Logo HHAD 2018 250
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,019,073
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Xin Hỏi Ban Biên Tập Thế Nào Là Nguỵ Kinh Và Có Phải Kinh Lăng NghiêmKinh Giả Không?

27 Tháng Tám 201000:00(Xem: 2302)
Xin Hỏi Ban Biên Tập Thế Nào Là Nguỵ Kinh Và Có Phải Kinh Lăng Nghiêm Là Kinh Giả Không?
Trong buổi ra mắt sách Lịch Sử Thiền Học tại TP. Little Saigon miền Nam California, Thượng Toạ Tiến sĩ Thích Nguyên Tâm đã cho biết nội dung sách đặt một số vấn đề về vai trò của Lục Tổ Thiền, và nói đến các ngụy kinh được dùng trong Thiền tông thời kỳ đầu. Thầy nói: "sách nói Kinh Lăng Nghiêm là ngụy kinh, thể hiện tư tưởng bá quyền Trung Quốc thời xưa. Xin hỏi ban biên tập thế nào là nguỵ kinh và có phải Kinh Lăng Nghiêmkinh giả không?

TRẢ LỜI:

"Các học giả Tây phương quan niệm hệ thống giáo lý Phật giáo từ các bản Pali, Sanskrit là kinh “gốc” và kinh sau thời đức Phật là kinh phát triển để dễ dàng cho việc trích dẫn trong công tác so sách, nghiên cứu…đó là công việc bắt buộc cho những ai khi bước vào con đường học vấn. Đối với ngôn ngữ của Anh hay Mỹ thì thường dùng từ “Apocrypha” để chỉ cho các văn bản không phải là bản gốc, nên chúng ta phải hiểu là: kinh sau thời đức Phật, kinh phát triển, hay Tân kinh…chứ (họ) không hề áp đặt nghĩa xấu...Rất tiếc khi được chuyển tải qua tiếng Việt tác giả các tự điển Anh-Việt diễn thành chữ kinh ngụy tạo, hay kinh ngụy tác, mang tính chất xấu...

Chúng ta hãy nghe tiếp Thầy Thích Lệ Thọ, tiến sĩ Phật học hiện là giảng sư tại Phật Học Viện Phật Giáo Việt Nam TP. HCM nói về vấn đề này như sau:

blank"...Giả sử, các học giả Tây phươngdụng ý đi chăng nữa, thì các Học giả Phật giáo và các Giảng sư cũng phải lưu tâm sửa chữa lại nhưng khiếm khuyết của các học giả Tây phương chứ không nên vị nể họ có nhiều văn bằng và tầm ảnh hưởng của họ quá “nặng ký” trong lĩnh vực nghiên cứu, mà phải nói theo họ. Trong khi các Học giả phật giáo, các giảng sư cũng là người nghiên cứu lĩnh vực hệ thống giáo lý của chính mình, như thế chúng ta mới là người có đủ thẩm quyền hơn các học giả Tây phương chứ, vì chúng ta không những là nhà nghiên cứu mà còn là các Hành giả đang tu tập từ 10, 20 năm trở lên thì lẽ nào chúng ta lại không tường tận hơn các học giả Tây phương!

Chúng ta thử đặt lại vấn đề, hiện nay các học giả Tây phương và trong giới Phật giáo đều căn cứ theo theo hai ngôn ngữ cổ của Ấn Độ PaliSanskrit làm “gốc” để có cơ sở nghiên cứu và giảng dạy cho Phật tử. Nhưng trong tương lai biết đâu các nhà khảo cổ lại phát hiện ra một văn bản Magadha cổ hơn thì lúc đó chúng ta lại phán những bản kinh được viết bằng Pali và Sanskrit là kinh điển trước tác hoặc kinh điển ngụy tạo hay sao? ..."

...Cho nên, đây chỉ là sự ngộ nhậnhạn chế giữa ngôn ngữ với ngôn ngữ mà thôi, chứ không thể phủ nhận hệ thống kinh điển Đại Thừa là ngụy tạo. "

...Vả lại, những gì được “kiết tập” và phát triển giáo lý cho phù hợp với ngôn ngữ của xã hội đương thời là do các vị Thánh đệ tử bậc A-la-hán làm nên. Chắc chắn Trí tuệ của các Ngài hơn hẳn chúng ta đến hàng ngàn tỷ lần, nên chúng ta không thể đem “trí tuệ” của chúng ta đánh đồng với các Ngài và chạy theo các học giả Tây phương mà cho các bản kinh Đại Thừa là “kinh ngụy tạo”! Kinh điển thuộc về lý tưởng, tùy bệnh mà cho thuốc thì làm sao chúng ta có thể đo lường bằng khảo cổ, lịch sử, ngôn ngữ học…"
http://www.thuvienhoasen.org/ddpp-kinhdiennguytao.htm

Riêng về Kinh Lăng Nghiêm, chúng ta hãy nghe Hoà Thượng Tuyên Hoá nói như sau:

Kinh Lăng Nghiêm Là Kinh Ngụy Tạo Chăng?

"Đại sư Hám Sơn từng nói hai câu như sau: "Chẳng đọc Pháp Hoa thì chẳng hiểu khổ tâm cứu đời của Như Lai; chẳng đọc Lăng Nghiêm thì không nắm được then chốt về mê hay ngộ của tu tâm". Đích xác là như vậy, bởi Kinh Lăng Nghiêm bao gồm hết thảy các pháp, nhiếp thọ hết mọi căn cơ, là pháp môn tinh tủy của các đời, là ấn chứng chính đề thành Phật và làm Tổ. Vì lẽ đó, người tu thiền bắt buộc phải nghiên cứu kỹ lưỡng bộ Kinh này, và hiểu thấu cảnh giới "năm mươi loại ấm ma" đặng tránh khỏi sa vào vòng của Ma vương. Nếu không vậy, không có sự nhận thức cho rõ ràng, thì bạ cảnh giới nào gặp phải cũng sanh tâm chấp trước, hành giả sẽ dễ nhập vào ma cảnh, thành kẻ quyến thuộc của ma vương. Đó là một điều cực kỳ nguy hiểm!

Chẳng riêng Chú Lăng Nghiêm phải thuộc lòng, mà Kinh Lăng Nghiêm thiền giả cũng phải thuộc nữa. Người ta nói "thuộc sẽ nẩy cái hay", thời cơ tới sẽ có nhiều lợi ích, sẽ có sự cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. Hễ người nào nghiên cứu văn học Trung quốc, tất phải đọc Kinh Lăng Nghiêm, văn từ thì ưu mỹ, nghĩa lý phong phú, tóm lại là một bộ Kinh lý tưởng.

Có một số tự cho mình là học giả có hạng, chưa hề nghiên cứu sâu rộng về Đạo Phật, đã tự nhận mình là chuyên gia Phật học, tự nhận mình có đủ uy tín mà sự thực không hiểu Phật giáo cho đến ngành ngọn, khinh xuất cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là một kinh ngụy tạo. Từ đó lại có một số, có dụng ý khác, ùa theo phụ họa. Đúng là kẻ mù dắt kẻ mù, thật đáng thương xót!

Tại sao người ta bảo Kinh Lăng Nghiêm chẳng phải do đức Phật Thích Ca thuyết giảng? Chẳng qua vì nghĩa lý trong bộ Kinh rất ư chân thật. Kinh đã nêu ra cho kỳ hết các căn bệnh của thế gian, bởi đó mà các loài yêu ma quỷ quái, các loài quỷ trâu, quỷ rắn, không còn cách nào hoành hành, phải hiện rõ nguyên hình của chúng. Từ đó chúng tìm mọi cách để phá, chúng phải tuyên truyền Kinh Lăng Nghiêm là kinh ngụy, thì chúng mới có cơ để sinh tồn. Nếu như thừa nhận đây là lời Phật thuyết pháp thì đối với chúng là không xong. Trước hết chúng không giữ được "Lời dạy về bốn loại thanh tịnh", thứ hai chúng không tu tập được các "Pháp viên thông của hai mươi lăm bậc thánh", thứ ba chúng không dám đối diện với các cảnh giới của "Năm chục loại ấm ma".

Nếu như ai ai cũng đọc Kinh Lăng Nghiêm, cũng hiểu rõ Kinh Lăng Nghiêm, thần thông của hàng ngoại đạo sẽ hết linh ứng, thành ra vô dụng khiến cho không ai còn tin vào thần thông của họ nữa. Đó là lý do bọn thiên ma ngoại đạo chỉ còn tìm cách dèm pha, tuyên truyền, bảo Kinh Lăng Nghiêm là kinh ngụy.

Chẳng cứ chỉ những người tại gia phỉ báng Lăng Nghiêm là Kinh giả, ngay cả những kẻ xuất gia cũng bắt chước nói theo. Tại sao vậy? Bởi vì có một số xuất gia ít học, có khi không thông chữ nghĩa, không xem được Kinh điển, trong khi đó văn Kinh Lăng Nghiêm lại thâm thúy, ý nghĩa huyền diệu, khiến họ không hiểu được nên không làm sao phân biệt được chân giả. Đến khi nghe người ta bảo Kinh này là giả, Kinh kia là ngụy, thì họ đâu có suy xét gì, người ta nói sao thì nhắc lại y hệt. Tự nhiên Kinh Lăng Nghiêm bị lãnh tiếng oan là vì lẽ đó.

Lúc xưa tại Ấn Độ, Kinh Lăng Nghiêm được liệt vào hàng quốc bảo và có lệnh cấm không cho mang những thứ quý ra ngoại quốc. Những ai xuất cảnh đều bị khám xét gắt gao và, để phòng Kinh lọt ra ngoài, các nhân viên hải quan thường đặc biệt chú ý đối với các Tăng xuất cảnh.

Hồi đó tại Ấn độ - bên Trung quốc lúc đó là đời Đường - một vị cao tăng pháp danhBan Thích Mật Đế (Paramiti) đã khổ công tìm mọi cách để mang Kinh Lăng Nghiêm qua Trung quốc. Sợ bị phát hiện tại trạm kiểm soát, ông phải nghĩ ra cách giấu giếm, nhét Kinh vào sâu trong cánh tay và sau cùng ông đã đổ lên bộ tại địa phận Quảng Châu. Lúc đó là thời gian Tể tướng Phòng Dung bị Võ Tắc Thiên giáng chức xuống làm Thái Thú Quảng Châu. Ban Thích Mật Đế được Phòng Dung mời tới để phiên dịch bộ Kinh này và chính Phòng Dung là người nhuận sắc cho bản dịch. Bởi vậy Kinh Lăng Nghiêm biến thành một tác phẩm văn họcgiá trị, rồi sau đó trình lên cho Võ Tắc Thiên. Thời bấy giờ đương có tin đồn Kinh Đại Vân là kinh ngụy tạo nên Hoàng Đế Võ Tắc Thiên không cho Kinh này được lưu hành.

Đến khi Thiền sư Thần Tú được phong làm Quốc sư rồi được cúng dường ở trong hoàng cung, một hôm Thiền sư thấy được bộ Kinh này, thấy Kinh rất có lợi cho những hành giả tu thiền, mới cho Kinh này được phổ biến. Từ đó Kinh Lăng Nghiêm mới được lưu hànhTrung quốc. Căn cứ theo truyền thuyết, Kinh Lăng NghiêmKinh tối hậu truyền đến Trung quốc, nhưng cũng là Kinh bị hủy diệt đầu tiên vào thời Mạt Pháp, sau mới đến các Kinh khác, sau rốt còn lại một Kinh A-Di Đà.

Ghi chú: Thượng nhân Tuyên công chủ trương dứt khoát rằng Kinh Lăng Nghiệm chính là tâm ấn của chư Phật, điều này ngàn vạn lần đích xác. Bởi vậy ngay sau khi đặt chân tới Mỹ, Tuyên công liền giảng Kinh Lăng Nghiêm. Tại sao vậy? Phật Pháp truyền bá tới đất Mỹ, thì Mạt Pháp sẽ biến thành Chánh Pháp, và đó là tâm cơ của Thượng nhân trong sứ mạng nối tiếp huệ mạng Phật. Bài "Lăng Nghiêm Kinh Thiển Giảng" sẽ được đưa đăng từng kỳ trong tạp chí Vạn Phật Thành Kim Cương Bồ Đề Hải, bằng tiếng Hoa và tiếng Anh. Nay xin thông báo cùng quý bạn độc giả. (http://www.dharmasite.net/vekinhvachuTLN.htm#5)
http://www.thuvienhoasen.org/vekinhvachuTLN.htm

Tiếp theo đây chúng tôi mời quý vị xem Thầy Giác Hoàng trả lời cho một Phật tử về vấn đề này. Nguyên văn như sau:



Vấn đề Kinh điển ngụy tạo

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật!

Con có câu hỏi về nguồn gốc của một số Kinh như Kinh Thủ Lăng Nghiêm, bộ ba Kinh A Di-Di-Đà, Kinh Dược SưKinh Địa Tạng. Quý Hoà Thượng như HT. Nhất Hạnh, HT. Thanh Từ khi giảng về các Kinh này thường mở đầu đại khái như: “Kinh này xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ sáu, v.v…” có ý nói Kinh được soạn ra nhiều thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt. Thầy Nhật Từ trong bài mở đầu quyển Kinh Nhật Tụng, cũng viết đại khái: “Các Kinh như Kinh Địa Tạngtính chất van xin ân huệ, không hợp với tinh thần giác ngộ giải thoát của Phật giáo…” Thầy Chơn Quang ở trong nước thì không kiêng nể gì, tuyên bốKinh A-Di-Đà và Kinh Địa Tạng đều là những Kinh ngụy tạo.” (Trong khi đó Phật tử đều biết được nguồn gốc của Kinh Pháp Bảo Đàn, Kinh Thuỷ SámLương Hoàng Sám). Thái độ úp mở hoặc ý kiến riêng của chư vị Tăng Ni làm cho Phật tử hoang mang một cách vô ích. Con xin quý Thầy giảng về việc này.

Kính: Pháp Tịnh.

******

Xin chào Phật tử Pháp Tịnh,

Xét về phương diện lịch sử, các Kinh mà Phật tử vừa đề cập trên quả là ra đời rất muộn. Vẫn biết rằng tất cả Kinh điển là do các bậc đại đệ tử của Đức Phật nhớ và biên tập lại, nhưng dựa vào ngôn ngữ và nội dung của các Kinh đó, các nhà nghiên cứu Phật học uyên bác, đặc biệtchư Tăng Ni cũng như các giới nghiên cứu, học giả đều thừa nhận có những bộ kinh ra đời hơi muộn hoặc rất muộn và tư tưởng có đôi phần không tương hợp với tinh thần Phật giáo thuở ban đầu. Theo như Thầy hiểu, các bộ Kinh ra đời sau được những vị có chức năng truyền bá giáo pháp thời ấy phương tiện, quyền biến trước tác, rồi ghi là Kinh do đức Phật thuyết.

Dưới ánh sáng của những nhà nghiên cứuphương pháp, dựa vào văn bản học hoặc khảo cổ học, chúng ta không thể phủ nhận giá trị công trình khám phá của họ. Mặc dầu các công trình khám phá đó chưa hẳn là có lợi đối với những người có niềm tin mãnh liệt đối với Kinh điển lâu nay mà các vị ấy đã thọ trì. Quý Thầy đã từng gặp các Phật tử đâm hoảng khi nghe các Thầy trình bày sự thật này. Nhiều vị còn cố chấp cho rằng, không lấy gì làm bằng chứng để chúng ta tin rằng Kinh nào do Phật thuyết hay không? Nếu đã như vậy thì chúng ta nên áp dụng bài Kinh đức Phật dạy cho dân chúng Kàlàma trong Tăng Chi Bộ (Tập I, Phẩm Lớn, 65, ĐTKVN, tr.338) thì hay hơn hết. Theo tinh thần bài Kinh này thì đức Phật cho phép quý Phật tử trắc nghiệm lại lời của quý Thầy, vì lời dạy cao quý của đức Phậtđức Phật còn cho phép chúng ta nghi ngờ huống gì là lời của quý Thầy! Điều quan trọng là đến với giáo pháphọc hỏi được điều tốt hay không và vận dụng như thế nào cho hành trình vạn dặm của mình.

Như Phật tử đã đề cập một đoạn trong Phụ Lục III: Về Một Bộ Kinh Thánh Phật Giáo trong Kinh Tụng Hằng Ngày (Kinh Nhật Tụng) do Thầy Nhật Từ biên soạn và tái bản năm 2002, trong phần Đối với tuyển tập Kinh thánh Đại thừa, có đoạn viết “Không nên giới thiệu các Kinh Dược Sư, Địa Tạng và các kinh thần chú, vì tính chất van xincầu nguyện trong các Kinh này đã đi ngược lại với tinh thần lời dạy nguyên thủy của đức Phật.” Như Phật tử thấy, thực trạng của Phật giáo hiện nay, nhiều Phật tử chỉ đi chùa cầu nguyện và làm các khoá lễ cầu siêu, khi có thân nhân mất liền thỉnh quý Thầy, Phật tử hoặc thầy cúng tụng mười bộ hoặc vài chục bộ Địa Tạng để gọi là “cầu siêu” cho người quá vãng. Theo tinh thần Phật Pháp mà nói, nếu một người còn sống không lo tu hành, giả như biết đọc tụng tôn kinh, nhưng không tu hành thì khi chết dù có tụng nhiều biến kinh đi nữa cũng không hiệu quả. Đạo Phật rất tôn trọng nhân quả. Đạo Phật không chấp nhận sự ban phước của một bậc tối cao hoặc thần linh nào.

Nói như vậy, không có nghĩa là quý Thầy phản bác việc tụng Kinh Địa Tạng, mà chỉ muốn nói rằng người Phật tử không nên xem Kinh Địa Tạng hoặc Kinh Dược Sư như là bùa hộ mạng, là chiếc phao cho người qua biển. Người Phật tử cần nên thọ trì các bộ Kinh khác như Pháp Hoa, Niết-bàn, Bảo Tích, Hoa Nghêm, Lăng Nghiêm, Kim Cang, v.v…cũng như các bộ Kinh điển hệ Nam truyền để từ đó hiểu được Phật Pháp sâu rộng hơn, vận dụng giáo lý vào đời sống thực tiễn hơn.
Ngày nay Phật tử các chùa đều biết đến bộ Kinh Địa Tạng, Pháp Hoa, hoặc Dược Sư, chứ ít Phật tử biết được các bộ Kinh Đại Thừa uyên áo khác như Lăng Nghiêm, Kim Cang, v.v... Điều này lỗi là do các Thầy trụ trì hoặc các vị pháp sư hướng dẫn. Rất nhiều vị còn tin rằng tụng Kinh như Dược Sư, Địa Tạng mới có thể cầu siêu cho cha mẹ hoặc thân nhân, còn tụng các bộ Kinh khác chỉ khiến cho bản thân bị nghiệp đổ, nóng nảy, v.v.. Lại nữa, Kinh Dược Sư dường như là phương tiện để tạo mối liên hệ giữa đức Phật Dược Sư với người bệnh, nên khi có người bệnh thì đem Kinh Dược Sư ra trì tụng cùng với các nghi thức như đốt 49 ngọn đèn để cầu nguyện, thì quả rõ ràng là không hợp với tinh thần “hãy tự thắp đuốc lên mà đi” của Phật giáo. Các Kinh đó làm cho một số người chưa hiểu biết nhiều về đạo Phật, họ phải thốt lên sao đạo Phật giống thần quyền quá vậy? Người nào biết lịch sử các tôn giáo khác thì nói Phật giáo sao mà giống các tôn giáo thời bán khai quá vậy? Các ông thần chi phối con người nhiều quá? Rồi họ hỏi đạo Phật có phải là đạo đa thần giáo không? Nói như vậy không phải là quý Thầy đồng ý việc bác bỏ hết mọi khía cạnh tích cực khác của Kinh như dạy về đạo hiếu thảo của người làm con, đạo lý nhân quả,v.v…trong các bài Kinh đó, mà chỉ muốn nói lên rằng người có chức năng truyền bá chánh pháp cần phải giới thiệu các Kinh khác để Phật tử đọc có thể hiểu và tu đúng như lời Phật dạy.

Ngẫm nghĩ lại, thời Phật còn tại thế, Ngài không bảo chư Tăng tụng đám hoặc bảo chư Phật tử đem Kinh ra để cầu siêu cho người quá cố như chúng ta ngày nay. Chư Tỳ-kheo chỉ tụng đọc lại lời Phật dạy để nhớ mà tu tập là chủ yếu, chứ không có tụng Kinh để cầu nguyện cho vong hồn ai cả. Nói như vậy không có nghĩa là quý Thầy bác bỏ tụng kinh, niệm Phật hoặc các thời khoá của chùa, mà chỉ muốn thưa rằng tụng Kinh không nhất thiết phải tụng một bộ Kinh nào, vì Kinh nào nếu chuyển tải được diệu lý của lời Phật dạy đều đáng được trì tụng. Do đó, đọc càng nhiều bộ Kinh khác nhau để thấy được bao quát lời dạy của Phật, chúng ta ít mắc kẹt vào các pháp. Xin giới thiệu đến quý Phật tử bài Ý Nghĩa của Tụng Kinh trong cuốn Kinh Tụng Hằng Ngày do Thầy Nhật Từ biên soạn.

Còn vấn đề khác cũng khá quan trọng mà vấn đề Phật tử đã đưa ra, đó là khái niệm “Kinh điển nguỵ tạo” (Apocrypha). Khái niệm này được các học giả phương Tây sử dụng rộng rãi trong sách cũng như trong từ điển. Không phải một mình Thầy Chơn Quang dùng khái niệm này để chỉ cho các Kinh ra đời rất muộn. Điều này người viết cũng đã trình bày một hai lần trong các bài viết cho một số Phật tử khác. Có lẽ khái niệm “ngụy tạo” này nên được thay đổi cũng nên, vì từ “ngụy tạo” (apocryphal) làm cho người ta có cảm tưởng một điều gì đó lường gạt, giả dối, không tốt, nhưng thực chất nội dung của các Kinh đó nhằm đáp ứng cho một nền văn hoá nào đó mà thời Phật vấn đề đó chưa được đặt ra. Theo cách nghĩ của bản thân người viết, chúng ta có thể tạm sử dụng một từ khác thay cho từ nguỵ tạo, đó là từ “Kinh văn hoá” hoặc là “Kinh bản địa Trung Hoa”, hoặc chúng ta có thể sử dụng từ “sáng tạo” thay cho từ “nguỵ tạo”, vì các từ này nhã hơn và ít gây cho người đọc cảm tưởng một điều gì gian xảo, dối trá trong Kinh điển !

Cho nên, nếu chư tôn đức Tăng Ni nào sử dụng khái niệm “nguỵ tạo” cho một số Kinh điển như Phật tử đã nêu, hoặc một số Kinh khác, như Kinh Vu Lan Bồn, Kinh Phạm Võng thì chúng ta cũng nên tạm chấp nhận, vì đó là một khái niệm cũ được các học giả sử dụng nhiều lần thành quen. Nhân tiện, xin giới thiệu đến quý Phật tử nào biết tiếng Anh tìm đọc cuốn: Chinese Buddhist Apocrypha (Các Kinh Điển Phật Giáo Nguỵ Tạo ở Trung Hoa). Đây là một tuyển tập gồm 9 bài viết và dịch của nhiều học giảuy tín, cộng với lời giới thiệu của người biên tập Robert E. Buswell, Jr, được nhà xuất bản Sri Satguru Publication tại Delhi ấn hành.

Như Phật tử đã trình bày, “thái độ úp mở hoặc ý kiến riêng của chư vị Tăng Ni làm cho Phật tử hoang mang một cách vô ích.” Thật ra, có những vấn đề đôi lúc buộc phải đáp ứng tính khế lý hơn tính khế cơ, buộc người trả lời không có con đường chọn lựa thứ hai. Ví dụ, một số Kinh điển Đại Thừa hoặc một số Kinh điển thuộc Thượng Toạ Bộ, nếu có ai hỏi Kinh đó ra đời lúc nào, có phải do chính Đức Phật tuyên thuyết hay không ? Bản thân Thầy đôi lúc không thể áp dụng phương pháp trả lời rất dứt khoát, nhưng thiếu linh động “Yes hay No” (Có hay không) của một số người (người Mỹ thường có thói quen này), mà chỉ áp dụng tinh thần của Á Đông hơn, nghĩa là cần thì có một câu trả lời thoả đáng và đưa ra một đáp án cụ thể, minh bạch, có thể chứng minh một cách đàng hoàng, ngược lại thì cũng trả lời như thế nào đó cho phù hợp với tính khế cơ hơn là khế lý.

Như quý Phật tử thấy, khi đề cập đến Kinh điển thuộc một tông phái hoặc niềm tin của một pháp môn là đụng đến bao triệu con tim, điều đó không còn là vấn đề cá nhân nữa. Quý Thầy rất ý thức được việc này, nhưng thỉnh thoảng phải thực hành hạnh “trực ngôn là đạo tràng” trong Kinh Duy Ma, đành phải như thế.

Chúc Phật tử thân tâm thường an lạc và vững niềm tin đối với chánh pháp, nỗ lực tu tập để mình và người được nhiều hạnh phúc, an vui.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
Quảng Cáo Bảo Trợ