Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Trụ Trì Có Phải Chức Vụ Không?

20 Tháng Mười 202214:50(Xem: 1865)
Trụ Trì Có Phải Chức Vụ Không?
Trụ Trì Có Phải Chức Vụ Không?

Thích Chân Tính

chua 1


I. TRỤ TRÌ LÀ GÌ?


Trụ
 thân bằng Luật; Trì tâm bằng Giới nên gọi Trụ trì. Nghĩa là đối với thân, tâm phải ngày đêm chánh niệm.

Trụ là ở chùa; Trì là gìn giữ trông nom chùa. Nghĩa là đối với sự uỷ thác của thập phương tín thínhân dân sở tại phải hết tâm, hết sức.

Trụ pháp Vương gia; Trì Như Lai tạng. Nghĩa là nơi ngôi nhà Phật pháp phải làm cho chánh giáo được quang huy. Đấy là đối với sự uỷ thác của Phật, Tổ trông cậy nơi mình.

Từ đây suy ra để biết, Trụ trì không phải chức vụ, mà là trách nhiệm thiêng liêng với bản thânđồ chúng và Tam bảo.

Không là chức vụ, nên không thể mua bán đổi chác. Càng không tuỳ tiện trao vào tay những kẻ nhụt chí, an ẩn cơ hội. Phải tìm người có đức bao dung, có tài thông hiểu, có tâm độ lượng, có trí thấu đạt mà đặt lên ngôi vị tôn quý ấy.

Là trách nhiệm, vì thế không thể lơ là, tự phụ, ngã mạn, làm bừa nói tục. Phải dốc sức nghiêm khắctiết độ với chính mình, khoan hòa với đồ chúng và cần mẫn trong sự nghiệp xây dựng ngôi nhà Phật pháp. Muốn vậy, người trụ trì hành Đạo cần nói tiếng nói của đồ chúng, cần nghe ý kiến của đồ chúng, cần định hướng dẫn dắt đồ chúng quy về một mối.

II. LỜI XƯA CÒN MÃI

Ngày nay, Tùng Lâm đông chúng nhưng ít người liễu Đạo là vì phần lớn khuất thân giữ lễ chờ thời, xu nịnh quyền thếgian trá bề trên, lừa dối kẻ dưới. Vì sao vậy? Vì tâm ban đầu mai mộthạt giống Bồ đề chẳng được ươm trồng, tưới tẩm đúng thời.

  1. Tùng Lâm đang thịnh mà suy

Kẻ có chút lợi cănthông minh; lợi khẩu, khéo biện luận thì rơi vào chấp văn, chấp chữ. Dùng cái hiểu của mình che lấp cái sáng của người, khiến người yếu thế phải ngậm ngùi, buồn tủi. Chẳng những thế, chia bè kết đảng, gây sự bất hòa, hành động bất chính, bợ đỡ kẻ cầm quyền lãnh chúng, che khuất cái thấy nghe của người Trụ trì, nên Tùng Lâm đang thịnh mà suy.

Ôi! Vì lẽ cái dùng của người “nhất phương chi chủ” chẳng khéo. Cái tình chẳng thông, nên hành xử theo pháp riêng mà bỏ qua công luậnChạy theo cái tình thì che mờ cái trí sáng công tâm; khiến kẻ hiền uất ức, kẻ ác nhởn nhơ. Gương ngài Viên Ngộ, Cao Am vẫn chưa mờ chút nào.

  1. Nhân vô thập toàn

Người “nạp tử” nương Thầy xuất gia học Đạo, theo chúng chấp lao phục dịch; dù chỉ một ngày vẫn còn hơn kẻ phàm phu suốt đời chạy theo phù hoa danh lợi. Nhưng “nhân vô thập toàn”, bất hạnh phạm phải lỗi lầm bị tiểu nhân chỉ tríchxã hội lên án đã đành; lại bị sự ruồng bỏ khinh khi của Thầy bạn, mất nơi nương tựa, chẳng biết đi đâu về đâu.

Cổ đức dạy: “Ngọc vỡ còn hơn ngói lành”. Giá trị của người xuất gia đâu thể đem sánh với gạch đá, sỏi cát. Ấy vậy mà nỡ đem vứt bỏ hoặc bày ra chế nhạo, dèm pha, soi mói giữa chốn Tăng tục được sao? Đấy chẳng phải là cách răn chúng dạy người, mà trái lại chỉ làm cho họ thêm phần tổn thương; khiến kẻ tiểu nhân thuận gió giương cờ kiêu mạncoi thường người xuất gia. Cái họa đó vẫn còn ghi chép nơi lời dạy của ngài Diệu Hỷ.

Kẻ thế gian gặp người bị nạn còn tìm cách nâng đỡ; huống chi cùng chung một Thầy, cùng học một chốn mà chẳng chịu nâng đỡ cho nhau. Luật Tứ Phần chép: “Nếu đệ tử đã thành tâm như pháp sám hối mà Thầy nhất định không cho thì như pháp xử trị”. Đây chẳng phải chỗ dụng của người làm trụ trì, là cái thông đạt của người làm Thầy ư?

  1. Khế thời, khế cơ

Sự nghiệp của người trụ trì có sáng hay không, phải nên nhìn vào đồ chúng tu tập. Từ nơi thân giáo, khẩu giáo và ý giáo của người trụ trìđồ chúng đã, đang và sẽ thừa hưởng được những gì. Thầy không truyền, hoặc không biết cách truyền, hay không có gì để truyền; chỉ giao phó cho mấy quyển Luật tiểu, giao phó cho các trường Phật học, thì liệu đó có phải là cách “dĩ tâm, truyền tâm” của các bậc Kỳ túc xưa chăng?

Nay số ít học đòi theo dấu Phật, gương Tổ nên khai đàn truyền trao giáo lý, xiển dương chánh pháp, hoằng đạo lợi sinh. Nhưng được chút tiếng tăm thì buông trôi theo lợi dưỡng, trọn ngày suốt đêm đắm theo danh, sắc… Lấy cái tệ của người mà cho là cách hành đạo; mượn danh công nghệ 4.0 rồi vụng về ứng dụng mà gọi là “khế thời, khế cơ”.

Ôi! Hoa lan tuy đẹp nhưng trồng ở giữa đường có thể nào tránh được nắng mưa vùi dập. Sao chẳng bằng “thao danh hối tích”, rèn đức luyện tài, bịt tai, che mắt, ngậm miệng mà lìa xa ngũ dục. Có thế mới như “cây quế ẩn chốn rừng sâu hang thẳm, quanh năm đâu sợ chẳng được tốt tươi”. Đến khi nhân duyên hội đủ, tài đức thơm lừng thì đâu cần mời mà kẻ thức giả muôn phương vượt núi băng rừng tìm đến. Dấu xưa non Yên Tử, núi Phụng Hoàng, suối Bổ Đà…. một thời ngang dọc chẳng phải là chuyện mắt thấy tai nghe đó sao!

Thế nên, chớ sợ người không biết đến mình, mà chỉ lo đạo mình không sáng; chẳng sợ không có chỗ dung thân, mà chỉ ngại tài hèn đức mọn; đừng lo chuyện phải trụ trì mới vang danh thiên hạ, mà chỉ e phúc mỏng nghiệp dày sao ngồi được chỗ trời người cung kính.

  1. Hạnh đức Cổ nhân

May thay, tuy thời Tượng pháp đã qua, giáo pháp đang kỳ hậu Mạt nhưng bóng quang minh Phật Tổ chưa tàn. Dẫu biết rằng, bậc cao đức ngày càng vắng như sao buổi sớm, nhưng ngọn Bắc Đẩu vẫn đều đặn chiếu soi. Vậy nên chăng, đọc lại tích xưa mà noi theo hạnh đức. Đừng dùng chút sở học non kém, dùng miệng lưỡi khua chiêng gióng trống mà chê bai xem thường lời Phật, ý Tổ. Cây có cội, nước có nguồn; không có Phật, Tổ làm sao có Thầy, có mình. Nếu ruộng xưa khô cạn thì hãy tiếp nước bón phân; nhà hoang, chùa lạnh thì hãy dựng cột, khêu đèn. Đây chẳng phải việc của bậc trượng phu cần làm, mà ngài Long Thọ, Mã Minh…, chung thân kế tục đó sao.

Ôi! Kẻ sỹ phu còn biết thẹn khi nhìn thấy Tổ miếu hoang tàn mà dốc lòng phò dựng. Người Thích tử nhìn Đạo ngửa nghiêng mà chẳng chút chạnh lòng; lại còn “nồi da xáo thịt” ăn nuốt lẫn nhau, chê đây khen kia, bỏ này lấy nọ ư? Rồi “mắt nhắm, miệng ngậm” thụ nhận sự cúng lạy của đàn na, chẳng hay mỗi lạy là một nhát dao, mỗi vật đều là máu thịt, tâm tư của họ cậy nhờ người hành giả vậy. Đã biết thế mà sao ngửa mặt chẳng thẹn với trời, trông xuống chẳng hổ với đất, nhìn quanh chẳng nhục với người!

Cho nên, Trụ trì hành đạo súc dưỡng đồ chúngcần kiệm ước với chính mình mà khoan thứ với mọi người; biết lắng nghe, suy tính và đoán định đúng người đúng việc; đừng chỉ vì sự nghiệp của riêng mình mà đẩy đồ chúng vào chỗ vong mạngCổ đức dạy: “Vua nghe kẻ nịnh, nước loạn; Thầy nghe Tiểu nịnh, chùa tan”.

 

III. HỒI CHUÔNG CẢNH TỈNH

Lời răn nhắc của Tổ, Thầy như hồi chuông cảnh tỉnh cho người “nạp tử”, như roi thúc con tuấn mã tiến về phía trước. Người xuất gia hành đạo không thể lơ là uổng phí đời mình nơi cửa Không, mà một chút Vô ngã cũng chưa hề vơi bớt.

Vậy nên, người an phận thì hãy ở yên nơi “Truy Môn” nghiền ngẫm “Cảnh Huấn”. Còn kẻ dấn thân hành đạo cũng không quên “Bảo Huấn” chốn “Thiền Lâm”.

Cuối cùng, chư Tổ dạy: “Đừng chỉ biết có sự nghiệp của riêng mình mà để Đạo pháp suy vi dưới lớp áo Cà-sa kia”.

Thật đáng suy nghĩ lắm thay!

 

Vô Trí Tâm Hòa cẩn bút.   

(Lược ý từ các tác phẩm:

  • Thiền Lâm Bảo HuấnHòa thượng Thích Thanh Kiểm dịch và chú thích, NXB. Thanh Niên ấn hành
  • Thiền Lâm Bảo Huấn Hợp Chú, Sa môn Thích Tiến Đạt dịch, NXB. Hồng Đức ấn hành
  • Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết, Thích Tâm Anh dịch, NXB. Văn Hoá – Văn Nghệ ấn hành.)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 590)
Ajaan Dune Atulo (1888-1983) sinh ngày 4 tháng 10/1888 tại làng Praasaat, huyện Muang, tỉnh Surin. Năm 22 tuổi ngài xuất gia ở tỉnh lỵ.
(Xem: 771)
Đức Phật là đấng Toàn giác, bậc trí tuệ siêu việt. Càng hiểu Phật phápcuộc đời, ta càng thấy những gì Đức Phật dạy là vô cùng đúng đắn.
(Xem: 1098)
Một cá nhân hay đoàn thể đệ tử Phật thực sự có tu tập giới-định-tuệ thì được mọi người kính trọng; sống hòa hợp, nhẫn nhịn, không tranh chấp đấu đá lẫn nhau chắc chắn được mọi người thương mến.
(Xem: 1267)
"Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào lúc trời vừa sáng, Đức Thế Tôn đắp y mang bát vào nước Xá-vệ. …
(Xem: 995)
Thánh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm, tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc là Thánh hiệu mà không ai chẳng biết.
(Xem: 1337)
Việc nâng cao các tiện nghi vật chấtphương tiện hỗ trợ phát triển bản thânnhững tưởng giúp ta cởi bỏ phiền lụy để sống an vui,
(Xem: 782)
Con người khổ đau vì không biết và không thể sống đời sống chân thực (real life). Đời sống chân thựctrong bài này được gọi là “thực tại của đời sống”.
(Xem: 754)
Duy Thức Tam Thập Tụng, tác giả: tổ Thế Thân (316-396), dịch giả Phạn - Hán: Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang (602-664), có tất cả 30 bài tụng
(Xem: 803)
Đầu Xuân năm Tân Sửu, tôi có dịp sang chùa Khánh Anh ở Pháp, đã gặp Đạo hữu Seng Souvanh Khamdeng Pháp Danh Quảng Chơn, là chồng của Cô Trung Diệp Phạm Thị Hợi, vốn là em gái của cố Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ.
(Xem: 820)
Việc nâng cao các tiện nghi vật chấtphương tiện hỗ trợ phát triển bản thân những tưởng giúp ta cởi bỏ phiền lụy để sống an vui, nhưng thực tế, ta vẫn còn tiếp tục loay hoay giữa rối ren.
(Xem: 793)
Nước chảy mây bay có khoảnh khắc nào ngưng, hoa rơi lá rụng bốn mùa luân chuyển, người đến rồi đi cũng chưa từng gián đoạn bao giờ.
(Xem: 779)
Khi bạn giữ hơi thở trong tâm, bạn gom bốn niệm xứ vào một. Hơi thở là thân, các cảm giác (thọ) nằm trong thân, tâm (tưởng) nằm trong thân, phẩm chất tinh thần (pháp) nằm trong tâm.
(Xem: 936)
Đêm dần tàn và ngày i đang lên Băng tuyết lạnh mần thủy tiên đã nhú Mùa đông trắng cành đào hồng đơm nụ Xuân rạng ngời hoan hỷ đợi muôn hoa
(Xem: 822)
Khi thân yên, ta có thể hiểu biết về thân. Khi tâm tĩnh lặng, ta có hiểu biết về tâm. Khi hơi thở tĩnh lặng, ta có hiểu b
(Xem: 980)
Phật rời khỏi thế gian này rồi, lưu lại một số kỉ niệm cho chúng ta, chúng ta chiêm ngưỡng lễ lạy như Phật còn tại thế.
(Xem: 994)
Qua lịch sử, người ta đã vạch ra, lên án những hành vi, những con người hung ác nhưng chưa định nghĩa thế nào là hung ác.
(Xem: 921)
Trong vài thập niên gần đây, thuật ngữ “tâm linh” trở nên rất thời thượng, tràn ngập khắp trên mặt báo chí, truyền thông, mạng xã hội,
(Xem: 922)
Trong kiếp Đức Thích Ca thành PhậtẤn Độ, người đối nghịch, thậm chí phá hoại đưa đến âm mưu sát hại Ngài là Đề Bà Đạt Đa.
(Xem: 847)
Không áo mão cân đai. Không y hồng hiệp chưởng. Một bộ y hậu thường nhật mà thôi. Nơi khám thờ hậu Tổ, một di ảnh đơn sơ, bình dị, vậy mà bao nhiêu bài viết đã xưng tánThiền Sư.
(Xem: 1003)
Con người được mô tả gồm hai phần: Thể xác và tinh thần. Theo thuật ngữ Phật học thì thể xác tức thân thể con người gọi là “Sắc”, còn tinh thần là “Danh” tức là tâm.
(Xem: 945)
Tâm từ bi, lòng trắc ẩn và không làm tổn hại là những những giá trị phổ quát trong Phật giáo, cho nên đối với người dân Bhutan
(Xem: 889)
Trong đời mỗi chúng sinh, đặc biệtcon người, sinh tử vẫn là điều làm cho chúng ta bất an, lo sợ nhất, dẫu biết rằng không ai thoát khỏi quy luật này
(Xem: 985)
Tham ái với thân, tập trung lo cho thân tứ đại một cách thái quá, đó là trói buộc.
(Xem: 895)
Không hiểu con người biết thương-ghét tự bao giờ? Chắc chắnkhi còn nằm trong bụng mẹ thì không có thương-ghét.
(Xem: 841)
Từ lâu chúng ta nghe nói nhiều về xá lợi, trong đó xá lợi Phật và chư thánh Tăng với lòng sùng tín.
(Xem: 949)
Tôi không biết. Nhưng tôi biết có kiếp trước. Làm sao biết? Bởi vì nếu khôngkiếp trước, làm sao có tôi ở kiếp này?
(Xem: 875)
Doanh nhân hiện nay không riêng gì ở Việt Nam đang đối đầu với nhiều khó khăn: tình trạng mất đơn hàng do ảnh hưởng suy thoái toàn cầu,
(Xem: 1135)
Dùng bè để qua sông, qua sông rồi thì bỏ bè là thí dụ nổi tiếng về pháp phương tiện trong kinh Phật.
(Xem: 902)
Ông cha ta có câu “gieo nhân nào gặt quả ấy” hay “thiện có thiện báo, ác có ác báo”.
(Xem: 1005)
Các anh chị GĐPT đồng phục áo lam, hoa sen trắng đã nhất tề cung nghinh kim quan Đạo Sư, mà bao lần Đạo Sư đã khuyến thỉnh, sách tấn để giữ trọn phương chăm Bi, Trí, Dũng GĐPT Việt Nam, thể hiện một chút tình, gánh kim quan trên vai để đền ơn đáp nghĩa.
(Xem: 1143)
Đạo Phật do đức Phật Thích Ca mâu Ni (Sakya Muni Buddha) khai sáng ở Ấn Độ. Căn bản của giáo phápTứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo
(Xem: 1605)
Hình ảnh, âm thanh đi vào cõi vô tung, đồng vọng ngàn sau, bặt tích, hay lưu lộ hình ảnh đôi bạn chân tình nơi chốn hiu hắt bụi đường mà đôi chân không hề mỏi.
(Xem: 1154)
Con đường giải thoát, tức là Bát Chánh Đạo. Có thể gói trọn vào một câu, hay hai câu, hay vài câu được không?
(Xem: 1249)
Nhĩ căn viên thông là khả năng mà Bồ-tát Quán Thế Âmthành tựu được nhờ vào sự tu tập ba phương pháp lắng nghe, tư duy và hành động (Văn, Tư, Tu).
(Xem: 1104)
Người xưa nói “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”. Dù cho miệng lưỡi thế gian có thế nào chúng ta vẫn an nhiên, “tâm không bị biến đổi, miệng không phát ra lời nói cộc cằn”
(Xem: 966)
Immanuel Kant (1724-1804) là triết gia vĩ đại, người sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức.
(Xem: 909)
Tu tập hằng ngày chúng ta thường được các vị Thầy hướng dẫn, nhắc nhở nếu muốn giác ngộ, thoát khổ,
(Xem: 951)
Ven. Pannyavaro là một tu sĩ Phật giáo người Úc, Ngài đã cống hiếncả đời mình tu tập thiền định theo giáo lý Đức Phật.
(Xem: 793)
Kinh, Luật, Luận của Phật Giáo cả Nam Truyền lẫn Bắc Truyền đọc tụng suốt cả đời cũng không hết. Bởi lẽ lời Phật, lời Tổ quá sâu sắc nhiệm mầu
(Xem: 1474)
“Để được làm người, sinh mệnh đó thực sự may mắn”.
(Xem: 1351)
Quan điểm của Phật giáo nói chung, mọi biến động của đời sống tự nhiênxã hội đều là biểu hiện của nghiệp, do nghiệp lực của nhân loại hiện hành chi phối.
(Xem: 1321)
Trong Phật giáo Đại thừa, bản chất của sự giác ngộ được gọi là bồ đề tâm, có nghĩa là tâm thức tỉnh.
(Xem: 1263)
Vào thế kỷ trước khi Đức Phật đản sinh, vùng đông bắc Ấn Độ đã trải qua những biến đổi sâu rộng làm định hình lại địa chính trị của khu vực một cách sâu sắc.
(Xem: 1367)
Tâm trí của Đức Phật được gọi là bồ đề tâm, nghĩa đen là “tâm giác ngộ”. Bồ đề tâm có hai khía cạnh
(Xem: 1322)
Hệ thống kinh điển trí huệ (bát nhã) tánh Không thường được xếp thành ba phạm trù: Văn tự Bát nhã, Quán chiếu Bát nhã, và Thật tướng Bát nhã.
(Xem: 1468)
Tăng đoàn thời Đức Phật còn tại thế không những có hai giai cấp quyền quý tại Ấn ĐộBà La Môn như: Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp,…
(Xem: 1345)
Lịch sử truyền thừa của Ni giới ở một số bộ phái Phật giáo nói chung mãi đến hôm nay vẫn còn nhiều vấn đề chưa thể lý giải trọn vẹn.
(Xem: 1198)
Thiện ngữ là nói lời lành, chân thật, nhẹ nhàng, xây dựng, đoàn kết, yêu thương.
(Xem: 1255)
Cuộc sống rất ngắn ngủi, vì thế hãy phá bỏ cái tôi ngớ ngẩn của mình, nhanh chóng tha thứ, tin tưởng yêu thương thật lòng
(Xem: 1314)
Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, ở khu vườn Nigrodha.
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant