Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Bài Mới Nhất trang Văn Học
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
18,451,428
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250

Phiếm Luận Về Ma

Thursday, January 10, 201915:26(View: 1674)
Phiếm Luận Về Ma
Phiếm Luận Về Ma

Trước khi bàn về ma, chúng ta thử định nghĩa xem “ma” là gì. Thông thường, ma là người đã chết hay người chết. Đang sống thì là người. Nhưng vừa chết một cái đã thành ma, thây ma. Chính vì thế đám ma là nghi thức hoặc tục lệ để khóc than, để tang, thăm viếng, tiễn đưa hoặc chôn cất, hỏa thiêu người chết. 
Thế nhưng theo kinh điển“ma” do chữ Phạn Mâra mà ra. Vì vần “r” không có trong tiếng Trung Hoa nên người Trung Hoa thường gọi là Ma-la thay vì là Ma-ra. Còn Tây Phương định nghĩa “ma” (ghost) như sau, “Đó là sự hiện diện của một người đã chết và được tin rằng xuất hiệnbiểu lộ như có sự sống, thường hiện ra dưới hình ảnh mờ mờ.” (an apparition of a dead person which is believed to appear or become manifest to the living, typically as a nebulous image)
Khác với quỷ hay yêu tinh có thể giết hoặc ăn thịt người, ma không hề hại ai. Ma chỉ hù dọa, cám dỗ hoặc làm người ta sợ chứ không hại được người. Tây Phương thật chí lý khi nói rằng “Dead men tell no tales” tức “Người chết thì không còn tiết lộ bí mật/nói năng gì được nữa”. Chính vì thế mà để “diệt khẩu”, diệt nhân chứng, những sát thủ thường giết, thủ tiêu nạn nhân để không một ai biết gì về hành vi tàn ác nữa. Xác chết nằm đó chằng thể nói năng được gì, làm sao có thể hại được người? Thế nhưng tại sao người ta lại sợ ma? Theo Phân Tâm Học, người ta sợ ma không phải sợ cái xác nằm đó mà chính là sợ Sự Chết hay Cái Chết vì Cái Chết hay Sự Chết là điều ghê gớm nhất.
Theo truyền khẩu, sách, truyện, phim ảnh…và có thể do “thần hồn nát thần tính” người ta thấy ma hiện ra dưới rất nhiều hình thức.
-Tiếng kẽo kẹt trong đêm ở bụi tre cũng có thể là ma.
-Một bóng trắng tha thướt trong rừng, có thể do mắt quáng gà, cũng có thể là ma.
-Trong đêm, cánh cửa không có người bỗng nhiên mở ra, cũng có thể là ma. 
-Tiếng hú trong tòa lâu đài là do tác động của gió thổi xuyên qua nhiều hành lanh, khe hở cũng có thể là ma kêu quỷ hờn.
-Một bóng người mờ mờ trong đêm tối, giống như người đàn bà gục đầu khóc bên mồ trong nghĩa trang …nhưng khi đến gần thì chẳng có gì cả…cũng có thể là ma. 
-Một cảnh cây đong đưa trong cơn gió ban đêm cũng có thể là ma đánh đu.
-Ánh lửa lập lòe trong đêm do đom đóm hay lân tinh chiếu sáng trên cánh đồng vắng…cũng thể là ma trơi
-Đang ăn uống bình thường, bỗng nhiên nhảy chồm chồm, nói năng nhảm nhí…do bị dồn nén, khủng hoảng tâm thần…cũng có thể nói là bị ma nhập. 
-Căn nhà dường như luôn luôn bị phá phách lúc về đêm…như ném đá, cậy cửa…có thể do băng đảng rắn mắt nào đó nghịch ngợm…cũng có thể gọi đó là căn nhà có ma.
Nói tóm lại ma hiện diện khắp nơi, từ Âu sang Á. Chỉ khi nào con người “bất tử” tức không chết nữa hoặc tận thế thì mới hết chuyện ma
- Thế nhưng nhiều khi ma cũng bị “vu oan giá họa”. Chẳng hạn một người do lòng tham-sân-si quá độ, không kiểm soát được mình, đã làm chuyện xấu xa tồi bại, thay vì nhận lỗi lại đổ thừa là “bị ma đưa lối, quỷ đưa đường.” Xin nhớ, mọi hành vi tốt xấu trên thế gian này đểu do chính mình là tác giả hay tác nhân chứ ma quỷ, thần linh không thể can dự vào. Chính mình phải nhận lãnh hậu quả việc mình làm, không thể van vái thần linh, ma quỷ  để rửa tội hay chạy tội được. 
            Trên đây chỉ là những con ma tưởng tượng, cảm thấy, dường như thấy, nhưng không thực. Tuy nhiên có những loại ma dưới đây thì rất thực và đang sống chung với chúng ta:
-Ma mãnh tức là kẻ khôn ngoan những chuyện lặt vặt để thủ lợi.
-Ma bùn tức kẻ có những hành vi ám muội không tốt.
-Ma túy bao gồm cần sa, bạch phiến, thuốc phiện… tàn hại tâm trícuộc đời con người.
-Ma men là những người nghiện rượu, tê liệt cả ý chí, sống đời phế bỏ, làm khổ cha mẹ, vợ con
-Ma-cà-bông là bọn người tụ họp, lang thang, phá làng phá xóm, rải đinh trên đường, vẽ bậy lên tường, thậm chí ăn trộm chó bị người ta đánh nhừ tử.
-Ma xó là hạng người ưa tọc mạch vào chuyện riêng của gia đình người ta. 
-Ma nữ là những cô gái có thân hình gợi dục, dùng mọi hình thức uốn éo, mời mọc, lời nói lả lơi để quyến rũ người nam thèm muốn, giao hoan, làm tình.
-Ma đói là kẻ quá tham ăn, tham uống, mà người đời gọi là phàm phu tục tử
-Ma ăn cỗ là loại người làm ăn bất chính như nhũng lạm, ăn cắp của công, xén bớt tiền bạc cứu trợ, dự án để bỏ túi riêng. 
-Ma đuổi – là chính mình ù té chạy vì chuyện gì đó, nghe tiếng chân thình thịch phía sau, sợ hết hồn,  nhưng đó chính là tiếng chân của mình. 
-Ma phiền là phiền não, buồn bực luôn luôn làm chúng ta cảm thấy không hạnh phúc. Ma phiền não ngự trị trong tâm trí mọi ngườihành khổ con người bất cứ lúc nào và ở đâu. 
            Đó là ma của cuộc đời, của thế tục, của nhân gian và sống thực trong nhân gian. Thế còn Đạo Phật nhìn ma như thế nào? Trên Thư Viện Hoa Sen, cư sĩ Hoang Phong đã có một bài viết về ma với tựa đề, “Có Ma Hay Không?”Theo sưu tầm của Hoang Phong thì: 
“Thật ra thì ma nhiều lắm, nhưng tựu trung được kinh sách phân loại thành bốn thứ gọi là Tứ ma
Tứ Ma của Thừa Kinh Điển là:
 1. Ma cấu hợp (Skandhamara) : đó là thứ ma quái tượng trưng bởi ngũ uẩn làm cơ sở cho khổ đau và cái chết mà ta phải gánh chịu trong cõi luân hồi. Con ma đó gọi là "con ma gánh chịu cái chết", kinh sách tiếng Hán gọi là Ấm maUẩn ma, hay Ngũ chúng ma.
 2. Ma dục vọng (Klesamara) : bao gồm các dục vọng, sự ham muốnthèm khátxui khiến ta phạm vào những hành động tiêu cực, tạo ra nghiệp xấu, thu ngắn kiếp nhân sinh, đưa ta vào vòng khổ đau của cõi luân hồi. Đó là "con ma đưa đến cái chết", kinh sách gốc Hán gọi là Phiền não ma.
 3. Ma thần chết (Mrtyumara) : đó là sự hủy hoại, cứu cánh tất nhiên của sự sinh, hậu quả của bản chấtcấu hợp của mọi hiện tượng, tức đấy là quy luật vô thường. Con ma này có tên là "con ma vô thường",kinh sách gốc Hán gọi là Tử ma.
 4. Ma con trời (Devaputramara) : bao gồm những thứ ma làm cho ta đãng trí, phân tâm, xúi dục ta bám víu vào ảo giác của những vật thể bên ngoài và cả trong tâm thứccản trở sự tu học. Đó là "con ma bấn loạn", kinh sách gốc Hán gọi là Tha-hoá Tự-tại Thiên-tử ma, gọi tắt là Thiên ma, tức thần thánh tay sai của Thiên-hóa Tự-tại Vương.
 Tứ ma của Thừa Kim Cương là
 1. Ma xiềng xích (tiếng Tây Tạng : thogs-bcas-kyi bdud) : con ma này rất hung tợn và lộ liễu, gây ra phiền não, bệnh tật và các chướng ngại bên ngoài. Đây là con ma của sự bám víu và ghét bỏ đối với những vật thể và hiện tượng chung quanh. Con ma này luôn tìm cách trói buộc ta vào những thứ ấy. Kinh sách gốc Hán gọi con ma xiềng xích là Phiền não ma.
 2. Ma thả lỏng (tiếng Tây tạng : thogs-med-kyi bdud) : đó là ba thứ nọc độc chính và năm thứ nọc độc phụ, tức là những dục vọng chính yếu và thứ yếu, những tư tưởng hay tư duy bấn loạn chưa được khắc phục, xâm chiếm tâm thức và gây ra khổ đau cho ta. Kinh sách gốc Hán gọi con ma này là Tâm ma.
 3. Ma khánh hỷ (tiếng Tây tạng : dga’-brod-kyi bdud) : đó là con ma đội lốt hân hoanvui thíchthỏa mãn với chính mình, xem ta hơn cả mọi người, xúi dục ta bám víu vào những "kết quả" và "kinh nghiệm"thiền định đã thực hiện được và cho đấy là cao siêu, rồi trở nên hãnh diện, không chịu cố gắng tu tậpthêm. Kinh sách gốc Hán gọi con ma này là Thiện-căn ma.
 4. Ma kiêu căng (tiếng Tây tạng : snyems-byed-kyi bdud) : đó là con ma ngạo mạn, tự mãn, tự kiêu, tự đại. Đấy là bản chất căn bản của con ma mang tên là cái "ta", cái "tôi", cái "ngã". Kinh sách gốc Hán gọi con mà này là Tam-muội ma.
            Tôi năm nay đã ngoại thất tuần. Ở Việt Nam, từ lúc tấm bé đã nghe nói về ma, đọc truyện ma, kể chuyện  ma, qua các ngõ vắng về đêm đều ù té chạy vì sợ ma. Rồi qua Mỹ hơn 30 năm cũng nghe người ta nói, viết về ma, chụp hình được cả ma nhưng bản thân chưa hề thấy ma bao giờ. Thế nhưng có điều tức cười là, để mua vui cho đời, với tư cách một nhà văn, để ẩn dụ và triết lý, tôi cũng viết vài truyện ngắn về ma, hoàn toàn bịa đặt. Nay học Phật, tôi có ý nghĩ hoàn toàn khác về ma. Là người con Phật chúng ta nên và không nên:
1)      Không nên sợ ma. Ma khác với quỷ và yêu tinh - ma không bao giờ hại người. Vì thế chúng ta nên đối xử với ma như người còn sống. Theo giáo lý nhà Phật, ma là những oan hồn uổng tử không thể đầu thai hoặc vì chết oan ức, hoặc còn quyến luyến, hận thù, thương tiếc những gì có trước khi chết khiến thần thức u trệ không sao đầu thai được. Nghĩ cho cùng ma thật đáng thương, đáng cứu vớt. 
2)      Nếu ma có hiện lên, chẳng qua là ma muốn giãi bày một tâm sự, một niềm u uẩn gì đó, một nguyện vọng gì đó, hoặc vì đói lạnh chứ không phải để hãm hại chúng ta. Tôi chưa bao giờ nghe nói ma hại người - mà chỉ có người hại người thôi
3)      Không nên tìm thầy pháp, thầy bùa để trừ ma. Làm như thế là hủy hoại lòng Từ Bi. Đức Phật dạy chúng ta xót thương và cứu vớt muôn loài chúng sinh. Bồ Tát  Địa Tạng còn tìm vào địa ngục để độ cho những kẻ có tội mà. Ma nhiều khi chính là ông bà, cha mẹ, anh em, con cái chúng ta đã chết đi. Tại sao chúng ta không cứu vớt họ mà lại “trừ khử” họ?
4)      Do đó, khi thật sự thấy ma, bị ma ám, ma hành, chúng ta nên mời ni/sư tụng kinh siêu độ trong tinh thần Từ Bi/Giải Thoát của nhà Phật. Chư tăng/ni trong mọi khóa lễ đều cầu nguyệnÂm siêu dương thới”, tức người chết cũng cần được hưởng những gì tốt lành qua lời dạy của chư Phật. 
Tuy nhiên có những thứ ma sau đây chúng ta phải cảnh giác, xa lánh hoặc diệt trừ, đó là:
-Ma túy cần phải diệt trừ vì nó tàn hại nhiều thế hệ thanh niên, gây tội phạm và băng hoại xã hội.
-Ma men cần phải xa lánh vì “rượu vào lời ra” hoặc không còn kiểm soát được đầu óc khiến lái xe giết người hàng loạt, đánh đập vợ con, gia đình đổ vỡ, bản thân sống như một kẻ tàn phế.
-Ma-cà-bông sống lang thang phóng đãng, phá làng phá xóm, vẽ bậy lên tường, ăn cắp ăn trộm, nghiện ngập xì ke ma túy khiến gây bất ổn xã hội
-Ma-lanh là thủ đoạn khôn ngoan lặt vặt để thủ lợi khiến nhân cách trở nên xấu xa.  
-Ma bùn là có hành vi xấu, lén lút giống như “ngụy quân tử”.
-Thiên Ma hay Ma Ba Tuần cai quản cõi trời Tha Hóa Tự Tại (tầng trời thứ sáu) không tin vào chánh pháp, chấp thủ tà kiến tự ngã và thường đoạn kiến sâu nặng, không muốn có người tu đắc đạo thoát khỏi luân hồi trong ba cõiMa Ba Tuần trong thế gian này có thể  hiểu là người hoặc giàu có, trí thức, có quyền thế nhưng không tin chính pháp, phỉ bángngăn cản người tu học. Ma Ba Tuần cho rằng sống chỉ để hưởng thụ và không cần hướng thượng và cứu giúp mọi người và không tin luân hồi, nhân quả
-Ma nữ là thứ ma cuối cùng nguy hại không sao lường hết được. Thời đại văn minh điện tử ngày nay có cả triệu ma nữ gọi là “gái sexy”, “hot girl”, ăn mặc hở hang, dâm ô, đóng phim sex, chụp hình phô bày cả bộ phận sinh dục để  kiếm tiền. Mở bất cứ trang báo điện tử nào ra cũng đều thấy hàng loạt, hàng loạt ma nữ được quảng cáo nhiệt tình. Loại ma nữ này xuất hiện trong cả các đại hội Liên Hoan Điện Ảnh, trình diễn thời trang ăn mặc gần như trần truồng, được dùng để quảng cáo bán hàng, ngụy trang qua các dịch vụ đấm bóp, du lịch (sex tour), phòng trà, quán nhậu ôm, cà-phê ôm, quán rượu. Lại còn có cả ma nữ ăn mặc hở hang lái xe đua lượn trên đường phố trong những ngày hội, rồi tự chụp hình đưa lên mạng lưới toàn cầu cho người ta xem. Các loại ma nữ này náo loạn thanh niên, thiếu nữ, đại gia, các chịnh trị gia… đã đành mà còn hủy hoại cuộc đời của nhiều nhà tu hành. Dính vào ma nữ coi như sự nghiệp tiêu tan, tiếng xấu để đời. Thế nhưng ma nữ là loại ma hấp dẫn,  đàn ông ông, con trai ai cũng thích lao vào. Ma nữ là loại ma không có trí tuệ và không biết xấu hổ. Mục đích chính của nó là phô bày thân thể để mời gọi đàn ông. Ngay Đức Phật trước khi thành đạo còn bị ma nữ não hại, nhưng ngài vượt qua được. 
             Viết về chuyện ma, bàn tán về ma là chuyện ngàn đời nhiều khi chỉ để hù dọa trẻ con, mua vui, câu độc giả hay trám chỗ trên mấy tờ báo. Là người học Phật chúng ta không sợ ma chết mà sợ ma sống. Chính ma sống làm não loạn và làm xấu con ngườima nữ là trở ngại chính trên bước đường tu hành. Ngài A Nam tí nữa cũng chết vì ma nữ. Cho nên người tu hành, từng giây, từng phút phải cảnh giác với ma nữ. Ma nữhình ảnh nổi bật của hai chữ Ái-Dục. 
Nói chung, ma không có thật. Và nếu có thật thì chẳng có gì đáng sợ. Nhưng nếu hiểu “ma” là chúa tể của dục vọng hay ham muốn của chính chúng ta….thì ma đó vô cùng đáng sợ, hãm hại chúng ta đã đành, mà còn hủy diệt luôn cả trái đất này.
Đào Văn Bình
(California ngày 10/1/2019)
 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 744)
Trong đây, hoặc hữu sắc[2] quán các sắc: vị ấy đối với nội phần, sắc tưởng cá biệt: chưa viễn ly, chưa cá biệt viễn ly, chưa điều phục, chưa cá biệt điều phục, chưa diệt tận, chưa phá hoại.
(View: 1009)
Lộ trình tu tập được Thế Tôn ví như khúc gỗ trôi sông, xuôi về biển Niết-bàn.
(View: 914)
Tứ Diệu Đế (Cattāri saccāni) là bài giảng đầu tiên của Đức Phật cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển để vận chuyển bánh xe chánh pháp.
(View: 687)
Ngày còn bán hàng rong ngoài đường, tôi gặp một phụ nữ, tuổi đã ngoài ba mươi. Mỗi lần chờ đi khách, chị hay ngồi nói chuyện với tôi. Người không xinh xắn, bụng lớn ngực lép, đi thì chân này đá chân kia, nhưng khá đắt khách.
(View: 1006)
Mục đích của đời người là gì? Đây là câu hỏi rất phổ biến mà người ta thường hay hỏi.
(View: 817)
Khi những nỗ lực không được đáp trả thì hy vọng sự mầu nhiệm, phép mầuxu hướngcon người ta luôn hướng tới.
(View: 660)
Khổng Tử nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện”, con người sinh ra vốn lương thiện. Nhưng, Tuân Tử lại cho rằng: “Nhân chi sơ tính ác”, con người sinh ra bản tính vốn là ác.
(View: 938)
Thu đã sang mà lá chưa vàng. Những cành cao vẫn còn sum sê tán lá. Thời tiết có vẻ bất thường.
(View: 975)
Có phải khi thấy tánh Không thì không thấy gì hết? Có phải thấy “pháp tánh” thì không còn thấy các pháp
(View: 943)
Vào sáng Chủ Nhật 14 tháng 7 2019, tại hội trường báo Người Việt (Westminster, Little Saigon) đã có một cuộc hội thảo với chủ đề tìm cách đem sự thực tập chánh niệm tỉnh thức đến với giới thanh thiếu niên gốc Việt tại Quận Cam.
(View: 802)
"Lý tưởng nhất là các lớp học không có cảm giác sợ hãicăng thẳng làm việc dạy và học trở nên nặng nề. Lý tưởng nhất là giáo viên tạo dựng được nề nếp học trong không khí êm ả và chú tâm của lớp học.
(View: 822)
Lời dạy thường nhật của Thiền Tôngnhận ra tự tánh các pháp vốn rỗng rang vô tự tánh.
(View: 814)
Bình yên và hạnh phúc chỉ đạt được khi con người biết quay về nội tâm của mình để an trú nơi đó như bến đỗ bình yên.
(View: 723)
Ngoài việc phòng hộ bằng cách luôn chánh niệm tỉnh giác với thân hành, khẩu hành và ý hành, biết rõ xấu ác thì dừng lại không làm, thấy hiền thiện quả phước thì làm ngay
(View: 1078)
Hạnh phúc vì mình được biết Phật pháp, biết cố gắng hiểu lời Phật dạy, biết cố gắng hành theo những lời dạy đó và nhất là có thể chia sẻ với người khác những gì mình vừa tìm thấy.
(View: 786)
Một đêm khi Shichiri Kojun đang tụng kinh thì một tên trộm với một thanh kiếm sắc nhọn bước vào, đòi đưa tiền nếu không...
(View: 671)
Đại sư Từ Chiếu (Chi: Tzu Chao) có lần nói: "Người tu Tịnh độ lúc sắp chết thường bị Ba Điều Nghi và Bốn cửa ải làm trở ngại cho việc vãng sanh Cực Lạc. Do đó hành giả ngày thường cần chuẩn bị, suy tư và đề phòng để có thể loại trừ chúng trong lúc lâm chung.
(View: 855)
Trong cuộc sống không ít lần chúng ta buồn phiền khổ lụy, cũng có phút giây hạnh phút vui sướng. Nhưng sự buồn phiền đau khổ hay hạnh phúc vui vẻ đó đều do tâm tiếp nhận
(View: 890)
Sự tu tập lấy sự xả bỏ mọi hình tướng, tư lương làm sự giải thoát trong bản thể tâm thanh tịnh an lành.
(View: 777)
Một con người hạnh phúc không cần phảitôn giáo, nhưng nên bao gồm việc hành thiền trong đời sống hàng ngày của người ấy để trở thành một con người nhạy cảm.
(View: 1273)
đệ tử Phật, ai cũng biết bài kệ nổi tiếng, được xem là tinh túy, là tôn chỉ của giáo pháp Thế Tôn: “Không làm các việc ác, siêng làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch, chính là lời Phật dạy”
(View: 685)
Khổ đau hay hạnh phúc là hai trạng thái của tâm. Khi một điều bất như ý tới, tâm ta không thích bèn khởi sự chán ghét, buồn phiền, ân sầu. Cũng vậy khi một điều hỷ lạc tới thì tâm ta đón nhận trong tâm thế vui mừng, hạnh phúc.
(View: 797)
Ở đoạn cuối kinh Pháp hội Văn-thù-sư-lợi Phổ môn, Ma vương Ba-tuần bạch Đức Phật rằng nếu kinh này được lưu truyền ở đời thì...
(View: 727)
Nhân quả như bóng theo hình, nghiệp báo cũng vậy theo ta như hình với bóng. Không ai chạy trốn được nghiệp cho dù lên núi cao hay xuống biển sâu.
(View: 780)
Sở dĩ có các cõi và có các chúng sanh trong các cõi đó là vì nghiệp. Nghiệp là hành động, tức là hành động thuộc thân, khẩu, tâm của chúng sanh.
(View: 805)
Như Thế Tôn nói: “Bí-sô nên biết! ở đây, vị Thánh đệ tử, bằng đặc điểm như vậy tùy niệm chư Phật, nghĩa là vị Thế Tôn ấy là bậc Như Lai, A-la-hán, nói chi tiết cho đến: Phật Bạc-già-phạm”.
(View: 942)
Mặc dù bài văn này khá dài, nhưng nghĩa lý viên mãn, người bị bệnh, người giải oan kiết áp dụng thì được lợi ích thiết thực.
(View: 724)
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi Tử lại nói với đại chúng: Cụ thọ nên biết! Đức Phật đối với mười pháp sau khi đã tự mình khéo thông đạt, hiện đẳng giác, liền tuyên thuyết khai thị cho các đệ tử[2].
(View: 808)
Cuộc cách mạng này của người xuất sĩ đầy gian chuân, giống như người đi ngược chiều trong cơn bão tố, giống như người lái đò chèo ngược dòng chảy đang đầy dữ dội kia để tới đích cần phải đến.
(View: 795)
Sống trên đời này, ai cũng đều có chỗ thấy biết, đó là một điểm không thể chối cãi.
(View: 778)
Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh, Ngoài hư không có dấu chim bay? Từ tiếng gọi màu đêm đất khổ, Thắp tâm tư thay ánh mặt trời.
(View: 1089)
Đa phần khổ đau của chúng ta là do nhận thức sai lầm, vọng tưởng điên đảo, nói cách khác là do vô minh, nhận lầm nhửng huyễn ảo mà cho là thật.
(View: 862)
Người Đi Hắt Bóng Trong Tâm Ảnh. Vài Suy Nghĩ Nhân Đọc Tập Thơ “Âm Tuyết Đỏ Thời Gian” Của Nhà Thơ Nguyễn Lương Vỵ.
(View: 828)
Trong khi cách nhìn phổ biến nói rằng khổ là có thực, rằng cần đoạn tận lậu hoặc để diệt khổ, vào Niết bàn… các hành giả Thiền Tông nhìn khắp pháp giới như tranh vẽ
(View: 935)
Thế Tôn thường dạy tu tập rải tâm từ; mong cho mọi loài chúng sinh được hạnh phúc, an vui.
(View: 919)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn.
(View: 1263)
Tương lai của mỗi con người dều phụ thuộc vào sự tác nghiệp của chính họ trong hiện tại. Vì vậy, mỗi người con Phật phải tự quyết định lấy ...
(View: 955)
Cuộc đời người tu sĩ gắn liền với 2 việc lớn là sự học và sự tu (sự hành) phải luôn song song. Có học, có hiểu biết không thôi không làm lên được người tu sĩ.
(View: 903)
Chuyện kể về một người đã thành đạt, một hôm cùng đứa con trai về làng thăm thầy cũ. Đến một căn nhà tranh đơn sơ, hai cha con gặp một ông lão mắt đã lòa, chống gậy dò từng bước quanh sân.
(View: 899)
Theo Phật Học Từ Điển của Thiện Phúc, “Chánh Niệm (Sammasati/Phạn, Samyaksmrti/ Sankrit, Right mindfulness /Anh Ngữ ) là , ”Nhớ đúng, nghĩ đúng là giai đoạn thứ bảy trong Bát Thánh Đạo. Nhìn vào hay quán vào thân tâm để luôn tỉnh thức.
(View: 751)
Cuộc thế ngày mai có tốt hơn hay không, đều tùy thuộc vào tầm nhìn, hành động và sức mạnh đúng nghĩa của mỗi người hiện tại.
(View: 909)
Âu Châu nầy mỗi năm có 4 mùa rõ rệt. Đó là Xuân, Hạ, Thu và Đông. Mùa Xuân thường bắt đầu sau những tháng ngày lạnh giá của tháng Giêng, tháng Hai...
(View: 815)
Vu Lan không xuất phát từ thời Phật giáo Nguyên thủyThiền sư Thông Lạc đã bài xich, theo người cho rằng do chư Tổ Trung quốc bày đặt,
(View: 839)
Đạo Phật lấy đạo đức làm trọng, đức lấy lòng hiếu thảo làm gốc. Mùa Báo hiếu gợi lại trong tâm tư mỗi người con Phật công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ.
(View: 747)
Buông bỏ tất cả để tu hành vốn không bị xem là ích kỷ, thậm chí đó là cao thượng nhưng rũ bỏ trách nhiệm trước ...
(View: 850)
Tu thiền trong rừng bị ác ma nhiễu loạn thoạt nghe cũng sởn ốc, rùng mình. Càng đáng sợ hơn khi ác ma đây không phải dân ma mà ...
(View: 820)
Đạo từ tâm sinh. Đi học đạo là học cho ta, để nhận chân được tự tâm, để tạo nên cái phẩm giá của ta, chứ không phải là để khoe với người.
(View: 767)
Phật pháp luôn sẵn đó, hiện bày trước mắt mỗi người. Chúng sanh do loạn động chôn vùi, vô minh che lấp cho nên bỏ sót, không nhận ra.
(View: 766)
Trừ các bậc Bồ tátbi nguyện tái sanh, còn lại hết thảy chúng ta sinh ra trong cõi Dục với gốc rễ nghiệp duyên tham ái sâu dày.
(View: 954)
Có một sự nhất quán, xuyên suốt trong lời dạy hướng dẫn kỹ năng thiền định của Phật, từ Tứ niệm xứ (Satipatthàna) tới Thân hành niệm (Kàyagatàsati),
Quảng Cáo Bảo Trợ