Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Bài Mới Nhất trang Văn Học
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
19,039,753

Bổn Tôn Du Già

Thursday, May 16, 201920:20(View: 1719)
Bổn Tôn Du Già
BỔN TÔN DU GIÀ
 
Nguyên bản: Deity Yoga
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển / Thursday, March 7, 2019

-*-

Trong Phật giáo có hai loại thực tập căn bản Hiển GiáoMật Giáo. Cho đến giờ, chúng ta đang thảo luận về sự thực hành Hiền Giáo. Mục tiêu đặc biệt của Mật Giáo là để cung ứng một con đường nhanh hơn vì thế những hành giả đủ điều kiện có thể phục vụ người khác một cách nhanh chóng hơn. Trong Mật Giáo năng lực của quán tưởng được khai thác để hành thiền trong một sự thực hành gọi là bổn tôn du già. Trong sự thực hành này ta tưởng tượng: 

 

1-   Thay thế tâm thức ta như nó xuất hiện một cách thông thường, đầy những cảm xúc rắc rối, với một tâm thức tuệ trí tinh khiết được động viên bởi từ bi;

2-   Thay thế thân thể ta như thông thường nó hiện hữu (được cấu thành bởi thịt, máu, và xương) với một thân thể được cấu thành từ bi mẫn được thúc đẩy bởi tuệ trí.

3-   Phát triển cảm nhận của một tự ngã tinh khiết vốn phụ thuộc trên tâm thứcvà thân thể hiện hữu một cách thuần khiết trong một môi trường lý tưởng, hoàn toàn dấn thân trong việc giúp đở người khác. 

 

Sự thực hành đặc biệt này của Mật Tông yêu cầu quán tưởng tự thân ta với một thân thể, hành vi, năng lực và môi trường chung quanh của một Đức Phật, nó được gọi là “lấy sự quán tưởng làm con đường tâm linh.”

 

Chúng ta hãy xem xét một dự tưởng về sự thực hành này. Ta xem tự thân ta có những phẩm chất của một Đức Phật vốn hiện tại ta chưa có. Thế thì, đây có phải một loại tâm thức thiền quán đúng đắn không? Vâng. Tâm thức ta được liên hệ trong một sự thấu hiểu thực tại từ việc ta đang hiện hữu như một bổn tôn. Do thế, tâm thức ta, từ quan điểm này, là đúng đắn. Cũng thế, ta đang cố tình tưởng tượng tự ta như có một thân thể siêu phàm ngay cả hiện tại ta chưa sở hữu. Đây là sự hành thiền quán tưởng, chúng ta không tự tin từ thâm tâm rằng ta thật sự có tâm thức, thân thể, và cá tính thuần khiết. Đúng hơn, căn cứ trên việc quán tưởng trọn vẹn  về thân thểtâm thức lý tưởng, chúng ta đang trau dồi cảm nhận hiện hữu của một bổn tôn hổ trợ người khác một cách từ bi.

 

Để là một giáo thọ Mật Giáo đặc biệt – như đã nói, loại giáo thọ mà với người ấy Đức Phật đặc biệt trình bày sự thực hành Mật Tông – một hành giả phải có năng lực sắc bén và đã đạt đến tuệ trí vững vàng thực chứng tánh không, hay đã sẳn sàng kích hoạt nhanh chóng tuệ trí này. Những đòi hỏi cho chỉ việc thực hành Mật Tông là ít nghiêm nhặt hơn; tuy thế, việc dấn thân trong Mật Giáo ở bất cứ trình độ nào cũng đòi hỏi một ý chí mạnh mẽ để đạt được Giác Ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sanh, và một cảm nhận rằng việc này cần được hoàn thành một cách thật nhanh chóng.

 

Vào lúc bắt đầu của việc thực hành Mật Tông, cách căn bản để phát triển sự tĩnh lặng (tam muội) là hành thiền trên thân thể của chính ta giống như nó đã là một bổn tôn. Khi chúng ta hành thiền trên một thân thể siêu phàm, trước tiên ta hành thiền về tánh không, hãy gặt hái sự tỉnh thức tối đa  như có thể về tánh không của sự tồn tại cố hữu. Khi chúng ta đã thích nghi với thể trạng này, thì ta sử dụng chính tự tâm thức ấy như căn bản mà từ đó bổn tôn xuất hiện. Tâm thức, thực chứng tánh không, xuất hiện như bổn tôn và môi trường chung quanh của vị ấy. Trước tiên ta thiền quán về tánh không, từ đó bổn tôn xuất hiện; sau đó tập trung vào bổn tôn.

 

Trong cách này, bồn tôn du già kết hợp tuệ trí và động cơ từ bi, một tâm thức đơn độc thực chứng tánh khôngxuất hiện một cách từ bi trong hình thức của một bổn tôn vị tha. Trong hệ thống Hiển Giáo, mặc dù có một sự phối hợp của tuệ trí và động cơ từ bi, nhưng sự thực hành tuệ trí chỉ tác động bằng năng lực của sự thực hành động cơ, và sự thực hành động cơ chỉ tác động bằng năng lực của sự thực hành tuệ trí; chúng không được bao hàm trong một ý thức. Một tính năng phân biệt của Mật Giáo là chúng là như vậy. Sự bao hàm của động cơ và tuệ trí trong một ý thức là những gì làm cho tiến trình của Mật Tông thật nhanh chóng.

 

Khi tôi còn là một thiếu niên, Mật Tông chỉ là một vấn đề của sự tin tưởng mù quáng. Vào tuổi hai mươi bốn, tôi mất quê hương và rồi thì sau đó đến Ấn Độ thật sự bắt đầu đọc những giải thích của Tông Khách Ba về tánh không. Rồi thì, sau khi chuyển đến Dharamsala, tôi đã dành nhiều nổ lực trong sự học tập và thực hành những giai tầng của con đường tu tập, tánh không, và Mật Tông. Thế nên, chỉ vào cuối những năm hai mươi tuổi của tôi sau khi đạt được một kinh nghiệm nào đó về tánh không thì bổn tôn du già mới có lý.

 

Một lần nọ ở chùa chính ở Dharamsala, tôi đang tiến hành nghi thức quán tưởng tôi như một bổn tôn của Tantra Yoga Tối Thượng, được gọi là Phật Bí Mật Tập Hội. Tâm tư tôi liên tục duy trì trong việc trì tụng nghi thức, và khi cụm chữ “tự chính tôi” đến, thì tôi hoàn toàn quên về tự thân thông thường của tôi trong mối quan hệ với sự phối hợp của tâm thứcthân thể. Thay vì thế, tôi có một cảm nhận rất rõ ràng về “tôi” trong mối quan hệ với sự kết hợp mới mẻ thuần khiết của tâm và thân của Phật Bí Mật Tập Hội (Phật Guhyasamaja), mà tôi đang quán tưởng. Vì đây là loại tự xác định vốn là trọng tâm của Du già Mật tông, cho nên kinh nghiệm xác nhận với tôi rằng với đầy đủ thời gian thì tôi chắc chắn sẽ đạt được những thể trạng sâu xa ngoại hạng đã được đề cập trong các kinh điển.

 

QUÁN ĐẢNH

 

Để thực hành Mật Thừa, thì đặc biệt quan trọng là được tham gia vào lễ truyền pháp gia hộ từ những bậc đại nhân trước đó. Những sự gia hộ không có trong sự thực hành của Kinh Thừa Hiển Giáo, nhưng chúng là thiết yếu trong Mật Tông. Phương tiện trước tiên của việc đi vào những sự gia hộ này là qua cánh cửa quán đảnh. Có bốn lớp Mật TôngHoạt Động, Thực Hiện, Du GiàVô Thượng Du Già (Tantra Yoga Tối Thượng) – mỗi lớp với những sự quán đảnh của nó để làm chín muồi tâm thức cho sự thực tập, và mỗi lớp Mật Tông với những sự hành thiền của chính nó.

 

Chúng ta tiếp nhận sự quán đảnh ở đâu? Trong một mạn đà la, bao hàm những môi trường lý tưởng và cư dân siêu phàm tất cả vốn là những sự biểu hiện của từ bituệ trí. Có những mạn đà la với mức độ phức tạp khác nhau cho tất cả bốn lớp Mật Tông. Một số được vẽ. Những thứ khác được tạo thành từ cát màu, và tuy thế những thứ khác nữa được tạo thành từ một loại mạn đà la thiền định đặc biệt.

 

Để tiếp nhận sự quán đảnh và phát nguyện trong một mạn đà la của Mật Tông Du Già hay Vô Thượng Du Già, vị lạt ma tiến hành buổi lễ phải có những phẩm chất hoàn hảo. Tất cả bốn bộ Mật Tông nhấn mạnh đặc biệt vào đức tính của vị lạt ma, trong việc giữ gìn những sự diễn tả chi tiết của Đức Phật cho những giai tầng khác nhau của con đường tu tập. Cũng hãy nhớ lời Đức Phật dạy bảo rằng không chỉ nương tựa vào người ấy mà cũng phải nương tựa vào giáo lý (y pháp bất y nhân). Ta không nên bị choáng ngợp bởi danh tiếng của một vị thầy. Điều quan trọng nhất là, vị thầy phải biết giáo lý, những thực hành, trọn vẹn.

 

CAM KẾT VÀ THỆ NGUYỆN

 

Trong hai bộ Mật Tông thấp – Hành Động và Thực Hiện – không có sự chỉ bảo rõ ràng rằng những thệ nguyện Mật Tông phải được tiếp nhận cho lễ quán đảnh; tuy thế, có nhiều sự cam kết phải được giữ. Trong hai bộ Mật Tông cao – Du GiàVô Thượng Du Già – sau khi nhận lễ quán đảnh với tất cả những khía cạnh của nó, ta phải tiếp nhận những thệ nguyện Mật Tông ngoài những cam kết. Mật Tông Du GiàVô Thượng Du Già có mười bốn (14) giới nguyện căn bản cũng như danh sách của những vi phạm để bảo vệ chống lại, nhưng như chúng khác nhau trong những con đường tu tập tương ứng, thậm chí những giới nguyện căn bản cũng hơi khác nhau. Vì sự thực hành Mật Tông quan tâm chính yếu với việc vượt thắng hiện tướng của chính ta và môi trường của ta khi bình thường (nhằm để khắc phục nhận thức những thứ này như bình thường), cho nên ta quán tưởng tự ta có một thân thể, các hành vi từ bi, tiềm lực, và nơi ở của một Đức Phật. Do vậy, hầu hết các sự cam kết quan tâm đến việc thay thế lý tưởng cho những hiện tướng thông thường, và kiềm chế sự đánh giá của chính ta về ta, những bạn đồng hành của ta, môi trường của ta, và những hành vi của ta như thông thường.

 

Loại thứ nhất được mệnh danh là đạo đức giải thoát cá nhân, sau đó là đạo đức Bồ tát, và cuối cùngđạo đức Mật thừa. Những người thọ giới Bồ tátMật tông giữ lối giải thích của riêng họ về giới giải thoát cá nhân. Mật pháp Thời Luân, vốn rộ nở vào thế kỷ 11 ở Ấn Độ và đã trở thành Kim Cương tông chính yếu của những trường phái Tân dịchTây Tạng, tuyên bố rằng nếu có ba vị thầy Mật tông, một với giới giải thoát cá nhân, một với giới sa di, và người thứ ba với đại giới cụ túc, thì người thọ giới cụ túc nên được xem là cao hơn những người kia. Điều này cho thấy rằng sự kính mến cao mà ngay cả trong hệ thống Mật thừa cũng đặt vào đạo đức xuất gia. Mật điển Bí Mật Tập Hội nói rằng bề ngoài ta nên giữ những khuôn phép của sự thực hành giải thoát cá nhân, và bên trong hãy duy trì một mối thân thuộc cho sự thực hành Mật Tông. Trong những cách này sự thực hành của Hiển GiáoMật Giáo hoạt động chung với nhau.

 

 PHƯƠNG TIỆN CỦA MẬT TÔNG TRONG CON ĐƯỜNG TU TẬP

 

Chúng ta hãy xem vai của tình dục trong con đường tu tập của Mật tong bằng cách nhìn vào cấm đoán tà dâm trong đạo đức giải thoát cá nhân, vốn hoàn toàn căn cứ trên nguyên tắc của việc tránh làm tổn hại. Tà dâm được chi tiết hóa trong A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận của Thế Thân. Đối với một người nam không được có quan hệ với vợ người khác, hay với người vị thành niên. Đối với người nữ cũng vậy; cũng không được quan hệ với chồng người khác, hay người vị thành niên. Một số người cho rằng, thực tức cười, vì tác phẩm của Thế Thân giải thích mười điều bất thiện từ quan điểm của nam giới, cho nên nếu người nữ làm mười điều bất thiện thì không sao – và vì vậy không có việc cấm đoán đối với người nữ.

 

Đối với những Phật tử, việc giao hợp có thể được sử dụng trong con đường tâm linh vì nó tạo ra một sự tập trung mạnh mẽ của tâm thức nếu hành giả đã có lòng từ bi và trí tuệ vững vàng. Nếu mục tiêu của nó là để biểu hiện và kéo dài những trình độ sâu sắc hơn của tâm (được diễn tả trước đây với tương ứng của tiến trình lâm chung), nhằm để đặt năng lực của họ để sử dụng trong việc làm mạnh mẽ sự thực chứng tánh không. Trái lại, chỉ giao hợp đơn thuần thì không có tác dụng vì với con đường tâm linh. Khi một hành giả đã đạt được trình độ cao cấp của thực hành trong động cơ và trí tuệ, thế thì ngay cả khi giao hợp, không làm xao lãng với việc duy trì thái độ thuần khiết của người ấy. Các hành giả du già đã đạt được trình độ cao trên con đường tu tập và đầy đủ phẩm chất thì có thể dấn thân trong hành vi như vậy, và một tu sĩ với năng lực này có thể duy trì toàn bộ giới nguyện.

 

Một hành giả du già Tây Tạng tinh tường, khi bị người khác bình phẩm nói rằng ông đã ăn thịt và uống bia khi dâng cúng đến bổn tôn mạn đà la. Những hành giả Mật tong như vậy quán tưởng họ như những bổn tôn trong một mạn đà la hoàn chỉnh, trong sự quán tưởng rằng bổn tôn tối thượngđại lạc tối thượng – sự phối hợp của đại lạctánh không. Người ấy cũng nói rằng sự thực hành tình dục với một phối ngẫu cam kết vì lợi ích của việc phát triển một tri thức chân thật. Và rằng việc làm ấy là mục tiêu. Một hành giả như vậy có thể làm cho việc sử dụng tâm linh không chỉ thực phẩmthức uống thơm ngon, mà ngay cả phân và nước tiểu. Một thiền giả du già chuyển hóa những thứ này thành thực phẩm của thần thánh thật sự. Tuy thế, đối với những người như chúng ta, thì việc này ngoài tầm tay. Cho đến khi nào chúng ta không thể chuyển hóa phân và nước tiểu, thì những thứ khác không nên làm!

 

Đức Phật đã đưa ra một chuỗi những giai tầng của con đường một cách chính xáclý do này. Giai đoạn sơ bộ là tu tập trong những giới nguyện của giải thoát cá nhân. Nếu chúng ta sống như một tu sĩ nam hay nữ, thì đức hạnh của ta phải căn bản hơn – hơi nguy hiểm nếu quá đáng. Ngay cả nếu ta không hoàn toàn thi hành những giới nguyện như vậy, thì cũng không có gì tai hại nhiều. Rồi thì cứ thực hành, thực hành, thực hành. Một khi chúng ta đã phát triển được sức mạnh nội tại, ta có thể kiểm soát bốn yếu tố nội tại – đất, nước, lửa, gió ( hay năm đại nếu thêm của không đại). Một khi ta có thể hoàn toàn kiểm soát bốn yếu tố nội tại, thế thì ta có thể kiểm soát năm yếu tố bên ngoài. Sau đó ta có thể sử dụng bất cứ thứ gì.

 

Việc giao hợp giúp gì trong con đường tu tập? Có nhiều trình độ khác nhau của tâm thức. Khả năng của những trình độ thô rất hạn chế, nhưng những trình độ sâu xa vi tế là mạnh mẽ hơn nhiều. Chúng ta cần thâm nhập những trình độ vi tế hơn của tâm thức. Nhưng nhằm để làm được như vậy, chúng ta cần làm yếu đi và tạm thời dừng lại tâm thức thô. Để làm điều này thì cần thiết phải mang đến một sự thay đổi sâu sắc trong dòng chảy của những năng lượng nội tại. Mặc dù những hình thái của những trình độ tâm thức sâu sắc hơn xảy ra trong khi nhảy mũi và ngáp, nhưng rõ ràng là chúng không thể kéo dài. Cũng thế, kinh nghiệm trước đây với việc biểu hiện những trình độ sâu sắc hơn đòi hỏi việc sử dụng việc xảy ra của chúng trong giấc ngủ sâu. Đây là nơi mà chúng xảy ra. Qua những kỷ năng đặc biệt của việc thiền định trong giấc ngủ, các hành giả thành thạo  có thể kéo dài những thể trạng vi tế và đầy năng lực và đặt chúng vào việc sử dụng để thực chứng tánh không. Tuy nhiên, nếu là những người thong thường thì không có tác dụng gì.

 

Một Đức Phật không cần sự giao hợp. Các bổn tôn trong một mạn đà la thì thường trong sự kết hợp với một phối ngẫu, nhưng điều này không phải nói rằng chư Phật phải cần đến sự giao hợp cho đại lạc của các ngài. Chư Phật đã có đầy đủ đại lạc trong chính các ngài. Chư bổn tôn trong sự kết hợp tự nhiên xuất hiện trong mạn đà la vì lợi ích của chúng sanh với những năng lực sắc bén có thể sử dụng phối ngẫu với đại lạc của việc kết hợp trong việc thực hành con đường nhanh chóng của Mật tong. Trong cùng cách rất giống như vậy, Đức Phật Mật tông Kim Cương Trì xuất  hiện trong những khía cạnh hòa bình và những khía cạnh hung tợn, nhưng đó không có nghĩa là Đức Phật Kim Cương Trì có  hai khía cạnh này với tính chất của ngài là luôn luôn hoàn toàn từ bi. Đúng hơn, sự xuất hiện tự nhiên trong những cung cách khác nhau là vì lợi ích của những hành giả tu tập. Đức Phật Kim Cương Trì xuất hiện đúng trong một cung cách mà hành giả nên thiền quán khi sử dụng những cảm xúc phiền não, chẳng hạn như tham dục hay thù hận trong tiến trình của con đường tu tập. Để nắm lấy những cảm xúc mạnh mẽ như vậy trong con đường tâm linh thì hành giả không thể tưởng tượng rằng họ có một thân thể hòa bình của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni. Bổn tôn du già đòi hỏi. Vì trong trường hợp của thù hận, thí dụ thế, thì cần phải thiền quán trên thân thể của chính mình trong một hình thức hung dữ. Đức Phật Kim Cương Trì xuất hiện một cách tự động trong một hình thức hung tợn tương ứng để chỉ cho hành giả thiền quán như thế nào. Cũng giống như thế với du già tình dục; các hành giả, những người có thể sử dụng đại lạc phát sinh trong tình cảm liên hệ trong khi nhìn chằm chằm, mĩm cười, nắm tay nhau, hay phối hợp phải biểu hiện với bổn tôn du già tương ứng, họ không thể tưởng tượng chính họ như Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, một tu sĩ. Mục tiêu của những hiện tướng khác nhau của Đức Phật Kim Cương Trì không phải làm cho hành giả sợ hãi cũng không phải kích thích tham muốn trong họ, nhưng để chỉ họ thiền quán như thế nào trong những hình thể ấy nhằm để cuối cùng họ chiến thắng những cảm xúc phiền não.

 

Một Đức Phật có thể xuất hiện một cách tự nhiên mà không cần sự cố gắng trong bất cứ cách nào là thích hợp. hình thể của những hiện tướng này được hình thành qua nhu cầu của những người khác, không phải vì lợi ích của Đức Phật ấy. Từ quan điểm của Phật đà, thì Đức Phật ấy có chân thân tự đầy đủ (Pháp thân), mà các ngài tồn tại mãi mãi.

 

Hãy nhớ rằng đạo đức Mật tông được xây dựng trên đạo đức của giải thoát cá nhân và trên đạo đức của từ bi. Mục tiêu của Mật tông là để đạt được Quả Phật trên một con đường nhanh hơn nhằm để phục vụ những người khác mau lẹ hơn.

 

TOÁT YẾU THỰC  HÀNH

 

Vì sự thực hành Mật tông chính yếuchuyển hóa vấn đề chúng ta thấy tự thân ta, người khác, môi trường, và các hành vi của ta như thế nào, cho nên có thể hữu ích để quán tưởng tự thân như có một động cơ từ bi, một thân thểđức hạnh tinh khiết, làm lợi ích cho những người khác. 

-*-

Ẩn Tâm Lộ, Thursday, March 21, 2019

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 129)
Cơm tù kính cẩn tay nâng, Cúng dường bậc Tối Thắng Tôn Giác Toàn, Thế gian máu hận ngập tràn, Bát dâng, mà lệ hàng hàng tuôn rơi ! …
(View: 48)
Thân tứ đại là đất, nước, lửa, gió, khi đã trút hơi thở cuối cùng thì cũng trở về với tứ đại, chẳng còn gì để suy viễn ở tương lai.
(View: 86)
Như chúng ta thấy, sự tức giận là sức mạnh tinh thần bất thiện dẫn con người vào những hoàn cảnh khó chịu và đau khổ khác nhau.
(View: 94)
Đạo Phật vốn là tôn giáo vô ngã, phá chấp, không có tín điều, và tuyệt đối tôn trọng sự thực;
(View: 124)
Sự khác biệt giữa "Trời" và "Thượng đế" dường như là một điều thắc mắc trong tâm trí của nhiều người.
(View: 130)
Có lần khi nói về tám thức tâm vương trong Duy thức học, một người hỏi rằng “con người lo sợ là do thức nào?”.
(View: 339)
Lửa. Lửa lại bùng cháy trên những cánh rừng bạt ngàn miền tây. Khói cuồn cuộn, lan xa hàng nghìn dặm, kéo qua tận miền đông.
(View: 133)
Một trong những đặc trưng khu biệt của văn học Phật giáo với những dòng văn học khác chính là ở cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật.
(View: 164)
Con đường xưa…! và con đường nay bây giờ có khác gì không nhỉ? Có những lúc mình đi trên con đường sỏi đá chông gai
(View: 181)
Khi loài người chúng ta bắt đầu giải quyết mọi vấn đề, chúng ta không quan tâm theo một phương cách cẩn thận chu đáo
(View: 155)
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16
(View: 253)
Có lần một vị Bà La Môn hỏi Đức Phật, Thưa Ngài! Biết có kiếp sau hay không mà Ngài khuyên răn chúng tôi làm thiện.
(View: 306)
Ngôi chùa tọa lạc lưng chừng ngọn núi, sau rừng sồi, cũng tương tự như bao ngôi chùa nhỏ, xa nơi đô thị
(View: 254)
Kẻ cai ngục, dù nơi nhà tù lớn hay nhỏ, xa hay gần, kẻ đó cũng không thể thoát khỏi chu kỳ sinh, lão, bệnh, tử được.
(View: 401)
Nay kính cẩn ghi những lời này, xin gửi đến quý Phật tử nào may mắn Cha, Mẹ còn mạnh khỏe thì đó là phước lớn không gì sánh được trên cõi đời này.
(View: 321)
Lịch sử thật là muôn hình vạn trạng, các Sử gia lại càng biến hóa khôn lường.
(View: 195)
Thế Tôn từng dạy, những ai đến với giáo pháp của Ngài là để thấy chứ không phải để tin. Chính quan điểm đúng đắn, sự thấy biết chính xác sẽ dẫn đường cho tư duy và hành động đúng đắn, hướng đến Chân Thiện Mỹ...
(View: 287)
Cuộc đời con người chỉ mấy mươi năm thôi mà có biết bao nhiêu chuyện xảy ra.
(View: 314)
Sự vô thường, tuổi già và bệnh tật không bao giờ hứa hẹn với bất cứ ai. Bất cứ khi nào chúng đến, chúng sẽ đến mà không một lời báo trước.
(View: 315)
Trên đời này có rất nhiều người thường hay nhắc đến hai chữ “họa và phước” khẳng định là chúng ta ai ai cũng đều hiểu cả.
(View: 255)
Có bốn pháp vật thực là đoàn thực, xúc thực, tư niệm thựcthức thực. Nhờ bốn thực ấy làm duyên, trợ sanh và nuôi dưỡng cho nên ...
(View: 307)
Theo lăng kính Phật giáo, bệnh được tồn tại dưới 3 hình thức, đó là thân bệnh, tâm bệnh và nghiệp bệnh.
(View: 448)
Triết Học Phật Giáo và Những Luận Đề -
(View: 653)
Đọc Thơ Phật Của Thi Sĩ Tâm Tấn - Viết về tập thơ “Cuối Đời Lọc Những Tinh Sương” của thi sĩ Tâm Tấn
(View: 295)
Người đệ tử Phật chân chính, ngoài việc tu tập giới định tuệ để hướng đến viên mãn phước và trí, thành tựu giác ngộ giải thoát cho tự thân,
(View: 298)
Đạo Phật ra đời và phát triển đến nay cũng đã hơn hai mươi lăm thế kỷ, ban đầu từ miền bắc Ấn Độ, sau đó lan truyền toàn xứ Ấn và phát triển sang các nước Trung Á, Nam Á, Bắc Á… và đến Âu, Mỹ hôm nay.
(View: 694)
“Tôi được sinh ra đời là nhờ vào một ân sủng đầy sự thương yêu của con người và tạo vật. Sự thương yêu ấy có cả chính bản thân tôi..."
(View: 438)
Chúng ta thường nghe tới nhóm chữ “tri kiến như thật.” Tức là biết và thấy như thật. Câu hỏi là: Đức Phật dạy gì về biết và thấy như thật?
(View: 615)
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh ngắt sương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau khóm bạc lá ngô đồng vàng
(View: 335)
Chúng ta đã biết phải làm gì đối với cha mẹ, dù có hay không có sự yêu cầu: hãy thương kính và làm gì đó để biểu hiện niềm thương kính ấy khi cha mẹ còn sống
(View: 315)
Ngày xửa ngày xưa, dưới chân Hy Mã Lạp Sơn có một vương quốc trù phú tên gọi Thắng Man. Dù là một vương quốc giàu mạnh nhưng...
(View: 353)
Trong Kinh Pháp Cú có một số bài khá phong phú đề cao chánh phápchánh pháp đóng một vai trò rất quan trọng...
(View: 793)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Đời Thứ 14, vị lãnh đạo tinh thần của Phật Giáo Tây Tạng, đã sống lưu vong tại Ấn Độ kể từ năm 1959 khi chế độ Cộng Sản tại Trung Quốc xua quân xâm chiếm Tây Tạng...
(View: 481)
Thuở xưa, có một đạo sư tên là Araka, người đã thoát ly sự thèm khát dục vọng. Đạo sư này có hàng trăm đệ tử.
(View: 761)
Chúng ta thường nghe “tạo nhân nào hưởng quả nấy”, mà kỳ thật, đời sống của cộng đồng người trên thế giới hôm nay, được xem nhưthành quả của một đời sống mang tính tương tác tương thọ liên hệ từ quá khứ đến hiện tại.
(View: 262)
Ảnh hưởng của Phật giáo ở Châu Á nói riêng, toàn thế giới nói chung là đậm nét và sâu sắc.
(View: 320)
Quả vị Sa-môn hay bốn quả Sa-môn, bốn quả Thanh văn, bốn quả Thánh gồm Sơ quả Tu-đà-hoàn (Dự lưu, Thất lai)
(View: 404)
Này A Nan, cũng như một cái cây, nếu nghiêng về phía nào, thì khi người ta đốn ngã nó sẽ đỗ về phía đó (trọng lực), một chúng sanh sau khi chết cũng sẽ theo nghiệp mà đi như thế ấy.
(View: 350)
Giáo pháp hay kinh điển là lời dạy của Đức Phật, đó là chân lý, là sự thật, là những gì Đức Phật chứng ngộ, khám phátuyên thuyết, mang lại sự an lạc giải thoát cho người hành trì.
(View: 379)
Theo tác giả, nước là trung tâm của mọi nguyên tố (element) trên trái đất. Không có nước là không có sự sống. Cho đến nay không có bất cứ vật thể gì tồn tại được nếu thiếu nước.
(View: 511)
Khúc đàn Khổng-Vọng-Vi là tiếng khóc của Đức Khổng Tử, tiếc thương người đệ tử thân yêu Nhan Hồi, mệnh yểu mà chết sớm khi tuổi còn thanh xuân.
(View: 527)
Đó là bài học đầu tiên đại-sư Zuigan Goto dạy cho người đệ tử ông vừa thâu nhận, sau này chính là thiền-sư Soko Morinaga, nổi tiếng của xứ Phù Tang.
(View: 500)
Trọn câu mở đầu là: “Nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng nửa sự thật thì không phải là sự thật !”
(View: 383)
Bài tán dạy rằng, với công đức đầy đủ, Ngài nhìn khắp chúng sanh bằng đôi mắt từ ái, sẵn sàng đáp lại tiếng kêu thương. Trước biển phước vô lượng như thế, chúng con đều cung kính đảnh lễ.
(View: 603)
... những hành giả sơ phát tâm nên học theo gương tu học của người xưa là lập chí kiên định, đức tin mạnh mẽ không lui sụt, và hành trì liên tục không xao lãng trong tứ oai nghi: Đi - Đứng - Nằm - Ngồi.
(View: 372)
Đại dịch coronavirus bùng phát lần nữa tại Việt Nam, Hoa Kỳ và hầu hết các nước trên thế giới. Tính tới tuần lễ đầu tháng 8/2020, thế giới có gần 700,000 người chết vì đại dịch
(View: 341)
Trong kinh có ghi lại lời cảnh giác của Đức Phật, Ngài đã từng nói rằng: “Phàm tất cả chúng sinh còn lên xuống trong ba cõi, lăn lộn trong sáu đường thì...
(View: 593)
Khổ đau bao trùm cả nhân loại, cả thế giới. Đó là một sự thật, không ai có thể chối cãi.
(View: 595)
Chúng ta đơn thuần cứ nghĩ bệnh là do thể trạng sức khỏe không thuận không tốt, do đề kháng yếu nên vi khuẩn vi rút từ môi trường tác động vào cơ thể mà sinh bệnh.
(View: 455)
Phái đoàn các vị Lệ-xa ở Tỳ-xá-ly khi đi đến Đức Phật đang ngự trong vườn xoài Am-bà-bà-lê được xem như biểu tượng của sự xa hoa, sang trọng, quý phái bậc nhất đương thời.
Quảng Cáo Bảo Trợ