn có những tên gọi sau: Thiên thủ thiên nhãn quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni, Quảng đại viên mãn đà-la-ni...
(Xem: 37799)
Có thể nói nguyên nhân sâu xathen chốt nhất của sự biến mất truyền thống Tăng bảo trong Phật giáo Nhật Bản hiện tạibản thể giới luật của Tăng không được coi trọng.
(Xem: 13456)
Theo truyền thuyết, không lâu trước khi nhập niết bàn, Đức Phật đã trả lời Ananda, thị giả theo hầu cận Phật nhiều năm, khi vị này xin Phật chỉ dẫn cách đối xử cho các vị tỳ kheo...
(Xem: 13063)
Tu hành Duy thứcđạt đến hai vô ngã bằng cách biết ngã và pháp không là gì ngoài sự biến hiện của tâm thức. Nói cách khác, ngã và pháp chỉvọng tưởng không thật.
(Xem: 17150)
Ý thức là cái hoạt động mạnh nhất ở nơi con người; cho nên, cái gì tốt đẹp nhất cũng như cái gì xấu xa nhất của con người đều do ý thức tạo ra. Cũng ý thức là cái thức biến đổi...
(Xem: 13179)
Đức Phật đến với cuộc đời không gì khác ngoài việc chỉ bày cho con người một nếp sống hạnh phúc an lạc. Những lời dạy của Ngài thật giản dị nhưng lại hết sức thiết thực...
(Xem: 17360)
Chữ Phật không phải là một danh từ riêng, mà là một danh hiệu. Trong truyền thống Phật giáo, có nhiều vị Phật trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai.
(Xem: 21605)
Đối với đạo Phật, học thuyết âm dương chỉ là tưởng tri của các học giả, không thể là chân lý. Vậy chân lý của đạo Phật là gì? Có thể gói gọn trong một chữ “Khổ”.
(Xem: 13194)
Ở trong Tứ thánh đế, Diệt thánh đếchân lý cứu cánh, là chân lý tuyệt đối, là chân lý duy nhất, là chân lý tối hậu được chứng nhập bằng Đệ nhất nghĩa trí.
(Xem: 14366)
Phật Giáo, nhấn mạnh vào tầm quan trọng của kinh nghiệm trực tiếp trong vấn đề nghiên cứu tâm lý học. Nếu chỉ chú trọng duy nhất vào lý thuyết thì sẽ đánh mất đi những điều căn bản.
(Xem: 12780)
Nhiều người muốn tạo sinh vì nhiều lý do khác nhau. Hoặc là họ muốn làm sống lại một người thân yêu đã chết. Hoặc là họ muốn mình trường sanh bất tử.
(Xem: 13638)
Phật giáo cho rằng sự li hợp thành bại của hết thảy việc người trên thế gian này, đều không tách rời nguyên tắc “Nhân duyên quả báo”, kệ nhân quả ba đời nói rằng...
(Xem: 28554)
Tác phẩm này là công trình nghiên cứu mang tính khoa học, nhưng nó có thể giúp cho các nhà nghiên cứu về Phật giáo tìm hiểu thêm về lịch sử Phật giáo...
(Xem: 23362)
Thế giớichúng ta đang sống luôn bất an, bất toàn và tạm bợ mà trong kinh A Di Đà gọi là trược thế... Thích Viên Giác
(Xem: 34345)
Thiếu CHÁNH KIẾN trong sự tu hành chẳng khác gì một kẻ đi đường không có BẢN ĐỒ, không có ÁNH SÁNG rất dễ bị dẫn dụ đi theo đom đóm, ma trơi.
(Xem: 28846)
Nguyễn Du cho chúng ta thấy rằng Cụ không những là một người am hiểu sâu xa về Phật giáo mà còn là một hành giả tu tập Thiền tông qua Kinh Kim Cương... Đại Lãn
(Xem: 32153)
Đức Phật khi còn tại thế đã luôn luôn từ chối việc dùng giáo lý để thỏa mãn khao khát kiến thức con người... Nguyễn Điều
(Xem: 11307)
Chỗ ấy chính là Niết Bàn Diệu Tâm Thật Tướng, Vô Tướng, là Như Lai tạng, là Chơn Như, tịch diệt... HT Thích Như Điển
(Xem: 11991)
Trong kinh A Hàm, Đức Phật đã chỉ dạy các đệ tử không nên để tâm rong ruổi đến những cảnh giới viễn vông xa rời thực tế. Phật pháp là những gì thân thiết...
(Xem: 26253)
‘Sự quyến rũ của Đạo Phật Trong Thế Giới Mới’ được tuyển dịch từ những bài viết và pháp thoại của nhiều bậc Tôn túc và các học giả Phật Giáo nổi tiếng thế giới...
(Xem: 17347)
Phật Giáo khuyên chúng ta phải luôn giữ sự chính xác và phải chú tâm đến từng cảm nhận của mình trong cuộc sống, trong mỗi tư duy, trong từng xúc cảm, và mỗi hành động của mình.
(Xem: 14507)
Ta có thể tìm thấy thông tin về bức hình trên của Phật Thích-ca trong hai tài liệu sau đây. Một là, trong tác phẩm Vrai Zen của thiền sư Taisen Deshimaru (1914-1982).
(Xem: 34439)
Không thể có một bậc Giác Ngộ chứng nhập Niết Bàn mà chưa hiểu về mình và chưa thấy rõ gốc cội khổ đau của mình.
(Xem: 13102)
Chuyển ngữ kinh không chỉ sẽ thuận lợi trong việc hoằng pháp, mà còn dễ dàng đưa giáo pháp Đức Phật vào nền văn hóa dân gian qua các dạng khác như chuyện cổ tích, ca dao...
(Xem: 12265)
Tóm lại Phật Giáo Nguyên ThủyPhật Giáo Đại Thừa không phải là hai "học phái" hay "tông phái" khác nhau, mà đúng ra chỉ là hai thái độ hay hai chủ trương tu tập khác nhau, và cùng tiến bước trên một Con Đường chung.
(Xem: 13387)
Sự tái sinh có đúng là một sự tiếp nối liên tục của nhiều kiếp sống sinh học khác nhau hay là trái lại đấy chỉ là các thể dạng tâm thần khác nhau có thể (hay không có thể)...
(Xem: 40490)
Đa số dân chúng là Phật tử thuần thành và số lượng tu sĩ khá đông đảo nên Miến Điện mệnh danh xứ quốc giáo với hai đường lối rõ rệt cho chư Tăng Ni: PHÁP HỌC (Pariyattidhamma) và PHÁP HÀNH (Patipattidhamma).
(Xem: 26897)
Tập sách nhỏ này, là một tập tài liệu vô cùng quí giá, do sự tham khảo các kinh sách của Đức Thế Tôn để lại với các tài liệu tác giả đã sưu tầm và tham quan tại một số địa phương...
(Xem: 14442)
Nếu chúng ta là người Phật tử thì ngày 23 tháng chạp không nên theo tập tục văn hóa mê tín dị đoan mua cá chép vàng về để giết hại cúng Ông Táo, việc làm ấy sai trái đạo lý...
(Xem: 13218)
Phật Giáo là một trong những tôn giáo đầu tiên có giáo đoàn cho ni giới (đại khái là nữ tu sĩ). Giáo đoàn này được thành lập năm năm sau khi Đức Phật thành đạo.
(Xem: 13439)
Phật giáo nhận thấy rằng tất cả mọi người và mọi chúng sanh đều phụ thuộc lẫn nhau. Mặc dù thân và tâm của mọi người khác nhau nhưng mọi người vẫn tương quan với nhau.
(Xem: 12506)
Phật giáo nhận thấy rằng tất cả mọi người và mọi chúng sanh đều phụ thuộc lẫn nhau. Mặc dù thân và tâm của mọi người khác nhau nhưng mọi người vẫn tương quan với nhau.
(Xem: 13113)
Với Duy thức học, mắt, tai… là các căn. Căn có hai phần, là “phù trần căn” và “thắng nghĩa căn”. “Phù trần căn” là năm giác quan mắt, tai… mà ta có thể nhận biết.
(Xem: 12290)
Phật giáo nói về sự khác nhau giữa cái “tôi’ quy ước (tục đế) và "cái tôi" không thật. "Cái tôi" quy ước là "cái tôi" có thể quy cho sự tương tục không ngừng của mỗi cá nhân...
(Xem: 11769)
Đạo Phật đã tồn tại và phát triển 2600 năm kể từ khi Đức Phật giác ngộ lúc 35 tuổi. Giáo lý của Ngài được đặc trên nền tảng Từ biTrí tuệ qua sự chứng nghiệm của Ngài.
(Xem: 12549)
Con người và loài thú đều giống nhau: đói thì kiếm ăn, khát thì kiếm nước uống, cũng đều duy trì bản năng sinh tồn như nhau... Thích Trí Giải
(Xem: 17647)
Những lời Phật dạy trong kinh chỉ giúp chúng sinh phá bỏ những hiểu biết tương đối, phá bỏ những kiến chấp sai lầm cố hữu, những vướng mắc lâu đời...
(Xem: 12184)
Cứu cánh của Phật giáo là sự Giác Ngộ, phương tiện giúp đạt được Giác NgộTrí Tuệ, và đối nghịch với Trí TuệVô Minh. Vậy muốn đạt được Giác Ngộ thì phải loại trừ Vô Minh.
(Xem: 12728)
Từ nhiều thông tin, cách thờ phượng và sự phát triển khác nhau, hiện nay đạo Phật dường như đang dần dần thâm nhập vào nền văn hóa của toàn thế giới.
(Xem: 18423)
An cư nghĩa là khoảng thời gian người xuất gia chuyên tâm tu trì lời Phật dạy hay còn gọi là thúc liễm thân tâm theo giáo phápgiới luật do Đức Phật tuyên thuyết.
(Xem: 14277)
Ý nghĩa tôn giáo của giáo lý Duyên khởi nhấn mạnh giáo lý về học thuyết của nghiệp (karma)- giải thích căn bản của sự đau khổ trong sự tồn tại của con ngườithế giới.
(Xem: 12975)
Dù có ánh nắng vàng rực rỡ hay không, sắc diện của Đức Thế Tôn vẫn như vầng trăng rằm. Đôi mắt dịu hiền từ bi tỏa rộng... Nguyên Siêu
(Xem: 11307)
Dựa theo tinh thần Phật giáo, do nhân duyên hòa hợp tất cả những nghiệp duyên từ trong những đời quá khứkiến tạo ra con người trong kiếp này.
(Xem: 12128)
Tâm ý không mang bản chất thương hay ghét, thích hay không thích. Tâm ý (mind) có nghĩa là “khả năng hiểu biết” (knowing faculty), “khả năng tri nhận” (cognizing faculty).
(Xem: 13443)
Một khi chánh trí kiến (right understanding) đã phân biệt được cái ảo giác về tự ngã (self created ego) rồi thì mối quan hệ sẽ trở nên thân hữuhuynh đệ hơn.
(Xem: 10822)
Chúng ta phóng sanh loài khác chính là phóng sanh cho chính chúng ta, chúng ta cứu giúp sự sống của người khác chính là cứu giúp sự sống của chính chúng ta.
(Xem: 11060)
Tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên xuất bản năm 1933 là cuốn tiểu thuyết mở đầu cho sự nghiệp sáng tác của nhà văn Khái Hưng... Hoàng Như Mai
(Xem: 10267)
Câu chuyện về các tôn giáo lớn của Ấn Độ bắt đầu tại vùng thung lũng Ấn Hà vào khoảng 2,500 năm trước công nguyên. Ở đó thổ dân Dravidian đã thiết lập nền văn minh Harappa cực thịnh...
(Xem: 28853)
Nền giáo học của Phật giáo có nội dung rộng lớn tận hư không pháp giới. Phật dạy cho chúng ta có một trí tuệ đối với vũ trụ nhân sinh, giúp chúng ta nhận thức một cách chính xác...
(Xem: 25230)
Mọi người đều biết là Đức Phật không hề bắt ai phải tin vào giáo lý của Ngài và Ngài khuyên các đệ tử hãy sử dụng lý trí của mình dựa vào các phương pháp tu tập...
(Xem: 26830)
Giáo lý đạo đức của Đại thừa được đề ra trong học thuyết về các ‘Ba-la-mật’ (pāramitā), khởi đầu là sáu, gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền địnhtrí tuệ ba-la-mật.
(Xem: 25726)
Thật vậy, trên bất cứ một khía cạnh nào, Đức Phật đều giữ cho tôn giáo của Ngài không bị vướng mắc vào những thứ cành lá chết khô của quá khứ.
(Xem: 18642)
Để thực hành lòng từ, trước nhất là bạn nên trực tiếp giúp đỡ họ nhu cầu về thức ăn, chỗ ở, thuốc men v.v… Nhưng điều đó chưa đủ, mà bạn cần phải ngăn chặn nguyên nhân...
(Xem: 22978)
Khi tại thế, Ðức Phật đi hoằng hóa nhiều nước trong xứ Ấn Ðộ, đệ tử xuất gia của ngài có đến 1250 vị, trong đó có Bà Ma Ha Ba Xà Ba Ðề...
(Xem: 34496)
Do tánh Không nên các duyên tập khởi cấu thành vạn pháp, nhờ nhận thức được tánh Không, hành giả sẽ thấy rõ chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, cuộc đời là khổ.
(Xem: 32118)
Tất nhiên không ai trong chúng ta muốn khổ, điều quan trọng nhất là chúng ta nhận ra điều gì tạo ra khổ, tìm ra nguyên nhân tạo khổ và cố gắng loại trừ những nhân tố này.
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant