Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,853,152
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250Logo-Hanh-Huong-AD-2019-tron-250

Lên Non Xuống Núi Ung Dung - Ông Rùa Đá Ngộ

26 Tháng Sáu 201722:34(Xem: 1447)
Lên Non Xuống Núi Ung Dung - Ông Rùa Đá Ngộ
LÊN NON XUỐNG NÚI UNG DUNG – ÔNG RÙA ĐÁ NGỘ
tamthuongdinh
Sáng nay, trong không gian yên tĩnh, ngồi đọc thơ Nguyễn Hoàng Lãng Du, người có tên thân thương khác mà chúng tôi thường gọi là Ông Rùa Đá, ôi sao nhẹ nhàng và diệu vợi như tiếng chuông ngân. Một sáng mai, trong lành như Buổi Sáng của NHLD,
Trên hồ xanh
Con cá quẫy
Bỗng động đậy
Mặt trời hồng.
Trong cái động đậy đó chúng tôi chợt nhớ đến Cội Nguồn của anh, cũng như của tất cả chúng ta.
Mai đây khi trở về nguồn
Suối trong róc rách nước ngon môi mềm
Giữa rừng cây quế đứng im
Ta say giấc giữa tiếng chim gọi đàn.
À thì ra, anh cũng đã và đang gọi đàn, vậy mà bấy lâu nay chúng tôi cùng đồng hành với anh lúc nào không biết. Trong thơ anh, chúng tôi thấy những thao thức, khát khao, cay đắng, hy vọng, tin yêu và tình thương mà người luôn muốn được chia sẻ cùng nhau. Cũng như bao nhiêu người Việt ly hương, anh luôn nhớ về nguồn cội và tìm mọi cách để góp phần xây dựng quê hương, nhất là lãnh vực giáo dụcvăn học nghệ thuật. Anh còn là một trong những người sáng lập trang nhà Làng Huệ.
Tấm lòng cao thượng của anh là thế. Từ bitrí tuệ song toàn; bút lực sung mãn. Anh vẫn âm thầm cống hiến cho cho văn thơ Việt Nam nói riêng và cho nền giáo dục Viện Nam nói chung. Âu đó cũng là những Phẩm Vật của Trần Gian mà anh hằng ấp ủ trong cuộc đời mong manh và ngắn ngủi này. Hãy nghe anh gởi gấm những thông điệp yêu thương, hoài niệm, trầm uất, khát khao, bi hùng, chí lý, dõng dạc, hiên ngang, đầy nghĩa tình, đầy khí phách, có khi buồn man mác nhưng lạc quannhân bản – Bài thơ Trên Giòng Sông Trắng là một trong nhiều bài thơ bất hủ của anh mà chúng tôi luôn đồng cảm.
Trên Giòng Sông Trắng  
                    
Đã có lần nơi đầu nguồn im vắng
Anh làm thơ trên lá thả theo giòng.
Em giặt lụa tay thơm bờ sông trắng,
Bóng xuân hồng cúi xuống vớt thơ trăng.
Ôi cái thuở lòng anh thơm gió núi
Và tình em hương lúa chín trên đồng.
Chim chóc hót những ngày như mở hội.
Thơ chúng mình tinh-khiết tựa sương trong…
Rồi quê-hương đêm ngút trời khói lửa.
Viên đạn đồng tàn-nhẫn đã bay qua.
Em nhắm mắt.. Đường mình chia hai ngả.
Anh lang thang, mưa gió mãi không nhà.
Sau cuộc chiến tìm về nguồn lạnh vắng.
Thơ không làm, lấy lá thả đời trôi.
Nơi cuối giòng vẫn nắng vàng, sông trắng.
Không còn người âu-yếm vớt hồn tôi.
Anh là thế hệ đi trước, đã trải nghiệm biết bao nhiêu thăng trầmgian truân trong cuộc đời; anh đã sống qua thời Cải cách ruộng đất đến Chiến tranh Việt Nam. Từ Việt Nam ra hải ngoại, anh đã dọc ngang ngang dọc mọi thời khắp trời Đông Tây, cũng để rồi “tìm về nguồn lạnh vắng” để rồi anh ôm ấp Tình yêu thương rộng lớn của cõi đời hầu “ta giữ đến mai sau”.
Hay nói một cách khác, giữa sống và chết, giữa khỏe mạnh và ốm đau, giữa có và không, giữa còn và mất, anh vẫn giữ tấm tâm trong với thông điệp Yêu thương, Từ bi, Bác ái cho chính anh và cuộc đời. Âu đó cũng là chìa khóa cho một cuộc sống an bìnhhạnh phúc cho mình, cho người và cho muôn loài. Hãy nghe nhà thơ tâm sự khi ngưỡng cửa thứ ba trong đời chào đón anh:
Giữa Cõi Đi Về
Trăng vẫn chiếu cuộc chơi từ cổ-độ,
Chợt vòng quay đảo lộn cả phương trời.
Nơi bãi vắng đóa hoa vừa nở rộ,
Thuyền ơi thuyền nước chẩy cứ trôi xuôi.
Cửa Trời Đất vô cùng đâu có hẹp.
Ta yêu nhau khi trăng thuộc về người.
Tới hay lui, lối đi nào cũng đẹp.
Ở hay về, đường vọng những lời chim.
Đây là chút yêu thương làm rượu ngọt,
Cho anh em chuếnh-choáng với mâm đời.
Rừng sương mộng, môi mềm ta cứ uống.
Giữa chợ chiều, tâm-thức nhớ an-vui.
Có tiếng hát mơ-hồ trên bến hẹn,
Tiễn chân nhau tới chốn ít ai tìm?
Cơn sóng lớn băng qua nguồn tắc-nghẽn.
Giòng máu nồng theo lối chẩy về tim.
Hỡi chăn gối đã đưa ta trở lại,
Tạ ơn nhiều êm-ái lúc thân đau.
Hỡi viên thuốc trên đầu môi tê-dại.
Dư-vị này ta giữ đến mai sau.
Anh vẫn lạc quan, yêu đời và biết ơn với cuộc sống. Âm điệu, thi ảnh, mầu sắc, và tư tưởng đều có đầy đủ trong bất cứ một bài thơ hay nào, mà anh thì có quá nhiều bài thơ tương tự để liệt kê nơi đây. Mà thơ nói chung, theo luận điểm 29 trong Mỹ Học của Geghen mà Phan Ngọc dịch, là "ngôn ngữthực tại trực tiếp của tinh thần, cho nên thơ bao quát được đối tượng, mọi đề tài, "mọi nội dung, mọi sự vật, mọi biến cố, hành động, lịch sử, trạng thái bên ngoài hay bên trong. Nó lại thể hiện đối tượng trong sự vận động (điều mà điêu khắc, kiến trúc, hội hoạ không thể làm được). Đồng thời, thơ lại có thể dịch ra một ngôn ngữ khác mà vẫn không bỏ mất giá trị khi đọc hay xem bản dịch. Mỗi nghệ thuật điều có cái thời cực thịnh của mình..."
Những trang thơ của Nguyễn Hoàng Lãng Du đăng trên Làng Huệ là ‘thời cực thịnh’ của anh. Tư tưởng Mang Tình Yêu Thương Lớn (Bác Ái) của Thiên Chúa giáo hay Tứ Vô Lượng Tâm của Phật giáo đem vào cuộc đời để thắp sáng ngọn lửa tin yêu, hy vọng, an bìnhgiải thoát. Nhà thơ đi và về giữa cuộc đời với bao phong trần, khổ lụy mà không hề bám víu, hối tiếc hay khóc thương, xem lợi danh như bọt biển mây chiều.
Đây chén đắng, môi sầu ta mãi nếm.
Em xót-xa nên nước mắt lưng tròng.
Canh bạc đời một lần thôi đã kém.
Mỉm miệng cười, đứng dậy thấy tay không (Bến Nhớ).
Để rồi nhà thơ thong dong phủi tay lên núi Tiên tu đạo làm người.
Trên Núi Cao
1
Trên núi cao bỗng có cơn gió lớn
Cuốn hồn ta thành một kẻ trọc đầu.
Gã lang-thang nơi cuối trời mây trắng,
Chốn quê nghèo thoang-thoảng chút hương cau.
2
Ở nơi đó có mùa  trăng cổ-tích,
Mẹ hàng ngày quang gánh nặng yêu thương.
Cha ngạo-nghễ nên vui đời áo rách,
Thua-thiệt gì vẫn giữ cái tâm trong
3
Ở nơi đó có người em bé nhỏ,
Trái cam vàng em nhịn đợi chờ anh.
Chiều ly-biệt chao ơi tha-thiết quá!
Em ôm anh khóc ngất lúc xuân tàn.
4
Ở nơi đó có người tình thuở cũ,
Vỡ lòng yêu khi đi học chung trường.
Có ngờ đâu giòng đời như thác lũ,
Ngọn tre già nặng chĩu những tang-thương.
5
Ở nơi đó có căn nhà mái dột
Mẹ thở dài đêm trắng đợi mưa qua…
Trên núi cao đầy hoa thơm ngào-ngạt.
Con tu tiên quên cả chuyện quê nhà!
Anh lên núi buông bỏ tất cả những bụi bặm trần thế, thua-thiệt làm gì cho đời mãi long đong. Nên anh vẫn giữ cái tâm trong, mà trong cái tâm trong đó, dù kiếp này hay kiếp sau, anh cũng vẫn nhớ “chuyện quê nhà!” và anh đã thấy rằng:
“...Hôm nay trên đời
Anh em cơ-cực.
Ta ôm mặt khóc
Thân-phận làm người.”  (Kiếp Sau)
Ngộ ra đây là thân phận làm người Việt Nam, một dân tộc anh hùng nhưng đã ngàn năm thăng trầmtrầm luân đau khổ. Nhưng cũng bao nhiều thế hệ trước, anh vẫn lạc quan và nguyện cùng đồng hành cùng với tuổi trẻ, với dân tộc, anh vẫn “Mơ làm đuốc soi đường đêm giá lạnh. Trong rừng đào ôm sử đợi xuân sang.” Chúng ta có thể hiểu thêm về nhà thơ Nguyễn Hoàng Lãng Du qua loạt bài Chủ đề Tiếng Gọi Núi Sông, Giáo dục Thiếu nhi, Tranh-Thơ-Nhạc, hay chỉ riêng bài Gọi Dậy Ngàn Năm mà Giáo sư Nguyễn Văn Thái dịch ra tiếng Anh dưới đây.
Gọi Dậy Ngàn Năm
1
Rồi gã mù ôm mùa đông thức dậy.
Tiếng độc-huyền vang động tới ngàn năm.
Ngày Quê-Hương có gió xuân thổi lại.
Đêm linh-thiêng thơm ngát với hương trầm.
2
Đàn reo vui theo tiếng cười Uy-Viễn.
Thuở tiêu-dao ngất-ngưởng cưỡi lưng bò.
Đây núi sông,Tướng-Quân đùa với chén.
Bụi-bặm đời trôi-nổi dưới chân co.
3
Đàn giục-giã, trống đồng khi thúc trận.
Trên lưng voi thân gái trả thù nhà.
Muôn tiếng thét, quân reo tràn uất-hận.
Một cõi bờ dựng lại mặc phong-ba.
4
Đàn hào-hùng, điện Diên-Hồng sấm động.
Những cha già tóc trắng sát bên nhau.
Lời quyết-chiến tung bay theo gió lộng.
Người lên đường hăm-hở bước chân mau.
5
Đàn hiền-hòa, Đế-Vương khi mở nghiệp.
Núi La-Sơn thành-khẩn những ba lần.
Đây Quân-Đức, Dân-Tâm và Học-Pháp.
Thanh-âm này chĩu nặng ý Giang-San.
6
Đàn xót-thương, tiếng bom vang Sa-Điện.
Một ngày buồn, bão-tố ngập Quê-Hương.
Tráng-Sĩ đi một lần không để thẹn.
Rồi người người đứng dậy quyết noi gương.
7
Ta mắt mù, vui với đời cô-quạnh.
Mang yêu-thương trút xuống một dây đàn.
Mơ làm đuốc soi đường đêm giá lạnh.
Trong rừng đào ôm sử đợi xuân sang.
Awakening from Millennia
1
The blind bard from winter awakes.
The sound of his monochord resonates from millennia:
The day when Motherland enjoyed the breezes of Spring
And the sacred night was embalmed with frankincense.
2
The monochord is cheering along with Uy Vien’s laughter;
In a leisurely manner, he wanders here and there riding a cow,
Frolicking with a flask of rice wine in peaceful Fatherland,
Scorning all ephemeral matters that pass under his feet.
3
Its sound is hurrying, when the brass drums press for the battle.
On elephants’ backs the heroines seek revenge:
Through thousands of war cries, soldiers’ outrage clamors
For the rebuilding of the nation in spite of adversities.
4
The sound is becoming daring, when the Dien Hong Palace thunders,
By the gray-haired patriarchs shoulder to shoulder,
With the roar of the war cries ballooning the immense winds
That push people to eagerly accelerate the speed of their steps.
5
The sound is currently gentle: Forefather of our kingdom, Our Emperor
Has thrice sought advice from the Sage of Mount La-Son.
Here you are, “Virtues of a King, Hearts of the People, Practical Education.”
This tune is laden with multiple meanings of nationalism.
6
The sound now turns elegiac, when the bomb detonates in Sa Mian:
A sad day when the storms ravage Fatherland;
The hero once passed didn’t leave shame behind.
And people one after another rise up following his footsteps.
7
My eyes are blind, but I enjoy my loneliness:
I’m pouring love down onto the monochord,
Living the dream of a torch that lightens up the freezing cold night.
Embracing history, waiting for Spring to come again, in the cherry blossom tree garden.
 
Poem by Nguyễn Hoàng Lãng Du; English translation by Nguyen Van Thai
Notes: 2. Nguyễn Công Trứ; 3. Hai Bà Trưng; 5. Quang Trung và Nguyễn Thiếp; 6. Phạm Hồng Thái
Nhà thơ khiêm cung lắm, trí tuệ đó, cái oai hùng đó, mà anh bảo rằng, “Ta mắt mù, vui với đời cô-quạnh” nhưng để rồi anh lại “Mang yêu-thương trút xuống một dây đàn.” Mà thiệt những người như anh, những người âm thầm làm văn hóagiáo dục nhân bản là những kẻ bơi ngược dòng, cô quạnh và đơn côi. Có lần Vũ hoàng Chương cũng nói về tâm trạng đó--thân phận làm người Việt Nam.
“Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.”
Cảm nhận như vậy để thấy và biết rằng mọi sự trên đời đều qua những gian đoạn thành trụ hoại không. Cuộc đời chúng ta cũng thế, vốn là vô thường, có rồi không, còn rồi mất, lúc có lúc không. Nhưng bên cạnh nhà thơ luôn có những gã đồng hành; vậy thì hãy giữ lại những kỷ niệm đẹp như trong Cõi An Bình.
“Em giữ hộ mùa đông dăm giọt nắng,
Câu ngọt-ngào xót lại tự xa-xưa.
Hồn cổ-thụ, hoa sầu đơm trái đắng,
Thân trăm năm bụi-bặm thấy dư-thừa...”
Những cảm giác bùi ngùi, khắc khoải, thế thái nhân tình cũng chỉ là những hạt bụi dư thừa mà thôi. Vậy nhé,
Mai ta lên rừng
Làm con chim nhỏ.
Lá thơm, trái đỏ
Thỏa chút rong chơi.
Mai ta xuống đồi
Làm con cá lội.
Vài hàng đá cuội
Tung tăng một giòng.
Mai ta về đồng
Làm giây cỏ lạ.
Hoa vàng nắng hạ
Uống giọt sương trong...(Kiếp Sau)
Nhà thơ Nguyễn Hoàng Lãng Du đó, một đời lên non xuống núi, để rồi cũng ngộ rằng anh cũng chỉ là Hạt bụi bay giữa trời. Anh viết,
Thoáng nghe hạt bụi giữa trời,
Bay trong nắng hạ gọi người lãng-du.
Em về rủ gã chân tu,
Leo lên núi biếc đường mù khói sương.
 
Vậy chân tu hãy cùng em hiểu bài kệ ngài Như Trừng như là một sự thực tập nhé, “Bản tùng vô bản. Tùng vô vi lai. Hoàn tùng vô vi khứ. Ngã bản vô lai khứ. Tử sinh hà tằng lụy.” Tạm dịch “Tất cả các Cội nguồn / Gốc rễ bắt nguồn từ nơi không gốc rễ. Mọi sự từ vô vi đến và lại trở về với vô vi. Chúng cũng không đến không đi, thì tử sinh làm sao hệ lụy được.” Bải kệ này được cụ Võ Đình dịch ra tiếng Anh như sau:
The source begins from no source
It comes from nothingness
And it goes back to nothingness
We neither come nor go
Life and death are then of no concern.
Sacramento, đầu hè 2017
Mừng anh về thăm California.
Bạch Xuân Phẻ
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 518)
Ca ngợi Ấn Độủng hộ việc ăn chay, nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng nói hôm thứ Sáu (14-12) rằng tất cả chúng sinh phải được tôn trọng.
(Xem: 510)
Khi chúng ta lần đầu tiên tiếp cận những giáo lý của Đức Phật, chúng ta phải bắt đầu ngay từ đầu, tức là các thực hành sơ khởi (Ngondro).
(Xem: 723)
Với khám phá rất quan trọng, Einstein nhận thấy rằng hai sự vật không có thể được quan niệm như là riêng biệt. Nhị nguyên không phải là nhị nguyên mà là hai diện mục của một bản lai tương tự như hai mặt của một đồng tìền.
(Xem: 814)
Việc sám hối đúng pháp như trong bài Kinh Tàm và Quý Đức Phật đã dạy rất rõ. ... ý nghĩa Tàm Quý là thấy rõ lỗi lầm, xấu hổ ăn năn quay đầu sám hối và nguyện từ bỏ việc xấu ác không bao giờ tái phạm vào nữa.
(Xem: 791)
Nói thoát khổ như thế, nghĩa là thoát ra khỏi sinh tử luân hồi. Nghĩa là thoát ra khỏi những buộc ràng, những phiền trược của tất cả các kinh nghiệm của chúng ta luân hồi trong ba cõi
(Xem: 551)
Tosui là một thiền sư nổi danh vào thời của ông. Ông đã sống trong nhiều thiền viện và giảng dạy tại các tỉnh khác nhau.
(Xem: 470)
“Nhạc sĩ 50 năm Phật giáo” Hằng Vang - Phía Bên Kia Triền Dốc Của Cuộc Đời
(Xem: 718)
Nhưng nếu hiểu “ma” là chúa tể của dục vọng hay ham muốn của chính chúng ta….thì ma đó vô cùng đáng sợ, hãm hại chúng ta đã đành, mà còn hủy diệt luôn cả trái đất này.
(Xem: 560)
Văn Nhânvăn sĩ nổi tiếng đã có vài chục tác phẩm xuất bản. Nếu như sinh ra ở Hoa Kỳ hay Tây Phương thì chàng ta đã trở thành triệu phú, đời sống đế vương.
(Xem: 687)
Kiếp sống con người quả là phù du, vì thế chúng ta hãy nên dùng khoảng thời gian ngắn ngủi đó của mình trên địa cầu này để mang lại một chút lợi ích cho mình và kẻ khác.
(Xem: 644)
năm lực phải được thực hành khi gần kề cái chết. Chúng rất quan trọng. Hiện nay, đó là điều chúng ta cần phải tu tập.
(Xem: 833)
Tôi xin niệm ân tất cả chư Tôn Đức Tăng Ni, người gần cũng như kẻ ở xa, người thân cũng như sơ, Phật tử cũng như không Phật tử, quý vị đã vì sự tồn tại văn hóa của quê hương tại xứ người mà nhiệt tình cộng tác cho báo Viên Giác suốt trong hơn 40 năm qua.
(Xem: 644)
Giống như dòng thác đổ mạnh mẽ Không thể chảy ngược lại Cũng vậy chuyển dịch của một đời sống con người Cũng không thể đảo ngược được.
(Xem: 570)
Việc nối kết kiếp sống tới khi ở trong thể trạng trung ấm là một tiến trình của sức hút và sức đẩy.
(Xem: 662)
Những người nào xác định “tôi sẽ chết” sẽ không lo sợ nữa Làm thế nào họ kinh hãi ngay cả những viễn tượng của sự chết!
(Xem: 560)
Theo Tantra Yoga Tối Thượng, thì không có tâm nào vi tế hơn tâm linh quang; nó phục vụ như căn bản của tất cả mọi hiện tướng của luân hồiniết bàn.
(Xem: 726)
Tây Ban Nha là nơi rất vắng Phật Tử, vì là quốc gia truyền thốngđại đa số dân theo Thiên Chúa Giáo. Trong hơn 500 năm, từ trước khi Tây Ban Nha thống nhất năm 1492, Công giáo đã đóng vai hình thành căn cước quốc gia Tây Ban Nha
(Xem: 608)
Chúng ta cứ nghĩ rằng mình thương mình nhưng thật ra là đang hại mình, làm cho mình đau khổ (hoặc hạnh phúc giả) trong hiện tại và sẽ đọa lạc trong tương lai.
(Xem: 641)
Cuộc đời vốn đục trong, đen trắng, Thánh phàm, vàng thau lẫn lộn, nói chung các cung bậc đều đủ.
(Xem: 1170)
"Ngoảnh nhìn lại cuộc đời như giấc mộng. Được mất bại thành bỗng chốc hóa hư không", hai câu thơ của vị thiền sư nào đó đã ngấm sâu vào huyết mạch của tôi
(Xem: 528)
Sự buông xả là ngoài không sở cầu trong không sở đắc. Buông là không bám chấp vào sự bên ngoài, xả là ý niệm tâm tư bên trong.
(Xem: 570)
Người sống mà ôm tâm hận thù thì đó là thuốc độc mạnh gây hại rất lớn. Vì vô minh chấp ngã nên người đời không thấy sự độc hại của tâm thù hận,
(Xem: 489)
Sáu tùy niệm hay còn gọi là ‘lục niệm’ là sáu đối tượng để hành giả hồi tưởng, tưởng niệm, suy nghĩ.
(Xem: 558)
Phật Thích Ca Mâu Nilòng bi mẫn vô biên dành cho mỗi chúng sinh. Người ta nói rằng chính lòng bi mẫn vô biên này đã...
(Xem: 850)
“Con chim họa mi hót bên bờ vai đức Phật”, đó là cố danh ca Hà Thanh (1930 – 2014), người đệ tử của đức Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, được ngài ban pháp danh Tâm Tú.
(Xem: 602)
Nói đến xuân là nói đến cái đẹp, cái tươi mát, trong lành, cái sinh lực của con người; cho nên rất phong phú trong văn chương Việt Nam dù là bình dân hay bác học.
(Xem: 452)
Tứ Ân hay là Tứ Trọng Ân, bốn ơn nặng mà người Phật tử phải cố gắng đền đáp, cho vuông tròn.
(Xem: 456)
Bạn chỉ cần học từ buddho để hành thiền. Trong khi việc học ở thế gian không bao giờ hết, và chúng cũng không giúp bạn vượt thoát khổ đau.
(Xem: 443)
Cốt lõi của kinh kim cangtâm bình đẵng. Bình đẵng giữa con người với con người, bình đẵng giữa con ngườichúng sinh khác...
(Xem: 430)
Khi nghiên cứu về thiền định, nhiều học giả thừa nhận rằng: thiền có nhiều thứ có thể cung cấp liệu pháp tâm lý, và cho thấy rằng hiệu quả...
(Xem: 450)
Các hiện tượng tự nhiênxã hội cứ thiên biến vạn hóa liên tục xảy ra xung quanh ta mọi nơi mọi lúc tạo ra muôn màu muôn vẻ của cuộc sống.
(Xem: 616)
Người học đạo, hành đạo, không để bị rơi vào tâm cảnh hối tiếc quá khứ hay vọng tưởng tương lai. Hạnh phúc chỉ có thể hiển hiện ngay nơi thực tại hiện tiền.
(Xem: 524)
Nhiều người cho rằng tăng sĩ không làm gì cả, nhưng thực ra công việc buông bỏ các uế nhiễm là công việc khó khăn nhất trên đời
(Xem: 660)
Trong pháp thoại Thế Tôn đã khẳng định, “người nào tu tập được tưởng vô thường, thì có thể tu tập được tưởng vô ngã”.
(Xem: 613)
Thống Đốc David Ige — một trong những chính khách Phật tử nổi bật nhất của Hoa Kỳ - nói về di trú, biến đổi khí hậu, và từ bi trong khi cầm quyền.
(Xem: 474)
Những vị tu sĩ Phật giáo đầu tiên đã đến Việt Nam để quảng bá Phật pháp vào khoảng đầu thế kỷ thứ II sau Tây lịch,
(Xem: 511)
Đức Phật nói rằng thế giớivô sở hữu, chúng ta không ai sở hữu được gì ở cuộc đời này, có chăng cũng chỉ là sự nắm giữ tạm thời,
(Xem: 451)
Suối Tào-Khê chảy ngang Nam Hoa Thiền Tự, tọa lạc tại tỉnh Tào Khê, bên núi Song Phong, huyện Khúc Giang, thuộc Quảng Đông, Trung Quốc.
(Xem: 520)
“Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng;
(Xem: 463)
Những năm cuối của thế kỷ 20, “Bến Xe Ngựa” ngay trước nhà tôi đã di dời vào “Bến Xe Lam” gần chợ từ lâu, trả lại một con đường...
(Xem: 390)
Từ ngàn xưa đến nay, chánh ngữ vẫn là giới luật để khẳng định tính Người trong xã hội vì nó xuất phát từ chánh niệmchánh tư duy.
(Xem: 718)
Hạt Bụi vừa trở mình mở mắt ra và cảm thấy quá đỗi ngỡ ngàng, tò mò với vạn vật xung quanh.
(Xem: 508)
Như thường lệ, sau giờ điểm tâm sáng, tiểu Ngọc đều ra khoảng sân rộng trước đài Quan Âm đọc truyện tranh Phật Giáo.
(Xem: 514)
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng đừng cầu nguyện sau những cuộc thảm sát mà cần ngồi lại với nhau để tìm phương thức giải quyết trong tinh thầnPhật Giáo gọi là Kiến Hòa Đồng Giải để rồi đi đến Giới Hòa Đồng Trụ tức cùng chung sống hòa bình trên hành tinh duy nhất này.
(Xem: 793)
Chỉ có buông bỏ, không bị chi phối bởi ham muốn hay thù hận bạn mới nắm bắt được niềm vui, niềm hạnh phúc thực sự cho mình!
(Xem: 545)
Trong đời sống thường nhật, những người cùng ý tưởng, chung sở thích thì hay kết duyên tụ lại với nhau.
(Xem: 527)
Thiền chỉ (samantha) và Thiền quán (vipassana) là hai nội dung lớn trong vấn đề “phát triển của tâm” được đề cập trong Kinh tạng Nikāya.
(Xem: 571)
Ngài Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?” Ngài Nam Tuyền đáp “Tâm bình thường là đạo”, nói theo chữ Hán là “bình thường tâm thị đạo”.
(Xem: 623)
Tuệ quán vô thường sẽ giúp thấy rõ tính chất duyên sinh, vô ngã của vạn pháp. Không có bất cứ cái gì trường cửu, bất biến mà...
(Xem: 976)
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: Này Thiên tử! Nếu có Bồ-tát biết tất cả các sanh mà cũng chẳng sanh, cũng biết tất cả sanh tử của chúng sanh.
Quảng Cáo Bảo Trợ