Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Các Vận Hành Đặc Thù Kỳ Lại Của Nghiệp: Sự ảnh hưởng sâu sắc của Pháp Sư Thích Giác Đức trong đời tôi

Thursday, November 20, 202517:16(View: 756)
Các Vận Hành Đặc Thù Kỳ Lại Của Nghiệp: Sự ảnh hưởng sâu sắc của Pháp Sư Thích Giác Đức trong đời tôi

Các Vận Hành Đặc Thù Kỳ Lại Của Nghiệp:
Sự ảnh hưởng sâu sắc của Pháp Sư Thích Giác Đức trong đời tôi

Bhikkhu Bodhi
Thích Trừng Sỹ

 
sen


Đôi khi, chỉ một cuộc gặp gỡ tình cờ với một người cũng có thể làm thay đổi toàn bộ hướng đi của cuộc đời ta theo những cách mà ta không thể nào lường trước được. Chẳng hạn, bạn có thể dự định học quản trị kinh doanh ở đại học, nhưng rồi bạn lại đăng ký một khóa học văn chương do một giáo sư tuyệt vời giảng dạy, người đã truyền cảm hứng cho bạn qua những bài giảng về Shakespeare và thơ hiện đại. Bạn quyết định chuyển ngành sang văn học thay vì quản trị kinh doanh, và cuối cùng trở thành một giáo viên dạy tiếng Anh thay vì một doanh nhân.

Trong trường hợp của tôi, người đã thay đổi hướng đi của cuộc đời tôi chính là Thầy Thích Giác Đức. Chuyện đã diễn ra thế này: Tôi nhập học chương trình tiến sĩ triết học tại Đại họcClaremont Graduate University vào tháng 9 năm 1966. Lúc đó, tôi đã có mối quan tâm đến Phật giáo, điều mà tôi đã bắt đầu tìm hiểu từ thời còn là sinh viên đại học. Thậm chí tôi đã từng thử hành thiền một mình, nhưng rồi sớm bỏ cuộc vì không biết cách duy trì việc thiền tập khi không có người hướng dẫn chuyên môn.

Vào đầu học kỳ hai của tôi tại Claremont, tháng 2 năm 1967, một hôm tôi thấy một người đàn ông mặc áo màu nâu đi ngang qua khu ký túc xá dành cho nghiên cứu sinh. Tôi nhận raông là một vị tăng sĩ Phật giáo, và có người nói với tôi rằng ông đến từ Việt Nam. Tôi chưa có dịp nói chuyện với ông, nhưng vài ngày sau, một nhóm bạn học cao học đã mời tôi đến một buổi họp mặt tại một nhà nghỉ trên núi Mount Baldy, một ngọn núi lớn gần Claremon. Khi đến nơi, tôi thấy vị sư người Việt Nam ấy cũng có mặt ở đó.

Mặc dù trước đây tôi chưa từng nói chuyện với thầy, nhưng thầy bước đến chào tôi và nói rằng thầy cảm thấy chúng tôi có nhiều điểm tương đồng, và có một mối liên kết nào đó. Thầy còn nói rằng tôi có khả năng hiểu được đạo Phật. Điều đó khiến tôi khá ngạc nhiên, thậm chí là bối rối, vì thầy không thể nào biết tôi đã sẵn quan tâm đến Phật Pháp. Có khoảng hai mươi sinh viên có mặt hôm đó, nhưng bằng cách nào đó thầy đã chọn tôi để bắt chuyện. Tôi nói với thầy rằng tôi thật sự quan tâm đến Phật giáo, và đặc biệt là muốn học thiền. Thầy bảo rằng thầy có thể dạy tôi, và chúng tôi hẹn gặp nhau vào tuần sau.

Vào một ngày trong tuần, tôi đến phòng của thầy trong khu ký túc xá, và thầy đã chỉ dẫn cho tôi bài học thiền đầu tiên – niệm hơi thở. Tôi bắt đầu hành thiền, ban đầu 30 phút buổi sáng và buổi tối, sau đó tăng lên 40 rồi 50 phút, hai lần một ngày. Thỉnh thoảng tôi đến gặp thầy để trình bày kết quả thực tập của mình, và vào những dịp ấy, thầy cũng giảng cho tôi thêm về đạo Phật. Khi tôi cảm nhận được lợi ích của thiền địnhdần dần niềm tin của tôi vào giá trị của chánh Pháp càng ngày càng tăng trưởng.

Một ngày nọ, khoảng hai tháng sau khi tôi bắt đầu thiền tậpý nghĩ bất chợt xuất hiện trong tâm tôi: “Tôi muốn trở thành một tu sĩ Phật giáo.” Và thế là, trong lần gặp kế tiếp, tôi hỏi thầy liệu thầy có thể cho tôi xuất gia được không. Thầy nói rằng thầy sẽ viết thư xin phép chư Tăng tại Việt Nam để thỉnh ý.

Bây giờ nhìn lại, tôi thấy ý nghĩ muốn xuất gia của mình khi đó thật điên rồ, không thể giải thích bằng lý trí. Lúc đó tôi mới 22 tuổi, chỉ thực hành thiền được hai tháng, và tôi hoàn toànkhông biết việc trở thành một tu sĩ Phật giáo sẽ là như thế nào. Nhưng tôi nghĩ Thầy Giác Đức có tuệ giác đặc biệt về con người tôi, và có lẽ thầy đã thấy rằng giữa chúng tôi có một mối liên hệ nghiệp duyên sâu xa từ quá khứ. Thầy viết thư cho các vị Trưởng lão Tăng Đoànở Việt Nam và nhận được sự đồng ý của quý Ngài cho phép tôi xuất gia và truyền giới Sa-di cho tôi trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.

Lễ xuất gia diễn ra vào ngày 23 tháng 5 năm 1967, đúng ngày rằm tháng Tư – Đại LễPhật Đản năm ấy. Thầy có một người bạn ở Los Angeles là Thầy Thích Thiên Ân, một vị giáo sư thỉnh giảng tại Đại học California, Los Angeles (UCLA). Thầy Thiên Ân đã sắp xếp cho chúng tôi tổ chức buổi lễ xuất gia tại một ngôi chùa Phật giáo Nhật Bản ở Los Angeles, và nơi đó tôi chính thức xuất gia và thọ giới Sa di. Thầy Giác Đức đặt cho tôi pháp danhtiếng Việt là Giác Tuệtương ứng với tiếng Nam Phạn Pali hay Bắc Phạn Sanskrit là Bodhi.

Mùa thu năm 1967, Thầy và tôi chuyển đến một căn nhà nhỏ ở thị trấn Claremont. Một người bạn chung, Conn Hickey, và một nghiên cứu sinh khác tên là Tatsuo Muneto, một vị Sư Phật giáo người Nhật đến từ Hawaii cùng đến dùng bữa với chúng tôi mỗi ngày. Trong ba năm sau đó ở Claremont, bốn chúng tôi thường cùng nhau ăn cơm mỗi buổi tối, thay phiên nhau nấu ăn, và Thầy là người nấu rất giỏi. Tôi sống cùng Thầy ở đó ba năm, cho đếnkhi Thầy học xong tiến sĩ và trở về Việt Nam vào mùa xuân năm 1970.

Qua Thầy, tôi không chỉ học được lý thuyết và thực hành Phật giáo, mà còn hiểu rõ về những cuộc đấu tranh của những người Phật tử Việt Nam. Tôi được biết Phật giáo Việt Namđã từng bị chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tàn nhẫn; bản thân Thầy đã bị giam giữ, đánh đập, và tra tấn trong tù; và các Tăng Ni đã tự thiêu để bảo vệ chánh Pháp. Tôi cũng hiểu thêm về tình cảnh Phật giáo Việt Nam bị kẹt giữa hai thế lực: một bên là cộng sản, bên kia là các chính quyền độc tài được Hoa Kỳ hậu thuẫn. Thầy đã trình bày cho tôi thấy tầm nhìn về một Phật giáo dấn thân, không chỉ hướng đến giác ngộ cá nhân, mà còn nhằm chuyển hóa xã hội dựa trên các giá trị Phật giáo về lòng từ bi và bình đẳng của con người.

Trong thời gian chúng tôi sống chung, Thầy thường thảo luận với tôi về những kế hoạch con đường tu tập tương lai của tôi. Vì lúc bấy giờ, ở Hoa Kỳ chưa có tu viện đào tạo tu sĩ Phật giáo, nên thầy xác định rằng tôi cần sang châu Á để tu học và thọ giới Tỳ-kheo. Thầy nhận biết do chiến tranh nên tôi không thể về Việt Nam tu họcBan đầu Thầy định cho tôi đến Ấn Độ, học tại Học viện Phật giáo Nalanda. Tuy nhiên, sau đó, Thầy nghĩ rằng nếu tôi sống ở một quốc gia Phật giáo truyền thống thì tốt hơn và đề nghị tôi nên đến Tích Lan (Sri Lanka) tiếp tục con đường tu học Phật Pháp. Điều này có nghĩa là tôi chuyển từ Đại thừa(MahayanaPhật giáo Việt Nam sang Nguyên Thủy (TheravādaPhật giáo Tích Lan. Thầy rất tôn trọng truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy và kinh điển Pali. Ngay tại Claremont, chúng tôi đã đặt mua toàn bộ bản dịch tiếng Anh của các bộ Nikāya do Hội Pali Text Society xuất bản, và thường tham khảo và đối chiếu các bộ này với các bộ A-hàm trong Hán tạng.

Sau khi Thầy trở về Việt Nam, tôi gặp một số chư Tăng Tích Lan đi qua Los Angeles, trong đó có Trưởng lão Piyadassi Thera ở chùa Vajirarama, Colombo. Ngài đã giới thiệu tôi đến vị Trưởng lão Ananda Maitreya, vị Tăng thống của hệ phái Amarapura, người sau này trở thành thầy giáo thọ truyền giới cho tôi. Khi tôi hoàn tất luận án tiến sĩ tại Claremont, tôi rời Hoa Kỳ sang Tích Lan, nhưng trên đường đi, tôi dừng lại ở Việt Nam hai tháng, phần lớn ở Chùa Giác Minh, nơi Thầy Giác Đức trụ trì tại Sài Gòn. Lúc ấy, Conn Hickey cũng đang ở Sài Gòn để nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam.

Tôi rời Việt Nam vào tháng 10 năm 1972, và khi đến Tích Lan, tôi thọ giới lại theo truyền thống Theravāda, trước tiên là sa di, rồi sáu tháng sau là tỳ-kheo. Sau ba năm tu học ở Tích Lan, tôi dự định quay lại Việt Nam để thăm Thầy lần nữa. Tháng 3 năm 1975, tôi đến Ấn Độdự định an cư mùa mưa, hành hương các thánh tích Phật giáo, và cuối năm sẽ về thăm Việt NamTuy nhiên, vào tháng 4 năm 1975, chính quyền Cộng sản cai quản Việt Nam, và Thầy phải rời Việt Nam sang Hoa Kỳ. Vì vậy, khi kết thúc thời gian thăm viếng ở Ấn Độ, tôi trở lại Tích Lan tu học hai năm nữa, đến 1977 thì tôi trở về Mỹ. Sau đó, tôi quay trở lại Tích Lan năm 1982, và ở đó 20 năm tu học và nghiên cứu Phật Pháp bằng tiếng Pali cho đến khi trở về Hoa Kỳ vào năm 2002.

Suốt những năm tháng ấy, tôi luôn biết ơn Thầy Giác Đức, người đã dẫn tôi trở thành vị tu sĩPhật giáoNếu không gặp Thầy, cuộc đời tôi hoàn toàn khác hẳn. Có thể tôi đã trở thànhgiáo sư triết học ở một Đại học nào đó, hay đi theo một ngành nghề nào khác. Nhưng thật là đại phúc cho tôi khi tôi sống đời sống xuất gia suốt 58 năm cho tới nay năm 2025, và chính nhờ duyên lành gặp Pháp Sư Thích Giác Đức hướng dẫn tôi đã đi theo con đường xuất gia tu học Phật Pháp ngay thuở ban đầu.

Tôi đến thăm Thầy tại nhà riêng ở thành phố Newton vào năm 2015 và 2017, nhưng từ đó tôi không gặp lại Thầy. Đầu năm nay, tôi có dịp sang Việt Nam ba tuần, lần đầu tiên kể từ năm 1972. Tôi ghé thăm lại chùa Giác Minh một lát, nhưng vì chư Tăng đi vắng nên tôi chỉ có thể nhìn Chùa từ bên ngoài. Chuyến thăm ấy khơi dậy trong tôi biết bao kỷ niệm sâu sắc trước đây giữa tôi với Thầy. Khi các Phật tử Bangladesh mời tôi làm diễn giả chính cho buổi lễ hằng năm tại Cambridge vào ngày 31 tháng 8, tôi vui vẻ nhận lời và biết rằng nhân dịp đó tôi có thể gặp lại Thầy.

Ngày 30 tháng 8, tôi đến thăm Thầy và Cô Dung tại nhà riêng ở Newton. Cuộc gặp thật vui mừng. Tôi thấy Thầy, người vừa tròn 90 tuổi vào trung tuần tháng tám, vẫn còn khỏe mạnh và tinh thần sáng suốt. Cả hai chúng tôi đều vô cùng xúc động và vui mừng khi gặp lại nhau. Thầy kể rằng cuộc viếng thăm của tôi khiến Thầy rơi nước mắt. Tôi hối tiếc vì đã không đến viếng thăm Thầy thường xuyên hơn, nhưng nghĩ rằng chúng tôi sẽ có cơ hội gặp nhau nhiều lần nữa.

Ảnh chụp cùng Pháp Sư Thích Giác Đức – ngày 30 tháng 8, 2025

Tuy nhiên, điều đó đã không thành hiện thực. Giữa tháng 10, Ông Conn báo tin Thầy bị đau tim và đang điều trị tại bệnh viện ở Boston. Khi vừa sắp xếp xong công việc tại Chùa Trang Nghiêm (Chuang Yen), nơi tôi đang sống, tôi lập tức đến Boston thăm Thầy. Thật là một phước lớn lao cho tôi khi được ở bên Thầy trong tuần cuối cùng của đời Thầy trên thế giannày. Conn cũng kịp luc bay từ California đến để cùng túc trực bên Thầy. Mặc dù Thầy không mở mắt hay nói được, nhưng tôi tin rằng Thầy vẫn nghe và hiểu khi tôi bày tỏ lòng tri ân sâu sắc với Thầy vì tình bạn, tình đồng tu, và sự hướng dẫn của Thầy đã ảnh hưởng rất lớn trong đời sống xuất gia của tôi.

Tuần cuối ấy, Conn, Thầy, và tôi cùng ở bên nhau trong phòng chăm sóc đặc biệt, như thể khép lại vòng tròn khởi đầu 58 năm trước ở thành phố Claremont. Từ 1967 đến 1970, ba chúng tôi dành thời gian quây quần mỗi tối, bàn luận về Phật pháp, chiến tranh Việt Nam, và những vấn đề lớn lao của thời đại. Giờ đây, chúng tôi dành thời gian cả tuần ngồi lại bên nhau trong phòng bệnh của Thầy, nhưng lần này là sự tĩnh lặng tràn đầy lòng thương yêu, thay vì những cuộc trò chuyện sôi nổi ngày xưa.

Tôi chắc chắn không nghĩ rằng sự viên tịch của Thầy đánh dấu sự kết thúc mối liên hệ giữa chúng tôi. Thầy vẫn sống mãi trong tâm trí và trái tim tôi. Thầy đã truyền cảm hứng cho tôi ý tưởng rằng mục đích của đi theo con đường Phật giáo không chỉ là tìm kiếm giải thoát cho riêng mình, mà còn là nỗ lực tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn – thế giới của hòa bình, công lý, và phẩm giá cho tất cả mọi người. Thầy luôn nhấn mạnh rằng ta phải đặt người khác lên trước bản thân, và chính Thầy đã làm được như vậy, và thầy là hiện thân của Bồ-tát hạnh và Bồ-tát đạo.

Tấm gương của Thầy tiếp tục là nguồn cảm hứng cho đời sống tu sĩ của tôi, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi mọi người khắp nơi trên thế giới đang phải đối mặt với quá nhiều khổ đau, kể cả tại Hoa Kỳ.

Dù tôi không có bất cứ ký ức nào về các đời sống quá khứ, nhưng tôi cảm nhận sâu sắc rằng giữa Thầy và tôi đã gặp nhau qua một mối liên hệ nhân duyên mật thiết từ nhiều kiếp trước. Tôi cũng tin chắc rằng khi bánh xe luân hồi tiếp tục quay, chúng ta sẽ gặp lại nhau để cùng nhau đi trên con đường giác ngộ của Đức Thế Tôn, tay trong tay.

https://phapnhan.org/tv/tham-du-le-tang-co-phap-su-nien-truong-thich-giac-duc-va-du-duyen-gap-truc-tiep-bhante-bhikkhu-bodhi/

 

Thân gửi Thầy Thích Trừng Sỹ,

Cảm ơn thầy đã gửi email với những lời chia sẻ chân thành. Tôi rất vui khi được gặp thầy trong Lễ tang của Giác Linh Pháp Sư Thích Giác Đức, vị Thầy Phật giáo đầu tiên trong đời tôi.

Tôi gởi cho thầy bài Điếu Văn đính kèm bằng tiếng Anh mà tôi đã đọc trong buổi lễ tang hôm ngày 9 tháng 11 năm 2025. Tôi đã chỉnh sửa và bổ sung thêm một vài đoạn so với bản gốc, đồng thời thêm bức ảnh chụp chung với Pháp Sư Thích Giác Đức và tôi khi chúng tôi gặp nhau tại nhà riêng của Thầy ở thành phố Newton vào ngày 30 tháng 8 năm nay.


Thầy có thể đăng bài viết này lên trang web của mình, và có thể gửi đăng cho bất kỳ tạp chí Phật giáo Việt Nam khác.

Mến chúc thầy mọi điều tốt lành.
Thân mến,
Thầy Bhikkhu Bodhi

 

https://phapnhan.org/tv/cac-van-hanh-dac-thu-ky-la-cua-nghiep-su-anh-huong-cua-phap-su-thich-giac-duc-trong-doi-toi/

 

The Strange Workings of Karma: 
The Influence of Thích Giác Đức on My Life

Ven. Bhikkhu Bodhi

 

Sometimes the chance meeting with a single person can change the entire course of our life in ways we never could have foreseen. For example, you might have planned to study business management in college, but you take a course in literature from a wonderful professor who inspires you with his lectures on Shakespeare and modern poetry. You decide to major in literature instead of business management, and you wind up becoming an English teacher rather than a businessman.

In my own case, the person who changed the course of my life was Ven. Thich Giac Duc. How did this happen? I entered Claremont Graduate University in September 1966 to pursue a PhD program in philosophy. I was already interested in Buddhism, which I had begun to read about while I was in college. I had even tried to meditate on my own, but soon gave up, unsure how to sustain my practice without competent guidance.

At the beginning of my second semester at Claremont, in February 1967, one day I saw a brown-robed man walking through the graduate residence hall. I identified him as a Buddhist monk, and someone told me he was from Vietnam. I didn’t have a chance to speak to him, but a few days later, a group of my fellow graduate students invited me to a social gathering they were holding in a lodge on Mount Baldy—a large mountain near Claremont—and when I arrived, I saw that the Vietnamese

Monk was also there.

Although I had not spoken to him before, he came up to me and told me he felt we had a lot in common, that we had some kind of connection. He even said he thought I had the ability to understand Buddhism. This struck me as strange, even puzzling, since he had no way of knowing that I was already interested in the Dharma. There were about twenty other students present, but he somehow chose me out of the crowd as a person with whom he felt a connection. I told him that I was indeed interested in Buddhism, and in particular that I wanted to learn how to meditate. He told me he could teach me and we made an appointment for me to visit him the following week.

Thus, one day that week, I came to his room in the graduate residence hall, and he gave me my first instructions in meditation, on mindfulness of breathing. I started to practice, first 30 minutes in the morning and evening, and later I increased this to 40 minutes and then 50 minutes twice a day. I visited him from time to time to report on my practice, and on these occasions, he would also teach me more about Buddhism. As I experienced the benefits of meditation, my conviction in the value of the Dharma increased.

One day, about two months after I started to meditate, the thought suddenly came into my mind: “I want to become a monk.” And so, when I next visited him, I asked whether he could ordain me, and he told me that he would write to the Sangha authorities in Vietnam to ask for their permission.

When I look back on this now, it seems my thought of being ordained as a monk was a crazy thought, inexplicable on rational grounds. I was only 22 years old, I had only been practicing meditation for two months, and I had no idea what being a Buddhist monk would involve. But I think Ven. Giac Duc had some insight into my character and may have seen that we had been karmically connected in a past life. He wrote to the Sangha elders in Vietnam and received permission to ordain me as a novice in the Unified Vietnamese Buddhist Sangha.

The ordination took place on May 23, 1967, the Vesak full moon day that year. Thay had a friend in Los Angeles, another Vietnamese monk named Ven. Thich Thien An, who had been a visiting professor at UCLA. Ven. Thien An arranged for us to conduct the ceremony in a Japanese Buddhist temple in Los Angeles, and there I became a novice monk. Thay gave me the Vietnamese name, Giac Tue, which in Pali or Sanskrit became “Bodhi.”

In the fall of 1967, Thay and I moved to a small house in the town of Claremont. A mutual friend, Conn Hickey, and another graduate student named Tatsuo Muneto—a Japanese Buddhist priest from Hawaii—joined us for meals. Over the next few years, the four of us had dinner together every evening, taking turns doing the cooking—a task at which Thay excelled. I continued to live with Thay for the three years he was at Claremont, until he completed his PhD and left to return to Vietnam in the spring of 1970.

Through Thay, I learned not only the theory and practice of Buddhism but about the struggles of the Vietnamese Buddhists. I learned how Buddhism in Vietnam had been ruthlessly suppressed by the government of Ngo Dinh Diem; how Thay himself had been imprisoned and beaten and tortured in prison; how Buddhist monks and nuns, to defend the Dharma, had set themselves on fire. And I learned how the Buddhists found themselves squeezed between the communists on one side and repressive governments on the other, regimes supported by successive U.S. administrations. Thay presented to me the vision of an actively engaged Buddhism devoted not only to personal awakening but to social transformation grounded in the Buddhist values of compassion and human equality.

During the time we lived together, Thay would discuss with me his plans for my future as a Buddhist monk. At the time, since there were no training monasteries in the U.S., it wasn’t possible to receive monastic training in this country. So we determined that I would go to Asia to train and take full ordination. Thay realized that, because of the war, it wouldn’t be possible for me to study in Vietnam. He originally thought I should go to India, to study at the Nalanda Buddhist Institute. Later, however, he thought I would be better off in a traditional Buddhist country and suggested I should go to Sri Lanka. This meant that I would switch lineages, from Vietnamese Mahayana to Sri Lankan Theravada, but Thay had immense respect for the Theravada tradition and for the Pali Canon. Already in Claremont we had ordered the entire Pali Text Society’s English translations of the Nikayas, and we often referred to these texts and to their counterparts in the Chinese Agamas.

After Thay returned to Vietnam, I met several Sri Lankan monks who were passing through Los Angeles, and one of them—Ven. Piyadassi Thera of Vajirarama in Colombo—connected me to a senior Sri Lankan monk, Ven. Ananda Maitreya, the head (mahanayaka thera) of the Amarapura branch of the Sri Lankan Sangha, who was to become my ordination teacher. When I finished my doctoral dissertation at Claremont, I left the U.S. with Sri Lanka as my destination, but on route I stopped in Vietnam for two months, where I stayed mostly at the Giac Minh Pagoda, Thay’s temple in Saigon. At the time, Conn Hickey was living in Saigon, doing research on Vietnamese Buddhism.

I left Vietnam in October 1972, and after arriving in Sri Lanka I re-ordained into the Theravada order, first as a novice and six months later as a bhikkhu. After three years in Sri Lanka, I had thought of returning to Vietnam to visit Thay again. In March 1975, I traveled to India, where I planned to spend the rains retreat, go on pilgrimage to the Buddhist holy places, and then visit Vietnam toward the end of the year. However, in April 1975, Vietnam fell to the communists and Thay fled to the U.S. And so, when my time in India came to an end, I returned to Sri Lanka for the next two years. I came back to the U.S. in 1977 and then returned to Sri Lanka in 1982, where I remained for the next twenty years, until I came back to America in 2002.

Through all these years, I have always been grateful to Thay as the person who set me on the path of a Buddhist monk. If I had not met Thay, my destiny would have been quite different. I might have become a professor of philosophy at a college or gone into some other field. However, it has been my great fortune that I have walked the path of a Buddhist monk for 58 years now, and it was my encounter with Ven. Thich Giac Duc that set me in this direction.

I visited Thay at his home in Newton in 2015 and 2017, but had not seen him since then. Earlier this year, I spent three weeks in Vietnam, the first time I had been in the country since 1972. I even briefly visited the Giac Minh Pagoda, but, since the resident monks were away, I could view it only from the outside. This visit brought back strong memories of my past association with Thay. When the Bangladeshi Buddhists invited me to be the guest speaker at their annual gathering in Cambridge on August 31, I accepted the invitation with the idea that it would give me the chance to meet Thay again. On August 30, I visited Thay and Dung at their home in Newton. It was a very joyful meeting. I found Thay, who had just turned 90 in mid-August, in reasonably good health and bright spirits, and we were both delighted to see each other again. Thay even told me my visit brought tears to his eyes. I regretted that I hadn’t come up to Newton more often and thought we would have the chance to meet many more times.

With Thich Giac Duc on Aug. 30, 2025

This, however, was not to be. In mid-October, Conn informed me that Thay had a heart attack and was hospitalized in Boston. As soon as I could finish some matters at Chuang Yen Monastery, where I now live, I came to Boston to see Thay, and it was a great blessing that I could be with him during his last week in this world. Conn had also flown from California to Boston to be with Thay. Even though he could not open his eyes or speak, I think he understood me when I told him how grateful I was for our friendship and for his influence on my life.

It seemed to me that this last week we spent together in the intensive care unit—along with Conn—completed the circle that began 58 years earlier in Claremont. Between 1967 and 1970, the three of us spent time together each evening, discussing Buddhism, the Vietnam war, and other vital issues. Now we spent the week together again in his room at the hospital, but this time joined by loving silence rather than conversation.

I certainly don’t think that Thay’s passing marks the end of our relationship. Thay lives on in my mind and heart. He inspired in me the idea that the purpose of following the Buddhist path is not only to seek one’s own liberation but to work to create a better world—a world of peace, justice, and dignity for everyone. He always emphasized the need to put others before oneself, and he himself exemplified this in practice, embodying the spirit of the bodhisattva. His example continues to inspire my life as a monk, especially at the present time, when people around the world are facing so much pain, even here in the United States.

Although I don’t have any memories of past lives, I strongly feel that Thay and I encountered each other through a close karmic connection going back over previous lives. I also believe that in time, as the wheel of samsara turns, we will meet again to walk the Buddha’s path together, hand in hand.

https://phapnhan.org/en/attending-the-funeral-of-the-late-senior-dharma-teacher-most-venerable-thich-giac-duc-and-being-blessed-to-meet-bhante-bhikkhu-bodhi-in-person/

 

Dear Ven. Thích Trừng Sỹ,

Thank you for your heartfelt email message. I was happy to meet you at the funeral ceremony of Ven. Thich Giac Duc, my first Buddhist teacher.

I attach here the English text of my eulogy at the ceremony. I made some revisions and additions to the original article and included a photo of Ven. Giac Duc and myself when we met at his home in Newton on August 30th this year.

You can post the article on your website and perhaps send it to any Vietnamese Buddhist magazine.

With all best wishes,

Ven. Bhikkhu Bodhi

https://phapnhan.org/en/the-strange-workings-of-karma-the-influence-of-thich-giac-duc-on-my-life/

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 447)
Hàng năm người Hoa Kỳ dành ngày Thứ Năm trong tuần lễ cuối của tháng Mười Một để cử hành lễ Tạ Ơn. Ngày lễ Tạ Ơn
(View: 479)
Từ thời săn bắn hái lượm con người đã nối kết với nhau để sinh sống, để chống lại thú dữ, để giúp đỡ nhau tạo thành lợi ích chung.
(View: 646)
Hạnh phúc luôn có mặt trong đời sống của chúng ta qua từng phút, từng giây,
(View: 1065)
Một kiếp người, dẫu dài hay ngắn, cũng chỉ là hạt bụi nhỏ trong vô tận thời gian.
(View: 1104)
Sự vĩ đại của Phật giáo không chỉ thông qua hình thức về tinh túy của từ bi và trí tuệ được thể hiệnqua Giáo lý duyên sinh – vô ngã.
(View: 1506)
Trong kinh A Na Di, một nhóm Tỳ kheo chưa thấy rõ con đường, lòng còn phân vân trong pháp hành của mình, dù được Thế tôn gợi ý
(View: 1436)
Trời đất vào Thu, sơn hà khoác chiếc áo màu đẹp nhất trong năm. Chiếc áo kỳ diệu của thiên nhiên với muôn hồng nghìn tía, rực rõ sắc màu.
(View: 1821)
Vu-lan là âm Hán Việt, cũng được gọi là Vu-lan-bồn, Ô-lam-bà-na, phiên âm từ Phạn ngữ Avalambana, có nghĩa là bị treo ngược
(View: 1771)
Chánh kiến là một thuật ngữ quan trọng trong Phật giáo, được xếp ở vị trí đầu tiên trong Bát chánh đạo.
(View: 1922)
Quán tưởng vô thường là một trong những nội dung tu tập quan trọng của giáo pháp Thế Tôn.
(View: 1947)
Trong Phật giáo không có thuật ngữ "Quản Trị" theo nghĩa hiện đại, nhưng có các giáo lý và nguyên tắc đạo đức như Giới, Định, Tuệ và tư tưởng vị tha
(View: 2034)
Quán tưởng vô thường là một trong những nội dung tu tập quan trọng của giáo pháp Thế Tôn.
(View: 1857)
Những hành động từ bi, dù nhỏ bé đến đâu, cũng có thể mang lại mục đích và ý nghĩa ngay cả trong những thời điểm đen tối nhất.
(View: 1907)
Tất cả các Pháp Hữu Vi là vô thường! Đó là một sự thật! Cũng là lời di huấn cuối cùng của Đức Bổn Sư dành cho
(View: 2041)
Phước là khi bạn bị tai nạn mà vẫn sống sót, bệnh hiểm mà lại hồi phục, lạc lối mà vẫn được ai đó soi đường. Phước là vốn liếng của đời này, và cả đời sau.
(View: 1803)
Dòng sống, trôi như một dòng sông; đổ xuống như một thác nước.
(View: 1707)
Dòng sống, trôi như một dòng sông; đổ xuống như một thác nước.
(View: 2228)
Trong cuộc sống thế tục, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc qua tiền tài, địa vị, sắc đẹp, danh vọng hay ái ân.
(View: 2175)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc LâmTông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông
(View: 2280)
Mới đọc qua, tựa đề trên của bài viết, chúng tathấy ngay đề tài hơi ngộ ngộ….Nhưng càng đọc – càng thấy rõ thế giới, đang nằm gọn trong lòng chảo lửa mà dầu sôi sùng sụt
(View: 2414)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút danh là Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông.
(View: 2132)
Đạo đứchệ thống những quy tắc, các chuẩn mực xã hộiđể mọi người nương theo, điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích
(View: 2201)
Trong cuộc sống thế tục, con người luôn khát khao tìm cầu hạnh phúc qua tiền tài, địa vị, sắc đẹp, danh vọng hay ái ân.
(View: 2286)
Cuộc sống đàn ong, bầy kiến nhìn chúng lăng xăng, tưởng chừng chen đạp nhau lộn xộn, thật ra chúng rất có kỷ luật, ngay cả rơi vào nước
(View: 2205)
Trong cái nhìn của thế gian, cái chết là điểm kết thúc. Nhưng dưới ánh sáng Phật pháp, cái chết chỉ là một bước chuyển
(View: 2204)
Trong vòng luân hồi sinh tử vô tận, ái được xem là sợi dây vô hình trói buộc chúng sanh vào đau khổ.
(View: 2141)
Đạo Phật có cả một kho tàng giáo lý đa dạng và thực hành phong phú đáng kinh ngạc để phát triển tình yêu thươngtừ bi tâm
(View: 2322)
Cụm tháp Bạc sừng sững trên đồi cao lộng gió, dưới chân có khúc quanh của dòng sông Côn.
(View: 2135)
Đức Phật có dạy pháp phóng sinh hay không? Trong rất nhiều kinh, Đức Phật đã dạy là hãy yêu thươngvà đừng hại bất kỳ sinh mạng chúng sinh nào.
(View: 3587)
Hàng ngày tôi có thói quen ngồi tọa thiền và sau đó đi kinh hành. Địa điểm đi kinh hành tuyệt vờimay mắn nhất
(View: 3983)
Xa xa tận chân trời, mãi mãi nhìn theo mây trắng bay. Lá vàng rơi lác đác, cuồng cuộn về đến núi rừng. Vào Thu có nhiều, lá vàng, gió Thu thổi ra biển cả.
(View: 2208)
Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các chương trình chánh niệm tại trường học có thể giúp ích, đặc biệt là ở các cộng đồng nghèo, nơi học sinh phải đối mặt với mức độ căng thẳng cao hơn.
(View: 2710)
Trong giáo lý của Đức Thế Tôn, nghiệp (kamma) là một trong những pháp vận hành căn bản chi phối sự tái sinhvà đời sống của chúng sanh trong luân hồi.
(View: 2179)
Phra Ajaan Lee Dhammadharo (1907-1961), là một trong những vị thiền sư theo truyền thống tu khổ hạnh trong rừng.
(View: 2066)
Con Tàu sầm sập lao trong màn đêm đen đặc, thỉnh thoảng vụt qua những thị trấn hay phố xá nhỏ ven đường le lói chút ánh sáng nhạt nhòa.
(View: 2321)
Mùa An cư kiết hạ Phật lịch 2569 - Dương lịch 2025 lại trở về, là cơ hội quý báu để hàng hậu học chúng ta ôn lại lời Phật dạy
(View: 1899)
Hầu như không có ai nghĩ xa hơn thế, nghĩ xa hơn cái chết. Đây là lý do tại sao chúng ta thiển cận và không nghĩ đến việc
(View: 2306)
“Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn, Thiện duyên nan ngộ, Phật quốc nan sanh” là gì ?
(View: 2063)
Thờ Phật không phải là cầu xin ban phúc hay tha tội, vì Ngài không phải thần linh mà là người thầy dạy cách thoát khỏi khổ đau mà chính ngài tìm kiếm, chứng nghiệm.
(View: 2303)
Dòng đời xưa nay vẫn thế, từng đời từng đời nối tiếp nhau, thịnh suy bất định, tụ tán vô kỳ.
(View: 2242)
Minh trong đạo Phậttuệ giác, thấy biết như thật về vạn pháp. Khi thành đạo, Đức Phật chứng Tam minh(Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh).
(View: 2827)
Vesak theo truyền thống gắn liền với sự ra đời, giác ngộnhập Niết bàn của Đức Phật,
(View: 2645)
Bồ Tát Đạocon đường mà vị Bồ Tát phải đi qua. Đây là những giai đoạn mà một vị Bồ Tát kinh qua trên đường giác ngộ.
(View: 2827)
Trong triết lý sống của ông cha ta, có một câu nói nghe qua tưởng nghịch lý nhưng lại ẩn chứa sự minh triết sâu sắc
(View: 3161)
Hiện nay đang ở vào thời mạt thế, xuất hiện nhiều tà sư hướng dẫn Phật tử vào con đường sai lạc. Điều này không phải bây giờ mới có.
(View: 3048)
Bài này được viết với chủ đề ghi lời Đức Phật dạy rằng hãy giữ thân không bệnh, để có thể học và tu pháp giải thoát.
(View: 2796)
Cách đây hơn 2500 năm trước, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng dự ngôn, sau khi Ngài ly thế, cũng chính là vào thời kỳ Mạt pháp thì
(View: 2590)
Đạo đức không còn là một khái niệm, một lời kêu gọi ‘hãy sống thiện’, một giá trị lý tưởng cao xa, mà là một thực thể cụ thể, ăn được, uống được, thu nạp được, và ăn uống được nên mới “say”.
(View: 2838)
Quan điểm cho rằng tâm trí của chúng ta có chiều sâu vô thức đã trở nên phổ biến do sự phổ biến của phân tâm học và các kỹ thuật trị liệu liên quan.
(View: 2930)
Trong kinh điển Phật giáo, từ Hán tạng cho đến Nikāya nói chung, thật sự không quá khó để tìm thấy những cụm từ liên quan đến một phương tiện
Quảng Cáo Bảo Trợ
AZCMENU Cloudbase: Giải pháp TV Menu thông minh, tiện lợi, chuyên nghiệp!
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM