Sách Văn Học Phật Giáo
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
17,305,421
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250Logo-Hanh-Huong-AD-2019-tron-250

Góp Nhặt Lá Rơi

Saturday, June 21, 201408:17(View: 6466)
Góp Nhặt Lá Rơi

Góp Nhặt Lá Rơi


CHÙA QUANG NGHIÊM

Stockton, California

2011

gop-nhat-la-roi-thich-minh-dat
LỜI THƯA

Chúng tôi, Nhóm Học Phật chùa Quang Nghiêm, gồm một số thân hữu và những huynh trưởng Gia Đình Phật Tử trong vùng có cơ duyên gần gũi và học hỏi cùng thầy trong nhiều năm qua.

Nhân đó, chúng tôi được biết, Thầy là một cây viết thường xuyên trên tập san: THEO DẤU CHÂN XƯA của Phật học viện Huệ Nghiêm, SÀI GÒN trước 1975. Nhưng sau những đợt đốt sách của chính quyền Cộng Sản, THEO DẤU CHÂN XƯA không còn nữa. Càng gần Thầy, chúng tôi nhận thấy những gì Thầy dạy và viết thật thực tế và giản dị trong việc áp dụng Đạo Phật vào đời sống hằng ngày cho chúng ta. Chúng tôi không muốn có sự thất thoát như xưa, nên mạo muội sưu tập một số bài mà Thầy đã viết trong thời gian qua. Đây là một món quà tinh thần của Thầy mà chúng tôi đã rút ra những bài học bổ ích cho cuộc sống hàng ngày. Có một điều quan trọng nữa là bài học thân giáo của Thầy: phong cách hiền hòađức độ lan tỏa từ Thầy êm đềm như dòng sông Thu Bồn xứ Quảng.

Trong bất cứ lúc nào, nếu có dịp, Thầy thường nhắc nhở: “Học Phật có nghĩa là học để thành Phật.” Vậy chúng tôi kính mời quý vị cùng đọc, chiêm nghiệmthực hành những gì mình có thể.

Nhóm Học Phật chùa Quang Nghiêm


Mỉm Cười

Nếu mai này tôi chết

Mà chưa kịp mỉm cười

Cho nhe răng một tí

Đừng há lớn lạnh môi!


Minh Đạt





MẶT TRỜI CHƯA LẶN

Đảnh Lễ Đấng Điều NgựToàn Giác Của Nhân Thiên

Mồng Tám tháng Chạp, ngày huy hoàng sáng lạng nhất của nhân loại, ngày bất diệt trong chuỗi ngày không tên tuổi nay lại trở về trên khắp phố phường, thôn xóm và về ngay trong lòng người, nhất là người con Phật.

Hai mươi sáu thế kỷ trước đây, Ấn độ nói riêng và nhân loại nói chung đã được diễm phúc kính cẩn nghiêng mình tiếp đón một bậc siêu phàm, đã có lần ngang qua cõi đất loài người: THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA. Lịch sử nhân loại, từ đó, đã điểm một vết son chói lọi không bao giờ bị thời gian làm mờ nhạt. Tư tưởng nhân loại cũng bắt đầu phong phú: cuộc sống nhân loại cũng bắt đầu đổi mới. Sự ra đời của Ngài như một ánh đuốc khổng lồ xuất hiện giữa rừng hoang muôn thuở. Ngài là vầng trăng tròn hiển lộ giữa không trung, phá tan bao màn đêm vô minh từ muôn vạn kiếp. Và Ngài là nguồn suối mát bất tận của bao kẻ lữ hành sắp phơi thây vì cơn khát. Sự xuất hiện của Ngài quả đúng là làm cho “Người câm biết nói, người mù thấy nẻo và người què biết đi.”

Thời gian qua, cảnh vật đã bao lần thay đổi, loài người cũng đã mấy chập đổi thay để thăng tiến, thế mà những điều phát kiến của Ngài trong giây phút cuối cùng của đêm Mồng Tám tháng Chạp thuở nào nay vẫn còn mới tinh anh; một cái mới nguyên sơ chứ không là một cái mới được cải thiện qua thời gian!

Nếu sự từ bỏ hoàng cung, từ chối vương vị, xa lìa vợ đẹp con ngoan và cắt đứt mọi sợi dây luyến ái để đi tìm chân lý sáu năm trước đó của Ngài là tiếng chuông cảnh tỉnh chúng ta, những người đang đắm say trong vật chất phù du, thì phút giây Giác Ngộ của Ngài trong đêm Mồng Tám tháng Chạp là tiếng sấm vang dội khắp trần gian, đánh thức chúng ta đang triền miên trong giấc điệp với bao mộng đẹp hão huyền. Giây phút giác ngộ của Ngài đã tỏa những tia hào quang chiếu tận vào tâm thức đặc dày vô minh nghiệp chướng của chúng ta. Đêm Giác Ngộ, mang ánh sáng trí tuệ bừng chiếu quét sạch bóng đêm để hiển lộ toàn diện chân tướng của vạn hữu vũ trụ. Đêm ấy Thái Tử Tất Đạt Đa đã hoàn thành một cuộc cách mạng vĩ đại, vô tiền khoáng hậu trong lịch sử loài người. Một mình một bóng với một thanh tuệ kiếm, Ngài đã vào tận sào huyệt, hang ổ cuối cùng, để chém sạch lũ giặc vô minh phiền não. Và cũng chính đêm ấy là đêm đăng quan lên ngôi vị Pháp Vương tuyệt đỉnh, thống lãnh cả tam giới. Ngài từ bỏ ngôi vị đế vương nhân thế, một ngôi vị tuyệt đỉnhthế gian mà hầu như ai nấy đều thèm khát, để hôm nay trở thành một vị Pháp Vương không những của nhân loại mà của cả mấy tầng trời. Tất cả những bức thông điệp tình thươngtuyên ngôn độc lập vĩnh cửu, minh định lập trường và đường lối sinh hoạt của vị Tân Vương được tuyên đọc sau ngày lễ đăng quang hiện giờ là khuôn vàng thước ngọc trong mọi lãnh vực.

Trên bình diện nhân sinh vũ trụ, những điều Ngài phát hiện qua ánh sáng trí tuệ cùng một lúc trong cái đêm không tên tuổi bỗng trở thành lưu danh muôn thuở ấy, cho đến nay, trong các cuộc hành trình của các nhà tư tưởng, triết học, khoa học… đều gặp lại vết chân Ngài đã in đậm trong 26 thế kỷ trước. Về tư tưởng, Ngài đã để lại cho nhân loại một kho tàng tư tưởng phong phú, được ghi lại thành văn qua ba bộ môn chính: Kinh, Luật, Luận. Về triết học, Ngài đã để lại một nền triết học tổng hợp giữa vật chấttinh thần. Ở lãnh vực khoa học, cac khoa học gia cận và hiện đại đã thấy gì? Vào thế kỷ thứ 18, các nhà khoa học, sau bao lần khảo nghiệm, chế được một loại kính khuếch đại, nhìn trong nước thấy được những sinh vật rất nhỏ sống chen chúc trong đó. Vào thời Ngài, cái thời có lẽ trong tự điển chưa có danh từ khoa học, một hôm nhân lúc học trò múc nước lã dâng Ngài uống, Ngài đã bảo, uống chén nước này có nhiều sinh mạng đã phải hy sinh để ta được sống. Vào hậu bán thế kỷ 20 này, các nhà khoa học nhận ra những tinh cầu khác chung quanh quả đất chúng ta, thì vào thời Ngài, dưới một đêm trăng thanh gió mát, trongkhi đàm đạo, Ngài đã chỉ cho các học trò của mình biết mỗi một vì sao giữa hư không tương đương với quả địa cầu chúng ta đang ở. Nhưng không phải chỉ có thế, trên bất cứ lãnh vực nào, nếu chúng ta đặt chân đến cũng đều gặp hình bóng uy nghi của Ngài như một bậc Thầy đáng kính yêu. Chẳng hạn như có những vị vua đồng thời đã phải hỏi ý kiến Ngài trước khi cất quân đi chinh phạt một nước khác. Mỗi bước chân của Ngài đi kéo theo một chuỗi dài bình anhạnh phúc cho nhân loại. Mỗi lời nói của Ngài là một luồng gió giáo dục được những người dâu kiêu mạn, những người vợ lăng loan trở thành vợ hiền dâu thảo. Ngài đã cảm hóa được những con thú hung hăng nhất, như trong trường hợp Đề Bà Đạt Đa thả voi say với tâm âm mưu ám hại Ngài…

Trong loài người, Ngài đích thực là một con người, vì Ngài có thể hòa đồng với tất cả mọi lớp người trong xã hội. Trong hàng Thánh, Ngài đích thực là một bậc chí Thánh, vì Ngài có đầy đủ tất cả những đức tánh của một vị Thánh; mặc dù Ngài không bao giờ tự xưng mình là Thánh, mà chỉ là người dẫn đường. Trong tất cả các lời dạy, lời dạy của Ngài rất chí tình chí lý, vì Ngài bảo hãy thực hành trước khi tin. Nếu chúng ta có thêm hàng triệu cái “trong” nữa, thì chúng ta cũng sẽ thấy hình bóng Ngài uy nghi xuất hiệnvị trí hàng đầu. Chúng ta đang chủ quan chăng? Không. Vì Ngài ra đời không phải trong tư thế của một vị thần linh với đầy đủ thẩm quyền ban phúc giáng họa, cũng không phải ra đời với một quyền phép thiêng liêng nào, mà sự ra đời của Ngài hệt như bao nhiêu sự ra đời của các chúng sanh khác. Cái vĩ đại, cái siêu nhân, siêu phàm của Ngài chính là cái cung cách sống thực và trực giác của Ngài mà chúng ta chưa hề làm được. Chúng ta đang đảnh lễ, đang xưng tán Hồng Danh Ngài trong ý nghĩa cao cả đó.

“Những điều mà ta hiểu biếtchứng ngộ tựa như lá trong rừng, những điều mà ta dạy các ngươi như nắm lá trong tay.”

Đức Phật ích kỷ chăng? Không. Ngài đã bảo, ta là vị đạo sư với bàn tay mở. Ngài chỉ dạy những điều thiết thực, căn bản, cốt yếu. Dạy những điều vừa đủ để làm người, thành Thánh và nhất là vừa đủ để thoát khỏi màn vô minh và lưới phiền não đang kềm tỏa hãm vây bốn bề. Những điều có tính cách mơ hồ, không tưởnghuyền đàm, Ngài đã triệt để loại khỏi giáo huấn của Ngài. Chỉ có “nắm lá trong tay” mà 26 thế kỷ qua con người đã không đủ sức giác ngộ những điều mà Ngài đã giác ngộ. Chỉ có “nắm lá trong tay” mà cả nhân gianchư Thiên đều cúi đầu bái phục. Chỉ có “nắm lá trong tay” mà ngôn ngữ, văn tự đã trở nên nghèo nàn, ốm yếu và bệnh hoạn huống là “lá trong rừng”!

Giáo lý mà Ngài ví như lá trong rừng kia đều được bừng sáng trong giây phút chiến thắng tên giặc phiền não cuối cùng, tận diệt thảm họa vô minh của đêm Mồng Tám tháng Chạp. Ánh mặt trời rọi đến đâu, thì màn đêm tiêu tan đến đấy. Cũng vậy, ánh sáng trí tuệ không những quét sạch mà còn nhổ tận gốc rễ vô minh phiền não nữa. Mặt trời trí tuệ đã xuất hiện lồng lộng giữa đêm Mồng Tám Tháng Chạp, lúc Sao Mai vừa mọc. Đêm ấy đã trở thành đêm trường sanh bất tử của nhân gianchư Thiên.

Ngày ấy nay lại về!

Đúng hơn, mỗi ngày sau ngày ấy đều là ngày Mồng Tám Tháng Chạp. Chúng ta không thể làm lễ kỷ niệm ngày ấy định kỳ mỗi năm một lần, mà phải kỷ niệm từng phút, từng giờ, từng ngày một. Giờ phút nào trong ngày, mà chúng ta thành tâm định ý kiểm điểm điều xấu ác, phát triển hạnh lànhgạn lọc phiền não, thì chính giây phút ấy chúng ta đang làm lễ kỷ niệm Thành Đạo của chính chúng ta. Đức Phật bảo: “Ta đã thành đạo, tất cả chúng sanh đang thành đạo.” Điều này có nghĩa là, nếu chúng ta áp dụng lời dạy của Ngài trong suốt cuộc sống hàng ngày, tức là chúng ta đang trở thành như Ngài trong mỗi giây phút ấy. Một phút giây giác ngộ đúng chánh pháp là một phút thành Phật; một ngày giác ngộ là một ngày thành Phật. Cứ phát triển theo chiều hướng đó, chắc chắn chúng ta sẽ trở thành một vị Phật toàn diện như Ngài trong tương lai.

Thành kính kỷ niệm lễ Thành Đạo lần thứ 2524 này, chúng ta nguyện tinh tấn hành trì theo những gì mà Đức Phật đã dạy sau ngày ấy. Được như vậy, chúng ta đã đích thực cử hành lễ Thành Đạo của Ngài với đầy đủ ý nghĩa cao thượng. Mặc dù chúng ta không được diễm phúc nghe những lời vàng tiếng ngọc ấy ngay từ kim khẩu của Ngài, nhưng vang vọng dư âm vẫn truyền tụng và hình bóng Ngài vẫn còn quấn quít bên ta.

Xin nguyện bốn câu kệ của ngài Huyền Trang một danh Tăng Trung Hoa vào thế kỷ thứ bảy, đã khóc khi viếng Bồ Đề đạo tràng, nơi thành đạo của Đức Thích Ca Mâu Ni đêm Mồng Tám Tháng Chạp để cúng dường lễ Thành Đạo và cũng để chấm dứt bài viết kỷ niệm này:

Phật tại thế thời ngã trầm luân

Kim đắc nhơn thân Phật diệt độ

Áo não thủ thân đa nghiệp chướng

Bất kiến Như Lai kim sắc thân!

Hương Đạo 11, 01/1980

LĂNG GIÀ (1)

Trăng lên giữa đỉnh Lăng Già,

Tiếng chuông tỉnh thức ngân nga vọng về,

Không gian yên lặng tứ bề,

Ánh trăng soi rõ lối về Chân Tâm.


TĂNG TRƯỞNG NỘI LỰC

Tăng trưởng nội lực là làm cho cái nội lực của chúng ta mỗi ngày mỗi phát triển, mỗi lớn mạnh hơn lên.

Nội lực là gì?

Nội lực là cái sức mạnh tiềm tàng bên trong của chúng ta. Sức mạnh ấy được sinh ra và được trưởng dưỡng bằng chất liệu của đạo pháp. Sức mạnh ấy do sự tu tậpthực hành chánh pháp mà có. Sức mạnh ấy phát ra từ ánh sáng trí tuệ và cũng được kiểm chứng, điều khiển bởi chính ánh sáng trí tuệ ấy.

Chúng ta không nên nhầm lẫn giữa trí tuệtrí thức.

Trí tuệ là sự hiểu biết, sự sáng suốt có được do sự điều khiển tâm ý lắng đọng. Nói một cách khác, trí tuệ là do sự tu tập thiền quán phát sinh ra.

Trí thức là sự hiểu biết nhậm lẹ ngang qua sự phân biệt, cuộc sống thế gian hoặc đào được trong sách vở hay được truyền dạy bởi người khác.

Người có trí tuệ là có một sức mạnh nội tâm phong phú. Luôn được hướng dẫn và thắp sáng bởi ngọn đuốc chánh pháp. Đây chính là điều mà Đức Phật đã căn dặn các hàng đệ tử của Ngài trước khi tịch diệt: “Này các con, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi. Thắp lên với ngọn đuốc chánh pháp, đứng thắp lên với ngọn đuốc nào khác.”

Tự mình tức là tự lực. Tự lực sẽ có được một nội lực. Nội lực ấy kinh qua sự thực hành chánh pháp. Chánh phápgiáo pháp có một giá trị tuyệt đối. Thế nào là giá trị tuyệt đối? Giá trị tuyệt đốigiá trị vượt không gianthời gian. Đức Phật dạy: Các ngươi đừng vội tin những gì ta nói. Hãy đem những điều ấy áp dụng vào đời sống hàng ngày, khi nào thấy thực sự có lợi cho chính bản thân mình và cho những người khác, chưa đủ, cả hiện tạimãi mãi trong tương lai, bây giờ hãy tin. Và Ngài kết luận: Một sự thực như vậy mới được gọi là chân lý, là chánh pháp, là một điều trọn lành.

Lợi mình hại người, dĩ nhiên, là một điều ác. Lợi người hại mình là một điều ác khác. Lợi mình lợi người, chưa đủ yếu tố kết luận là điều thiện. Lợi mình, lợi người cả hiện tại và tương lai, điều ấy mới được là điều thiện. Và, giá trị tuyệt đối nằm ở đấy.

Quan sátthực hành những điều như trên, người ấy sẽ có được một sức mạnh về nội tâm, một sức mạnh của chánh pháp hay phật pháp.

Thế giới của chúng ta đương sống là thế giới lưỡng nguyên, thế giới của những đối đãi tương quan. Có chánh pháp tất nhiên có tà pháp. Có phật pháp là có vô minh pháp. Có đạo pháp hay xuất thế pháp thì có thế pháp. Thế pháp, như trên đã nói, là sự hiểu biết qua cuộc sống đối đãi hằng ngày, qua vọng tâm phân biệt, qua sự so đo tính toán hoặc qua sách vở đem đến. Không ai giám phủ nhận sự hiểu biết nầy, vì nó hiện hữu trong cuộc sống; nhưng nó chỉ có giá trị tương đối, nghĩa là nó có thể thay đổi theo từng thời gian và từng địa vực. Trên bình diện thế pháp, sự hiểu biết này nó cũng có một sức mạnh giúp chúng ta xây dựng được một cuộc sống vật chất đầy đủ, giúp chúng ta xây dựng những cơ đồ theo ý muốn. Nhưng cũng chính lịch sử thế pháp này đã minh chứng, bao nhiêu cơ đồ được xây dựng trên kinh nghiệm hiểu biết phân biệt giữa đời đều đi qua không lưu lại một hình bóng khả ái. Hoặc nếu có, cũng chỉ là những bóng mờ qua thời đại mà thôi. Nếu ngày xưa Đức Phật, không từ bỏ hoàng cung để tự đi tìm một con đường giải thoát chân chính cho chính mình và cho chúng sanh, mà chỉ làm một vị minh quân thống lãnh toàn cõi Ấn Độ, thì ân đức của Ngài nhiều lắm cũng chỉ thấm nhuần vào lòng dân của thời bấy giờ.

Phật tử, người đã trở về với đức Phật, nương theo chánh pháp của đức Phật, dùng chánh pháp ấy làm ngọn đuốc soi đường, đương đi trên con đường đức Phật đã đi (chính Ngài đã đạt đến đỉnh cao của tuệ giác), chúng ta có quyền tự hào là ta đã được soi rọi bằng ánh đuốc trí tuệ; đã và đương có một sức mạnh nội tâm, dù sức mạnh ấy còn đương khiêm tốn. Nếu chẳng phải vậy, thì chúng ta đã không giám quay đầu về với đức Phật với chánh pháp ngút ngàn trí tuệ của Ngài. Hành động quay về với Đức Phậtchánh pháp của Ngài của chúng ta hôm nay đã chứng minh được điều đó một cách hùng hồn. Tuy nhiên chúng ta cũng cần phải tự cảnh tỉnh từng giờ từng phút để làm cho nguồn năng lực nội tâm ấy mỗi ngày một phát triển hơn lên, đừng để nó tiêu mòn hay băng hoại theo thời gian.

Tự thức tỉnh mình tức là chúng ta đương bón phân, tưới nước cho cây NỘI LỰC của chúng ta đơm bông kết quả vậy.

Hương Đạo 11, 01/1980


BẤT DIỆT

Lăng Già ngời bóng nguyệt

Hoàng Anh đề trác tuyệt

Dị thục thức đã thuần

Ca bài ca bất diệt.

AI, AI…?

(Tặng anh Nguyên Thọ, San Francisco)

Đọc báo Hương Đạo số 12, tôi bắt gặp bài “MỘT CHÚT HOÀI NGHI” của anh Thọ - Nguyên Thọ. Chắc là Pháp danh. Thấy anh viết với lời lẽ thật chí tình, chí thiết, nên mặc dù mới qua Mỹ không lâu, và nhất là không được diễm phúc gần gũi quý thầy như anh để được hiểu thâm sâu về đạo Phật, nhưng tôi cũng bạo dạn thử làm quen với anh qua những ý nghĩ đạo. Tôi không hy vọng rằng những ý nghĩ của tôi là đúng. Hơn thế nữa, tôi lại càng không hy vọng những ý nghĩ sau đây sẽ giúp anh “thoát được chướng nạn” như anh đã nói. Nhưng dầu sai hay đúng, thì những ý nghĩ đó cũng đã dĩ lỡ hơn một lần ngang qua đầu tôi,nên tôi không ngần ngại trình bày.Thiết nghĩ trình bày một ý nghĩ dầu sai hay đúng,nhưng với tâm tư xây dựng và cầu học, thì đúng hay sai cũng mang hình ảnh Đạo Phật, một Đạo Phật sống trong cuộc sống hằng ngày.

Vốn yêu Đạo Phật, tôi (và anh chắc cũng vậy) không muốn Đạo Phật sống như một loài ốc ma, hay sống như một cái xác không hồn. Tôi muốn Đạo Phật phải là hơi thở, phải là những chất dinh dưỡng cần thiết và phải là những nhu yếu phẩm cho cuộc sống hàng ngày. Có cao vọng và xa với chân tinh thần Đạo Phật lắm không, thưa anh Thọ? Do đó, mỗi khi có chút thì giờ suy nghĩ về đạo Phật, tôi không nghĩ những gì cao xa quá tầm tay của mình. Đức Phật được mô tả là người đã tu trải qua nhiều đời nhiều kiếp liên tục mới đạt thành chí nguyện. Chúng ta (kể từ kiếp này) là những người mới bước chân vào đạo. Chưa có một bước nào được gọi là vững chãi mà muốn làm ngay những điều mà Đức Phật đã làm vào giờ chót trong suốt cuộc hành trình không giới tuyến của Ngài, thì quả là những người chưa biết đi mà muốn chạy.

Tôi là người mới vào đạo. Tôi muốn áp dụng cái “Đạo Phật bắt đầu.” Bắt đầu bằng sự mở rộng lòng mình, sự cầu học và nhất là sự áp dụng Đạo Phật vào cuộc sống hằng ngày. Mở đầu Đạo Phật của tôi thật giản đơn, anh Thọ à: Tin tưởng và sẵn sàng gởi mình vào ba chỗ: SỰ GIÁC NGỘ, GIÁO LÝ ĐƯA ĐẾN SỰ GIÁC NGỘ, VÀ NHỮNG BẬC THẦY THIẾT THA HƯỚNG DẪN MỌI NGƯỜI VÀO GIÁO LÝ GIÁC NGỘ ẤY. Cộng thêm vào đó, năm yếu tố cơ bản khác để tạo nên sự an ninh cho cuộc sống của chúng ta và đưa cuộc sống quá nhiều bấp bênh này theo chiều hướng cao đẹp. Như là, tôn trọng sự sống tha nhân như tôn trọng cuộc sống của chính mình. Tôn trọng tài vật, thì giờ của người khác như tôn trọng của chính mình. Tôn trọng vợ con, cháu chắt người khác như tôn trọng thân quyến của chính mình. Tôn trọng sự trung tín tuyệt đối khi giao tiếp với mọi người. Tôn trọng phẩm giá của con người qua sự tự kiểm việc ăn uống và chơi bời hằng ngày của chính bản thân. Thiết nghĩ, chúng ta chỉ ần áp dụng bấy nhiêu đó một cách không giáo điều trong cuộc sống có quá nhiều phiền toáiphức tạp này, cũng đủ để giải quyết mọi khổ đau của kiếp người. Không biết anh Thọ đã gặp tôi được bao nhiêu từ nãy đến giờ. viết đã hơn một trang rồi mà vẫn còn dông dài, chưa đả động gì đến ái “thắc mắc” của anh. Hẳn anh đang nóng lòng? Đừng! Kiên nhẫnchịu đựng cũng là một hạnh tu mà trong kinh thường đề cập. Kiên nhẫnchịu đựng với bất cứ điều gì, dù điều ấy có phần tổn hại cho chính bản thân mình. Anh Thọ đừng nghĩ rằng tôi đang giảng đạo nha. Không dám múa rìu qua mắt thợ đâu. Tôi đang tâm sự với anh đó. Tâm sự với một người bạn đạo mà chưa hân hạnh được gặp mặt. Tôi không cảm thấy phí thì giờ khi được tâm sự đạo lý với ai. Biến một câu “chuyện đời” thành một câu “chuyện đạo,” cũng là một lối tu và một cách truyền đạo khác phải không, thưa anh Thọ?

Anh Thọ, tôi đã đọc bài của anh đến những ba lần. Dù đọc ba lần hay đọc nhiều hơn nữa, cũng khó mà xác định được ai là kẻ “nghịch hướng” và ai là người “xuôi chiều,” qua câu thiền ngữ của nhà sư Anh: “Không phải tôi là kẻ nghịch hướng, mà chính anh là người xuôi chiều.”

May quá, sực nhớ lại đoạn trong Kinh Lăng Nghiêm, tôi không còn nhớ là đoạn nào, nằm quyển mấy, Đức Phật đã dùng thí dụ về phương hướng để chỉ cho ngài A-nan thấy đâu là thuận, đâu là nghịch: “...Nếu chúng ta dùng một cái cây, cắm giữa một khu đất trống, người đứng ở hướng đông sẽ thấy cái cây nằm về hướng tây, người đứng ở hướng nam sẽ thấy cái cây nằm về hướng bắc, và ngược lại. Như vậy, đức Phật kết luận, đích thực của cái cây nằm về hướng nào?”

Câu hỏi của đức Phật cũng chính là câu trả lời. Phương hướng chẳng qua chỉ là một sự ước lệ. Bản thân của ngôn từ “ước lệ” đã cho chúng ta một hình ảnh không thật. Đã không thật thì dù có nói phải hay nói trái cũng chỉ là nói. Đạo Phật không phải là “đạo nói” mà là “Đạo Thực Nghiệm.” Thực nghiệm cả thể xác lẫn tinh thần.

Như nhà sư của anh Thọ đã xác nhận: “Bằng vào luật lệ, tôi biết rằng đây là tay phải và bên kia là tay trái,” để rồi đưa ra một kết luận mà không phân biệt được ai trái ai phải. Nhà sư muốn nói, cái trái và cái phải của anh (người đi đường) và tôi (nhà sư) đang bàn đây, chỉ là cái trái cái phải đã được ước lệ qua thời gian. Điều ước lệ, dù lâu đến đâu cũng không hẳn đã đúng. Nhà sư muốn bảo, chúng ta phải tự mình tìm lấy một khẳng định “TRÁI, PHẢI” trong chính nội tâm của ta. Chỉ có sự khẳng định của ta, được soi sáng bởi ánh sáng trí tuệ, và sự vượt thoát lên trên tất cả mọi ràng buộc mới là sự khẳng định đáng quan tâm. Mọi ước lệ không kinh qua kinh nghiệm nội tâm đều phải được xét lại. Thử lấy một thí dụ, một số các quốc gia lái xe bên tay mặt, ai lái bên tay trái đều phạm luật lưu thông. Thế chúng ta nghĩ gì về những quốc gia lái xe bên tay trái? Trường hợp nầy là trường hợp “cái cây” mà đức Phật sai ngài A-nan cắm giữa khu đất trồng.

Chàng thanh niên của anh Thọ đã quen sống với ước lệ bình thường, để đến nỗi phải bị những ước lệ chi phối toàn diện. Nếu chẳng phải vậy, thì chàng đã không “sừng sộ” với nhà sư mà chàng cho là nghịch hướng. SỪNG SỘ là một lối xuôi chiều tuyệt đối. Thái độ ĐIỀM TĨNH của nhà sư là một sự nghịch hướng vô cùng. Đây là hai thái cực. Tuy hai thái cực nhưng không có biên thùy. Chính vì không có biên thùy nên nhà sư đã phát biểu một cách tự nhiên: Anh xuôi chiều và tôi cũng xuôi hướng; nếu chúng ta cho một hệ luận qua câu thiền ngữ trước kia. Chàng thanh niên có chiều của chàng, nhà sư có hướng của sư. Chiều và hướng sẽ được kết hợp nếu cả hai cũng phá vỡ được biên thùy ước lệ.

Washington D.C.

Hương Đạo 13/1980

GIỮA LÒNG THẾ GIAN

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng...

Ca dao Việt Nam bao giờ cũng hay, cũng gợi cảm và đượm tình. Hay vì nó đơn giản, không cầu kỳ. Gợi cảm vì nó được diễn đạt trong sự tức cảnh, và nhất là sự hòa hài trọn vẹn giữa lòng người và cảnh vật chung quanh. Đượm tình vì bất cứ lúc nào ngâm lên câu ca dao cũng khiến lòng mình rung động.

Đầm và sen được hòa hợp trong tương phản. Hòa hợp vì sen không thể thiếu đầm. Ngược lại, đầm mà thiếu sen, thì đầm càng tang thương xơ xác hơn nhiều. Tương phản vì từ ngữ “đầm” đã cho chúng ta hình ảnh của một cái gì hôi tanh, ô uế và dẫy đầy sự dơ dáy. Trong khi đó thì ảnh hình chiếc hoa sen vừa đẹp, vừa duyên dáng thanh khiết lại vừa tỏa một hương thơm ngạt ngào. Cái đẹp của hoa sen không lộng lẫy, mà kín đáo. Cái ngạt ngào của hương sen không khêu gợi, nhưng thâm trầm. Cái thanh khiết của hoa sen không từ trời cao rơi xuống, mà từ giữa lòng bùn nhơ sinh ra. Đã mấy ai khi ngang qua một đầm sen mà không dừng chân ghé mắt để ngắm nhìn những bông sen dịu hiền nhưng đầy cương quyếtnghị lực. Cái cương quyết của hoa sennhất định chui ra khỏi lớp bùn đen đui dơ dáy. Cái nghị lực của nó là phải vươn lên khỏi mặt nước, dù nước ấy bao sâu, trước khi khoe sắc tỏa hương. Cánh sen không hề điểm một vết bùn. Hương sen không những không thoảng hơi bùn, mà còn làm át đi mùi bùn hôi hám. Quả đúng là: gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn!

Tôi vốn không thích hoa, bất cứ hoa gì. Dĩ nhiên, tôi cũng không thích ngửi hương của hoa. Tuy thế, tôi cũng đã có lần ngồi hàng giờ bên hồ sen để ngắm nhìn những vẻ đẹp yêu kiều của hoa sen. Và, cũng đã có ít nhất một lần tôi bơi trong hồ sen, suýt chết đuối, để hái cho bằng được một nụ sen vừa chồi lên khỏi mặt nước, năm ấy tôi 11 tuổi. Hành động ấy xảy ra ban chiều của một ngày hè năm ấy, khi tôi được nghe giảng về ý nghĩa chiếc hoa sen từ một anh huynh trưởng Gia đình Phật tử vào ban mai. Anh huynh trưởng giảng thật nhiều và thật hay, nhưng cái đầu ham chơi, nghịch ngợm của một cậu bé 11, tôi không còn nhớ nhiều hơn một câu hỏi đơn giản trước khi chấm dứt cuộc nói chuyện: “Các em có thích hoa sen không?” Như một cái máy, thật rập ràng, thật trong trẻo dễ thương và cũng thật “ồn ào,” gần 20 em Oanh Vũ, trong đó có tôi, trả lời: “Thích!”

Mười lăm năm sau, học kinh Pháp Hoa, kinh Diệu Pháp Liên Hoa – tôi phát giác ra rằng cái “thích” mà tôi nhịp nhàng trả lời vang lên của 15 năm trước không giống như bây giờ nữa. Cái đầm sen và hình ảnh chiếc hoa sen mà anh huynh trưởng giảng giải bây giờ đã thực sự tiêu hóabiến dạng trong tôi. Cái đầm sen bây giờ là: Giữa lòng thế gian đau khổ triền miên nầy; hình ảnh chiếc hoa sen vĩ đại và ngời sáng trong tôi bây giờ lại là: Thái Tử Tất Đạt Đa, một con người mà vượt cả loài người.

Từ ngữ “Thái Tử” cho chúng ta những hình ảnh giàu sang, quý phái, oai phong và kể cả sự kiêu căng ngạo nghễ nữa là khác. Thái Tử Tất Đạt Đa giàu đến nỗi bốn mùa ở bốn biệt điện khác nhau. Mỗi biệt điện được trang hoàng cực kỳ mỹ lệ. Quý phái, vì Ngài sinh ra từ một giai cấp quý tộc của xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Oai phong đến nỗi mỗi lần Ngài ra thăm nhân gian là tất cả phố xá đều được trang hoàng rực rỡ, với cả tùy tùng hộ giá và vạn dân nghinh tiếp tung hô. Khí tượng đế vương hiện rõ ràng trên khuôn mặt Thái Tử. Sơn hà xã tắc và uy quyền hầu như đang nằm gọn trong tay Ngài. Thế mà, sự kiêu ngạo lại không có đất đứng trong vườn tâm của Thái Tử. “Lão bái phục Thái Tử không chỉ vì trí thông minh, mà còn vì sự lễ độ, tánh khiêm cung và lòng từ tốn của Thái Tử đối với lão nữa.” Một trong những giáo sư lỗi lạc dạy Thái tử lúc thiếu thời đã nói như vậy.

Lợi danh và những lạc thú thế gian luôn luôn là những miếng mồi “thơm” mà ai nấy đều thèm khát. Vì lợi danh khiến cho con sẵn sàng giết cha để chiếm đạt ngôi vua, như trường hợp Thái Tử A Xà Thế. Trong thế gian có rất lắm chuyện chỉ vì những lạc thú tầm thường mà đã khiến cho tình cốt nhục tương tàn. Nếu đầm được mô tả là tanh hôi, ô uế, thì sự tương tàn tương sát trong tình cốt nhục và giữa tình người với nhau phải được xem là ô uế, tanh hôi, gấp mấy vạn lần. Sự tanh hôi của đầm nhiều lắm cũng chỉ bay xuôi theo chiều gió. Trong khi đó, sự hôi tanh của trần thế hiện qua sự tranh danh đạt lợi, mạnh được yếu thua... dầu ngược gió cũng làm xú uế cả muôn phương. Nếu hoa sen có thể tỏa hương làm át đi mùi hôi thối trong đầm lầy, thì sự từ bỏ cung vàng điện ngọc, vượt thoát ra ngoài vòng thế gian triền phược của Thái Tử Tất Đạt Đa không những ngát hương cho khắp nhân gian, khắp cõi đời này, mà còn xông ngát lên cho cả mấy tầng trời.

Chỉ một sự ra đời của Ngài không thôi cũng đủ để chúng ta cúi đầu bái phục suốt cuộc đời mà không biết mỏi, nói chi đến một giáo lý vừa cao siêu diệu vợi, vừa thực tiễn mà Ngài đã trực diện vào giữa đêm MỒNG TÁM THÁNG CHẠP của hơn 2500 năm về trước. Hơn hai ngàn rưỡi năm trôi qua, chưa có một người thể nhập thực tại, chân lý trọn vẹn tương tợ. Ngày ấy nay lại trở về. Chúng ta đang vui mừng trong tủi hổ. Vui mừng vì từ ngày ấy đến nay, chúng ta được diễm phúc tắm gội trong ánh hào quang của một bậc Đại Giác. Tủi hổ vì từ ngày ấy đến nay, trải qua một chuỗi thời gian dài dậm dọc, chúng ta vẫn chưa đạt được một công trình khai phóng nội tâm nào khả dĩ tương xứng trong muôn một đối với Ngài!

Ngài quả là một đóa sen sáng chói trong vô vàn đóa sen. Nếu phải ca tụngxưng tán Ngài, chúng ta không ca tụng, xưng tán như một vị thần linh vạn năm, mà là một con người bằng xương bằng thịt với đầy đủ khí phách và trọn vẹn tình người. Hay cung kính hơn là một bậc thầy, một vị đạo sư. “Ta không phải là một vị thần linh, ta chỉ là người dẫn đường,” Ngài đã tuyên bố như vậy. Chúng ta không nên để đức Phật quá tầm với của chúng ta. Chúng ta hãy để Ngài ngay trên “đầu giường” của chúng ta. Hãy cung kínhxưng tụng Ngài là một người như bao người khác mà Ngài đã làm được những điều, đã giác ngộ những điều mà bao nhiêu người khác chưa thể làm được, chưa thể giác ngộ được. Hãy mang hình ảnh và hàng trang của Ngài đi thẳng vào cuộc đời.

Mang HÀNH TRANG ĐỨC PHẬT đi vào cuộc đời là một hành động thực tiễn, cần thiếtcấp bách giữa lòng thế gian đau khổ nầy.

Hương Đạo 14, 01/1981

MỪNG SINH NHẬT

MỘT CHU KỲ mang hai danh từ tương phản: Sanh, Tử. Mười hai tháng của một người chết gọi là giáp năm (tử). Mười hai tháng của một em bé gọi là thôi nôi (sanh). Thôi nôi nghĩa là từ ngày ấy trở đi em bé không còn nằm nôi nữa.

Thôi nôi là lần sinh nhật đầu tiên của một đứa bé. Có lẽ, đứa bé nào cũng được một lần diễm phúc như vậy. Ba mẹ sẽ tự động tổ chức ngày ấy. Có người tổ chức ngày ấy cho con mình thật linh đình và có người tổ chức thật đơn sơ, nhất là những người ở quê. Người miền quê họ có nấu thức ăn để cúng nữa. Họ cầu cho đứa bé thông minh, học giỏi, sau này được giàu sang và danh vị, tôi đoán vậy. Trong ngày ấy họ còn trắc nghiệm để đoán sở thích cũng như nghề nghiệp của đứa bé trong tương lai. Sau khi cúng xong, họ thường vắt một nắm cơm hay để một quả trứng luộc, một cây viết và một vài món đồ tượng trưng cho nghề nghiệp chuyên môn ở một nơi và chỉ cho đứa bé. Đứa bé sẽ bò đến bốc một trong các đồ vật ấy. Ba mẹ để ý món nào mà đứa bé đưa tay bốc trước tiên là theo đó mà đoán về số phận của con mình. Chẳng hạn, đứa nào bốc nắm cơm hoặc quả trứng, thì bà con cho rằng đứa bé sau này chỉ biết ăn chơi. Đứa nào bốc phải cây viết, thì cho rằng sẽ chăm chỉ học hành về sau. Đức nào bốc một trong những đồ vật có tính cách chuyên môn, thì cho rằng tương lai đứa bé sẽ thích nghề đó... Tục lệ ấy cho đến bây giờ vẫn còn.

Người chị bà con của tôi tuy sanh ở quê, nhưng lớn lên được học ở tỉnh và đỗ đạt tại đấy. Ngoài ra, chị còn là một Phật tử thuần thành và hiểu đạo rất khoa học; ấy thế mà khi có chồng có con, tục lệ ấy chị vẫn giữ nguyên. Tôi đến dự đám thôi nôi của đứa con đầu lòng chị, và nhìn chị sung sướng khi đứa bé bốc cây viết máy, một trong những món đồ chị trắc nghiệm. Chị yên trí thế nào sau này con chị cũng học hành giỏi và đỗ đạt cao. Trong bữa ăn chị tíu tít hỏi các bà con sau này nên cho thằng bé học ngành gì. Bác sĩ? kỹ sư?... ? Không những thế mà còn đắn đo xem nghề nào được trọng vọng và có nhiều tiền. Cũng hay, nhưng có một điều là không ai đắn đo xem nghề nào lương thiện, nghề nào có thể trải rộng được tình thươnglòng từ, hay giúp đỡ được nhiều người đau khổ... Gần cuối bữa tiệc, tôi đùa với chị ấy một câu: “Tôi đố chị Tư, hồi ngày thôi nôi của Thái tử Tất Đạt Đa, ông ấy bốc cái gì?” Chị ấy hiểu ý tôi, phá lên cười nắc nẻ, trả lời: “chắc bốc nhằm ông Phật.” Ai nấy cũng cười và không bàn tán gì thêm.

Tổ chức sinh nhật cho con là một điều hay và rất cần thiết. Tôi nghĩ, Ba Mẹ gánh trọn trách nhiệm tổ chức sinh nhật cho con mình đến ngày nó trưởng thành. Một số lớn Ba mẹ đã làm điều này với tất cả tình thương và sự sung sướng khi thấy con mình lớn hơn, thông minh hơn, lanh lẹ hơn những năm trước. Mua cho con mình những món quà thật đắt tiền. Tổ chức những buổi tiệc thật sang trọng. Có cả khiêu vũ nữa. Ba mẹ sung sướng và đứa con cũng hãnh diện với bạn bè khi tổ chức được một buổi tiệc sinh nhật thật lớn. Nhưng, nếu chỉ có thế không thôi, thì quả là một sự thiếu sót lớn lao, nếu không muốn nói là vô vị. Thiếu sót vì Ba Mẹ chưa thể hiện được trọn vẹn trọng trách của mình trong ngày ấy. Vô vị vì sau cái vui ấy, Ba Mẹ chỉ để lại cho con mình một món quà và một điều hãnh diện mà chưa gây được một ý thức trách nhiệm, một tinh thần hướng thượng hoặc một dự định tương lai. Ba Mẹ chưa thể hiện trọn vẹn trọng trách của mình là, thay vì ngày ấy Ba Mẹ phải đọc một thông điệp tình thương quan trọng, tùy theo từng thời gian nhấn mạnh những điểm cần thiết để gây một sự chấn động trong tâm hồn đứa con, thì chỉ ngỏ một vài lời chúc tụng có thể bị lãng quên ngay sau khi tàn tiệc. Ba Mẹ nên khéo léo biến những cuộc vui, những buổi tiệc ấy thành những cuộc khảo sát con mình. Nên tập nó ý thức lại những khuyết điểm trong năm qua và khích lệ nó phát triển những ưu điểm trong năm tới. Đồng thời cũng đưa ra một số những đề nghị cụ thể, vừa sức để nó tập luyện.

Rất có thể ông bà chúng ta ngày xưa tổ chức những ngày giỗ kỵ là để quy tụ con cháu về truyền đạt những tư tưởng tốt đẹp cho chúng. Bây giờ, chúng ta chỉ còn giữ lại được phần hình thức mà đã đánh mất đi nội dung, phần tinh thần sâu thẳm bên trong. Những ngày giỗ ông, kỵ bà bây giờ nhiều lắm chỉ làm một điều là quy tụ con cháu về để chúng biết mặt nhau và nhìn nhau bà con. Có vậy thôi. Chúng ta không làm nổi bật được những nét ưu điểm mà chính ông bà, ba mẹ chúng ta ngày xưa đã làm. Chẳng hạn như ngày giỗ ông nội, thay vì chúng ta làm nổi bật lại một đoạn tiểu sử của Người về những đức tính hy sinh, sự nhẫn nại hoặc sự nuôi nấng, dạy dỗ con cháu ra sao, thì chúng ta chỉ làm thành một buổi tiệc đơn thuần, vô tình chúng ta đã phí phạm thời giờ, làm ngược lại tâm nguyện của ông cha. Chúng ta làm lễ kỷ niệm một vị anh hùng dân tộc, không phải để chứng tỏ chúng tatinh thần dân tộc. Lại càng không phải để phô trương lực lượng. Mỗi khi chúng ta làm lễ kỷ niệm một vị anh hùng nào đó là muốn cho thế hệ con em chúng ta học đòi được tinh thần của vị đó. Một cuộc lễ, một đám kỵ hay một buổi tiệc mà không nói lên được điều trọng yếu của nó đều là vô vịlãng phí cả.

Trở lại vấn đề sinh nhật, Ba Mẹ chỉ biết lo tổ chức sinh nhật cho con mình mà không có phương pháp làm tồn tại ngày sinh của chính nó. Nói một cách khác, Ba Mẹ chỉ biết ban tình thương mà không bảo vệ được tình thương ấy lâu dài. Ban tình thương không khó, duy trì được tình thương ấy tồn tại qua thời gian mới là điều đáng kể. Duy trì tình thương con cháu không phải chỉ mình thương chúng trong suốt cuộc đời mình, mà phải tập cho chúng có những đức tính mà ai nấy đều thương. Làm sao cho những người chung quanh thương con cháu mình như chính mình thương chúng vậy.

Câu chuyện “Bốc Nhằm Ông Phật” trước kia khiến tôi liên tưởng đến ngày sanh của Thái Tử Tất Đạt Đa. Thái Tử Tất Đạt Đa sau này từ bỏ hoàng cung đi tu thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Ngày sinh của Ngài bây giờ được gọi là ngày PHẬT ĐẢN, ngày trăng tròn tháng tư mỗi năm. Ngài sinh vào thế kỷ thứ 6 trước tây lịch, đồng thời với Khổng Tử ở Trung Hoa và Socrate ở Hy Lạp. Vào mùa này tất cả các nước quy kính Ngài như một đấng cha lành đều long trọng làm lễ kỷ niệm Ngài Đản Sinh.

Không biết song thân của Ngài đã tổ chức được mấy lần sinh nhật long trọng cho Ngài, ngày còn là Thái Tử. Và không biết sau khi rời hoàng cung, Ngài có tổ chức lần sinh nhật nào nữa không. Tôi chỉ biết và còn nhớ mỗi một điều là cho đến bây giờ,dù đã trải qua một chuỗi thời gian dài, mỗi lần sinh nhật của Ngài trở lại là người người hớn hở không tiếc lời ca tụng. Ngày ấy, NGÀY PHẬT ĐẢN, dù là Phật tử hay không Phật tử, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng, Thái Tử Tất Đạt Đa là một con người bằng xương bằng thịt, có đầy đủ tất cả những đức tánh của một con người, nhưng đã làm những điều mà con người bây giờ đã chinh phục cả thiên nhiên vẫn chưa thể làm được. Những điều Ngài làm không phải quá tầm với của chúng ta, chỉ tiếc rằng chúng ta đã tự đặt xa quá tầm tay mình.

Phật tử chúng ta đang theo dấu chân Ngài, đang khát ngưỡng những đức tính của Ngài, và nhất là đang đọc đi đọc lại những lời dạy của Ngài, chúng ta không thể không tập sống theo một giây phút nào trong đó. Không có phút giây tắm mình trong giáo lý Giác Ngộ tự thân, nghĩa là không áp dụng lời Ngài dạy trong cuộc sống của mình, thì dù có xưng tụnglễ bái Ngài đến mòn gối, chúng ta vẫn đang cách xa Ngài. Trong kinh pháp cú có ghi lại lời Ngài dạy như thế này: “Trong tất cả sự cúng dường, Pháp cúng dườngtối thượng.” Pháp cúng dường không có nghĩa là nhai lại lời dạy của Ngài. Không phải thấy một tờ giấy kinh bị rách rơi xuống đất là vội vã lượm để lên đầu hay nhai nuốt vào bụng; không phải tụng kinh kệ thật nhiều bộ, nhiều quyển; lại càng không phải đọc thật nhiều kinh để rồi nói toàn là những danh từ Giác Ngộ, trong khi mình chưa có một phút giây thực sự nếm hoặc tập nếm hương vị Giác Ngộ. Trong Kinh bách Dụ, Đức Phật ví hạng người này là “đếm bạc mướn” hay “chăn bò thuê.”

Kỷ niệm sinh nhật lần thứ 2605 của Đức Phật năm nay, Phật tử chúng ta cố gắng tự chọn lấy một trong vô vàn lời dạy vàng ngọc của Ngài để tu sửa thân tâm, trau dồi trí tuệ hầu đạt đến một ngày sinh miên trường như Ngài trong tương lai. Đừng như là một triết gia đã nói: “Tôi sinh ra trong mê muội, sống trong hồi hộp và sẽ chết trong hoài nghi.” Nên là kẻ lữ hành có định hướng. Biết con đường mình đi và thấy rõ nơi mình đến bằng những trực diện của chính lòng mình. Không làm như vậy, thì dù chúng ta có tổ chức ngày sanh của Ngài thật linh đình, thật trọng thể vẫn là ngày tử chứ không phải là ngày sinh. Giây phút nào chúng ta áp dụng lời Ngài dạy trong đời sống là giây phút ấy Ngài đang sinh ra, đang hiện hữu. Sự hiện hữu của một đức Phật vô cùng cần thiết. Sự hiện hữu của một đức Phật làm cho: “Người đui thấy đường, người câm biết nói, người què biết đi.”

Hương Đạo 15, 05/1981

KHÔNG (III)

Phật thuyết sắc tức không,

Pháp ghi không tức sắc,

Tăng giảng sắc không không,

Tuy không mà diệu hữu,

Tam miệu tam bồ đề!

THƯ GỞI BẠN

Minh Tri thương,

Khoa học đã thâu nhỏ trái đất của chúng ta. Nó cũng đã và đang nỗ lực liên kết với những thế giới khác bên ngoài. Thế mà, giữa chúng ta vẫn còn xa cách diệu vợi, mặc dù chỉ có phân nửa trái đất thôi. Chúng ta và cả “chúng sanh” nữa – nói theo thuật ngữ Phật giáo – đang sống trên cùng một trái đất, một thế giới, thế mà trên ngôn ngữ, trên văn chương vẫn thường gọi là hai thế giới khác nhau: Thế giới cộng sản và thế giới tự do, có người gọi là thế giới tư sản. Minh Tri à, mình vẫn tự hỏi, không biết có thật sự đang sống trong thế giới “tự do” hay “tư sản” không? Và cũng đã nhiều lần tự hỏi xem Minh Tri có đang sống trong thế giới “cộng sản” hay “tư sản”?

Vì không có Minh Tri bên cạnh để tâm sự như ngày nào còn sống chung, nên tự hỏi rồi cũng tự trả lời. Minh Tri muốn nghe mình trả lời không? Mình trả lời rằng, thật sự chưa có “tự do” chút nào cả. Tự do sao được khi mình luôn bị bao vây bởi những tham lam, nóng giận và ngu dốt. Mới sáng nay, một người bạn nặng lời, mình vẫn không dằn được cơn giận. Mình nhớ lại lời Minh Tri nói ngày xưa. Mỗi lần nóng giận là một lần đãi tiệc linh đình cho dục vọng. Nói một cách khác là mỗi lần nóng giận như vậy là mỗi lần tự mình làm một tên nô lệ hèn hạ nhất trong chính cuộc sống của mình. Minh Tri nói đúng. Mình cũng thấy đúng. Bất cứ ai cũng thấy điều đó là đúng. Chỉ có một điều khác có sử dụng được điều “đúng” đó là đúng mức hay không. Thật đơn giản trong ý nghĩ, nhưng vô cùng phức tạp trong khi hành động. Một quốc gia tự doquốc gia ấy tự trị. Một con người được gọi là “tự do” là con người ấy tự chủ. Mình vẫn chưa tự chủ được Minh Tri nợ. Mới chỉ có cái nóng giận không thôi mà còn không tự chủ được, huống nữa là nó còn đến hai người bạn chí thân: tham lam và ngu dốt.

Bữa nào chao hơi mặn, ăn cơm không được, mình phải vắt thêm vào tí chanh; đấy cũng là một hình thức tham lam của khẩu vị. Hôm nào trời lạnh, mặc dù đồng hồ đã reo, nhưng vẫn không muốn dậy để tĩnh tâm trước khi bắt đầu một ngày mới; đây là gì, nếu không phải là một hình thức tham lam của thân xác? Đó mới chỉ là một vài hình thức vụn vặt mà còn bị chi phối như vậy, trong khi đó còn hàng trăm thứ lớn hơn và tác dụng mãnh liệt hơn, liệu mình có làm chủ được không? Đây là lý do mình bảo thật sự chưa có “tự do” chút nào cả. Còn vấn đề ngu dốt nữa. Một lời nói, một câu kinh lắm khi phải đọc đến cả chục lần vẫn chưa hiểu. Đến khi mon men tạm gọi là hiểu, thì cũng chỉ hiểu suông mà thôi. Mình vẫn lúng túng không biết phải áp dụng nó như thế nào trong cuộc sống của mình cho thích hợp. Lúng túng đến cái độ chỉ còn biết tôn thờ nó như tôn thờ một thần linh để cầu khẩn. Mình nghĩ, có vẻ hơi hỗn một chút, nếu có ai ngu dốt cũng chỉ ngu dốt đến cỡ đó là cùng. Đó là vấn đề “tự do.” Còn vấn đề “tư sản”? Thử kiểm điểm lại xem mình có những cái gì gọi là tư hữu? Nhà cửa, xe cộ, quần áo… ư? Có thể đúng, nếu chỉ nghĩ đến đó thôi. Theo mình nghĩ, những cái được gọi là “tư hữu” là những cái phải liên đới chặt chẽ và tồn tại mãi mãi với mình cả cuộc sống hiện tại lẫn cuộc sống tương lai. Nhưng nhà cửa thì lớn quá, chết đâu có mang theo được góc nào. Xe cộ cũng kềnh càng, đâu có liệm theo được. Quần áo trên đất Mỹ này cũng chỉ mặc theo có một bộ thôi. Mình có quen với mấy cụ đang lo cho một cái chết thật chu đáo. Lãnh tiền trợ cấp xã hội, trích một phần gởi quà về cho bà con ở quê mình, còn một phần lo “thủ” cho sự chết. Các cụ đóng tiền mua đất, mua hòm, mướn xe chở đến huyệt… nhưng không biết có được chôn ở chỗ đất mình chọn không. Có nhiều cụ kể lại hồi ở quê mình cũng đã làm như vậy rồi, bây giờ chạy qua đây sẽ không được chôn nơi đó. Thấy thương mấy cụ chi lạ! Vậy thì, cũng đâu có trọn ý nghĩa “tư sản,” phải không Minh Tri? Hồi gần Thầy, chúng mình hay đua đòi, Thầy bảo: “Các chú có bon chen cho lắm, ngày tàn cũng chỉ mang theo được một trong hai thứ thôi: Thứ nghiệp thiện hoặc thứ nghiệp ác.” Hồi đó mình cũng đâu phải còn nhỏ, thế mà mình đâu có để ý nhiều đến những lời tâm sự ấy. Bây giờ xa Thầy, Thầy tịch rồi mình mới thấy thấm thía vô cùng.

Minh Tri còn nhớ, hồi Thầy sắp tịch, chúng mình quỳ bên chiếc giường tre của Thầy khóc lóc, Thầy rầy: “Cha mẹ chết, con cháu khóc là con cháu bất hiếu. Thầy chết mà học trò khóc, đệ tử khóc là học trò, đệ tử bất trung…” Chúng mình vừa thương Thầy, vừa sợ nên nín thin thít, Thầy ôn tồn dồn mớ hơi thở cuối cùng dạy: “Thầy ‘nghèo’ quá, không có gì để lại cho các con trước khi nhắm mắt. Chỉ có mớ kinh nghiệm sống Thầy đã trao trọn cho các con, không biết các con có nhận được hết không. Với các con, Thầy luôn là bàn tay mở. Những lời Thầy nói không phải là những lời của một người cha dạy bắt buộc các con phải tuân theo, mà chỉ là những lời tâm sự kinh nghiệm những gì Thầy đã sống và thấy có kết quả lợi ích thiết thực trong cuộc sống của Thầy. Thầy tâm sự như tâm sự với những người bạn thân đồng hành. Các con là những người bạn thân đồng hành mà Thầy đã gần gũi.”

Thay vì chúng mình bảo là được gần gũi với Thầy, thì Thầy lại bảo được gần gũi chúng mình. Điều đó đến bây giờ mình mới thấy là Thầy đã diễn đạt lại lời Đức Phật bằng ngôn ngữ sống của Thầy dưới một hình thức khác. “Phật thì luôn luôn thương xót và gần gũi chúng sanh, chỉ vì chúng sanh nghiệp chướng sâu dầy nên tự bỏ xa đức Phật.” Cũng giống như vậy, cha mẹ bao giờ cũng thương yêu các con, chỉ có các con tự theo sở kiến của mình, theo sự thấy biết hẹp hòi của mình, cho mình là đúng rồi tự bỏ xa cha mẹ. Ý này đã được ví dụ qua hình ảnh người cùng tử trong kinh Pháp Hoa.

Trở lại với Minh Tri, người đang sống dưới chế độ cộng sản. Mình nghĩ rằng, người cộng sản họ có mưu mô xảo quyệt đến đâu, cũng chỉ cộng được những tài sản hữu hình của Minh Tri thôi. Họ làm sao cộng được những tài sản vô hình nhưng vô cùng quý giá của Minh Tri. Vậy thì Minh Tri đã tạo được một cái “tư sản” trong thế giới cộng sản.

Lâu quá không thư thăm Minh Tri, hôm nay có dịp viết tâm sự cho thỏa lòng mong nhớ. Minh Tri à, sống ở thế giới tư sản về vật chất này, nếu không khéo mình tự đánh mất những tư sản tinh thần vô giá của mình. Minh Tri còn nhớ hồi Thầy dạy chúng mình, Thầy có nói: “Các con làm Phật sự với tâm tham dụccầu danh thì Phật sự trở thành ma sự.” Câu nói kinh nghiệm bao giờ cũng có giá trị vượt thời gian. Lắm khi mình làm một điều gì mà được người ta khen thì cảm thấy hớn hở sung sướng nhiều khi gặp người ta chê hay phê bình thì trong lòng bất mãn khó chịu, đây là làm việc với tâm tham dục. Tham dục sanh ra lo, tham dục sanh ra sợ, không tham dục thì không còn lo, không còn sợ, kinh Pháp Cú dạy như vậy.

Tâm tham dục biến thái dưới nhiều hình thức đáng sợ. Để chế ngự nó, và cũng để kết thúc trang thư này về với Minh Tri, mình nhớ lại lời Thầy dạy, hãy làm việc với tâm:

Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô lưu tích chi ý

Ảnh vô lưu thủy chi tâm

Tạm dịch:

Nhạn bay trời không

Bóng in trên nước

Nhạn không chấp trước

Nước không quan tâm.

Nguyện cầu Minh Tri “Tâm bình thường là đạo” và mong ngày đoàn tụ trên “QUÊ HƯƠNG THANH BÌNH.”

Hương Đạo 17, 01/1982

BỒ ĐỀ

Thần Tú ví thân: Cây Bồ Đề

Lại ví tâm như đài Gương Sáng

Lục tổ Huệ Năng liền phản bác:

Vạn vật dù to như núi Thái,

Hay là nhỏ nhiệm tợ vi trần,

Vẫn không cách biệt tợ hào phân.

Làm chi có chuyện Thân, Tâm, Vật

Ba thứ khác nhau bàn viễn vông!

TRI HÀNH HỢP NHỨT

Nhân cách của đức Phật trở nên vĩ đại, không phải vì Ngài xuất thân từ một giai cấp quý tộc cao sang, mà chính vì Ngài đã chọn một cuộc sống bình dị. Bình dị đến đỗi chỉ có ba bộ đồ thay đổi và một bình bát để xin ăn hàng ngày. Những lời dạy của Ngài trở nên cao siêu diệu vợi, vượt cả không gian lẫn thời gian, không phải vì Ngài nói những chuyện quá cao siêu, mà chính vì Ngài nói những chuyện rất “bình thường.” Bình thường đến cái độ mà chúng ta không để ý, không thấy được. Nói một cách khác, là Ngài nói những vấn đề hiện thực chung quanh chúng ta và ngay trong chúng ta. Chẳng hạn như việc sanh, già, bệnh, chết là việc rất bình thường của mọi sinh vật từ ngàn xưa đến ngày nay; Ngài đã khai triển vấn đề bình thường ấy trở thành giáo lý nồng cốt cho việc tu tập của các môn đệ Ngài. Hàng đệ tử của Ngài cả xuất gia lẫn tại gia được xem là hàng xuất trần thượng sĩ không phải vì sự lập đi lập lại những lời dạy của Ngài một cách khuôn mẫu, lại càng không phải diễn giảng lời dạy của Ngài một cách thật hay, mà chính vì sự áp dụng những lời dạy ấy trong cuộc sống hàng ngày của mình để phát triển những năng lực tinh thần. Hình ảnh của một cư sĩ Duy Ma Cật thời Đức Phật còn tại thế đã nói lên trọn tinh thần xuất trần thượng sĩ đó. Hình ảh của viên võ tướng thời nhà Trần, Tuệ Trung Thượng sĩ, cũng đã diễn đạt được hiện thực của tinh thần đó. Hình ảnh của tổ sư Vạn Hạnh, Khuông Việt v.v… lại càng nổi bật hơn nữa. Trong thế kỷ chúng ta, Hòa thượng Hư Vân, Hòa thượng Thanh Nghiêm, Hòa thượng Thái Hư (người Trung Hoa) cũng là những long tượng đáng kể. Vậy thì, bất cứ ai, ở bất cứ giai tầng nào, nếu đạt được chân tinh thần của Phật giáo và khéo léo áp dụng chân tinh thần đó đều được lợi ích không những cho chính bản thân mình mà cho cả những người chung quanh; đồng thời nói lên được cái sống động của chân tinh thần ấy.

Nếu quan niệm giáo lý của Đức Phật như một triết lý, thì nó là một triết lý hành động, một triết lý sống, triết lý từ bi nhập thế tích cực, chứ không phải bi quan yếm thế như một số người đã lầm tưởng. Hành động, bởi vì không phải chỉ tin suông, mà trước khi tin điều đó, chúng ta phải hiểu điều đó; nghĩa là niềm tin phải được kiểm chứng rõ ràng. Tin và hiểu đầy đủ, nhưng chưa đủ, chúng ta phải triệt để phát huy niềm tin và sự hiểu biết đó qua cuộc sống phức tạp hằng ngày của chúng ta. Đức Phật đã bảo, giáo pháp của Ngài đến để thấy, chứ không phải đến để tin. Có lắm người quan niệm, áp dụng giáo lý đức Phật trong cuộc sống tự thân như để cầu một kiếp sống thoải mái hơn cho chính bản thân mình chứ không liên quan gì đến những gì chung quanh, hay xa hơn nữa là cầu một kiếp sống an lànhmột thế giới khác sau khi bỏ xác thân hiện hữu này. Chính vì quan niệm sai lầm như thế, nên cho Phật giáobi quan yếm thế. Giáo lý tương quan tương duyên “Cái này có, cái kia có; Cái này không, cái kia không” đã được đề cập trong kinh A Hàm, và giáo lý trùng trùng duyên khởi trong kinh Hoa Nghiêm đã phá vỡ tận gốc rễ những thành kiến đó. “Một giọt rượu nho có thể thấm đỏ cả đại dương.” Vậy thì dầu cho có người chỉ áp dụng giáo lý của đức Phật như để sống cho chính họ, chúng ta cũng không thể vội vàng kết luận đó là ích kỷ hay bi quan; bởi vì trên thế gian này không có một pháp nào có thể tự tồn một cách biệt lập. Ngay cả lửa và nước là hai pháp mà chúng ta xem như hoàn toàn đối lập, lửa cháy dùng nước để dập tắt, nhưng ngay trong nước chúng ta vẫn tìm thấy hơi ấm. Hơi ấm ấy chính là sự thể hiện của lửa dưới một hình thức khác vi tế hơn.

Với giáo lý tương quan tương duyên như vậy, chúng ta thử đọc lại câu kinh sau đây và làm một cuộc phân tích xem giữa chúng ta và các hiện tượng; giữa các hiện tượngvấn đề nghiệp quả tương quan như thế nào.

“TRONG CÁC PHÁP, TÂM DẪN ĐẦU, TÂM LÀM CHỦ, TÂM TẠO TÁC TẤT CẢ, NẾU ĐEM TÂM Ô NHIỄM TẠO NGHIỆP NÓI NĂNG HOẶC HÀNH ĐỘNG, THÌ SỰ KHỔ SẼ THEO NGHIỆP KÉO ĐẾN NHƯ BÁNH XE LĂN THEO CHÂN CON VẬT KÉO XE.”

ít nhất là ba vấn đề được đề cập đến trong câu kinh trên: Tâm, Pháp và Nghiệp.

*TÂM

Trong kinh Lăng Nghiêm có một ví dụ rất lý thú, “Ví như một ông vua cất quân đi tiêu diệt địch, mà không biết địch ở phương nào thì không sao tiêu diệt được.” Cũng vậy, nói đến tâm mà chúng ta không hiểu tâm là gì thì khó mà điều khiển được nó. Trong khi đó, vấn đề điều khiển tâm là một vấn đề then chốt và được đặt lên hàng đầu trong giáo lý của đức Phật. Các bộ kinh nói đến tâm, chỉ rõ tâm và chỉ rõ cả những phương pháp điều khiển tâm như: Kinh Bát Nhã, Kim Cang, Lăng Nghiêm, Viên Giác v.v…

Tâm chỉ có một chứ không có hai. Nhưng trên lộ trình tu tập để đạt được cái “MỘT” đó, đức Phật nói có vọng tâmchân tâm. Vọng tâm chính là điều quan trọng trong câu kinh chép lại ở trên gọi là “tâm ô nhiễm.” Duy thức thì phân ra có đến những tám cái tâm chúa tể (bát thức tâm vương). Tám cái thức tâm vương ấy là: Nhãn thức tâm vương, Nhĩ thức tâm vương, Tỷ thức tâm vương, Thiệt thức tâm vương, Thân thức tâm vương, Ý thức tâm vương, Mạt na thức tâm vương, và A lại da thức tâm vương. Nói một cách nôm na và dễ hiểu tám cái hiểu biết của tám cơ quan từ thô đến tế trong thân chúng ta. Sự hiểu biết của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, thân, ý, mạt na, A lại da. Khi nghiên cứu về Duy thức học chúng ta sẽ bàn sâu về vấn đề này, bây giờ chúng ta nói tổng quát về tâm và cái gì được gọi là tâm theo tinh thần câu kinh trên.

Tâm, một danh từ gần như trừu tượng, bởi vì chúng ta chỉ có thể hiểu và nhận biết nó qua kinh nghiệm bản thân chứ không qua những hình thức cụ thể. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là mơ hồ. Không ai có thể nhận thấy hình dáng, màu sắc của điện ra sao cả, ngay cả người phát minh ra nó. Nhưng, hiển nhiên chúng ta không thể kết luận là không có điện, vì khi cho vào quạt thì quạt xoay, cho vào bàn ủi thì bàn ủi nóng v.v… Tương tợ như vậy để chúng ta hiểu và nhận ra tâm. Cái hiểu biết qua mắt, tai, mũi, lưỡi… là cái tâm biết chứ tự thân của những cơ quan đó không biết được. Một người chết, các cơ quan trên vẫn còn nguyên vẹn, nhưng vì sự vắng mặt của tâm nên mọi sự hiểu biết cũng không còn. Khi tâm tác dụng vào tai có cái hiểu biết khác với khi tâm tác dụng vào mũi… nhưng có một cái rất giống nhau là sự muốn loại bỏ những gì không ưa, không thích. Mắt chỉ thích ngắm cái đẹp, tai chỉ thích nghe những âm thanh êm dịu, thân chỉ thích chạm xúc với những vật mềm mại, trơn láng… Tất cả những cái thích ấy, đức Phật gọi chung là tham dục hay dục vọng. Mà dục vọng thường đưa đến ô nhiễm, nhất là những dục vọng vị kỷ. Tất cả những trạng thái ham thích, phân biệt, suy tư, tính toán cũng được gọi là tâm, dĩ nhiênvọng tâm. Thường xuyên kiểm soát những trạng thái đó gọi là kiểm soát tâm. Khi sử dụng tay chân để làm một việc gì, chúng ta thấy rõ được nguyên nhân và kết quả cụ thể của việc làm đó, tức là chúng ta đang kiểm soát tâm tác dụng nơi thân (thân nghiệp). Khi chúng ta nói một điều gì, biết được tác dụng của lời nói, hậu quả của nó ra sao, là chúng ta đang kiểm soát tâm tác dụng nơi miệng (khẩu nghiệp). Khi chúng ta nghĩ một điều gì, biết được hậu quả của nó, tức là chúng ta đang kiểm soát tâm tác dụng nơi ý nghĩ (ý nghiệp). Tóm lại, trên bất cứ phương diện nào, trong bất cứ thời gian nào mà chúng ta theo dõikiểm soát những hành vi từ ý nghĩ đến việc làm của chúng ta, nhắm đến một lợi ích chung cho hiện tại và tương lai là chúng ta đang kiểm soát tâm. Vậy tâm ô nhiễm khi nào tác dụng đó đưa đến khổ đau, sợ hãi và làm nhàm chán việc thiện của người khác.

Thật khó mà quên được sự xúc động mạnh của một em bé khi thấy cảnh đói khát, tật nguyền của những bé khác trên vùng đất Phi châu qua màn ảnh truyền hình. Tâm em đó, ít nhất là trong thời gian đó, được xem là tâm thánh thiện, tâm không ô nhiễm, không dục vọng và cần được nuôi dưỡng như nuôi dưỡng một chất liệu giải thoát khổ đau thực tếcần thiết trên thế gian này. Và, vô hình chung, giáo lý sống động của Phật giáo đang luân lưu trong huyết quản của em. Vậy thì, bất cứ một trạng thái tâm lý nào tác dụng lên hành động hàng ngày của chúng ta, trạng thái đó được gọi là tâm. Chúng ta chỉ cần xem xét nó là tâm thiện hay tâm ác mà thôi. Làm thế nào để biết đó là tâm thiện? Thật đơn giản: Ý nghĩ và hành động sẽ đưa đến việc lợi mình và lợi người, ngay hiện tại và tương lai.

Tâm ô nhiễm là những thứ tâm hướng đến những dục vọng vị kỷ nhứt thời và gây ra những lười biếng, sợ hãi cho chính mình và kẻ khác ở hiện tại và tương lai. Hiểu như vậy để sống đúng theo chân tinh thần giáo lý của đức Phật trong mọi sinh hoạt thường nhật của chúng ta thì gọi là TRI HÀNH HỢP NHỨT.

Tri hành hợp nhứt, là hiểu đúng và sống đúng theo tinh thần giáo lý trong từng hoàn cảnh, dưới từng trường hợp và ở từng địa phương. Giáo lý của đạo Phật không phải cứng nhắc mà là rất uyển chuyển; không phải nằm ở thể đặc mà là thể lỏng. Tuy không phải là thể cứng, nhưng cứng hơn bất cứ một thứ cứng nào. Dù ở thể lỏng, nhưng không phải giống như cái lỏng của nước và dầu đã không thể hòa hài vào nhau được. Nó có thể tiềm ẩn trong bất cứ một thể lỏng nào và nó cũng có thể ngấm qua bất cứ một thể đặc nào. Tinh thần giáo lý của Phật giáotinh thần viên dung; do đó, chúng ta không thể đặt nó dưới một mô thức phiến diện nào. Sự nhận thức phiến diện của chúng ta không những sẽ bóp méo mà còn trở thành nguyên động lực đẩy chúng ta ra khỏi chân tinh thần đó. Do vậy, hiểu biết thấu đáo, phân định chín chắnthực hành cẩn thận từng bước một là điều vô cùng quan yếu trong Phật giáo. Muốn được như vậy, chúng ta phải thường trực kiểm lại học phong, hạnh phong và đạo phong của chúng ta trong từng giây phút một. Kiểm điểm như vậy tức là theo dõi những biến chuyển của nội tâm và cũng chính là kiểm chứng lại những hành trang mà chúng ta đã, đang và sẽ mang ra sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Kiểm soát hành vi tư tưởng chính là kiểm soát tâm ta vậy.

PHÁP,

Vấn đề thứ hai, trong câu kinh đề cập đến là Pháp. Pháp là thế giới hiện tượng và cũng chính là đối tượng sinh hoạt của tâm thức. Pháp hay còn gọi là sắc pháp, gồm có mười một thứ khác nhau và chia làm hai loại. Một loại có hình tướng như dài, ngắn, vuông, tròn…; một loại thuộc màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng… Âm thanh không thuộc trong hai loại vừa kể, nhưng cũng được liệt kê vào sắc pháp vì hầu hết các âm thanh đều do sự chuyển động của sắc pháp phát ra. Trong mười một thứ sắc pháp, có năm thứ nằm trong thân của chúng ta như mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Năm thứ khác nằm ngoài thân của chúng ta như hình sắc, âm thanh, các mùi, các vị, và sự cảm xúc trơn, láng, mịn màng của thân. Món thứ mười một là pháp trần; nghĩa là hình bóng của năm thứ ngoại trần sau khi tiếp xúc với năm giác quan còn lưu lại trong thức khi chúng đã thực sự khuất dạng. Duy thức học gọi là “Tiền trần lạc tà ảnh tử.” Hai phần sắc pháp trên sinh hoạt với nhau sẽ sinh ra những biến trạng khác. Chẳng hạn như mắt thấy hình sắc phát sinh ra sự hiểu biết phân biệt có cả yêu và ghét thuộc về nhãn thức. Tai, mũi, lưỡi và thân cũng sinh hoạt tương tợ như vậy. Như trong đoạn trước có đề cập, mọi cơ quan như vậy sinh hoạt độc lập, nhưng có một điều hoàn toàn giống nhau đó là loại bỏ những điều không ưa thích và thâu nạp vào những gì trìu mến để rồi gây ra một trạng thái mới khác nữa gọi là nghiệp.

NGHIỆP

Nghiệp là những phản ứng hoặc xấu hoặc tốt phát ra từ ba nơi chính, đó là thân xác, miệng lưỡi và ý nghĩ. Chữ nghiệp không dùng để chỉ riêng cho những điều xấu ác mà chỉ chung cho những điều tốt, điều thiện nữa. Về ác nghiệp, thân chúng ta hay làm ba điều. Thứ nhất là đánh đập, chém giết lẫn nhau không chút thương tâm. Thứ hai là trộm cắp, cướp giựt của người khác một cách bất lương. Thứ ba là lắm khi vì nhục dục của thể xác mà làm những điều gây tan vỡ hạnh phúc của gia đình mình lẫn gia đình người. Miệng lưỡi chúng ta thường làm bốn điều. Một là nói lời không chân thật: chuyện không nói thành có và ngược lại. Chuyện nhỏ nói thành lớn và hay tọc mạch chuyện của người khác mà chưa bao giờ để một chút thời giờ kiểm điểm hoặc nhìn lại những hành vi của chính mình. Hai là nói những lời “đâm bị thóc thọc bị gạo”: nghĩa là trước mặt thì hết lời tán tụng, khen ngợi mà sau lưng thì hủy báng chê bai. Hoặc giả đến người này thì nói chuyện của người kia đến người kia thì nói chuyện của người nọ làm cho hai bên sanh lòng nghi kỵ hay thù oán lẫn nhau. Ba là hay nói những lời giận dữ độc ác như nhục mạ, mắng nhiếc, chửi rủa trù ếm người khác. Bốn là nói những lời hoa mỹ dịu ngọt với chủ tâm làm cho người nghe tin theo những lời bất chánh của mình. Về ý nghĩ thì hay khởi lên tâm niệm tham lam, giận tức và si mê. Tham có nhiều thứ. Có người chỉ mong cầu cho có thật nhiều tiền bạc để có một cuộc sống dư dả về vật chất. Có người chỉ ưa thích được nghe những âm thanh hay hoặc ngắm những hình sắc đẹp. Có người thì thích tên tuổi mình luôn được nhắc đi nhắc lại để được nhiều người biết đến và lấy làm hãnh diện mỗi khi nghe ai nhắc đến tên mình. Có người chỉ thích được ăn ngon, mặc đẹp là lấy làm thỏa mãn. Có lắm người chỉ thích được ngủ nghỉ liên miên v.v…

Tóm lại, tất cả những nhục dục thuộc về thể xác như vừa kể đều phát xuất từ lòng tham muốn của con người. Lòng tham muốn này không có biên giới. Khi chưa được thì nó ham muốn dưới hình thức khác, đến khi được rồi thì nó lại thấy chưa đủ và vẫn tiếp tục ham muốn dưới một hình thức khác nữa. Người ta gọi là túi tham không đáy là như vậy. Không phải chỉ đối với những người không có đạo, không hiểu đạo mà cả đến những người có đạo và hiểu đạo, lòng tham cũng phát triển như lửa cháy bùng. Người Phật tử hiểu đạo nhưng không tập sống theo tinh thần đạo, nghĩa là tri hành bất nhứt, thì lòng tham lại càng dễ sanh khởi hơn hết, lý do là bị mê hoặc bởi việc mình làm, tưởng rằng điều mình làm như vậy là hợp với lẽ đạo, là đúng chánh pháp. Lấy một ví dụ, vấn đề cúng dường là một trong những công hạnhđức Phật hằng tuyên dương. Nhưng nếu Phật tử không thấu đáo việc cúng dường sẽ bị lòng tham dục sai sử và sẽ đưa đến việc “cúng dường cầu danh,” thì không những không có phước báo mà còn gây nên ác nghiệp nữa là khác. Vì rằng khi cầu danh không trọn thì sân tâm nổi lên.. Sân tâm nổi lên thì hàng trăm cửa nghiệp chướng đều mở rộng để chào đón ta. Kinh gọi là “nhứt niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai” là như vậy. Cứ như vậy chúng ta tư duy về những vấn đề liên hệ khác. Do đó, hiểu giáo lý là một chuyện mà thực hành giáo lý là một chuyện khác. Từ tham lam giậc tức dẫn đến si mê trong tích tắc, nếu không muốn nói là cùng lúc. Câu tục ngữ mà người bình dân Việt nam hay nói thật vô cùng chí lý, nếu chúng ta biết áp dụng nó vào trong việc tu thân xử thế hằng ngày của chúng ta; “No mất ngon, giận mất khôn.”

Tóm lại, Tâm, Pháp, Nghiệp sanh khởi một cách liên quan mật thiết với nhau. Tâm xấu khởi thì ác pháp hiện và nghiệp ác kéo theo. Tất cả đều phát xuất từ nội tâm của chúng ta; do đó, nếu chúng ta điều khiển đúng và kiểm soát chặt chẽ được động cơ phát xuất, thì mọi việc trở nên tốt đẹp. Muốn điều khiển đúng và kiểm soát chặt, chúng ta không thể không sử dụng đến bàn cân chánh pháp. Là Phật tử, hơn ai hết, chúng ta phải ý thức rõ ràng việc làm của chúng ta và thấy rõ kết quả của việc làm sẽ đến. Xin chép lại đây câu trong tập Bài Học Ngàn Vàng để làm kết luận cho bài này: “Trước khi làm việc gì, phải nghĩ ngay đến hậu quả của nó.”

Hương Đạo 18, 08/1992

QUÀ XUÂN DÂNG MẸ

Thưa mẹ,

Con biết bây giờ Mẹ của con đang làm gì nè. Đang trẩy lá mai để nở bông cho kịp tết, phải hôn? Hôm tháng Mười, Mẹ viết thư cho con có bảo là gốc mai già cạnh gốc đào gần sàng nước sau nhà bị ngập lụt và bị bão trốc gốc chết rồi, chỉ còn hai gốc nhỏ trước sân thôi.

Con yêu gốc mai già phía sau nhà mình nhất Mẹ ạ. Con còn nhớ rõ hình thù của nó nữa. Năm 12 tuổi con bị Mẹ cột vào gốc mai ấy khoảng 15 phút và bị đánh hai roi. Hồi ấy Mẹ đánh thật mạnh nhưng con vẫn không thấy đau nhiều. Giá như bây giờ Mẹ đánh chắc là con đau lắm. Lúc lấy cái dây chuối cột hai tay con vào gốc mai, Mẹ vừa cột vừa nói: “Con muốn ở ngoài bụi Mẹ cho con ở ngoài bụi luôn.” Xong xuôi mẹ đi bẻ một cành keo to chừng bằng ngón tay út của Mẹ, trảy lá sạch sẽ, nhịp nhịp mấy cái và trước khi đánh Mẹ nói: “Mẹ đánh con roi thứ nhất ni là để trị cái tội cãi lời Mẹ không chịu ngủ trưa mà ra vườn phơi nắng, chui vô bụi vô lùm; quần áo rách không nói chi, lỡ rắn rít cắn làm răng…” Tiếng “răng” cuối cùng nối liền với tiếng “đét” của con roi vào đít con. Con chỉ kịp nảy mình sát vào gốc mai thêm một tí nữa. “Mẹ đánh con một roi nữa là để trị cái tội vô Phật Tử mà còn đi bắn chim, sát sanh; đi chùa mỗi Chủ Nhật, ăn chay mỗi ngày rằm mùng một để làm chi? Chừa nghe con?” Tiếng “dạ” của con vẫn đi chậm hơn tiếng roi của Mẹ vào mông con lần thứ hai. Con khóc khe khẽ!

Mẹ lấy cái ná của con. Thò tay vô túi quần sọt của con móc mấy viên sỏi ra bỏ dưới gốc mai già. Vừa móc Mẹ vừa nói: “Đựng ba cái gạch cái sỏi ri mà quần áo mô còn.” Mở tay con ra, mẹ bảo rửa mặt rồi dắt vô nhà bắt con đốt nhang lạy đức Quan Âm sám hốixin lỗi Mẹ. Hồi đó con đâu có biết sám hối là gì mà Mẹ cũng bắt con làm, kỳ ghê!

Hơn 20 năm qua. Gốc mai già bây giờ không còn nữa. Đã chết trong cơn bão lục của tháng 10 vừa qua, nhưng hình ảnh xưa vẫn còn nguyên vẹn trong con như mới ngày hôm nào. Hình ảnh gốc mai; hình ảnh chiếc bàn thờ với tượng đức Quan Âm bằng thạch cao nhỏ xíu mà con đã “phải” lạy hằng đêm vẫn còn rất rõ ràng. Phẩm Phổ Môn mà bây giờ con đã thuộc lòng nhờ lắng nghe mẹ tụng ngày xưa con vẫn thường trì tụng. Nhiều khi con không có tụng trịnh trọng như Mẹ ngày xưa đâu. Hén, lúc lái xe, thay vì hát nhảm nhí thì con ngâm nga mấy câu kệ:

“… Giả sử hung hại ý

Thôi lạc đại hỏa khanh

Niệm bỉ Quan Âm lực

Hỏa khanh hiến thành trì.

Hoặc phiêu lưu cự hải

Long ngư chư quỷ nạn

Niệm bỉ Quan Âm lực

Ba lãng bất năng một…”

Lúc đi chơi trong rừng con cũng đọc mấy câu kệ ấy như những công án thiền. Con thích nhất là đoạn nói về 32 hóa thân để tùy loại độ sanh của đức Quan Âm.

“…Ai đáng dùng thân các thầy tỳ kheo, hoặc tỳ kheo ni, thân ưu bà tắc, ưu bà di để độ thoát khổ nạn thì Ngài liền hiện thân tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưư bà di để vì họ thuyết pháp. Ai đáng dùng thân phụ nữ của trưởng giả, cư sĩ, tễ quan, bà la môn để độ thoát khổ nạn, thì Ngài liền hiện thân phụ nữ để thuyết pháp cho họ…”

một lần con ngồi chơi mát dưới một gốc cây trong một cụm rừng nhỏ nọ, con nhớ nguyên lại đoàn kinh ấy và thầm nguyện “Ước gì đức Quán Âm hiện thân giống như Mẹ mình rồi có những cử chỉ, những lời nói yêu thương như ngày xưa…” Con thèm nếm lại những giây phút ấy chi lạ Mẹ ơi!

Không ngờ, đức Quan Âm hiện thiệt Mẹ ạ!

Một lát sau con đi đến một gốc thông bên cạnh, gặp một cụ già đang lom khom lượm trái thông rừng.

-Thưa cụ, lượm trái thông rừng làm gì ạ?

-Sao cậu biết tôi là người Việt mà hỏi bằng tiếng Việt?

-Thưa cụ, tự dưng cháu có cảm giác như đây là Đà Lạt ở quê mình vậy.

-Cậu ở Việt Nam ở đâu?

-Thưa, cháu sinh ở miền Trung, nhưng sống trong Sài Gòn từ nhỏ.

Từ nãy đến giờ cụ mới dừng tay và nhìn rõ mặt con, và cũng cho đến giờ đây con mới được thấy rõ mặt cụ. Không giống mặt Mẹ chút nào hết. Song những cử chỉ, những lời nói, những cái nhìn giống Mẹ chi lạ Mẹ ơi. Con đang theo đuổi miên man một dòng tư tưởng nào đó, thì cụ nói tiếp: “Hồi xưa tôi ở Đà Lạt hay đi lượm trái thông về nhóm lửa. Bây giờ lượm về không phải để nhóm lửa mà để làm cây “nô-en” cho cháu đi bán kiếm tiền.”

-Thưa cụ, cháu tưởng cụ đã lãnh được tiền già rồi chứ?

-Ừ, thì tôi đã lãnh được tiền già, nhưng tôi muốn kiếm thêm chút đỉnh để lo cho người thân còn ở lại quê nhà.

-Thưa cụ, vậy cụ còn kẹt lại mấy anh chị ở bên nhà?

- Con cái tôi thì đã qua được hết với tôi từ năm 75. Tôi chỉ còn một mẹ già và một em trai.

-Cụ còn cụ bà?

Con hỏi to, nhưng cụ không trả lời. Con nhìn chăm chăm vào mắt cụ, bỗng dưng cụ xích lại gần con, và như có một dòng điện nào đó, con nắm lấy tay cụ, nắm thật lâu. Bàn tay cụ gân gút giống bàn tay Mẹ nắm tay con dặn dò hôm từ giã mẹ ra đi. Con có cảm giác như cụ đang ở trong lòng con, đang hiểu tất cả những ý nghĩ của con. Nước mắt con đã chảy từ lúc nào không biết. Con ngước lên, cụ hỏi:

-Bên này mùa đông lạnh làm sao cậu lại cạo đầu?

-Thưa cụ, cháu tu.

-Nói vậy đây là thầy?

-Dạ vâng.

-Thôi đừng có xưng cháu với tôi nữa, tội chết. Thầy ở chùa nào?

-Thưa cụ (chiều lòng cụ con xưng tôi) ở chùa gần đây. Nếu cụ không bận, cụ bỏ túi trái thông lên xe, tôi chở cụ về chùa lễ Phật.

-Tôi qua đây 8 năm rồi. Hồi trước ở mấy tiểu bang kia lạnh lắm, ít người Việt, không có chùa. Tôi thờ Phật ở nhà, ở trong lòng. Mới dọn về đây mấy tháng nay chưa quen đường, cũng không biết ở đây có chùa.

-Hồi nãy cụ đến đây bằng gì?

-Tôi mướn nhà ở kế bên đây.

-Bây giờ cụ muốn ghé nhà hay đi thẳng về chùa?

-Nhà giờ này chẳng có ai. Mấy đứa cháu nội nó đi học mãi tới 2,3 giờ chiều mới về. Bố mẹ các cháu đi làm tối mới về tới.

Trên đoạn đường chừng 20 phút lái xe, con được biết cụ pháp danhDiệu Âm, 68 tuổi và cụ bà quê ở nhà là 92 tuổi, pháp danh Diệu Quan. Cụ là con gái đầu lòng của cụ bà. Nhà ở gần chùa Linh Phong, Trai Hàm, Đà Lạt và cả gia đình đều là đệ tử của Sư Bà trụ trì chùa ấy. Con cũng kể cho cụ ấy nghe tình cảnh của gia đình mình. Con nói con cũng còn một Mẹ già tuổi 75 và một đứa em trai ngoài 30 còn kẹt lại, đúng hơn là phải ở lại quê nhà. Cụ như hiểu trọn lòng con nên không gợi sau câu chuyện gia đình nữa mà hỏi về sự tu tập.

-Thầy tu theo pháp môn gì?

-Thưa cụ, Thiền Tịnh song tu.

-Lúc nào không thiền thì niệm Phật Di Đà?

-Tôi hay niệm danh hiệu đức Quan Âm hơn.

Về tới chùa, cụ đi vào như đi đến một nơi đã từng quen thuộc. Không cần nhang khói gì cả, cụ đến ngay bàn đức Quan Âm lạy ba lạy. Xoay vô lạy Phật ba lạy. Đảo mắt nhìn chùa một vòng rồi xuống nhà khách uống nước. Câu chuyện ở chùa không “sôi nổi” và “cảm động” như lúc còn ở dưới gốc cây thông Mẹ à. Câu chuyện bây giờ chỉ còn là một câu chuyện xã giao bình thường…

Bà cụ ấy xa cụ bà tám năm. Con xa mẹ, Tết này nữa là bốn Tết. Hai gốc mai trước sân đã bốn lần thay lá hay được Mẹ thay lá cho, và bốn lần trổ hoa để đón giao thừa với mẹ và em. Nơi trời Tây này (không phải cái Tây phương mà mẹ hằng cầu nguyện vãng sanh mỗi đêm mô) không có hoa mai mà chỉ có hoa đào thôi Mẹ à. Hoa đào cũng đẹp, cũng xinh xắn dễ thương, nhưng không hiểu sao con vẫn thích hoa mai nhiều hơn nờ.

Tết nay con sẽ không đi đâu, sẽ kiếm một cành đào nho nhỏ và tưởng tượng đó là cành mai. Cắm trên bàn Đức Quan Âm trong ba ngày Tết, và mời cụ bà Diệu Âm con quen ấy đến cùng tụng phẩm Phổ Môn và niệm danh hiệu đức Quán Âm để làm quà xuân dâng Mẹ.

Con của mẹ,

Hương Đạo 20, 02/1983

MỈM CƯỜI

Nếu mai này tôi chết

Mà chưa kịp mỉm cười

Xin các thầy giúp tôi

Cho nhe răng một tí

Đừng há lớn lạnh môi.

TƯỞNG NIỆM NGÀY THÀNH ĐẠO

“Ta là Phật đã thành

Chúng sanh là Phật sẽ thành.”

-Kinh Niết bàn

Muốn làm Phật phải làm Bồ tát.

Bất cứ một chúng sanh nào muốn làm Phật phải trải qua một thời gian làm Bố Tát. Nói một cách khác là phải có một thời gian tu tập và làm tất cả những công hạnh để tiến đến quả vị Phật. Thời gian này lâu hay mau hoàn toàn tùy thuộc vào mức độ nỗ lựccông phu tu tập của người thực hành. Có ít nhất là ba cách để thành đạt quả vị Phật: Thanh văn, Duyên giácBồ tát.

Thanh văn là những vị sanh ra đời gặp Phật, trực tiếp nghe đức Phật giảng pháp rồi tu tập và trực ngộ chân lý.

Duyên giác là những vị sanh ra đời không gặp Phật, chỉ nghe được giáo pháp của đức Phật qua các vị chân sư rồi tu tập hoặc tự quán sát pháp duyên sanh của các hiện tượng mà tỏ ngộ chân lý.

Hai danh từ trên đây tuy khác, nhưng sự tỏ ngộ chân lý giống nhau và có một mức độ giác ngộ ngang nhau, nên quả vị được gọi chung là A la hán. A la hán là những vị đã dập tắt mọi khát vọng, ngoại trừ một khát vọng là thành tựu tuệ giác tối thượng.

Bồ tát, như đã nói, là một chúng sanh ở trong thời kỳ tích cực trau dồi và phát triển triệt để những công hạnh như bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền địnhtrí tuệ; gọi là thành tựu sáu pháp ba la mật. Thành ngữ ba la mật có nghĩa là một công việc nào đó đã hoàn tất một cách trọn vẹn. Trong ba la mật không có sự ích kỷ, không có sự tà kiến, không có sự ngã mạn. Ba la mật được dẫn dắt bởi trí tuệ và được tài bồi bởi từ bidũng mãnh.

Hành động của một vị Bồ Táttuyệt đối vị tha. Dù trải qua bao nhiêu kiếp sống đi nữa, vị Bồ Tát cũng luôn luôn nỗ lực nâng cao đời sống vật chất và phát triển đời sống tinh thần cho kẻ khác không phân biệt sang hèn, nghèo giàu; bằng mọi cách, vị Bồ tát làm giảm thiểu khổ não cho mọi loài. Và, điều then chốt sau cùng của một vị Bồ tát để bước sang quả vị Phật là phải tận diệt mọi nhiễm ô, chấm dứt mọi tham áichứng ngộ thật tướng của vạn pháp.

Phật là gì?

Phật là một người đã tận diệt mọi nhiễm ô, đã chấm dứt tất cả tham ái và đã thể nhập thực tướng của vạn pháp. Người ấy hoàn toàn tự tại, nghĩa là không bị chi phối bởi mọi pháp. Thuật ngữ Phật giáo gọi là giải thoát. Một người đã giải thoát, tuy còn mang xác thân loài người, nhưng có một cuộc sống nội tâm hoàn toàn khác hẳn với loài người và từ đó hiển lộ những tướng mạo đoan trang dị thường. Đức Phật được mô tả là người có đầy đủ tất cả những tướng mạo đẹp đẽ dị thường ấy. Câu chuyện sau đây trong kinh A hàm để rõ điều đó:

Có một người đạo Bà la môn gặp đức Phật và thấy dấu chân của Ngài có những đặc điểm lạ thường nên hỏi:

-Thưa Ngài, có phải Ngài là một vị trời không?

-Tôi không phải là một vị trời.

-Ngài là một nhạc công cõi trời chăng?

-Tôi cũng không phải là một nhạc công cõi trời.

-Ngài là quỷ Dạ Xoa chăng?

-Tôi cũng không phải là quỷ Dạ Xoa.

-Vậy Ngài là người?

-Thật ra, tôi cũng không hẳn là người. Tôi là người đã tận diệt mọi phiền não, mọi trầm luân và sẽ mãi mãi không bị tái sanh vào cảnh giới trời hay người nữa. Và Ngài nói thêm:

“Ví như hoa sen đẹp,

Không bị dính bùn nhơ,

Giữa đầm bụi trần gian,

Ta không vướng bụi nhơ,

Như vậy ta là Phật.”

Tóm lại, Phật là một vị đã đứng ra ngoài vòng chi phối của phiền nãoluân hồi. Nói khác đi, Phật là người đã tận diệt ba mối nguy hiểm đã có một nền tảng thâm sâu nhất trong con người: tham lam, sân hậnsi mê.

Suốt sáu năm trường liên tục đơn độc chiến đấu, không một sự trợ lực từ bên ngoài, không một sự tiếp sức của bất cứ một đấng siêu nhân nào, đến cuối đêm Mồng Bảy rạng Mồng Tám Tháng Chạp, năm 589 trước Tây lịch, sau trận chiến đấu và chiến thắng sau cùng, Bồ tát Tất Đạt Đa được xưng tán là Phật. Ngài là một trong vô số những vị Phật đã xuất hiện trong quá khứ cũng như sẽ xuất hiện trong tương lai. Điều đáng lưu ý, không phải Ngài là Phật khi mới sinh ra mà Ngài trở thành một vị Phật do sự nỗ lực không ngừng của chính Ngài. Ngài được mô tả là bậc “vô sư tự ngộ”. Không có một vị thầy nào dạy Ngài phương pháp để thành Phật. Hồi còn là Thái tử, Ngài có học với những vị thầy, nhưng chỉ để hiểu biết về thế pháp, còn xuất thế pháp thì không. Lúc xuất gia, Ngài cũng có học đạo với một số các đạo sĩ, nhưng chỉ học được những pháp tu tập để sanh lên các cõi trời. Ngài đã tuyên bố, các cõi trời dù là cõi trời cao nhất, cũng còn nằm trong vòng luân hồi sanh tử. Cuối cùng Ngài đã từ giã các đạo sĩ ra đi để tự tìm một con đường trong chính nội tâm Ngài. Con đường Ngài khám phá chính là đạo quả Phật mà Ngài đã thành tựu.

Phật là người đã thấu triệt tất cả những gì cần thấu triệt. Sự thấu triệt này không kinh qua sách vở, mà trải qua do sự tu luyện, phát triển và thành đạt trí tuệ siêu phàm. Ngài đích thực là bậc toàn giác, đây là kết quả rốt ráo sau chuỗi thời gian dài dày công tu luyện.

Phật hay Phật đà là tiếng được dịch cả âm lẫn nghĩa từ Phạn ngữ Buddha. Danh từ Buddha được thành lập từ Budh, có nghĩa là tự hiểu biết hay tự tỉnh thức. Gọi Ngài là Phật, vì Ngài đã tự tỉnh thức, tự hiểu biếtthể nhập một cách trọn vẹn vào chân tướng của vạn hữu vũ trụ.

Như vừa nói, Ngài không sanh ra trong tư thế của một vị Phật, mà Ngài trở thành Phật sau mọi nỗ lực để tận diệt vô minhphiền não. Ngài tuyên bố, mọi loài đều có khả năng thành Phật. Thay vì tự đặt mình ở một địa vị độc tôn để được sùng kính và bái phục, Ngài lại bảo, ta không phải là một vị thần linh, không ban phúc giáng họa cho ai cả. Ta chỉ là người cầm đuốc soi đường. Soi cả đoạn đường dẫn đến phước báu và rọi lẫn con đường đưa đến hiểm họa. Câu chuyện ghi lại trong A hàm bộ sau đây sẽ soi sáng thêm vấn đề.

Thời đức Phật có một người đàn bà lập gia đình đã lâu mà vẫn chưa có con. Bà đi cầu nguyện thần sông, thần núi, thần cây… Nơi đức Phật thành đạo là một trong những chỗ bà đến cầu nguyện. Sau khi sanh được một mụn con, bà muốn trả lễ những nơi đã cầu nguyện. Sắm sửa lễ vật thật thanh khiếtthượng vị. Đến nơi thấy đức Phật đang ngồi trầm tư với vẻ mặt uy nghiêm rạng rỡ và chứa đầy tình thương bao la. Bà đến quỳ bên cạnh, đặt đứa bé trước mặt, dâng lễ vật lên khấn: “Bạch Ngài, phải chăng Ngài là thần núi, người đã giúp con sanh được mụn con yêu quý này?” Đức Phật bảo: “Ta không phải là thần núi, cũng không nằm trong bất cứ một vị thần nào cả. Trước đây ta cũng chỉ một người như bao nhiêu người khác. Giờ đây ta cũng là người, nhưng người đã giác ngộ. Bằng sự giác ngộthanh tịnh của tâm hồn, ta cầu cho mẹ con ngươi hưởng trọn những phước báo đã gieo.” Đức Phật đặt bàn tay lên đầu đứa bé như để chuyền qua dòng sữa ngọt tình thương lai láng từ tim huyết Ngài. Người đàn bà sung sướng đảnh lễ Ngài và ẵm con ra về.

Sự giản dị, những lời nói khiêm cung và cuộc sống rày đây mai đó với ý hướng gieo rắc tình thương, đem lại lợi lạc cho nhân quần xã hội, cộng với những lời tuyên bốcâu chuyện trên đây, tưởng cũng đã diện đạt được tính cách siêu việt của đức Phật.

Để kết luận, chúng ta đừng bao giờ để đức Phật trong một cái khám, dù là khám vàng nạm ngọc, rồi lễ lạy không thôi, mà nên để đức Phật ngay trên đầu nằm, ngay trong lòng mình. Nói một cách khác, là nên suy tư, nghiền ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời của Ngài rồi tập tành bắt chước.

Hương Đạo 20, 02/1983

TIỄN NI SƯ TRÍ HẢI

Dòng sông câu chuyện còn đây

Con thuyền đầy ắp trăng mây tuyệt vời

Thuyền còn đó, Người đâu rồi?

Ồ ra! thì đã lên ngôi Niết bàn.

08/12/03

CÂY TÙNG TRƯỚC SÂN

Không biết có phải là một thói quen hay là một thú vui hay không mà ngày nào không tưới cây tôi cảm thấy như thiếu thiếu một cái gì. Không biết mùa đông rồi sao đây nữa.!

Tôi thường tưới sau giờ công phu sáng và trước giờ điểm tâm. Đó là lần tưới thứ nhất trong ngày. Lần thứ hai là sau giờ công phu chiều và trước giờ tiểu thực. Tôi chọn hai giờ đó là vì ba lý do sau đây:

Thiên thời: Về buổi sáng, dĩ nhiên khí trời không nóng bức; buổi chiều tối khí trời đã êm dịu chứ không còn oi bức như ban trưa. Chắc chắn vào những giờ ấy, các cây không còn phải gồng mình để chịu đựng những cơn nóng như thiêu do mặt trời bủa xuống, nhất là trong mùa hè. Và như vậy cây sẽ dễ hấp thụ chất ngọt của nước để chịu đựng suốt ngày hay để trưởng thành vươn lên trong đêm dài tịch mịch.

Địa lợi: Vào những giờ đó, dưới đất không còn tích trữ những hơi nóng dư thừa (vì đã được hòa giải bởi thời gian) để phải đột ngột bốc lên khi gặp phải chất ướt ngấm xuống, và như vậy sẽ không gây ảnh hưởng “xấu” cho người tưới lẫn người đứng ngắm chung quanh. Và, rất có thể, sẽ giúp cho những người đứng ngắm chứng nghiệm được sự phát triển của loài vô tình rồi nhân đó suy ngẫm lại thân phận của chính bản thân ta.

Nhân hòa: Vào những giờ đó, nhất là giờ buổi chiều, là giờ thuận tiện nhất cho cá nhân tôi, giờ rảnh rỗi. Và cũng có thể là giờ rảnh rỗi của nhiều người. Vì khi tôi tưới cây, ít lắm cũng có một vài người thân cận hoặc lối xóm đến chuyện trò vui vẻ. Mặc dù tu, nhưng tôi lại có tánh hay đùa không bỏ được; nhưng chắc cũng không cần phải bỏ làm chi cho mệt xác, vì chẳng làm tổn hại gì đến ai. Do đó tôi hay bông đùa một vài câu chuyện đạo gởi qua hình ảnh các thân cây. Cuối cùng cả người nói lẫn người nghe cùng cười xòa một nụ cười vô tư không phiền muộn. Có lần chúng tôi cười thật lớn. Đột nhiên tôi nhớ lại câu chuyện “Hổ khê tam tiếu” của ba vị thiền sư Trung Hoa.

Có một vị thiền sư sau khi bắc cầu đi ngang qua một con suối để ẩn tu, và thầm phát nguyện rằng chỉ trở lại cầu này sau khi đã thâm đạt thiền quán. Một hôm, có hai vị thiền hữu tìm đến thăm. Không biết các Ngài đã nói gì với nhau từ khi gặp đến lúc tiễn nhau ra về. Chỉ biết rằng khi tiễn khách ra về cả ba vị đều vui vẻ trong câu chuyện mà đã ra đến giữa cầu lúc nào không hay. Khi nhìn thấy bóng mình hiện rõ dưới dòng nước trong veo của con suốt Hổ khe, thì cả ba vị cùng hòa hài với nhau trong một nụ cười trong trẻo chưa từng thấy.

Mỗi lần tưới cây tự dựng tôi thèm một nụ cười như vậy chi lạ. Thèm giống như một em bé thèm kẹo sô-cô-la mà chưa từng được ăn bao giờ!

Sáng nay tưới cây, tôi để mắt chăm chăm vào bốn cây tùng trước sân. Lai lịch của bốn cây tùng này là, một hôm tôi về thăm Cựu Kim Sơn, đạo hữu Như Xuân và Nguyên Tài mua cho, kèm theo một lời dặn là trồng trước sân chùa. Người dặn như vậy, có ý gì không, thì không biết được. Nhưng lúc đó trước sân chùa chưa có hàng rào; mà tôi thường đùa với những người đến với tôi vào giờ tước nước chiều là chùa “chưa có giới.” Vì chữ giới nghĩa đen cũng có nghĩa là cái hàng rào. Tôi đã trồng tạm bốn cây tùng phía sau chùa. Khi làm hàng rào xong, tôi dời ra phía trước. Không biết khi dời vì sự bất cẩn của người dời hay vì “duyên tròn quả mãn” mà đã “vãng sanh” mất một cây (xin được thông báo tin vui này đến hai đạo hữu ở Cựu Kim Sơn). Chuyện này có cả anh Trương Phán nhúng tay vào. Sau đó anh Phán đã mua cho lại một cây khác. Bây giờ thì đầy đủ bốn cây. Cây nào cũng phát triển tùy theo khả năng hấp thụ dinh dưỡng của nó.

Lúc trồng lại bốn cây tùng, cây phía bên tay phải của chúng tôi, từ trong nhìn ra, có vẻ nhỏ thó và ốm yếu hơn ba cây kia. Trồng lại bốn ngày sau anh chàng mới ngáp ngỏi. Thấy vậy tôi săn sóc kỹ hơn. Cỏ quanh gốc bao giờ cũng được nhổ sạch. Phân già hơn. Nhiều nước hơn. Nhưng chậm lớn vẫn hoàn chậm lớn. Nghiệp chi mà nặng rứa không biết! Hay đã mắc vào trong câu ví của ông bà ta ngày xưa là “con cưng con hư” cũng không chừng. Thấy nó phát triển không nổi, tôi đâm thương hại, nhưng đồng thời cũng kiểm điểm lại cách săn sóc của mình…

Nhìn những cây tùng phát triển nhanh tôi mừng. Mừng một phần vì biết chắc nó đã chịu đất; một phần khác thì nó sẽ tô điểm thêm phong cảnh mỗi ngày một thêm xinh. Nhưng mừng hơn hết là nó đã tự bắt rễ sâu vào trong lòng đất. Một cây mà mỗi ngày bắt rễ sâu vào lòng đất, cây ấy không những tự xanh tươi, tự phát triển để trở thành cổ thụ, mà còn có thể không bị bất cứ một trận cuồng phong bão táp nào có thể làm xê dịch, làm trốc gốc nó được. Tôi liên tưởng đến những người con Phật cũng phải vậy. Từ khi mới phát tâm, biết quay đầu về nương tựa với Tam Bảo cho đến lúc “lâm chung của kiếp sanh tử” (sanh diệt diệt dĩ) mà mỗi ngày tự hút nước từ bi, tự nếm phân nhẫn nhục, tự tắm nắng ấm trí tuệ, để tự bám chặt gốc rễ giải thoát vào mảnh đất tâm mầu mỡ, phì nhiêu muôn thuở, thì chắc chắn không có một trận phong ba phiền não nào có thể đủ sức làm bật rễ lên được. Không những không bị bật rễ, không bị trốc gốc; nghĩa là không sờn lòng với đạo, với sự tấn tu giải thoát, dù phải trải qua muôn vàn gian khổ, vì đã thực sự nếm được hương vị của đạo mầu; mà còn là chất liệu tình thương mầu nhiệm cho vạn loài, chất dinh dưỡng cần thiết của mọi sanh linh, chất cam lồ thượng vị cho hằng sa chúng sanh trong pháp giới. Quả là cần thiết. Đức Phật ra đời cũng chỉ vì mục đích duy nhất đó thôi.

Cầu mong cho tất cả chúng ta, những người con Phật, được như những cây tùng (thầy Thiện Trì gọi là tùng bút) để không sờng trong nắng hạ, để uyển chuyển trong mưa sa bão tố khi đông về, để dịu hiền khi thu đến và để đâm chồi nẩy tược khi xuân sang hầu đem lại an bình cho nhân thế.

Nguồn Sống 2, 11/1985

SỰ CẦN THIẾT CỦA CÁC LỚP HỌC PHẬT

Khái Quát Vấn Đề:

Phật Giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm. Với thời gian ấy, chắc rằng không còn ai là không biết đến Phật giáo. Có điều rằng: biết Phật Giáo, tin Phật giáo, hiểu Phật Giáothực hành Phật Giáo lại là những điều khác biệt. Có người biết mà không tin; có người tin mà không hiểu; có người biết, tin, hiểu nhưng lại không thực hành. Từ chỗ không thực hành, không thân chứng đó (không nếm được hương vị Phật giáo) đã khiến cho Phật giáo trở thành một học thuyết như bao nhiêu học thuyết khác. Chắc chắn đây không phải là mục đích của Đức Phật và cũng chắc chắn rằng Ngài không muốn điều ấy xảy ra, nhất là xảy ra trong hàng “môn đệ” của Ngài. Trong văn hiến của Ngài cho thấy,mục đích của ngài là xây dựng một nhân sinh quan, tạo dựng một cuộc sống miên trường và an lạc. Miên trường không có nghĩa là thân xác bằng tứ đại này không tan rã, mà có nghĩa là không khiếp đảm, không băn khoăn khi thấy chúng tan rã. An lạc cũng không hẹn đến một kiếp nào xa xôi khác (mặc dù trong kinh đức Phật có đề cập đến nhiều cảnh giới an lạc), mà an lạc ngay trong từng động tác sinh hoạt hàng ngày. Cuộc đời của đức Phật đã cho chúng ta có một cái nhìn như vậy. Ta không thể nhìn khác hơn.

Chúng Ta Phải Đi:

Suốt cuộc thuyết giáo của đức Phật không nhằm vào việc thỏa mãn kiến thức, giải tỏa óc tò mò hay hứa hẹn một ngày hão huyền nào với con người cả. Ngài đã từng dạy: Đạo ta đến để thấy, đến để nhận diện chứ không phải đến để tin suông. Cho dù niềm tin có đến trước đi nữa, thì rồi những điều “thấy biết” và “nhận diện” cũng cần được thể hiện dần dần sau đó chứ không thể thông qua một cách tiêu cực được. Những lời dạy của đức Phậtgiá trị như những nét vẽ trên bản đồ hay những bản chỉ dẫn trên xa lộ hoặc những địa bàn trên biển cả. Điều quan trọng không phải nằm ở chỗ vẽ lại được bản đồ hay mô tả được các bản chỉ dẫn hoặc biết xem địa bàn, mà điều quan trọng là chúng ta phải đi!

Từ những nhận thức đó, chúng ta thấy việc học Phật tương đối thấu đáo và nhất là kèm theo việc thể hiện sự thấu đáo đó là một điều vô cùng quan thiết. Quan thiết ở chỗ là sẽ không có ai, nhất là những người Tây phương, chỉ nhìn vào một vài khía cạnh lễ nghi nhỏ bé của Phật giáo mà xem đó là một cứu cánh toàn diện rồi phát biểu một cách nông nổi: Phật giáomê tín dị đoan, yếm thế, huyễn hoặc v.v… Nhưng nếu xét cho cùng thì lỗi ấy cũng bởi tại ta vậy: “Ta” đây là tất cả những người con Phật cả hai phái tại và xuất gia. Muốn chấm dứt tình trạng không mấy gì sáng sủa đó, chúng ta không thể không tổ chức những lớp học Phật căn bản và những phương cách thực tập thiền quánchẳng may họ đang sống giữa một xã hội hầu như bị cuốn hút toàn diện vào lãnh vực vật chất.

Các Phong Trào Học Phật:

Từ những thập niên 40-60 tại Việt Nam có các phong trào học Phật như:

Đoàn Phật Học Đức Dục (1940)

Đoàn này quy tụ được một số các thanh niên nam nữ trí thức thời bấy giờ. Đoàn đã làm được công việc nghiên cứu, phân tích, so sánh Phật giáo với các tôn giáo khác như Khổng Giáo, Lão GiáoPhật Giáo với nền văn minh khoa học để làm “nổi bật lên” lời dạy của Đức Phật.

Gia Đình Phật Hóa Phổ (1943)

Tổ chức này do những thanh niên đoàn Phật học Đức Dục phối hợp với một số huynh trưởng hướng đạo theo khuynh hướng Phật Giáo đứng ra tổ chức (1). Tổ chức này cũng quy tụ được đông đảo thanh thiếu niên nam nữ Phật tử, nhưng thay vì nghiên cứu sâu rộng hơn và phát huy lãnh vực áp dụng lời dạy của đức Phật vào cuộc sống hằng ngày, thì lại thiên về hình thức nghi lễ; cúng tế, cầu an, cầu siêu v.v… (2)

Tổ Chức Gia Đình Phật tử (1947)

Ngay từ đầu, tổ chức này rút tỉa được các kinh nghiệm đã qua nên tương đối có quy cũ và có hình thức đại chúng hóa trong giới trẻ hơn. Họ đã thành lập được cơ cấu tổ chức từ cấp trung ương đến các đơn vị gia đình: đã soạn ra nội quy và quy chế hẳn hoi. Tuy vậy, nhìn kỹ, chúng ta vẫn thấy còn những khiếm khuyết đáng kể.

Như vừa đề cập, về mặt hình thức thì tổ chức GDPT luôn luôn cố gắng bổ sung và thay đổi (nếu cần) theo nhịp độ thay đổi của hoàn cảnh chung quanh, miễn sao không đi lệch ra ngoài châm ngônmục đích. Nhưng về phần nội dung, ta vẫn thấy còn nặng về phần lý thuyết, thi cử vượt cấp hơn là việc thực nghiệm, về thân chứng. Điều này được cho thấy một cách khá rõ ràng là một trong chương trình giáo lý các cấp từ cấp thấp đến cao chỉ có giờ học mà không có giờ “làm bài tập,” tức là giờ tu, nhằm tư duy, chiêm nghiệm, quán sát lại những điều mình mới thu nhập được. Đây là một thí dụ điển hình. Thẳng thắn mà nói thì lỗi này quy vào cho quý thầy, quý cô.

Phong Trào Học Đại Chúng (50-60)

Vào khoảng thập niên 1950-1960 trong Nam, phong trào học Phật đại chúng tương đối lên cao. Tại các chùa lớn (Ấn Quang, Xá Lợi chẳng hạn) đều có những buổi học Phật mỗi tuần. Quy tụ đông đảo từ giới lao động trí óc đến giới lao động chân tay. Điểm nổi bật của phong trào này là ngoài việc nghiên tầm giáo lý của Đức Phật, họ còn tinh tấn tham gia chương trình tu tập hằng tháng hay hằng nửa tháng tại các chùa dưới hình thức “Tu Bát Quan Trai.”

Giữa Xã Hội Quyến Rũ:

Sống giữa một xã hội mà hầu như tất cả thì giờ đều cuốn hút vào công việc sinh kế thì rất khó cho mọi người có thể ngồi yên đọc một trang kinh, một quyển sách nhỏ và sống lại với chính mình. Nếu những người đang mang trọng trách “tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự” mà không có phương pháp, không gây được sự ý thức, nhất là một ý thức sống cần thiết về tâm linh cho quần chúng quả thật là sự đáng tiếc. Ý niệm tỉnh thức cần được cổ vũ và thắp sáng giữa một xã hội đang quay với một tốc độ hầu như không thể tính được bằng đầu óc con người. Đây là sứ mạng chung của các hàng con Phật, không phân biệt tại gia hay xuất gia.

Sự Cần Thiết Của Các Lớp Học Phật:

Tiếp nối truyền thống của các thế hệ trước, rút tỉa ưu khuyết điểm của tiền nhân, đặc biệt là nên có một cái nhìn tương đối chân xác giữa xã hội mới để chúng ta tìm cách gieo giống Phật, trồng cây Phật. Muốn gieo giống Phật hay trồng cây Phật, trước hết chúng ta phải có chuyên viên. Nôm na gọi là cán bộ. Khởi sự cơ bản cho việc đào tạo cán bộ này là chúng ta nên mở những lớp học Phật, gồm hai phương diện: căn bản hiểu biếtcăn bản thực hành tại các địa phương.

Cách Thức Tổ Chức:

Để cho các lớp học đạt được những điều căn bản, ít nhất cũng phải hội đủ ba điều kiện:

Điều kiện thời gian: Mọi người sống giữa xã hội máy móc và tiện nghi này đều phải quay như một chiếc máy để giải quyết các vấn đề vật chất. Họ phải đi làm, đi học, giữ con để khỏi phải gởi nhà trẻ tốn tiền v.v… Tóm lại là họ bận rộn,rất bận rộn, do đó phải chọn một thời gian sao cho thích hợp, ít nhất là với ba trường hợp vừa sau:

Về điều kiện thời gian này, xin mở một dấu ngoặc để nêu ra một thời gian mà tôi được tham gia trong mấy năm qua. Thời gian đó là tối Thứ Sáu. Tôi nghĩ đến tối Thứ Sáu vì đã sinh hoạt tối thứ sáu trong mấy năm qua vì các lý do:

Những người đi làm thì cũng đã nghỉ cho cuối tuần (ngoại trừ một số người làm thêm giờ). Những người đi học không bận rộn cho bài vở ngày hôm sau. Người giữ con thì chắc cũng đã có thêm người trong gia đình phụ giúp.

Trong ba giới trên, nếu vì trẻ trung mà muốn tổ chức tiệc tùng để vui chơi cuối tuần thì cũng không ai tổ chức vào tối thứ sáu, vì họ không có thì giờ để chuẩn bị.

Sau cùng và có thể đây là điều quan trọng của người chủ trương nhắm tới: những gì họ học hỏi được trong đêm thứ sáu, nếu thực sự họ thấy là cần thiết và nên áp dụng vào cuộc sống hằng ngày thì chính những điều đó sẽ cấu kết lại thành một sợi dây để níu kéo họ lại trong những sinh hoạt vật chất cuồng loạn thường xảy ra mỗi cuối tuần. Nếu không được tối thứ sáu thì buổi sáng thứ bảy cũng tốt.

Điều kiện địa điểm: Ta thường có quan niệmgiáo lý (kinh Phật) phải được hướng dẫn tại một ngôi chùa, một trung tâm Phật giáo hay ít ra cũng phải là một Niệm Phật Đường. Điều này không nhất thiết phải như vậy. Địa điểm đó bất cứ ở nơi đâu, miễn là nơi ấy tạo được một không khí lành mạnh: hòa hợp, tươi mát, an lạc là được.

Điều kiện nhân sự: Dĩ nhiên, hạt nhân chính vẫn là phải có một người “phát tâm” hướng dẫn. Người ấy không nhất thiết phải là một vị “Sư Ông” hay “Sư Bà.” Miễn sao vị ấy có thể hướng dẫn và nhất là thể hiện được một đời sống tâm linh khả dĩ là tạm đủ. Thêm vào đó, việc học viên, tức người theo dõi, cũng không cần phải đợi đến một túc số nào cả, năm ba người cũng được, miễn sao họ thiết tha với việc nghiên tầm và hành trì giáo lý là được. Hẳn chúng ta chưa quên rằng buổi thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật chỉ vỏn vẹn có năm người và mấy con nai thôi sao.

Phương Pháp Hướng Dẫn:

Trước hết là phải có, hay chuẩn bị tài liệu. Tài liệu này gồm có những bài viết và những bản kinh văn.

Tài liệu viết: Tài liệu này có thể là người hướng dẫn viết và cũng có thể sử dụng các bài viết của người khác, xét thấy cần. Mục đích của những bài viết là làm cho người theo dõi có được một nhận thức căn bản về Phật học qua những sinh hoạt hằng ngày mà từ xưa đến nay họ vẫn yên trí là đạo Phật chỉ có trong chùa qua các hình thức lễ bái, tụng kinh, cầu nguyện hay xa hơn nữa là những tranh kinh diễn tả các vấn đề “viên vông, huyễn hoặc.” Tóm lại là một số vấn đềquần chúng “bình dân” hay làng họ làm gần như đã thâm nhập vào trong máu nên không cần tìm hiểu, không cần lý luận dông dài. Trong khi đó thì số quần chúng “trí thức,” nhất là các anh chị em thanh niên đang có một nếp sống mà họ cho là phù hợp với thời đại, với khoa học thì lại cho những vấn đề trên là mê tín, là dị đoan, là thoái bộ, là tiêu cực, là mơ hồ, là cuồng tín, là lỗi thời v.v… Người hướng dẫn có trách nhiệm làm sao cho người theo dõi thấy được cả những sự việc trên cũng chỉ là những phương tiện tu tập để thể nghiệm tâm linh, để “nhận diện” sự thật dưới một thể cách khác mà thôi. Lối vào tuy có khác, nhưng điểm gặp lại giống nhau; nếu có khác là chỉ khác ở chỗ mau hay chậm đấy thôi.

Những tài liệu viết này có tính cách hướng dẫn tổng quát, nhằm đả thông một số những thành kiến có thể có của người theo dõi. Đồng thời cũng để họ bắt đầu làm quen với một số những danh từ Phật học phải sử dụng. Họ rất có thể là những người mới bắt đầu bước vào khu vườn Phật học; do đó, những bài viết không nên quá trang nghiêm đến độ khô khan; không quá cầu kỳ đến mức mơ hồ, tránh dùng những từ quá chuyên môn đến gần như xa lạ. Tóm lại, những bài viết có tính cách gợi ý và giới thiệu này nên ngắn gọn, trong sáng, và nhất là dễ hiểu. Điều cần yếu là làm sao lồng vào được những thí dụ càng cụ thể giữa cuộc sống bao nhiêu là càng làm cho người theo dõi để nắm lấy vấn đề bấy nhiêu. Sau cùng, đừng quên dành một thời gian, dù chỉ một thời gian tối thiểu, để người theo dõi nêu lên những cảm nghĩ, những thắc mắc của mình, hoặc giả san sẻ những kinh nghiệm gì của mình cho những người bạn đồng hành.

Những bản kinh văn: Sau một thời gian (lâu hay mau, tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi địa phương), người theo dõi đã quen với bầu không khí học Phật, không còn bỡ ngỡ với những danh từ nghe lạ tai như trước, và không còn do dự trong việc thám hiểm vào khu rừng Phật học, người hướng dẫn bắt đầu giới thiệu những bản kinh văn theo trình tự từ thấp đến cao. Cái trình tự mà đức Phật, bậc Đại giác ngộ đã làm trước kia. Chúng ta (cả người hướng dẫn lẫn người theo dõi) hay có một thái độ khinh miệt và một thái độ tự tôn. Khinh miệt là hay cho những bản kinh này là những bản kinh thuộc “tiểu thừa,” Phật dùng để dạy cho hàng “tiểu căn, tiểu đệ tử.” Tự tôn là tôi tu theo “đại thừa,” cầu đại giác, do đó tôi phải học những bản kinh đại thừa mới có thể chứng “đại quả.” Thật sự thì rất khó phân biệt giữa “đại” và “tiểu” lắm. Ví dụ, một người cho rằng tôi tu theo đại thừa giáotâm lượng hết sức hẹp hòi, câu mâu, cố chấp, giải đãi, v.v… trong khi đó có một người mà mình cho là tu theo tiểu thừa giáo, nhưng họ lại mang một tâm tư quảng đại hoan hỷ làm Phật sự, ưa thích bố thí, tinh tấn hành thiền v.v… thì ta phải kết luận sao đây? Nói một cách khác, “tiểu thừa” hay “đại thừa”, lượng chuyên chở đó còn tùy nơi tâm của bạn chứ không hẳn tùy thuộc hoàn toàn vào bản kinh. Lắm khi người hướng dẫn và người theo dõi vì “quá đại” nên lâm vào cảnh “thế trí biện thông,” một trong bát nạn.

Về việc hướng dẫn bản kinh, người hướng dẫn có thể chọn ra một số kinh mà theo kinh nghiệm tâm linh thấy là cần thiết về cả hai phương diện: lý giải và quán chiếu. Lý giải là hiểu được bản kinh ấy một cách tương đối thấu đáo cả lý lẫn sự. Quán chiếu là tập quán sát bản kinh ấy, nghĩa là đem những lời dạy trong kinh ra áp dụng vào đời sống thường nhật. Về cách hướng dẫn kinh, xin đề nghị hai phương pháp nhỏ.

Người hướng dẫn tóm lược toàn bộ bản kinhtrích giảng những đoạn kinh mấu chốt với sự thảo luận của người theo dõi.

Có thể học toàn bộ kinh bằng cách cho người theo dõi đọc trước và tìm hiểu từng đoạn một, sau đó cả nhóm người theo dõi thảo luận và người hướng dẫn xác quyết hoặc bổ túc sự chân xác hay lệch lạc.

Tri Hành Hợp Nhứt:

Sau cùng và cũng là điều quan trọng đứng vào hàng đầu trong Phật giáo đó là việc “tri hành hợp nhứt,” nghĩa là phải tập sống theo những gì ta đã nhận được, đã hiểu được. Nói tắt là việc hành trì.

Vấn đề học Phật của chúng ta mục đích là để được an lạc, được giải thoát, mà không khéo sẽ trở thành người tầm chương trích cú để cuối cùng bị rơi vào trong bát nạn; bấy giờ giáo lý của Đức Phật sẽ không còn là chất cam lồ thượng vị nữa, mà sẽ trở thành độc dược hay một thứ vũ khí lợi hại nhất để bảo vệ cho những thói hư tật xấu trong cuộc sống sa đọa trầm luân của chúng ta.

Tiếng Chuông Tỉnh Thức:

Để tránh những hiểm nguy “bất trắc” có thể xảy ra, trong khi hướng dẫn các lớp học Phật nên dành ra một thời giờ tối thiểu nào đó để thực tập thiền quán, quán chiếu những hành vi “thô bạo” của nội tâm ngay tại chỗ, đồng thời cũng áp dụng sự tỉnh thức trong mọi hành động, mọi hoàn cảnh, mọi thời gian. Nên đi ngay vào việc, bắt tay vào việc để hầu có thể biến được những động tác trong mọi thời của chúng ta trở thành những tiếng chuông tỉnh thức. Chỉ một điều tỉnh thứcĐức Phật đã từ bỏ được những buộc ràng của thế gian. Chỉ một điều tỉnh thứcđức Phật đã rũ sạch phiền não. Chỉ một điều tỉnh thứcđức Phật đản sanh nơi cõi ta bà này.

Xin trân trọng kính mời mọi người cùng đến thăm ngôi nhà Phật giáo trong ý niệm thường trực tỉnh thức.

Đoạn Kết:

Xin được kể lại đây vài lớp học Phật tượng trưng đã qua cũng như hiện tại để làm đoạn kết cho bài này.

Lớp Phật học đầu tiên được tổ chức cho giới trẻ tại vùng bắc California vào khoảng giữa năm 1981, tại chùa Từ Quang, San Francisco, do thầy Tịnh Từ hướng dẫn. Sau đó, cuối năm 1981, tôi được may mắn vừa đóng vai hướng dẫn, lại vừa là người theo dõi. Lớp ấy đã mãn khóa và có cấp chứng chỉ vào đầu năm 1985. Bây giờ thầy Từ Lực đang hướng dẫn một lớp mới. Tôi vẫn thấy có những người cũ đang tiếp tục theo học.

Khoảng cuối năm 1982, tôi về tổ chức lại lớp khác tại thành phố Stockton dưới danh nghĩa “Đoàn Thanh Thiếu Niên Học Phật,” vì tánh cách tham dự có vẻ “đại chúng” và vì nhu cầu địa phương, nên đoàn sau đó đã đổi thành Gia Đình Phật Tử Vạn Hạnh ngày nay. Ngay sau khi ngôi chùa Quang Nghiêm được thành lập một lớp học Phật tương đối có quy cũ được xúc tiến. Tôi gọi có “quy cũ” vì sau giờ hướng dẫn giáo lý có khoảng từ 15-25 phút để thực tập thiền quán đồng thời cũng khuyến khích người theo dõi về thực tập hàng ngày tại nhà, nếu không muốn nói là khuyến khích tập thường trong mọi động tác. Hiện lớp đang phát triển tuy khiêm tốn nhưng rất khích lệ.

Tại Tu Viện Kim Sơn, thầy Tịnh Từ cũng đang hướng dẫn một lớp tương tợ như vậy, phương pháp hướng dẫn của thầy Tịnh Từ có cả đề thuyết trình kiến thức Phật học của mình hay những gì mà người theo dõi thu nhập được.

Tất cả các lớp học Phật nêu trên đều bắt đầu vào tối thứ sáu hàng tuần.

Đây chỉ là đơn cử một vài nơi mắt thấy tai nghe. Chắc rằng các nơi khác cũng đã và đang có những lớp học Phật như vậy.

Hiện phong trào học Phật đang lên một cách đáng khích lệ. Mong rằng những người thao thức với tiền đồ của đạo pháp không bỏ lỡ cơ hội tốt.

Xin cùng nhau chấp tay tụng cầu “thần chú” để hồi hướng.

Gate, Gate, Paragate, Parasamgate Bodhi Svaha!

(1) & (2) Kiêm Đạt. LSGĐPT, 39, 40.

Nguồn Sống 11, 8/1987

DUY NGÃ HAY VÔ NGÃ

Mâu Thuẫn?

Giáo lý Phật giáo từ đầu đến cuối mệnh danh là giáo lý vô ngã; thế nhưng cũng có một số người bị “lường vướng” vào câu “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn” rồi bảo rằng giáo lý nhà Phật là giáo lý Duy Ngã. Thậm chí còn bảo đức Phật sao mà ngã mạn quá, dám tự cho mình là người duy nhất không ai bằng. Nếu đức Phật là tự tôn, tự đại và giáo lý do Ngài tuyên thuyếtduy ngã thì không có gì mâu thuẫn hơn. Hy vọng bài viết nhỏ bé này sẽ giải tỏa được một phần nào thắc mắc.

Bài viết này được viết vào mùa Đản Sanh của đức Từ Phụ; do vậy, thiết tưởng nên dành một đôi dòng để ôn lại “tiểu sử” của Ngài.

Thân thế:

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi chưa đi tu, chưa thành đạo có tên là Sĩ Đạt Ta hay Tất Đạt Đa (Siddhattha). Họ của ngài Gotama ta đọc dưới tên phiên âm Hán Việt là Cồ Đàm. Thân phụ của Ngài là vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và thân mẫu của ngài là hoàng hậu Đại Ma Gia (Mahà Màyà). Ngài sinh vào ngày trăng tròn tháng 5 năm 624 trước tây lịch, nhằm ngày rằm tháng 4 năm Tâu Dậu.

Sự Nghiệp:

Ngài là con một, con cầu và đương nhiên là Đông cung Thái Tử. Ngôi vua chắc chắn nằm trong tay Ngài. Thế nhưng Ngài đã từ chối, không muốn làm Quốc Vương, Nhân Vương mà làm Pháp Vương hay Y Vương.

Không có một sự nghiệp nào mà không ra công dồi mài cần khổ. Ngôi vị Pháp Vương lại cần phải miệt mài cần khổ nhiều hơn nữa. Vì vậy Ngài đã xuất gia để có nhiều thì giờ hơn trong sự nghiệp “tôi kinh luyện sử.”

Ước nguyện càng lớn thì ý chí càng cần phải cao và phải đủ mạnh mới mong đạt được sự thành tự viên mãn. Thật vậy, Ngài đã phấn đấu mãnh liệt, bất khuất mọi gian lao thử thách, chỉ 6 năm thôi, Ngài đã hoàn thành viên mãn ý nguyện cao cả của Ngài. Ý nguyện đó là ý nguyện độ sanh hay nói rõ hơn sự nghiệp của đời Ngài là sự nghiệp Độ Sanh.

Kinh Pháp Hoa trong phần mở đầu Ngài đã nhắc lại ý nguyện hay mục đích của đời Ngài là phơi bày (khai) và chỉ rõ (thị) cho chúng sanh nhận biết (ngộ) rằng mình và Phật không khác (nhập) (Khai thị chúng sanh ngộ, nhập Phật tri kiến). Và, trước khi xả bỏ huyễn thân, một lần n4ưa, Ngài lại nhấn mạnh rằng “Ta là Phật đã thành, tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành.” Suốt gần 50 năm Ngài chỉ làm một việc đó thôi.

Sau khi đã tuyên bày đầu đủ mọi phương pháp để giúp cho chúng sanh thực tập hầu đạt được kết quả mỹ mãn như Ngài, Ngài đã nhập diệt vào ngày trăng tròn tháng 3 năm 544 trước Tây lịch; nhằm ngày rằm tháng 2 năm Tân Tỵ. Tính theo tuổi thế nhân, Ngài thọ 80 tuổi.

Năm 1951, các quốc gia theo Phật giáo trên thế giới nhóm họp tại Tích Lan đã chọn ngày Niết Bàn của đức Phật làm Phật lịch. Do vậy, Phật lịch tính đến rằm tháng 2 v2ưa qua là 2546; và Phật Đản năm nay (2002) là lần thứ 2626.

Duy Ngã hay Vô ngã?

Cuộc hành trình từ vô lượng kiếp của đức Phật, trải qua nhiều thân Bồ Tát và đến thân tối hậu có tên là Sĩ Đạt Ta gói trọn trong một bài kệ gồm 4 câu; mỗi câu 4 chữ, tổng cộng 16 chữ: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ!”

“Ngã” đây phải được hiểu là chấp ngã, là dính mắc, là bị ràng buộc đủ mọi thứ. Chấp ngã có gốc rễ từ tham, sân, si. Tùy theo tham sân si nhiều hay ít, nặng hay nhẹ mà thọ sanh nơi các cõi trời (thiên thượng) hay đọa ở các cõi địa ngục (thiên hạ). Các cõi trời được xem như ở trên, các cõi địa ngục được xem như ở dưới; mặc dù không hẳn là vậy, nhưng chúng sanh đã hiểu vậy. Phật tùy theo đó để khai thị. Từ đó, câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” có thể hiểu rằng: Ta từ vô lượng kiếp đến nay, nhiều khi sanh lên các cõi trời, lắm lần đọa vào các địa ngục, đầu dây mối nhợ không do đâu khác hơn là tham sân si đẩy đưa đến ngã chấp mà không thấy rõ bản chất vô ngã, duyên sanh từ thân tâm đến hoàn cảnh chung quanh. Đó là lời khai thị và cũng là lời cảnh cáo ngay từ buổi bình minh của đời Ngài.

Đến đây duy ngã hay vô ngã có thể đã được vơi đi phần nào.

“Ta đi lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà chưa gặp kẻ làm nhà. Nay ta đã gặp ngươi rồi, ngươi đừng hòng cất nhà thêm được nữa, những đòn tay, những cột kèo, những rui mè… của ngươi đã bị mục rã cả rồi…” Pháp cú câu 154.

Kẻ làm nhà đây là tham lam ái dục, độc đầu tiên trong ba độc. Nhà là chiếc thân do ngũ uẩn chung hợp. Cột kèo.. là những phiền não nhiễm ô. Mục rã rồi tức đức Phật đã chinh phục, đã vượt lên trên, đã đứng ngoài sự chi phối của chúng. Nói rõ hơn là đã thành tựu tuệ giác siêu việt. Không còn bị nghiệp lực đẩy đưa đây đó mà chỉ có nguyện lực độ sanh. Do vậy Ngài tuyên bố:

“Vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ” ([Vì chưa tìm ra nguyên nhân], nên trải qua vô số kiếp ta phải chịu sanh tử luân hồi. [Nay đã thấy rõ nguyên nhân và nhất là đã có phương pháp diệt trừ], thì sanh tử luân hồi không còn chi phối ta được nữa).

Để chứng ngộ:

Đức Phật thuyết pháptuyên thuyết những phương pháp do chính bản thân Ngài thực tậpchứng nghiệm kết quả với tất cả thành tâm thiện ýmong mỏi mọi người nỗ lực thực tập như Ngài đã thực tập để rồi đạt ngộ những điều như Ngài đã đạt ngộ. Ngài không nhằm trình bày một thứ triết lý cao siêu chỉ có trên lý thuyết trừu tượng mà không ăn nhập gì đến cuộc đời đầy dẫy khổ đau trong cuộc sống hằng ngày. Do vậy, học Phật là học những phương pháp thực tập để được làm Phật, chứ không phải học “giáo lý” để diễn tả, để trình bày về đức Phật hay đạo Phật. Nếu không phải vậy thì Ngài đã không tuyên bố “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành." Vâng, chúng sanh là Phật sẽ thành với điều kiện là phải thực tập những phương pháp do chính Ngài tuyên thuyết. Thực tập một cách cần mẫn, chăm chỉ, không gián đoạn mới mong có kết quả.

Thời cổ đại, người ta lấy lửa bằng cách dùng hai thanh gỗ cọ xát với nhau. Phải cọ xát cho đến khi nào lửa bật ra, lấy lửa được mới nghỉ chứ không thể nghỉ nửa chừng; vì nếu chỉ nghỉ trong chốc lát thôi, thì hai thanh gỗ nguội lại và như vậy không biết đến đời kiếp nào mới lấy được lửa. Cũng vậy, tham sân si của chúng ta cứ liên tục bốc cháy, nếu chúng ta lơ là thì chỉ có làm mồi cho chúng thiêu đốt oan uổng mà thôi.

Phật tử, là con Phật đã nguyện nương tựa nơi Ngài, đã nguyện nương tựa với những lời dạy của Ngài và đã nguyện nương tựa vào đoàn thể đệ tử thanh tịnh của Ngài rồi, chúng ta cần làm ba việc: học hỏi chánh pháp, thực hành chánh pháp, chứng ngộ chánh pháp.

Đó là cách báo đền công ơn hóa độ sâu dày của Phật và đó cũng là cách làm cho chánh pháp thường trú tại thế gian.

NHUẬN THÂM

Pháp hoa hải hội hai ngàn rưỡi

Nhuận thấm ngàn sau mãi vui tươi

An cư kiết hạ như luật định

Tịnh hóa thân tâm chín vẹn mười.

30/06/05 – Canada

ĐẠO PHẬT

Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi

Hãy thắp lênngọn đuốc chánh phpá,

đừng thắp lên ngọn đuốc nào khác.

- Kinh A Hàm.

TÌM MỘT ĐỊNH NGHĨA:

Có nhiều người đặt câu hỏi: Đạo Phật có phải là một tôn giáo không? Từ ngữ chú ý trong câu hỏi là “tôn giáo”. Để trả lời cho chính xác, chúng ta thử tìm một định nghĩa cho hai chữ “tôn giáo”. Trong cuốn The American Heritage Dictionary định nghĩa tôn giáo như thế này: Religion is an organized system of beliefs and rituals centering on supernatural being(s). Có nghĩa, tôn giáo là một tổ chức tín ngưỡnglễ nghi đặt trọng tâm vào các đấng siêu nhiên. Cụ Đào Duy Anh trong từ điển Hán Việt thì cho rằng: Tôn giáo là một tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nên giới ước để khiến người ta tín ngưỡng.

Nếu tôn giáo được định nghĩa một cách nhất quán như vậy, thì đạo Phật nhất định không phải là một tôn giáo. Vì đức Phật, người khai sáng ra đạo Phật, không bao giờ chủ trương việc gởi hay phó thác thân mạng mình cho đấng thần linh siêu hình nào cả. Ngài luôn khuyên hàng đệ tử của Ngài hãy tự làm chủ lấy dòng sinh mệnh của chính mình. Mặc dù trong kinh đức Phật có đề cập đến các thần linh và quỉ vật, nhưng đấy chỉ là một xác nhận về sự hiện hữu của các chúng sanh ấy mà thôi, chứ không phải để chúng ta cầu đảo gởi mình theo các vị ấy. Tuy nhiên, trên mặt hình thức thì dù muốn hay không đạo Phật cũng được xem là một tôn giáo, vì sự thờ phụng, lễ nghi và cúng bái đã được du nhập vào đạo Phật quá đậm. Nhưng những điều này phải được xem là phương tiện chứ không phải là cứu cánh. Chúng ta sẽ bàn sâu về vấn đề này trong các phần thờ, cúng và lạy Phật sau.

ĐẠO PHẬT LÀ GÌ?

Phật, như đã được đề cập ở bài trước, là người đã quán triệt chân tướng của các hiện tượng ngoại tại và những biến trạng tâm linh nội tại. Thuật ngữ Phật giáo gọi là người đã giác ngộ một cách viên toàn. Người không những làm chủ lấy mình, mà còn làm chủ cả vạn pháp. Người được xưng tụng là vua của các pháp (Pháp Vương).

Chữ “đạo” trong từ ngữ “đạo Phật” có nghĩa là con đường. Vậy thì đạo Phậtcon đường chân chánh được soi rọi bởi ánh sáng trí tuệ dẫn đến sự giác ngộ tuyệt vời. Trước hết giác ngộ cho chính bản thân mình, kế đến giúp đỡ ,dìu dắt người khácgiác ngộ để tất cả cùng đạt đến một sự giác ngộ rốt ráo viên mãn.

ĐẠO PHẬT Ở ĐÂU?

Đạo Phật được đức Phật Thích Ca khai sáng ở Ấn độ, nhưng thực sự bắt đầu từ lòng người. Giáo lý của đạo Phật được xây dựng trên nền tảng căn bản là ban bố tình thương đến vạn loại để làm vơi đi và dần dần tiêu diệt những nỗi thống khổ do chính con người gây ra (bi). Vậy, nơi nào có khổ đau là nơi ấy có đạo Phậtgiáo lý của đạo Phật hiện hữu. Đức Phật đã xác nhận dù có người thành Phật để chỉ rõ những pháp khổ đau ấy hay không thì tự tánh của những pháp ấy vẫn luôn luôn hiện hữu. Giáo lý căn bản của đạo Phật không ra ngoài việc: Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là phương pháp diệt khổ, và đây là trạng thái an bình sau khi đã tận diệt các khổ não (giáo lý tứ diệu đế). Giáo lý ấy là giáo lý bất di bất dịch trong các thế giới chúng sanh. Nói một cách khác là đạo Phật hiện hữu trong các thế giới chúng sanh ấy. Trên bình diện con người thì đạo Phật nằm ngay trong lòng người để dẫn đạocải thiện mọi tham lam ích kỷ nằm ngay trong ấy. Nói khác đi là đạo Phật gắn liền với cuộc sống của con người dưới mọi hình thức.

KHAI SÁNG ĐẠO PHẬT:

Bài kinh Phạm Võng trong trường bộ kinh có một ví dụ, như một người chài lưới thiện nghệ tung lưới trùm khắp một cái hồ, tất cả cá lớn cá nhỏ đều nằm gọn trong đó. Vậy thì, chúng ta có thể nói, tất cả chúng sanh khi chưa giác ngộ đều sống trong mạn lưới của đức Phật. Cái mê mờ của chúng sanh là sống trong ấy mà không tự biết rằng mình đang sống trong ấy. Thái tử Tất Đạt Đa sau khi giác ngộ thành Phật đã chỉ rõ điều đó. Kể từ ngày đó trở đi, Ngài không chỉ là một vị Phật, mà còn được tôn xưng là giáo chủ, người khai sáng ra đạo Phật. Khai sáng vì, như vừa nói, đạo Phật vốn dĩ sẵn có chứ không phải một cái gì mới mẻ do sáng kiến của một người đặt ra. Sẵn có nhưng vì không xài đến, không ý thức được, không khai triển nên bị lu mờ. Trong kinh Pháp hoa đức Phật có nói rằng chư Phật chỉ làm một công việc duy nhất là chỉ bày cái đạo Phật, con đường giác ngộ, sẵn có trong lòng người, để mọi người tự sống theo một cách an lạc. Người khai sáng ra đạo Phật hiện nay chính là đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

TRUYỀN BÁ ĐẠO PHẬT

*Thời Phật tại thế:

Suốt 45 năm kể từ ngày thành Phật và khai sáng ra đạo Phật, đức Phật đi khắp vùng trung Ấn để công bố lý tưởng từ bigiáo lý giác ngộ của Ngài. Trong thời gian này, có rất nhiều người thấm nhuần giáo lý của Ngài hoặc ở tại gia áp dụng giáo lý ấy qua cuộc sống hàng ngày, có người bỏ gia đình theo dấu chân Ngài và tự nguyện sống cuộc đời lấy thế gian đau khổ làm nhà, lấy chúng sanh làm thân quyến. Các đệ tử xuất gia này, sau một thời gian tu tập chứng ngộ đạo quả giải thoát, đức Phật kêu gọi các vị ấy vì lợi ích cho nhân gian hãy lên đường truyền giáo. Ngài bảo: “Này các thầy Tỳ kheo, các thầy đã thực nghiệm giáo lý, và đã chứng ngộ đạo quả giải thoát. Vì hạnh phúc cho nhiều người, vì tốt đẹpan lạc cho nhiều người, các thầy nên lên đường truyền giáo. Mỗi người nên đi một ngả. Hãy giảng dạy giáo pháp hoàn hảo từ đầu đến cuối (sơ thiện, trung thiện, hậu thiện) trong cả hai phương diện tinh thầnvăn tự. Tôi cũng đi như các thầy. Chúng ta hãy phất cao ngọn cờ thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu để mang lại tốt đẹpbình an cho người khác là chúng ta hoàn tất nhiệm vụ.” (Lược thuật theo trường bộ kinh).

Đức Phật đã không giữ vai trò truyền đạt lý tưởng trong cương vị một người đã hoàn toàn quán triệt chân lý. Vì lòng thương không bờ bến, lấy hạnh phúc của mọi người làm hạnh phúc của chính mình, nên sau khi đào tạo được những cán bộ trung kiên, có đầy đủ khả năng truyền đạt lý tưởng giác ngộ, Ngài thúc giục các vị ấy lên đường. Hành trang của các Ngài trong chuyến đi công tác xã hội vĩ đại này thật là đơn giản: Một bình bát để xin ăn, ba tấm áo che thân vừa đủ ấm và lòng từ bi thật bát ngát. Không nhà không cửa, rày đây mai đó, lang thang trong thôn cùng xóm chợ, các Ngài đã thành công lớn trong cuộc cách mạng tâm linhxã hội này.

*Sau Phật tịch diệt:

Sau khi đức Phật tịch diệt (kinh gọi là nhập diệt hay nhập Niết bàn), các đệ tử vẫn tiếp tục sứ mạng thiêng liêng cao cả để thắp sáng ngọn đèn chánh pháp ấy. Thời đức Phật, sự truyền bá chỉ quanh vùng trung Ấn. Sau khi Ngài nhập diệt, các đệ tử mở rộng vòng đai về hai hướng Nam Bắc. Khởi đầu hai hướng Nam Bắc này, Phật giáo nghiễm nhiên có hai phái: Bắc tôngNam tông. Phái chư tăng đi về hướng Bắc có khuynh hướng cấp tiến, phái chư tăng đi về hướng Nam có khuynh hướng bảo thủ. Nhưng dù cấp tiến hay báo thủ, các vị ấy gặp nhau trên lộ trình giải thoát: lấy đức Phật làm trung tâm và lấy giáo lý căn bản của Ngài làm kim chỉ nam. Nhưng, đấy cũng chỉ là một sự gặp gỡ trên hình thức, sự gặp gỡ tối hậuminh liễu các pháp và sự thanh lọc cao độ các dục vọng của nội tâm. Nói khác đi là họ gặp lại đức Phậtđạo Phật trong chính bản thân họ.

Chư tăng đi về hai hướng Nam Bắc không những chỉ truyền bá rộng rãi Phật giáo ở hai hướng này, mà còn mở rộng vòng đai ra các nước ngoài. Chư tăng hướng Nam đi qua các nước Tích lan, Thái lan, Ai lao, Cao miên… Chư tăng hướng Bắc đi qua các nước Việt Nam, Trung hoa, Mông cổ, Nhật bản, Đại hàn… Đến bây giờ thì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều gặp đạo Phật hoặc Bắc hoặc Nam tông. Có nước gặp cả hai phái cả Bắc lẫn Nam tông như trường hợp Việt Nam chẳng hạn.

MỤC ĐÍCH TỐI HẬU CỦA ĐẠO PHẬT

Như vừa nói, hàng đệ tử đức Phật lấy đức Phật làm trung tâm, lấy giáo pháp của Ngài làm kim chỉ nam để gặp lại đức Phật hiện hữu trong chính họ. Gặp lại đức Phật trong chính chúng tamục đích tối hậu của đạo Phật. Đức Phật từng bảo: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi!” Mỗi người đều có sẵn một bó đuốc, bó đuốc trí tuệ. Chỉ khác nhau là có đốt và không đốt. Bó đuốc của đức Phật đã đốt, đã chiếu sáng và còn chiếu sáng đến tận ngày nay. Chúng ta có thể mồi bó đuốc của chúng ta qua lửa chân lý của đức Phật để rọi sáng lòng mình. Đức Phật chỉ làm một công việc “gia hộ,” nghĩa là giúp thêm một vài phương tiện, nhưng nguyên động lực vẫn là chính chúng ta. Tìm lại chính ta, sống với chính ta, đấy là điểm đặc sắc, độc đáo và là mục đích tối hậu của đạo Phật.

Tóm lại, từ thời đức Phật đến các thời kỳ sau đức Phật, đạo Phật và sự truyền bá đạo Phật có khau nhau trên phương diện hình thức, nhưng vấn đề căn bản và sự gặt hái kết quả vẫn là một tinh thần nhất quán. Tinh thần đó được bao hàm trong câu: “Nước biển thuần một vị mặn, giáo pháp ta chỉ thuần một vị giải thoát.” Chư tăng, Phật tử dù Bắc hay Nam tông hay bất cứ tông phái nào cũng đều phải nếm hương vị giải thoát đó.

THỜ PHẬT

Ai tin ta mà không hiểu ta là hủy báng ta.

- Kinh A Hàm

Lúc đức Phật còn tại thế cũng như sau khi Ngài tịch diệt, việc thờ Phật, tôn kính Phật được thể hiện qua việc nghiêm trì giới luật, việc nỗ lực thực hành những di huấn của Ngài. Đây là điều then chốt trong việc thờ Phật.

THỜ HÌNH TƯỢNG PHẬT:

Để thể hiện lòng tôn kính với vị đạo sư, Phật tử có thể vẽ họa hình tượng đức Phật để tôn thờ tùy ý. Trong truyện ký có thuật một câu chuyện, thời đức Phật còn tại thế, một hôm Ngài dùng thần thông lên cõi Trời thuyết pháp cho thân mẫuchư thiên liên tiếp trong ba tháng. Vua Vu Điền, một trong những vị vua thâm tín Phật pháp, và thích được hầu cận đức Phật, thấy Phật đi lâu quá không về đem lòng nhớ thương bèn mướn một họa sĩ danh tiếng rồi diễn tả lại tất cả hình vóc, tướng mạo của đức Phật để vị họa sĩ vẽ lại chân dung Ngài. Chân dung của đức Phật được vẽ rất sống động. Có những lúc vua Vu Điền đối diện trước chân dung Phật, ông có cảm giác như Phật đang hiện hữu thuyết pháp như mọi ngày.

Sau ba tháng đức Phật trở về, vua Vu Điền mang chân dung của đức Phật đến và thuật lại câu chuyện, đức Phật mỉm cười và làm thinh. Làm thinh là một trong những cách mà đức Phật thường dùng để chấp nhận việc làm của đệ tử. Việc tôn kính hình tượng của đức Phật bắt đầu từ đó. Hình thức tôn kính này được đại chúng hóa trong môn đồ của đức Phật kể từ sau Ngài tịch diệt dẫn đến ngày nay.

TẠI SAO THỜ PHẬT:

Như câu chuyện trên cho thấy, thờ Phật ban đầu chỉ là biểu lộ sự nhớ thương của môn đệ đối với đức Phật trong lúc vắng Ngài, dần dần dẫn đến sự tôn kínhtri ân.

Trong gia đình, con cháu chưng thờ di ảnh của ông bà, cha mẹ thường biểu lộ tình thương qua lòng hiếu thảo hơn là sự tri ântôn kính. Dân tộc thờ các vị anh hùng, biểu lộ sự tri ân và ngưỡng mộ hơn là thương nhớtôn kính. Tín đồ của một tôn giáo đối với vị giáo chủ của mình thường biểu lộ trọn vẹn sự tôn kính tuyệt đối hơn những lãnh vực trên. Là Phật tử, hiểu đức Phậthọc đòi theo lời dạy của Ngài, thờ Phật ít ra cũng đủ ba phương diện: tri ân, ngưỡng mộ và tôn kính.

TRI ÂN:

Phật tử tri ân đức Phật ngoài việc tô tượng, đúc chuông, cất chùa còn phải gia công học đòi lời dạy của Ngài. Tập sống theo những hạnh mà Ngài dạy để phát triển năng lực tinh thần.

Tri ân đức Phật không phải vì chúng tatín đồ, mà vì một người đã có một ân đức sâu dày với toàn thể nhân loại. Chúng ta thờ Phật là để luôn có một tấm gương sáng trong lành trước mặt để kiểm điểm từng tư tưởng, từng lời nói, từng hành động của chúng ta để tiến dần đến chân thiện mỹ như Ngài vậy. Hình ảnh đức Phật trước mặt là một ngọn đèn trí tuệ đang đốt, chúng ta sẽ nương theo ánh sáng đó để soi rọi lại lòng mình, và từ đó thắp sáng lại ngọn đèn của chính ta. Hình ảnh một đức Phật trước mặt sẽ tỏa ngát hương từ bi để nhắc nhở chúng ta phát triển hạnh từ bi sẵn có để vơi bớt khổ đau cho chính ta và tha nhân. Đừng bao giờ thờ hình ảnh đức Phật trước mặt với sự cầu cạnh Ngài ban phúc trừ họa hay để nương vào uy lực của Ngài làm những chuyện bất lương. Nếu thờ Phật với những mục đích như trên, thì không những chúng ta tự hủy báng đức Phật mà còn tự tạo ra những tư tưởng không tốt cho chính chúng tatha nhân nữa.

NGƯỠNG MỘ:

Phật tử ngưỡng mộ đức Phật không phải dùng mọi danh từ tốt đẹp để khen tặng Ngài; cũng không phải vẽ ra một đức Phật đầy phép lạ, đủ quyền thi ân bố đức. Mặc dù đức Phật có rất nhiều thần thông, nhưng chưa bao giờ Ngài dùng thần thông để mê hoặc nhân gian, hoặc để khuyến dụ người khác theo Ngài. Câu chuyện một thiếu phụ có một đứa con yêu quí duy nhất bị chết, đến xin đức Phật dùng thần thông cứu độ để đứa bé sống thêm theo mong cầu của người mẹ; thay vì đức Phật dùng thần thông để làm cho đứa bé sống lại, Ngài đã khéo léo giảng giải định luật vô thường để người mẹ không kéo dài thêm sự khổ đau và ý thức sâu sắc về cuộc sống của con người. Vậy Phật tử ngưỡng mộ đức Phật nên chú trọng vào ba đức tánh đặc biệt: Từ bi vô ngần, trí tuệ vô biên,và hùng lực phi thường. Ba đặc tánh này giúp chúng ta xây dựng hạnh phúc gia đình, hoán cải đặc thù có hiệu năng giúp cho những ai hướng về chân thiện mỹ. Đức Phật là người duy nhất từ trước đến nay đã hoàn thành ba mục tiêu trên. Ngưỡng mộ đức Phật trong tinh thần đó tức là chúng ta đã tập bước những bước vững chãi trên con đường mà Ngài đã đi.

TÔN KÍNH:

Tôn kính đức Phật không phải chúng ta linh thiêng hóa đức Phật ra hoặc đặt đức Phật ra ngoài cuộc sống của chúng ta. Tôn kính đức Phật là đặt một niềm tin tưởng tuyệt đối rằng Ngài là một bực hoàn toàn giác ngộ. Ngài là một bực Thầy sáng suốt đưa đường dẫn lối và đầy đủ đức hạnh để ta học đòi hầu thăng tiến cuộc sống tâm linh của chúng ta. Trong kinh có ghi lại 10 danh hiệu khác nhau để tán thántôn kính một bực giác ngộ như đức Phật: Phật là đấng hoàn toàn tự tại với các pháp, Phật là đấng đáng được nhân gianchư thiên cúng dường. Phật là đấng biết hết mọi tâm tánh của chúng sanh, Phật là bực đầy đủ cả phúc đứctrí tuệ, Phật là đấng đã điều phục mọi phiền não, Phật là một đấng toàn thiện, Phật là đấng đã giải thoát được chuỗi dây triền phược trong thế gian, Phật là đấng cao tột, Phật là bậc thầy của nhân gianchư Thiên, Phật là đấng thế gian hoàn toàn tôn kính. (Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật thế tôn). Là những người đang theo gót chân Ngài, chúng ta nên tôn kính đức Phật trong chân tinh thần đó.

Thờ Phật trong ba ý hướng trên, chúng ta sẽ thấy đức Phật gần gũi và hiện thực trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Bằng không, đức Phật chỉ là bóng mờ và giáo lý của Ngài chỉ còn là một học thuyết suông.

THỜ ĐỨC PHẬT NÀO?

Đã là Phật thì không có vị nào cao vị nào thấp. Mức độ giác ngộgiải thoát ngang nhau; nghĩa là đức Phật nào cũng trọn lành, cũng là một tấm gương sáng cả. Do đó, chúng ta có thể thờ bất cứ một vị Phật nào mà chúng ta cảm thấy thích. Mục đích của sự thờ Phật, như vừa nói, không phải để cầu cạnh mà là để noi gương lành. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên tùy theo thời kỳ hóa độ của một vị Phật để thờ. Chúng ta đang ở vào thời ký hóa độ của đức Phật Thích Ca, thì hình ảnhgiáo lý gần gũi với chúng ta nhất là đức Phật Thích Ca. Vì vậy chúng ta thấy hình ảnh của đức Phật Thích Ca được thờ phổ thông trong tất cả các chùa Bắc Tông lẫn Nam Tông.

THỜ PHẬT Ở ĐÂU?

*Hình thức:

Tại bất cứ một tư gia nào cũng có thể thờ Phật được cả. Trong nhà nơi nào mà chúng ta thấy trang nghiêm là nơi ấy có thể đặt một bàn thờ Phật. Việc trang nghiêm của một bàn thờ Phật cũng rất cần thiết. Việc trang nghiêm này không phải để trang nghiêm cho hình ảnh của đức Phật, mà chính là tạo một khung cảnh trang nghiêm cho chính chúng ta. Khi đối diện trước một khung cảnh trang nghiêm, tâm chúng ta dễ gom về một mối. Tâm dễ gom về một mối thì trí tuệ dễ phát sanh. Đây là lý do duy nhất chúng ta cần có một bàn thờ Phật trang nghiêm trong nhà. Nói khác đi, hình thứcphương tiện ban đầu để đạt đến phần nội dung cần thiết.

*Nội dung:

Một người có một trình độ tu tập vững chãi, nghĩa là đã vượt qua mọi hình thức rườm rà, thì việc thờ tự đối với họ không còn cần thiết nữa. Họ không cần nương vào những đối tượng bên ngoài để nhắc nhở họ nữa, mà lúc nào hình ảnh đức Phật cũng hiện rõ trong tâm họ và đặc biệt là cuộc sống của họ hoàn toàn phù hợp với lời dạy của đức Phật. Những mẫu người này là họ thờ Phật ngay trong lòng họ. Trong cuộc sống hàng ngày của họ là một bàn thờ Phật trang nghiêm. Điều này không phải là lý luận suông mà mỗi người học hỏitu tập theo giáo lý của đức Phật phải tự kiểm điểm lấy. Dĩ nhiên là một điều khó.

CHƯNG HÌNH TƯƠNG PHẬT:

Trên đây là việc thờ Phật qua hai phương diện hình thức và nội dung. Cũng có lắm người không thích thờ tự mà chỉ thích có một bức hình Phật đoan nghiêm, với vẻ mặt đầy tự tạihoan hỷ để chưng trong nhà. Điều này không có gì trái với đạo và bất kính đối với đức Phật cả. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý là việc treo chưng hình Phật không phải chỉ để làm tăng thêm phần thẩm mỹ trong phòng khách, hay trong phòng đọc sách; mà việc treo hình Phật cũng phải hàm một ý nghĩa như việc thờ ở trên, nghĩa là để nhắc nhở chúng ta hướng thiện. Chẳng hạn như một bức hình Phật được treo ở phòng khách là để nhắc nhở chúng ta mỗi khi ngồi bàn luận những công việc gì thì nên nhắm đến việc lợi mình lợi người, hay ít nhất lợi mình nhưng đừng tổn hại đến ai. Nhắc nhở chúng ta khi có chuyện gì vui cũng không nên vui một cách thái quá; nhắc nhở chúng ta khi gặp chuyện buồn cũng không bi thảm lắm; hoặc giả khi bàn cãi một vấn đề gì chưa vỡ lẽ đã đưa đến sự bất hòa, cũng không nên dùng những lời lẽ quá nặng nề để sát phạt lẫn nhau. Treo một bức hình ở trong phòng học hay phòng đọc sách là để nhắc nhở chúng ta một trong những hạnh đặc biệt của đức Phậttinh tấn. Tinh tấn là một sự nỗ lực liên tục cho đến khi công việc được viên mãn. Tóm lại, dù thờ Phật hay chưng hình thì hình ảnh đức Phật vẫn là tấm gương sáng để chúng ta soi rọi lại tâm tánh của chúng ta trong từng giây từng phút một.

KẾT QUẢ CỦA SỰ THỜ PHẬT:

Nếu thờ Phật với tất cả thành tâm thiện ý như vừa nêu trên, thì chúng ta sẽ gặt hái được những lợi lạc cả hiện tại lẫn vị lai. Trong hiện tại, mỗi chúng ta và cả gia quyến chúng ta dưới hình ảnh hiền hòa từ bi nhưng chứa đầy nghị lực của đức Phật, chúng ta sẽ có một bầu không khí đầm ấm, bao dung nhờ ảnh hưởng đạo vị qua chân dung của Ngài. Từ không khí gia đình này sẽ lan rộng ra đến xóm giềng; từ những cá nhân trong gia đình này sẽ ảnh hưởng đến những công dân ngoài quốc gia xã hội… Kết quả này thu hoạch được nhiều hay ít, mức độ thăng tiến tinh thần cao hay thấp, hoàn toàn tùy thuộc vào tỷ lệ thực hành của từng cá nhân qua nhân cách của đức Phật, chứ không phải đức Phật ban bố những kết quả ấy cho chúng ta. Mọi kết qua tốt được khai quật từ kho tàng vô tận của chính chúng ta. Đức Phật chỉ là người chỉ điểm, Phật tử nếu có phương tiện nên có một bàn thờ Phật trang nghiêmthờ Phật với tất cả tinh thần như vừa nêu trên. Thờ Phật như vậy chính là tin Ngài và hiểu Ngài.

NIỆM PHẬT

Tùy theo tâm mình thanh tịnh đến đâu

Thì cõi Phật thanh tịnh hiện ra đến đấy.

-Kinh Duy Ma Cật

Có nhiều lối vào đạo Phật, và dĩ nhiên, cũng có nhiều phương pháp tu tập để đạt đạo. Niệm Phật là một trong những phương pháp tu tập để đạt đạo đó.

NIỆM PHẬT LÀ GÌ?

Niệm là một tiếng Hán việt, có nghĩa là nhớ nghĩ một điều gì. Niệm Phật là nhớ nghĩ đến Phật. Nhớ nghĩ đến Phật có nhiều cách: có người nhớ nghĩ đến Phật bằng cách lập đi lập lại danh hiệu của Ngài nhiều lần; hoặc lập lại ra tiếng hoặc chỉ trong tâm. Người thực hành như vậy gọi là trì danh niệm Phật. Có người nhớ nghĩ đến Phật bằng cách hình dung tướng mạo đoan trang của đức Phật trong mọi thời; người thực hành như vậy gọi là quán tưởng niệm Phật. Có người nhớ nghĩ đến Phật bằng cách nghĩ về những công hạnh tu tập hay độ sanh của Phật một cách liên tục; người thực hành như vậy gọi là quán hạnh niệm Phật. Nhưng dù niệm Phật dưới phương cách nào đi nữa, thì mục đích then chốt của nó vẫn là để cố gắng không những noi theo bước chân Phật, mà còn làm lắng đọng những phiền não nhiễm ô trong tâm để cho tâm ta được thanh tịnh. Nói một cách khác là vì sự tu tập cầu giác ngộ như Phật vậy.

TẠI SAO PHẢI NIỆM PHẬT?

Như vừa nói, niệm Phật là một trong những phương pháp tu tập. Đức Phật bảo tâm của chúng ta ví như con vượn chuyền cây; nghĩa là luôn luôn vọng động, bị chi phối quá nhiều bởi những ý tưởng mông lung. Suy nghĩ mông lung càng nhiều không phải là sẽ nhớ được nhiều, mà kết quả gặt hái được sẽ ngược lại, nghĩa là quên rất nhiều. Niệm Phật là một phương pháp tập nhớ một điều để quên những điều khác. Nói một cách khác, trước khi muốn được vô niệm để khế hợp và hòa hài vào trong biển trí thanh tịnh của Phật, chúng ta phải tập nhứt niệm. Niệm Phật là một trong những cách giúp cho tâm niệm chuyên nhứt hay nhứt niệm, không có thì giờ để nhảy từ tâm niệm này qua tâm niệm khác. Sự quay cuồng của các tâm niệm mông lung là những đợt sóng cuộn trên biển trí thanh tịnh. Những đợt sóng ấy nổi lên càng nhiều thì mặt trăng trí tuệ không thể nào lộ bóng toàn diện được. Đây là lý do chúng ta niệm Phật.

NIỆM ĐỨC PHẬT NÀO?

Nếu niệm Phật với ý nghĩa trên, thì niệm đức Phật nào cũng được cả. Tuy nhiên, nói đến pháp môn niệm Phật là người ta nghĩ ngay đến pháp môn Tịnh độ niệm Phật A Di Đà. Niệm Phật A Di Đà đã trở thành một pháp môn đặc biệt trong việc tu tập hàng ngày, vì các lý do sau đây: Thứ nhất, khi phát tâm tu Bồ Tát hạnh, đức Di Đà có phát 48 lời nguyện, ấy là sau khi Ngài thành Phật, nếu có ai muốn sanh về thế giới của Ngài thì cứ niệm danh hiệu Ngài từ một đến mười niệm, từ một ngày đến bảy ngày, khi lâm chung sẽ được hóa sanh về thế giới ấy. Thứ hai, khi đức Phật Thích Ca giới thiệu cảnh giới Cực Lạchạnh nguyện của đức Phật A Di Đà, ngài có khuyên chúng sanh nên phát tâm sanh về cảnh giới ấy, nhất là chúng sanh vào thời mạt pháp. Ngài nói, thời mạt pháp, niệm danh hiệu đức Phật Di Đà để sanh về thế giới Cực Lạc sẽ bảo đảm được việc tiến tu thẳng đến quả vị giải thoát một cách dễ dàng. Vả lại, niệm Phật cũng là một pháp môn tương đối dễ tu nhất. Dễ tu vì hạng người nào, trong sinh hoạt nào, ở môi trường nào cũng có thể hành trì được. Tuy nhiên, như vừa đề cập, niệm Phật cũng chỉ là một trong những phương pháp tu tập. Vậy nếu ai thấy không thích hợp với những cách niệm Phật như trên, thì cứ chọn lấy một phương pháp tu tập khác cho thích nghi với mình, chẳng hạn như thiền định, tụng kinh, trì chú, lễ bái… vấn đề quan trọng là phương pháp tu tập đó có giúp ta đạt được sự an tịnh tâm hồn một cách cao độ không. Kinh Di Đà dù có cho chúng ta thấy một phương pháp dễ tu của pháp môn niệm Phật, nhưng đồng thời cũng ra một điều kiện không phải dễ dàng, đó là “nhứt tâm bất loạn.” Tất cả các môn đều là phương tiện, việc “nhứt tâm bất loạn” là điều mọi pháp môn đều phải nhắm đến trước khi thực sự bước lên bờ giải thoát.

ĐỨC PHẬT DI ĐÀ LÀ AI?

Ngài là một trong những vị Phật thời quá khứ. Lúc phát tâm tu Bồ tát hạnh dưới thời Phật Bảo Tạng, Ngài là một vị vua đang trị vì. Kinh Bi Hoa ghi lại tiền thân của Ngài như sau: “Thời quá khứ có một vị vua tên là Vô Tránh Niệm. Vị vua này có một vị đại thần tên là Bảo Hải. Đại thần Bảo Hải có một người con tên là Bảo Tạng. Ngài Bảo Tạng xuất gia tu tập thành Phật hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Phật Bảo Tạng thuyết pháp, vua Vô Tránh Niệm nghe và phát tâm cúng dường vật thực và y phục đến đức Phậtchư Tăng liên tiếp trong ba tháng. Sau đó từ bỏ ngôi báu đi tu và phát nguyện sau này thành Phật sẽ làm giáo chủ một cảnh giới cực kỳ trang nghiêmthanh tịnh để tiếp độ chúng sanh. Vua Vô Tránh Niệm phát nguyện xong, đức Phật Bảo Tạng thọ ký là sau này vua sẽ thành Phật hiệu là A-Di-Đà và quốc độ sẽ là một cõi Tịnh độ Cực Lạc nằm về hướng Tây của cõi Ta Bà này.

CÕI TỊNH ĐỘ VÀ ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ:

Qua sự huyền ký của đức Phật Bảo Tạng, cũng như những bản kinh do đức Phật Thích Ca giới thiệu, đặc biệtkinh A Di Đà có ghi: “đi về hướng Tây của cõi Ta Bà này, trải qua nhiều cõi Phật, sẽ gặp một thế giới tên là Cực Lạc.” Gọi cõi ấy là Cực Lạc hay Tịnh Độ vì hai lẽ: Thứ nhất, nhân dân ở cõi ấy không bị những khổ não chi phối, hoàn toàn hưởng sự sung sướng cả về vật chất lẫn tinh thần. Thứ hai, cõi ấy không có những sự ô uế, không bị cấu nhiễm về mọi mặt như cõi chúng ta đang ở nên gọi là Tịnh Độ. Đứng đầu cõi ấy là một vị Phật tên là A Di Đà hiện đang thuyết phápđộ sanh tại đấy. Về công hạnh của đức Phật Di Đà thì cũng như bao nhiêu vị Phật khác, duy có điều mỗi vị Phật như vậy, khi tu nhân, tức là lúc thực hành hạnh nguyện Bồ Tát, có một hạnh nguyện riêng. Hạnh nguyện của đức Phật Di Đàtiếp dẫn chúng sanh về cảnh giới của Ngài để hóa độ cho đến giác ngộ rốt ráo. Kinh Quán Vô Lượng Thọ mô tả đức Phật A Di Đà ngoài trí tuệ vô biên, phước đức vô cùng, ngài còn thọ mạng vô lượng. Kinh gọi là Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Công Đức.

MỘT QUỐC ĐỘ:

Trên đây là vài nét đại cương kinh điển diễn tả về đức Phậtcõi Phật Di Đà. Tuy nhiên, nếu chúng ta không nắm được chân tinh thần của nó mà cứ theo văn tự để hiểu, thì khó mà hình dung được một cõi Tịnh Độ trong đầu. Thật ra, cõi ấy cũng chỉ là một “quả đất” không hơn không kém; chỉ có khác là quốc độ ấy thù thắng hơn cõi của chúng ta về mọi phương diện, mọi lãnh vực. Chẳng hạn như về lãnh vực chính trị, như trước đã đề cập, trị vì nước ấy là một vị Phật; đã là Phật thì bao giờ cũng dùng đức trị thay cho pháp trị. Về mặt văn hóa thì đức Phật thường xuyên thuyết pháp hướng dẫn những phương pháp tu tập nhắm đến việc phát triển kho tàng văn hóa nội tâm. Về phương diện xã hội thì cả quốc độ thống nhất từ trên xuống dưới. Nhân dân hoàn toàn hiền lương đạo đức, đều là thiện tri thức của nhau và cùng nhau tu tập để đạt đến sự giải thoát viên toàn. Nếu phải hình dung một cõi Tịnh độ thì nên hình dung như vậy. Chúng ta không nên hình dung một cõi tịnh độ quá ư mơ hồ rồi sanh tâm nghi hoặc để làm lung lạc niềm tin của chính chúng ta.

XỨNG TÁNH NIỆM PHẬT:

Xứng tánh niệm Phậtniệm Phật để khế hợp với bản tánh thanh tịnh sẵn có của mình. Trình bày ở trước chỉ là trình bày về “sự niệm Phật”. Trên bình diện tánh thể thì, Phật là giác ngộ, là bản thể thanh tịnh, là Phật tánh. Vậy niệm Phật đồng nghĩa với sự chiêm nghiệm lại bản tánh giác ngộ, chiêm nghiệm lại sự thanh tịnh uyên nguyên, chiêm nghiệm lại Phật tánh bình đẳng nhất trong chúng ta. Kinh gọi là bản tánh Di Đà. Di Đà người Trung Hoa dịch có ba nghĩa: Vô lượng quang, vô lượng thọ, vô lượng công đức. Trong mỗi chúng sanh đều có một lượng hào quang vô cùng, nhưng đang bị che bởi bóng tối vô minh. Trong mỗi chúng sanh đều có một thọ mạng vô cùng, nhưng đang bị gián đoạn bởi dòng sanh tử. Trong mỗi chúng sanh đều có một kho tàng công đức vô biên, nhưng đang bị bào mòn bởi ác nghiệp muôn thuở. Niệm Phật xứng tánh là tận dụng nguồn năng lực của mỗi chúng ta để tài bồi và khai quật các kho tàng công đức vô giá trong chính chúng ta.

TỊNH ĐỘ TẠI TÂM:

Giáo lý của đức Phật và tất cả những phương tiện tu tập đức Phật ví như những chiếc bè. Khi chiếc bè đã đến bến, vấn đề còn lại của mỗi người trên bè đó là cùng nhau bỏ chiếc bè để bước lên bờ - bờ giác ngộ. Bờ giác ngộ và bờ sanh tử tuy xa nhưng lại cách nhau không biên giới. Một tổ sư sau khi đạt đạo qua phương pháp niệm Phật đã nói: “Tây phương là đây, đây là Tây phương.” “Đây” có nghĩa là ngay tai cõi này, và ở tại tâm mình sẵn có Tịnh Độ. Kinh Duy Ma Cật nói: “Dục đắc Tịnh Độ, đương tịnh kỳ tâm. Tùy kỳ tâm tịnh tức Phật độ tịnh.” Nghĩa là muốn đạt được Tịnh Độ, trước hết phải thật sự an tịnh nội tâm của mình. Tùy theo tâm của mình an tịnh đến đâu, thì cõi Phật thanh tịnh hiện ra đến đấy. Vấn đề chung cuộc vẫn là vấn đềchúng ta lặp đi lặp lại: từ sự để đạt lý - từ cõi Tịnh Độ ở phương Tây để đạt đến cõi Tịnh Độ ngay trong lòng mình. Từ đức Di Đà ở Cực Lạc để gặp lại đức Di Đà bản thể tại tâm. Rốt ráothành Phật. Trong Phật tánh thì không còn biên giới của quốc độ, tất cả đều là Phật độ. Theo tinh thần kinh Duy Ma Cật thì tất cả các thế giới chúng sanh cho đến từng công hạnh tu tập đều là Phật độ, nơi mà các vị Bồ tát thường an trụ.

Chúng ta thử đọc lại một đoạn kinh Duy Ma Cật, phẩm Quốc độ, để thấy quan niệm rốt ráo về Tịnh Độ ra sao:

“…Này Bảo Tích, tất cả chúng sanhcõi Tịnh Độ của Bồ Tát. Vì sao? Vì Bồ Tát tùy theo chỗ giáo hóa chúng sanh mà nhận lấy cõi Tịnh Độ; tùy theo sự điều phục chúng sanhBồ Tát nhận lấy cõi Tịnh Độ; tùy theo chúng sanh cõi ấy muốn theo quốc độ nào để vào trí tuệ của Phật mà Bồ Tát nhận lấy cõi Tịnh Độ. Tại sao? Vì Bồ Tát nhận lấy cõi Tịnh Độ đều muốn làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.” “… Bảo Tích nên biết rằng, trực tâmTịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ tát ấy thành Phật, tất cả chúng sanh nào trực tâm sẽ sanh về nước đó. Thâm tâmTịnh Độ của Bồ Tát. Khi vị Bồ Tát ấy thành Phật, chúng sanh nào đầy đủ công đức sẽ sanh về nước đó. Bồ Đề tâmTịnh Độ của Bồ Tát. Khi vị Bồ Tát ấy thành Phật, chúng sanh nào phát tâm bồ đề sẽ sanh sang nước đó. Cứ như vậy cho đến các hạnh ba la mật, như bố thí, trì giới… đều là các hạnh của Bồ Tát.

Chép lại một đoạn kinh ngắn đó được xem chính của đức Phật nói với các vị Bồ tát để chúng ta thấy rằng Tịnh Độ không hẳn là chỉ riêng cho một cõi nào hết, mà tất cả đều có thể là Tịnh Độ, nếu tâm chúng ta thực sự thanh tịnh. Tóm lại, cầu Tịnh Độ như vậy tức là cầu Tịnh Độ nơi tự tâmniệm Phật như vậy mới là niệm Phật đúng nghĩa. Ý nghĩa tâm tức Phật và ngược lại là như vậy.

LẠY PHẬT

Lạy là một hình thức tỏ bày sự tôn kính. Mỗi quốc độchủng tộc có một sự tôn kính riêng. Tại Ấn độ ngày xưa, người ta tỏ bày lòng tôn kính tuyệt đốichân thành của mình đến một người khác, thường quỳ xuống sát đất, đem đầu, mặt và tay của mình áp sát bàn chân của vị ấy. Đức Phật là người được tôn kính đặc biệt tại xã hội Ấn độ thời bấy giờ.

SỰ TÔN KÍNH ĐỨC PHẬT ĐẦU TIÊN:

Trong kinh ghi lại chuyện sau khi đức Phật thành đạoquyết định đi thuyết pháp. Ngài nghĩ đến năm người bạn đồng tu ngày xưa, muốn đến hóa độ trước. Năm vị đồng tu này có một thành kiến gần như khinh bỉ khi đức Phật từ bỏ lối tu khổ hạnh trước đó. Lúc đức Phật đến Lộc Uyển, nơi tu khổ hạnh ngày xưa, năm vị ấy nhận biết đó là đạo sĩ Cồ đàm, và cùng dặn dò với nhau là không đứng dậy, không cúi đầu, không dọn chỗ mời ngồi… Nhưng khi đức Phật đến tận nơi thì không ai bảo ai, cả năm vị cùng đứng dậy cúi đầu, chắp tay và nhường chỗ mời đức Phật ngồi. Bây giờ đức Phật cho họ biết là sau khi thay đổi phương pháp tu tập không bao lâu, nhất là nhờ sự tinh tấntrí tuệ kiểm chứng và nhờ tâm quyết chí đạt đạo, nên Ngài đã thành tựu trí tuệ viên mãn. Bấy giờ Ngài là một vị Phật, khác với đạo sĩ Cồ đàm ngày trước. Đức Phật bắt đầu nói bài pháp đầu tiên, cả năm người nhờ có túc căn tu tập nhiều đời nên đã tỏ ngộ chân lý ngay sau khi bài pháp chấm dứt. Cả năm vị lạy đức Phật xin quy y và làm những vị đệ tử xuất gia đầu tiên của đức Phật. Đây là lần đầu tiên năm vị ấy tỏ hết lòng cung kính tuyệt đối của mình đến với đức Phật và đây cũng là lần đầu tiên đức Phật nhận trọn vẹn sự tôn kính đó.

MÔN ĐỆ LẠY PHẬT LÚC SANH TIỀN:

Lúc đức Phật còn tại thế, mỗi lần đức Phật nói pháp cho chư Tăng nghe là các vị ấy thường quỳ ngay ngắn, chấp tay lạy ba lạy rồi ngồi nghe pháp. Mỗi khi có việc gì thưa thỉnh trong sự tu tập hoặc việc truyền giáo, trước khi quỳ lạy , các vị ấy thường đi quanh đức Phật ba hoặc bảy vòng. Sự kiện này không phải là thần quyền, quan liêu hay đế quốc tinh thần mà là một tục lệ cung kính các bậc đạo cao đức trọng của xã hội Ấn độ ngày xưa. Đức Phật mặc nhiên chấp nhận việc làm đó như chấp nhận một tục lệ mà thấy không có gì tổn hại cho đôi bên. Sâu hơn nữa, đức Phật muốn hoán cải tục lệ ấy thành một trong những bước đầu tu tập của các hàng đệ tử. Vả lại, khi các đệ tử làm như vậy là tùy tâm cung kính biểu lộ qua hành động cụ thể chứ không phải làm theo giáo điều quy định. Đức Phật không quy định bất cứ một lễ nghi nào cho các hàng đệ tử mỗi khi đến gặp Ngài, ngoài một lễ nghi duy nhất là ai đến trước ngồi trước, đến sau ngồi sau, và cùng nhau tắm mình trong giáo lý giác ngộ chứa toàn tình thương bao la của đức Phật. Tuy nhiên cũng có những trường hợp các hàng đệ tử tôn trọng và tự xếp đặt vị trí lẫn nhau, đức Phật vẫn chấp nhận. Chẳng hạn như hàng đệ tử xuất gia thì ai thọ giới trước, cao hạ lạp hơn thì ngồi trước, ai thọ giới sau, thấp hạ lạp hơn thì ngồi sau không phân biệt theo tuổi tác ngoài đời. Hàng cư sĩ cũng vậy. Một vị thuộc giai cấp hạ tiện Chiên đà la, nếu quy y Phật trước một vị vua thì vẫn ngồi trước vị vua đó, trừ khi họ tự nhường nhau.

Nghi thức cung kính đức Phật của chư tăng thì hầu như giống nhau hoàn toàn. Phía cư sĩ thì không nhất định, cũng có những cư sĩ làm giống như chư Tăng, có những vị chỉ quỳ chắp tay, có những vị chỉ cúi đầu; và cũng có những vị chỉ giơ tay hay lấy nón mỗi khi gặp đức Phật. Dù dưới hình thức nghi lễ nào đi nữa thì nguồn suối tình thương của đức Phật chảy đến họ vẫn như nhau. Nếu có khác nhau là khác theo từng bản năng tiếp nhận tình thương ấy của từng hạng người mà thôi.

Kinh chép lại một câu chuyện như sau: Có một vị vua bày tỏ sự tôn kính và ngưỡng mộ đức Phật qua chư tăng đến độ các quan cận thần chịu không nổi phải tỏ thái độ bất bình: “Bệ hạ là đấng chí tôn, bao nhiêu thần dân phải cúi đầu bái phục bệ hạ mới phải. Tại sao bệ hạ lại đem cái đầu của một đấng quân vương, quỳ mọp lạy sát chân những thầy Sa môn một cách thái quá như vậy? Đầu của bệ hạ là nơi đáng tôn kính, chân của các vị Sa môn là chỗ dơ dáy; đem nơi tôn kính đặt vào chỗ dơ dáy há không lấy làm nhục lắm sao?

Những câu nói phát xuất từ lòng kiêu căng, ngã mạn của những người quen sống với danh vọng, nhất là không hiểu được tinh thần vọng ngã giải thoát trong đạo Phật, đã không làm nhà vua thối chí, nản lòng hay tức giận, mà Ngài còn tìm phương pháp để giáo hóa giác ngộ họ. Để cảm hóa họ về với chánh đạo, lần nọ nhà vua sai mỗi vị quan như vậy phải đi bán một món đồ ăn. Người thì được sai bán đầu gà, đầu vịt, đầu heo, đầu bò… riêng vị quan đã nói những lời như trên, nhà vua sai bán một đầu người. Chiều về ai cũng bán được với những giá cả khác nhau; duy có vị quan bán đầu người, không những không bán được, mà còn làm cho người ta sợ hãi. Lúc đó nhà vua mới bắt đầu giảng cho họ nghe cái có vẻ “hữu lý” của cuộc đời, nhưng thật sự đưa đến vô lý; và những cái tựa hồ “vô lý”, lại đưa đến hữu lý vô cùng trong kiếp sống. “Đầu người chỉ hữu lý lúc sống, nhưng thật vô lý khi đã chết. Vậy thì tại sao ta không tận dụng cái hữu lý lúc sống trong khi tu tập để gặt hái kết quả tốt khi nó trở thành vô lý?” Nhà vua đã thức tỉnh những người chưa nếm được vị đạo qua những lời chỉ giáo trên.

MÔN ĐỆ TÔN KÍNHLẠY PHẬT SAU KHI TỊCH:

Trở lên là những hình thức lễ nghilạy Phật lúc sanh tiền. Sau khi Ngài tịch diệt, những hình thức lễ nghi và sự kính lễ ấy vẫn được duy trì trong các hàng đệ tử của Ngài. Duy trì hình thức này với mục đích là luôn luôn xem đức Phật như còn tại thế.Cử chỉ ấy không có gì là trái với đạo hay mê tín dị đoan, nếu chúng ta lạy đúng cách. Chư tăng mỗi khi tụng kinh phải mặc áo vàng trang nghiêm là vì hồi Phật tại thế các đệ tử xuất gia hay mặc áo đó. Lạy Phật ba lạy trước khi đọc lại lời Ngài là để nhớ lại ngày xưa mỗi lần nghe pháp chư tăng thường làm như vậy. Đọc lại lời ngài vì mình không đủ phúc duyên nghe chính kim khẩu của Ngài nói nên bây giờ tự đọc lại để nghiền ngẫmtu tập theo. Hàng đệ tử tại gia lạy Phật cũng chỉ lạy trong ý nghĩa này.

TỪ TÔN KÍNH ĐẾN CẦU KHẨN:

Tuy nhiên, vấn đề lạy Phật bây giờ không còn mang trọn tinh thần đó nữa, mà đã nghiêng hẳn về sự cầu khẩn ban phúc trừ họa. Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận tinh thần “ban phúc trừ họa” trong đạo Phật. Đức Phật ban phúc không phải đem phúc từ một nơi nào đến để vào nhà chúng ta, hay lấy họa từ nhà chúng ta đem bỏ một nơi nào khác. Ban và trừ theo tinh thần của đạo Phậtđức Phật trao cho chúng ta một chìa khóa để tự chúng ta mở hay khóa cửa họa phúc trong chính chúng ta. Chìa khóa đó là “không làm các điều ác, làm các điều lành, tự lắng tâm ý mình.” Giây phút nào mà chúng ta thành khẩn quỳ trước hình tượng đức Phật là giây phút ấy lắng đọng tâm tư sâu thẳm nhất, và ít nhất là trong giây phút đó, chúng ta đã không làm điều ác qua ba chỗ: thân, khẩu, ý. Nói một cách khác là chúng ta đang mở kho tàng phước báu. Một số khác cho đó là việc làm mê tín nên đã ngỡ ngàng đến đỗi không dám cúi đầu trước tượng Phật. Một số khác nữa là chỉ ngắm hình tượng đức Phật như những công trình điêu khắc cần được chú ý theo tinh thần thẩm mỹ.

Song song với những số người trên, có một số người lạy Phật “cầu danh.” Lạy Phật cầu danh nghĩa là khi nào thấy có đông người, muốn chứng tỏ cho mọi người biết rằng mình là người tin Phật, là Phật tử thuần thành, trọn lòng tôn kính đức Phật nên lớn tiếng xướng danh hiệu Phật hoặc hít hà tha thiết siêng năng lễ lạy không ngừng, nhưng khi vắng người thì thân lười tâm biếng trễ nãi việc tu, không nghiên tầm lời Phật. Hành động này không những lừa đảo người khác mà còn dối gạt với chính mình, và cho dù họ có đối diện trước tượng Phật bao lâu đi nữa, với tâm niệm đó, họ cũng đang mở cửa ác, chứ không phải cửa thiện.

LÝ TÁNH LẠY PHẬT:

Trong đạo Phật bao giờ sự lý cũng phải viên dung. Về sự thì chúng ta đối trước Phật đài với tất cả thân tâm thành kính, thật sự xem như Phật còn sanh tiền. Lạy Ngài với ý thức học đòi những đức tánh cao cả của một người vượt hẳn lên loài người. Lạy Ngài với tâm nguyện noi theo dấu chân Ngài để thực sự gặp Ngài và đối diện với Ngài trong thực tại cuộc sống. Muốn đạt được như vậy chúng ta phải đi từ sự lạy Phật qua hình tượng của Ngài để đạt đến các phép lý lạy Phật sau đây:

*Lắng đọng tâm tư: lắng đọng tâm tư trong khi lạy Phật là phải dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý cho được thanh tịnh. Không nảy ra ý nghĩ đức Phật được mình lạy hay mình bị lạy đức Phật. Nên nghĩ là mình lạy và đức Phật được lạy cả hai đều cùng một bản thể thanh tịnh, chỉ có khác là ngài đã hòa hài trong biển trí thanh tịnh đó, còn chúng ta đang bị nổi trôi trong biển trầm luân khổ ải. Nghĩ như vậy không phải để đưa đến tư tưởng bi quan chán nản mà là để quyết chí hơn lên trên đường tu tập. Tâm thanh tịnh đến đâu là cảnh Phật và đức Phật hiện ra đến đó.

*Lạy Phật khắp tất cả: Lạy Phật khắp tất cả nghĩa là mình đừng nghĩ rằng Phật thì có vô số mà ta lạy chỉ có một vị như vậy không đủ. Nên nghĩ rằng Phật tuy vô số, nhưng cùng bản thể thanh tịnh. Lạy bản thể thanh tịnh tức là lạy tất cả chư Phật trong tất cả phương hướng.

*Giữ vững niềm tin: Giữ vững niềm tintin chắc chắn chúng ta sẽ đạt đến bản thể thanh tịnh đó bây giờ và tương lai. Nếu không có một niềm tin kiên quyết như vậy, trên đường tu của chúng ta đôi khi sẽ tự mỏi mệt, lười biếng. Từ sự mỏi mệt lười biếng này làm nhân, sẽ dẫn đến kết quả là tự vượt ra ngoài biển cả thanh tịnh.

Tóm lại, cũng giống như việc thờ và cúng Phật ở trước, chúng ta phải khởi đi từ sự để đạt đến lý tánh. Trong lý tánh thì không có trong, ngoài, đây, kia, hay người lạy và người được lạy. Trong kinh nói người lạy và Phật được lạy bản thể cả hai bên đều vắng lặng như nhau (năng lễ sở lễ tánh không tịch). Lạy Phật trong tinh thần đó để tập thấy rằng chúng ta không quá bị ràng buộc trong những hình thức lễ nghi rườm rà.

CÚNG PHẬT

Trong tất cả các sự cúng dường

Cúng dường pháp là tối thượng

- Kinh Pháp Cú

HÌNH THỨC CÚNG DƯỜNG BAN ĐẦU:

Một phẩm vật hiến đến một người mình tôn kính, nhất là người đó đã khuất mặt, thì được gọi là “cúng’. Chữ cúng có nghĩa là “cung cấp cho.” Thông thường chúng ta gọi là biếu, tặng, hay bố thí… Lúc thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ lối tu khổ hạnh, bắt đầu đi khất thực và uống ăn trở lại bình thường, thì sự hỗ trợ từ bên ngoài vô cùng cần thiết. Ngài mong được sự hỗ trợ về vật thực để thân thể Ngài khỏe mạnh hầu có thể tiếp tục cuộc hành trình tìm chân lý của Ngài. Sự hỗ trợ này là một hình thức cúng dường, vì các đạo sĩ Ấn độ thời bấy giờ đều được dân chúng tôn kính.

NGƯỜI CÚNG PHẬT ĐẦU TIÊN:

Trong số những thí chủ dâng vật thực đến đạo sĩ Tất Đạt Đa lúc đó có một người tên là Tu-xa-đa. Nàng Tu-xa-đa đã dâng cho đạo sĩ Tất Đạt Đa một món ăn nấu nướng rất công phu. Sau bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể này, Ngài đến gốc cây bồ đề tĩnh tọa liên tiếp 49 ngày đêm và đã hoàn thành được tuệ giác tuyệt vời trong thời gian đó. Chúng ta có thể xem Tu-xa-đa là người cúng Phật đầu tiên, mặc dù khi thọ thực, đạo sĩ Tất Đạt Đa chưa là vị toàn giác.

CÚNG PHẬT LÚC SANH TIỀN:

Sau khi đã khai quật được kho tàng chân lý, đạo sĩ Tất Đạt Đa bây giờ là một vị Phật. Là một vị Phật, Ngài chỉ khác chúng ta về nếp sống nội tâm, còn những sinh hoạt thường nhật cũng rất bình thường. Buổi sáng sớm, sau nhiều giờ tĩnh tọa xong, Ngài và môn đệ dọn dẹp sạch sẽ nơi đã ngủ trong đêm qua, hoặc dưới gốc cây hoặc trong tinh xá, rồi bắt đầu đi dần về phía các làng mạc để khất thực. Những nơi dừng chân khất thực đều có những lời pháp ngắn để nhắn nhủ, khuyên răn mọi người tu tập theo đạo giải thoát mà Ngài đã khám phá ra được. Sau khi khất thực đủ ăn, hoặc dưới gốc cây, hoặc về tinh xá, đức Phậtmôn đệ dùng bữa trưa. Trong bữa ăn, đức Phật thường dặn dò đệ tử nhớ nghĩ đến công lao thí chủ và sau đó hồi hướng phước báu đến cả chúng sanh. Cũng lắm khi đức Phật không phải đi khất thực mà nhận lời mời dùng bữa tại nhà một cư sĩ thường dân, của một nhà hào phú hoặc của nhà vua. Đặc biệt là trong ba tháng an cư kiết hạ, đức Phậtchư tăng không đi khất thực, cũng không nhận lời mời đi thọ thực riêng, mà thí chủ đem vật thực đến tận tinh xá để cúng dường. Cứ như vậy tiếp tục trong thời gian gần 50 năm trường kể từ ngày Ngài thành Phật. Và hình thức cúng dường hay cúng Phật lúc sanh tiền chỉ có vậy.

NGƯỜI CÚNG PHẬT SAU CÙNG:

Trong số những cư sĩ thường dân cúng dường vật thực đến đức Phật, có một bữa ăn vô cùng cảm động và đã trở thành một bữa ăn lịch sử; bữa ăn của cư sĩ Thuần đà, một nhà thợ rèn nghèo khó. Dù nghèo khó nhưng nghe đến phước báu cúng dường một vị Phật rất hiếm có, nên cư sĩ Thuần đà cũng đã cố gắng thực hiện cho bằng được. Trong bữa ăn ông chỉ nhổ được một loại nấm đặc biệt tận trong rừng sâu về nấu dâng đức Phật. Đức Phật dùng bữa tại nhà Thuần đàhồi hướng phước báu xong, đồng thời cho hay là ngày nhập diệt của Ngài không còn xa mấy. Từ sau ngày đó đức Phật không nhận lời mời thọ thực đâu nữa, và như vậy Thuần đà được xem là người cúng Phật sau cùng.

CÚNG PHẬT SAU KHI TỊCH DIỆT:

Sau khi đức Phật tịch diệt thì sự cúng Phật được gọi là cúng dường Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng.

*Cúng dường Phật Bảo:

Lúc đức Phật còn sanh tiền, còn ăn mặc, còn đi lại, nên những vật thực, y phục, thuốc men dâng đến đức Phật là một điều cần thiết. Sau khi đức Phật tịch rồi thì sự dâng cúng lễ vật đến đức Phật chỉ là hình thức tượng trưng. Sự cúng Phật bây giờ chỉ là hình thức giả tưởng xem như Ngài còn tại thế. Ngày xưa các đệ tử, các đàn việt dâng hiến lễ vật cúng dường Ngài như thế nào, bây giờ chúng ta làm để nhớ lại những cử chỉ ấy, chứ đức Phật chẳng thọ hưởng thứ gì. Hình thức này tạo cho chúng ta cảm giác luôn luôn được gần gũi đức Phật để chúng ta quyết chí noi theo dấu chân Ngài.

LỄ VẬT CÚNG PHẬT:

Vậy cúng Phật bây giờ chỉ là hình thức tượng trưng; do đó nếu mỗi khi cúng Phậtchúng ta bày biện đủ mọi thứ vật thực linh đình, thì không những chỉ vừa phí của, phí công mà còn sai lạc ý nghĩa sâu xa của việc cúng Phật. Trong kinh có ghi lại năm món thượng vịPhật tử nên dâng lên với tất cả lòng thành để cúng dường đức Phật:

-Giới hương vị: Về phương diện hình thức, chúng ta dùng bông, trái, hương thơm, đèn sáng để cúng Phật hàng ngày. Về mặt nội dung, chúng ta phải nghiêm trì giới luật, nghĩa là những giới nào chúng ta đã phát nguyện thọ trì thì cố gắng gìn giữ hàng ngày. Hàng đệ tử cúng Phật cao cả nhất thời Ngài còn tại thế cũng như bây giờ là việc tinh chuyên tu tậpthực hành chánh pháp. Mùi hương thực hành chánh pháptu đạo giải thoát dù ngược gió cũng bay khắp muôn phương và hòa hài trong tất cả cảnh giới Phật.

-Định hương vị: Đức Phật bảo tâm của chúng ta giống như con vượn chuyền cây, không lúc nào ngừng nghỉ. Ngày nào tâm còn loạn động là ngày ấy ngọn đèn trí tuệ của chúng ta chưa thắp sáng được. Do đó mỗi ngày chúng ta nên có một ít thì giờ để tập định tỉnh tinh thần. Trong giờ phút đó cố gắng đừng để cho những tư tưởng xấu, những ý nghĩ ác xen vào làm tâm hồn loạn động. Giờ phút nào tâm tư chúng ta lắng đọng là giờ phút ấy chúng ta đang dùng định hương vị để cúng dường đức Phật.

-Tuệ hương vị: Tuệ là trí tuệ. Trí tuệ của chúng ta phát sanh qua ba ngõ: Văn tuệ, Tư tuệ, và Tu tuệ. Văn tuệ là lắng nghe hoặc đọc lại những lời dạy của đức Phật. Dù nghe hay đọc cũng với tinh thần khách quan, không để bất cứ thành kiến nào chi phối. Tư tuệsuy gẫm trở lại.

Qua gìai đoạn nghe hay đọc rồi,chúng ta để tâm suy gẫm trở lại cho thực rõ ràng, phải trái phân minh. Giai đoạn thứ ba (Tu tuệ) là quyết tâm thực hành những điều chân chánh và loại bỏ những điều xấu ác trong tâm hồn chúng ta. Thực hành một cách đúng đắn theo những phương pháp, những lời dạy hướng chúng ta đến chân trời giải thoát giác ngộ.

-Giải thoát hương vị: Dùng sự giải thoát cả thân lẫn tâm để cúng dường đức Phật; nghĩa là chúng ta hằng cố gắng tu tập để vượt ra ngoài sự chi phối của phiền nãongã chấp. Phiền não bao gồm trong ba thứ tham, sân, si sẵn có trong chúng ta. Ngã chấp là không nhận chân được lý vô thường của cuộc đời nên cái gì cũng cho là thật có, cái gì cũng thấy cái “ta” đứng đầucuối cùng mọi thứ đều đem vào tùy thuộc theo cái “ta” đó.

-Giải thoát tri kiến hương vị: Đây là loại hương vị quí giá nhất mà rất hiếm người tìm ra được để cúng Phật. Giải thoát tri kiến nghĩa là chúng ta đã thực sự vượt ra ngoài vòng chi phối của phiền não, vượt ra ngoài cả ngã chấppháp chấp. Phần giải thoát thứ tư, chúng ta mới giải thoát được ngã chấp, phần này chúng ta giải thoát luôn cả pháp chấp. Đây là mục đích tối hậu và cũng là món thượng vị trong Phật giáo. Năm món thượng vị cúng Phật trên dù có ngược gió cũng tỏa hương ngào ngạt. Trong kinh Pháp Cú đức Phật bảo: “Mùi hương của các thứ hoa, dù là hoa chiên đàn, hoa mạn đà la, hay hoa mạt lỵ đều không thể bay ngược gió, chỉ có mùi hương đức hạnh của người chân chánh tu đạo giải thoát, tuy ngược gió vẫn bay khắp muôn phương.” Hãy cố gắng tự tay mình tạo năm món hương vị trên để cúng dường đức Phật.

*Cúng dường Pháp bảo:

Pháp là những lời dạy, những phương châm hành động mà đức Phật đã dạy còn lưu lại đến ngày nay để chúng ta noi theo đó học hỏitu tập. Chúng ta tích cực góp phần vào việc truyền đạt những giáo pháp đó đến quảng đại quần chúng là một trong những cách cúng dường đức Phật. Trong kinh Pháp Cú có dạy, trong tất cả các sự cúng dường, cúng dường pháp là tối thượng. Việc cúng dường pháp này có nhiều cách: Tự mình học hỏi lời đức Phật, giải bày lời đức Phật cho người khác nghe để tu tập; góp phần vào việc ấn tống kinh sách; tổ chức các lớp học Phật…Tất cả những việc làm này đều quy tụ về một mối là tiếp tục sứ mạng khêu sáng ngọn đèn chánh pháp của đức Phật đến tận vị lai.

*Cúng dường Tăng bảo:

Chư Tăng là những người xuất gia, sống không nhà cửa, nhưng sống một cách hòa hợp, nhất là tích cực theo dấu chân của đức Phật. Những vị đó được xem là trưởng tử của đức Phật, có bổn phận thay thế đức Phật truyền đạt tư tưởng và những phương pháp tu tập của Ngài đến mọi giới. Nếu Phật tử tại gia cung kính đức Phậtcúng dường Ngài lúc sanh tiền như thế nào, thì bây giờ chúng ta cũng tiếp tục ủng hộ chư Tăng trong sứ mạng hoằng pháp lợi sanh như thế ấy. Nói một cách khác, không phải là chư Tăng mà bất cứ ai có đủ khả năng mang sứ mệnh truyền giáo đó mà thiếu phương tiện, chúng ta đều ủng hộ cả. Làm được như vậy và mang trọn tinh thần đó tức là chúng ta đã cúng dường đức Phật một cách thiết thực nhất.

Trở lên là cúng Phật bao gồm cả hai phương diện: hình thức và nội dung. Ở một phương diện nào đó, chúng ta có thể bỏ qua phần hình thức chứ nhất định chúng ta không thể quên đi phần nội dung. Nội dung là phần tinh ba và then chốt nhất trong Phật giáo.

Tại sao cúng Phật?

Đức Phật là một bậc xứng đáng thọ lãnh sự cúng dường. Ngoài 10 danh hiệu đặc biệt xưng tán Ngài xứng đáng thọ lãnh sự cúng dường đã ghi ở phần trước, những điều rất cụ thể khác là: Ngài là bực đã vượt ra ngoài mọi tham dục. Không còn giữ lại bất cứ một thứ gì cho riêng mình. Suốt cuộc đời Ngài xả thân trọn vẹn cho chúng sanh và gần nhất là cho chúng ta. Những phương châm hành động mà Ngài đã để lại là những liều thuốc bổ gia truyền cho thâm tâm chúng ta, nếu chúng ta biết sử dụng. Tưởng bao nhiêu đó cũng đủ để chúng ta dâng cúng mà không đặt điều kiện, không thấy tiếc. Những người thừa kế, dù chưa trọn lành như đức Phật, nhưng đang quyết chí tiến theo, chúng ta cũng có bổn phận hộ trì. Tóm lại, lý do đơn giảnchúng ta cúng Phật là thù đáp lại ân đức sâu dày của một bậc đã dành trọn cuộc đời cho chúng ta.

Cúng Phật vào giờ nào?

Tập tục cúng Phật vào giờ trưa (ngọ) đã ăn sâu vào tiềm thức của đại đa số quần chúng. Tập tục này không phải là dở, cũng không phải là sai, nhưng nếu chúng ta không hiểu tại sao và không nắm được tinh thần của nó thì không đem lại lợi ích gì cả mà còn lạc đi chân giá trị. Hồi sanh tiền, đức Phật thật sự dùng bữa vào giờ “ngọ”. Thật ra, giờ đó không phải là giờ tốt nhất trong ngày, mà chính cái giờ được quy định để dùng bữa cho đều đặn. Giờ giấc tu tậpsinh hoạt của đức Phậttăng đoàn lúc bấy giờ rất là phân minh; do đó không thể vì một bữa ăn mà trễ nãi các việc khác. Đây là vài lý dođức Phật cần quy định một giờ thọ thực nhất định trong ngày. Lý do thứ nhất là để cho người phát tâm dâng cúng vật thực chuẩn bị đúng lúc. Thứ hai, đức Phật không chủ trương nấu nướng mà chỉ dùng phương pháp khất thực đủ nuôi mạng sống trong ngày để làm việc đạo. Nếu đi khất thực ngày hai hay ba bữa thì hóa ra chỉ lo nuôi sống thân mình mà bỏ đi ý nghĩa lợi sanhthì giờ tu tập cao cả. Buổi trưa là buổi thuận lợi nhất trong ngày. Chiều lại thì đức Phật chỉ lo việc thuyết pháp và hướng dẫn đồ chúng thực tập thiền định để phát huy năng lực tinh thần. Về phần thực tế cả sự lẫn lý chỉ có vậy. Bây giờ chúng ta cúng Phật vào giờ ngọ là noi theo tinh thần đó. Nhưng trên bình diện bản thể, vượt không gianthời gian, nhất là dùng năm món diệu hương thượng vị trên để cúng dường đức Phật, thì chúng ta có thể cúng Phật vào bất cứ giờ phút nào. Nói cách khác là giờ phút nào chúng ta thanh lọc phiền não, phát huy năng lực tinh thần và khêu tỏ ngọn đèn trí tuệ là giờ phút ấy chúng ta đang cúng Phật.

Tóm lại, không học hỏi, không tu tập, không nếm được hương vị giác ngộ và giải thoát trong giáo lý của đức Phật, thì dù có dâng toàn những vật báu, cúng toàn những món quí nhất trần gian này đi nữa, chúng ta cũng chỉ làm ngược lại bản hoài của đức Phật.

NI SƯ TRÍ HẢI – BÓNG HẠC

Lưng trời bóng hạc bay cao

Hòa trong không ảnh biết bao tuyệt vời

Người đi như ánh sao rơi

Thiều quang chiếu tỏa muôn nơi dịu hiền.

08/12/03

TỤNG KINHTRÌ CHÚ

Cửa vô sanh bất diệt đã rộng mở, những ai có mắt muốn thấy, có tai muốn nghe, hãy chú tâmtin tưởng.

-Kinh Trung A Hàm

Cho đến nay mặc dù đức Phật đã cách chúng ta hơn 2600 năm, nhưng dư âm giải thoát, phong thái độ đời và nhất là những di huấn của Ngài vẫn còn được lưu lại cho hậu thế một cách đậm đà.

Lúc sanh tiền, những lời dạy của đức Phật không ghi lại thành văn, nhưng các môn đệquyết chí tu học nên đã nhuần nhã nằm lòng và lưu truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Sau khi đức Phật tịch ba tháng, các đệ tử ý thức tầm mức quan trọng và dài lâu của lời Ngài dạy, nên đã cùng nhau tụ họp tại thành Vương Xá để đọc lại những Phật ngôn quý báu. Đại đức A Nan, người có diễm phúc hầu cận và nghe tất cả những giáo huấn của đức Phật, được mời tường thuật lại những lời khuyên dạy của đức Phật. Ngài Ư-ba-li được mời nói về những điều liên quan đến giới luật. Cả hai vị này thay phiên nhau trả lời những câu hỏi thâm sâu của hai phần trên và phần trả lời này về sau được xem là luận. Đây là lần kết tập kinh điển đầu tiên để hệ thống hóa rành mạch toàn bộ giáo lý của đức Phật và chia thành ba bộ môn chính: Kinh, Luật, Luận.

Trong vòng hơn hai thế kỷ kể từ ngày đức Phật tịch, có nhiều lần trùng tuyên lại lời đức Phật dạy như vậy, nhưng vẫn chưa có khuynh hướng ghi lại thành văn. Mãi đến khoảng năm 83 trước Tây lịch (?) những lời kinh truyền tụng thuộc lòng này mới được ghi lại thành văn hẳn hoi để bây giờ chúng ta có văn bản hoặc đọc hoặc tụng hàng ngày.

*Tụng Kinh:

Tụng là đọc lại một cách trang nghiêm, chăm chú, hoặc thành tiếng hoặc không thành tiếng. Có thể tụng một mình hay nhiều người cùng tụng. Kinh là tất cả những lời của Phật dạy. Thông thường và gần như truyền thống, mỗi khi tụng kinh phải ăn mặc sạch sẽ chỉnh tề đến trước bàn Phật và làm mọi nghi lễ trước khi tụng. Thật ra, ở bất cứ một nơi nào, miễn nơi ấy giúp cho chúng ta tạo được sự yên tĩnh từ hoàn cảnh chung quanh đến thể xác và tinh thầnchúng ta đều có thể đọc tụng được cả. Mục đích của tụng kinh là để thấu hiểu những điều thâm diệu tiềm ẩn trong lời Phật dạy hầu giúp cho chúng ta tu thân xử thế và trực diện với cuộc đời cũng như trực diện với chính ta. Kinh nào chúng ta cũng đọc tụng được cả và đều có một hiệu năng tốt đẹp miễn là bản kinh đó phù hợp với trình độ hiểu biết của chúng ta. Điều then chốt là nắm được chân tinh thầncố gắng hành trì, tập sống theo chân tinh thần của bản kinh đó chứ không phải việc tụng nhiều hay ít.

Kinh Phật, như vừa đề cập, sau khi đức Phật tịch, các đệ tử kiết tập lại và hệ thống hóa thành ba bộ môn chính là Kinh tạng, Luật tạngLuận tạng.

-Kinh tạng

Kinh tạng là những bài thuyết pháp do chính đức Phật nói ra trong nhiều trường hợp khác nhau cho cả hai chúng đệ tử xuất giatại gia. Có những bài pháp do các đệ tử của đức Phật nói nhưng đã được đức Phật xác chứng lại mức độ hoàn hảo của nó cũng được ghi vào tạng Kinh.

Có những bài kinh đức Phật đặt nặng về phần lợi ích cũng như một đời sống cao thượng của người xuất gia hành đạo giải thoát. Cũng có nhiều bản kinh đức Phật chỉ đề cập đến mức độ tiến bộ về tinh thần đạo đức cũng như bổn phận của người Phật tử tại gia. Chung quy trong kinh tạng hầu hết ghi lại những lời dạy bao hàm nhiều quy tắc khác nhau để chúng ta tập thực hành theo. Những quy tắc này đức Phật giảng giải trong nhiều trường hợp, dưới nhiều trình độ, và ở nhiều hoàn cảnh khác nhau. Dĩ nhiên, trong mỗi trường hợphoàn cảnh như vậy, đức Phật có một lối giảng giải khác nhau; lắm khi chúng ta nghe dường như mâu thuẫn, nhưng chúng ta phải thận trọng nhận định những Phật ngôn ấy theo từng trường hợp riêng biệt.

Hầu hết các bản kinh thuộc kinh tạng mở đầu có ghi “Lục chủng thành tựu.” Lục chủng thành tựu là sáu điều để xác chứng cho bản kinh đó. Sáu điều đó là:

Tín thành tựu: Lời xác chứng trước khi tường thuật (Như vầy…)

Văn thành tựu: Đích thân vị tường thuật ấy nghe rõ ràng (Tôi Nghe…)

Thời thành tựu: Thời gian bản kinh ấy được nói ra (Một hôm nọ…)

Chủ thành tựu: Ai đã nói bài kinh đó (Phật…)

Xứ thành tựu: Bài kinh ấy nói tại đâu (Ở nước…)

Chúng thành tựu: Gồm những ai đến nghe (Cùng với chư Tỳ kheo…)

Thí dụ: Như thị ngã văn, nhứt thời Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ thọ Cấp cô độc viên, giữ đại Tỳ kheo tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhơn câu…

(Tôi nghe như vầy, một hôm nọ, đức Phật ở tại nước Xá Vệ, trong rừng cây của Thái tử Kỳ đà và vườn của ông Cấp Cô Độc, cùng với chư Đại đức Tỳ kheo một ngàn hai trăm năm chục vị…)

Sáu điều trên đây là mở đầu của ngài A Nan, người được đại chúng mời tường thuật lại lời Phật, trước khi nói lại những gì mà ngài đã nghe, nhớ và thuộc lòng.

Tóm lại, những lời dạy của đức Phật là những nguyên tắc cơ bản do chính bản thân thực nghiệm của đức Phật nói ra và được ghi lại thành văn bởi các hàng đệ tử hậu lai. Những lời dạy này muôn đời có giá trị, nhưng không phải giá trị ở chỗ được nhiều người tôn thờ như một bảo vật để trong tháp ngà, mà giá trị đích thực ở chỗ mỗi người biết khéo léo sử dụng những nguyên tắc cơ bản đó trong cuộc sống thường nhật của mình để tự cảm nhận được những lợi lạc thiết thực của nó.

-Luật Tạng

Nếu kinh được ví như con thuyền, thì Luật là những dây thừng, những chiếc neo để bảo tồn con thuyền đó. Phần lớn giới luật đề cập đến cuộc sống của người xuất gia. Những giới luật này không phải đức Phật đặt ra một cách nhứt định ngay từ đầu để bắt buộc chúng ta phải khép mình theo một cách khắt khe. Chỉ mỗi khi tăng đoàn có một trường hợp nào xảy đến, Ngài mới đặt ra một điều để răn nhắc. Trong bộ môn giới luật này ghi rõ những lý do, những trường hợpđức Phật chế ra giới, đồng thời mô tả đầy đủ những nghi thức phải làm và làm như thế nào mỗi khi có một vị phạm giới. Ngoài những giới điều căn bản ra, luật tạng còn nêu ra những phương pháp thành lập một giáo hội tăng già, việc sử dụng tài sản của tổ chức đó và tính cách luân lý cao thượng của nó…

Tóm lại, Luật tạng gồm những giềng mối, kỷ cương giúp cho một đoàn thể giáo hội đứng vững và sống mạnh để phát huy tinh thần văn hóa của tổ chức ấy. Tuy nhiên, dù đức Phật chế giới, nhưng vấn đề then chốt vẫn là vấn đề tự nguyện tự giác. Ai hành trì đến đâu thì hưởng lợi lạc đến đó. Do đó danh từ chuyên môn gọi là “Biệt giải thoát.”

-Luận tạng

Kinh là những định đề súc tích; luận là phần giải thích rõ ràng những định đề ấy. Phần này đóng một vai trò quan trọng nên còn gọi là pháp qui hay vi diệu pháp. Phần cốt tủy của luận tạng là do đức Phật nói, nhưng khai thác và làm sáng tỏ ra đều là do các nhà sư uyên thâmchứng ngộ Phật học. Thời đức Phật, ngài Xá Lợi Phất lãnh trọng trách giảng rộng và giải thích về luận tạng.

Đa số học giả và những nhà chuyên nghiên cứu về Phật học cho rằng tạng luận là những kho sách không những cần thiết cho việc dẫn đạo, mà còn là những tập khảo luận vô giá. Các phần chỉ được đề cập đại cương trong tạng kinh như sắc pháptâm pháp, hay vật chấttinh thần chẳng hạn, mối tương quan của những sự kiện này ra sao đều được giải thích một cách rõ ràng trong tạng luận. Sự giải thích này không nhắm đến việc thành lập một hệ thống tư tưởng giữa tâm và vật, mà chỉ quan sát những yếu tố cơ bản tạo thành một “chúng sanh” để giúp cho chúng ta có một nhận thức thực tướng về vật đó. Nói một cách khác là không nhằm để thỏa mãn những nhu cầu kiến thức mà chỉ nhắm đến việc giúp cho sự thực hành những điều đã dạy trong phần kinh tạng một cách đúng đắn. Ta có thể nói tạng luận là chìa khóa để mở cửa vào kho tàng bí yếu Phật giáo.

Những tác phẩm của các nhà sư hoàn toàn xuất hiện sau khi đức Phật tịch rất lâu, những cũng được liệt vào tạng luận vì lẽ không có gì trái với tinh thần của đức Phật đã dạy. Tóm lại, tạng luận là do nhiều công trình sáng tác và tài bồi qua nhiều thế hệ kể từ thời đức Phật mãi đến sau này. Tạng luận giúp phơi bày những ý nghĩa thâm diệu trong tạng kinh và cả tạng luật nữa. Nó giúp cho người tu tập hiểu thấu đáo, tường tận lời Phật dạy trước khi thực sự bước lên đường tu tập tìm cầu giác ngộ.

Để kết thúc cho phần tụng kinh, xin lập lại đây một câu trong kinh Kim Cang: “Tất cả các pháp ta nói ra đều được xem như chiếc bè.” Do vậy, dù tụng kinh, đọc luật, hay xem luận, hiệu năng không ngoài việc giúp cho chúng ta hiểu sâu, tin chắc và bước vững trên đường tu tập. Tụng kinh, hiểu kinh là một chuyện; có tu tập theo điều mình hiểu hay không lại là một chuyện khác. Mỗi công việc đều có một hiệu năng và kết quả khác nhau.

*Trì Chú:

Trong Phật giáo có một tông phái gọi là Mật Tông. Tông phái này chuyên môn trì chú có cả ấn quyết nữa. Như vậy trì chú cũng là một trong những pháp môn tu tập thuộc Bắc tông Phật giáo.

Chú là những câu có “mật nghĩa,” hầu như người nào hành trì mới cảm nhận được công năng của nó. Hầu hết các bài chú đều đọc theo âm bằng tiếng Phạn hoặc nhại lại theo âm tiếng Phạn chứ không được dịch nghĩa rõ ràng.

Có những bài chú do chính đức Phật nói ra và có những bài chú do những vị thần hiện thân người đến nghe pháp, cảm thán lời Phật dạy, rồi nói chú phát nguyện hộ trì những lời dạy của đức Phật. Cũng có những bài “chú” toàn ghi lại danh tánh của các vị thần hiện diện trong pháp hội lúc đức Phật thuyết pháp và đã phát nguyện trước Phật, nếu sau này có ai đọc tụng lại lời Phật mà gọi đến tên chúng tôi, thì chúng tôi sẽ đến trú xứ đó bảo vệhộ trì người tụng kinh.

Lý do đức Phật nói chú:

Thời đức Phật có rất nhiều phái tà đạo hay dùng bùa phép hay chú thuật để làm mê hoặc hay não hại nhân gian như trù ếm, giết người… Đức Phật tuy không học các tà thuật đó lúc tu tập, nhưng khi đã giác ngộ, Ngài biết rất rõ là dùng loại chú nào để có thể trừ loại chú nào. Trường hợp ngài A-Nan là một thí dụ điển hình. Ngài A-nan bị một thiếu nữ ngoại đạo dùng tà thuật và đọc chú bắt về cưỡng ép làm hôn phu, đức Phật đã kịp thời dùng một loại thần chú khác đọc ra để giải nạn cho ngài A-nan, đó là thần chú Lăng Nghiêm. Vậy chú do đức Phật nói ra không phải là để mê hoặc tín tâm mà chỉ nhằm mục đích giúp đỡ và hộ trì khi cần thiết.

Lý do các vị thần nói chú:

Như vừa nói, trong các pháp hội của đức Phật thời bấy giờ, không phải chỉ có loài người mà có chư thiênquỉ thần hiện hình người đến nghe pháp. Sau khi nghe pháp, các vị ấy cảm thọ được sự lợi lạc của bài pháp nên nói ra những mật ngữ kèm theo lời phát nguyện rằng, nếu sau này ai trì tụng kinh này mà đọc lại những mật ngữ của chúng tôi, chúng tôi nguyện sẽ hộ trì người đọc và cả trú xứ nơi người ấy tụng kinh. Những bài chú của các vị thần nói ra là vì sự tri ân muốn bảo tồn lời dạy của đức Phật.

Tóm lại, dù tụng kinh, trì chú hay niệm Phật tất cả cũng chỉ là những phương tiện tu tập. Mọi phương tiện đều bị hủy thể sau khi chúng ta áp dụng phương tiện ấy một cách viên mãn, thực sự tự tỉnh thức được, không bị mọi ràng buộc chi phối. Đây là đích thực của câu kinh: Giáo pháp là chiếc bè báu đưa chúng sanh qua khỏi dòng sanh tử.

ÔN HỘI CHỦ

Ôn “vào sanh tử dạo chơi,”

Chỗ nào Ôn đến tỏa ngời bóng trăng.

Đường đời ngàn lẻ băn khoăn,

Thế mà Ôn vẫn bình an lạ thường.

Lúc hiền, lúc dữ (*) dễ thương,

Quan Âm đại sĩ cùng đường Ôn đi.

Tử sanh dù có ù lì,

Lòng từ vượt thoát, tâm bi độ đời.

(*) Hiền = Quán Âm; Dữ = Tiêu Diện – Quán Âm hóa thân

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Thưa toàn thể đại chúng,

Lần Đản sanh này là lần thứ 2,634. Tính từ ngày đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề đến nay gần tròn 26 thế kỷ. Gần nửa thế kỷ hoằng pháp lợi sanh, chưa một lần dùng đến vũ lực, chưa hề có một cuộc thánh chiến nhân danh tôn giáo; do vậy, chưa hề có một giọt máu của bất kỳ loài chúng sanh nào rơi trên đường hoằng pháp lợi sanh của Ngài.

Hoằng pháp tức làm cho giáo pháp mà Ngài đã dày công tìm kiếm để làm lợi lạc cho chúng sanh. Chúng sanh tức không phân biệt giữa loài người và các loài khác. Nếu còn phân biệt tức chưa phải là từ bi, chưa có trí tuệ. Trong khi đó đức Phật được xưng tán là “Trí và Bi viên mãn”. Được gọi là “lợi sanh,” mà lại dùng máu của chúng sanh để tô điểm cho con đường mệnh danh là “hoằng pháp”, điều đó chúng ta cần phải xét lại. Nguyên do nào đức Phật đã thành công một cách tuyệt vời trong nửa thế kỷ truyền trao giáo pháp giác ngộ của Ngài, tôi trân trọng mời toàn thể quí vị nghe bài giảng được ghi lại thành văn có tựa đề là Tứ Vô Lượng Tâm của tác giả Nguyên Đức Hoàng Anh Tuấn viết vào cuối thập niên của thế kỷ 20, bây giờ là thập niên đầu của thế kỷ 21, tức khoảng 20 năm.

Tứ là bốn; Vô Lượng là không thể nào lường được; Tâm tức là Bồ Đề tâm. Bồ Đề tâm thì ai cũng có, dù người đó được mô tả là người cực ác, hay như kinh Niết Bàn gọi là Nhất Xiển Đề, cũng đều có Bồ Đề Tâm. Nhưng Bồ Đề Tâm của đức Phật đã được phát triển viên mãn; do đó đầy đủ cả 4 đức tánh Từ Bi Hỷ Xả.

Tôi xin được đi thẳng vào bài Tứ Vô Lượng Tâm.

Trên thế gian này không phải hận thùthể diệt trừ được hận thù, mà chỉ có từ bi mới diệt được hận thù. Đó là một câu kinh trong kinh Pháp Cú.

Trên đường hoằng hóa độ sanh, đức Phật nhận được nhiều sự cung kính, nhưng cũng không phải không có sự mạ lỵ hủy báng. Hủy báng, mạ lỵ không phải vì Ngài kiêu căng, cao ngạo, mà vì người ta ganh tỵ, ganh tỵ đủ điều. Ganh tỵ về trí tuệ, vì trí tuệ của đức Phật không ai sánh bằng. Ganh tỵ về đồ chúng, vì đồ chúng của đức Phật thật thong dongtự tại, gia sản của quí ngài chỉ có ba tấm y, một bình bát, nhưng sống rất an nhiên tự tại. Ganh tỵ về lợi dưỡng vì sau khi thành đạo từ vua quan đến dân dã đều hướng về qui kính đức Phật… Chúng ta thử đọc lại đoạn kinh ngắn sau đây để xem thái độ của đức Phật ra sao khi bị hủy nhục; đồng thời tìm xem nguyên nhân nào mà đức Phật đã chế ngự được những lời hủy báng mạ lỵ ấy.

“…Ông là thằng ăn trộm, là đồ ngu, là thằng điên, là con bò, là thú vật, là loài ở địa ngục. Ông đừng mong gì được sanh về những cõi lành. Tất cả những hình phạt, những cảnh khổ đang chờ đợi ông…”

Thấy thầy mình bị hủy nhục quá lời, ngài A-nan dằn lòng không được, bạch Phật: “Bạch Thầy, người ta đang chửi rủa nhục mạ thầy trò mình một cách thái quá; vậy xin thầy nên dời đi nơi khác.”

-Đi đâu A-nan?

-Đến một đô thị khác.

-Nếu đến đấy người ta cũng chửi rủa, mạ nhục như vậy rồi đi đâu nữa?

-Lại đến một nơi khác.

-A-nan, không nên làm như vậy. Nơi nào gặp khó khăn là nơi ấy ta cần phải giải quyết. Ta chỉ đi đến nơi khác khi nào mọi việc ở đây đã được giải quyết ổn thỏa.

Thái độ của đức Phậtđối diện với sự thật. Muốn được một bản lĩnh như vậy không phải là chuyện dễ. Ngài đã mất nhiều công phutrải qua nhiều thời gian tôi luyện mới có được một mãnh lực phi thường như vậy. Mãnh lực ở đây không phải là một sức mạnh vũ biền mà là một tinh thần nhẫn nhục cao độ, một tâm từ bi bao la, một đức hỷ xả vô bờ. Nếu không phải vậy thì chỉ làm mồi cho lửa sân hận thiêu đốt. Từ, Bi, Hỷ, Xả là bốn đức tính đặc thù mà mỗi người cần phải tôi luyện để sống chung trong thế giới tương quan tương duyên này.

ĐỨC TỪ:

Đức từ tức là tâm từ bao la rộng lớn. Nó có nghĩa là đem niềm vui đến cho mọi người và mọi loài một cách bình đẳng. Trong kinh Từ Bi đức Phật dạy: “Từ tâm cần phải được chan hòa đến mọi lòai chúng sanh, trùm khắp cả mọi vật, sâu rộngđậm đà như tình mẹ thương yêu con một; dù phải hiểm nguy đến tính mạng, người mẹ cũng sẵn sàng bao bọc cho con cưng…” Thực ra tâm từ không chỉ là một thứ tình thương yêu nhỏ nhen vị kỷ như tình mẹ thương con như vừa kể. Trong câu kinh trên, đức Phật chỉ nhằm nhấn mạnh ở điểm lòng thành thật mong cầu thiết tha của người mẹ mong cầu cho đứa con duy nhất của mình được hạnh phúc. Tình yêu thương hẹp hòi, vị kỷ bắt nguồn từ tham dục chứ không phải xuất xứ từ tâm từ. Tuy nhiên, nếu chúng ta biết luyện tập và phát triển nó mỗi ngày một rộng lớn hơn ra, thì dần dần sẽ được khế hợp và hội nhập với tâm từ. Người mang bản chất từ tâm là không còn phân biệt người thân kẻ sơ, người giàu kẻ nghèo, và cũng không hề phân biệt đến màu da chủng tộc. Bản chất của tâm từphổ cập, là bình đẳng, không bị giới hạn bởi bất cứ một hình thức nào. Tâm từ giống như ánh trăng hiền dịu rải khắp cùng vạn vật một cách vô tư. Người duy nhất đã đạt được tâm từ quảng đại như vậy không ai khác hơn là đức Phật. Tâm từ quảng đại của đức Phật đã tạo được an lạchạnh phúc cho tất cả những người yêu kính cũng như những người ganh tỵ oán ghét Ngài. Người mà phát huy tâm từ đến cùng tột sẽ thấy mình và vạn loài là một. Đến lúc ấy, cái gọi là tự ngã sẽ vượt biên giới và bao trùm tất cả không gian lẫn thời gian. Mọi oán thù và chia rẽ sẽ bị khuất phục và được hóa giải đến tận cùng căn để bởi bản chất từ tâm. Đối nghịch thường trực với từ tâm là lòng sân hận và tánh ganh tỵ. Nói ngược lại, từ tâm không những dập tắt được lòng sân hận, tánh ganh tỵ mà còn tiêu diệt luôn cả những mầm tư tưởng bất thiện khác. Người có từ tâm không bao giờ nghĩ đến việc làm hại ai .không bao giờ bài xích hay làm giảm giá trị của ai, không bao giờ làm cho ai sợ hãi bất cứ một điều gì. Người có từ tâm không những là bạn tốt của tất cả mọi người mà còn là người thân của vạn loài chúng sanh khác. Chim muông và cầm thú cũng sẽ được sung sướng khi sống gần một đấng hiền nhân. Trong kinh có thuật lại một đoạn như sau:

“…Như Lai sống trên một ngọn núi cao, giữa đám sư tử và cọp beo các thứ, giữa rừng rậm hoang vu, không một con vật nào sợ hãi Như LaiNhư Lai cũng không hề sợ hãi bất cứ một con vật nào.” Đức Phật kết luận: “Sống an ổn được như vậy là nhờ tâm từ giúp đỡ và bảo vệ Như Lai.”

Một người thực hành tâm từ đúng mức sẽ có một năng lực tinh thần phi thường, có thể biến dữ thành lành và điều phục được những người ác tâm. Kinh có thuật lại một câu chuyện như sau: Một hôm có một nhà hào phú ngoại đạodụng ý hủy báng đức Phật, bèn giả bộ thỉnh Phậtchư Tăng về nhà cúng dường. Đến nơi thay vì đãi đằng long trọng thì nhà hào phú kia lại dùng những lời cộc cằn thô lỗ hủy nhục đức Phật. Đức Phật không những điềm nhiên không phiền hà mà còn khéo léo giảng dụ để cảm hóa nhà hào phú kia trở thành một người tốt. Ngài từ tốn hỏi:

- Giả sử có người đem lễ vật đến dâng ông mà ông không nhận thì sao?

-Người ấy phải mang về cho gia đình họ xài.

-Hôm nay chúng tôi đến đây được ông thiết đãi những lời thô lỗ cộc cằn, chúng tôi không nhận; vậy xin ông vui lòng giữ lấy.

Tâm từ có vẻ như yếu hèn, nhưng thật sự nó là một sức mạnh vô song. Trên đường đời lẫn đường đạo, nếu khôngtâm từ dẫn lộ, thì chúng ta sẽ chùn chân ngã bước. Đức Phật đã ví tâm từ như một đàn voi lâm trận, hiên ngang xông pha dưới làn tên mũi giáo. Ngài bảo: “Tợ như đàn voi say trận, bất chấp làn tên mũi giáo; ta phải can đảm chịu những điều bất hạnh của đời. Ta phải có thái độ của một đàn voi lâm trận như vậy để mạnh mẽ vững tiến giữa rừng gươm đao giáo mác của đời vây bủa, bình thản hứng lấy tất cả chua cay của cuộc đờithản nhiên vững bước trên đường phẩm hạnh.

ĐỨC BI:

Bi tức là tâm bi cũng bao la bát ngát như tâm từ. Tâm từ, như vừa được trình bày, nó có một năng lực vô song, nhưng ở một phương diện nào đó nó vẫn còn là “tiêu cực”. Vì lẽ nó chỉ mới ban vui mà chưa thực sự cứu khổ. Bi là nhổ tận gốc khổ. Từ mới chỉ trừ được cái khổ quả mà chưa dứt được khổ nhân. Nói một cách khác, từ chỉ mới cho người ta nguồn vui mà chưa trao cho họ phương pháp để bảo vệ nguồn vui đó. Thí dụ, có một người sẩy chân sắp chết đuối, bạn vớt họ lên, nỗi vui mừng thoát chết thật là vô biên. Nhưng một ngày kia nếu họ sẩy chân một lần nữa và không gặp bạn hoặc những người như bạn thì họ chắc chắn sẽ bị chết đuối; nếu không thì nỗi sợ hãi về chết đuối cũng đè nặng trên người họ. Thái độ của tâm bi là phải giải tỏa tất cả những nỗi thống khổ đó; nghĩa là bạn phải ra công tích cực tập cho họ biết lội để họ tự bảo vệ lấy chính họ.

Tâm bi cũng bàng bạc, cũng thướt tha yêu kiều rất mực, nhưng là cái thướt tha yêu kiều của một tay võ nghệ tài ba chứ không phải yếu mềm nhu nhược. Đối tượng của tâm bi là những kẻ nghèo nàn, đói rách, tật bịnh, dốt nát… Người lấy tâm bi làm hành trang vào đời không phải chỉ động lòng trắc ẩn khi thấy những cảnh khổ trên xảy ra, mà ngày đêm luôn thao thức tìm kiếm những phương pháp, phương thuốc để cứu người, độ đời. Điểm nổi bật của đức Phậtgiáo lý của Ngài là sau khi chỉ rõ cái khổ, Ngài tìm về cái gốc sinh ra cái khổ và sau đó, trao cho mọi người những phương tiện để đào bới gốc khổ ấy. Tâm bi nằm ngay ở đó.

Đức bi tiềm tàng và ẩn chứa trong mọi chúng sanh, chỉ có khác nhau là có gặp được hoàn cảnh và môi trường để nó phát hiện hay không. Trong một con ngườiđộc ác xấu xa đến mấy đi nữa, ít nhất cũng còn tiềm ẩn một đức tánh tốt. Chỉ cần một sự chỉ điểm đúng lúc, một lời khuyên chân thành thì nó sẽ tỏa ra một cách mạnh mẽ và biến thành hành động cụ thể. Trường hợp vua A-dục là một thí dụ điển hình. Vua A-dục trước khi quy y Tam Bảo là một vị vua hung tàn bạo ngược, thế mà sau khi quy y Tam Bảo ông đã trở thành một trong những vị vua nhân từđức độ bậc nhất. Ông ta vẫn ở nguyên vị trí ngôi vua, nhưng thực sự hoán cải hành động. Những hành động hiếu sát, hiếu chiến ngày xưa sau đó được biến cải thành những hành động nhân từ độ lượng.

Trong kinh Pháp Cúđoạn đức Phật khuyên chúng ta, nếu không kết bạn được với những người hơn mình thì ít ra cũng bằng mình chứ nhất định không kết bạn với những người thấp kém cuồng si. Dường như mâu thuẫn với giáo lý từ bi. Nhưng chúng ta phải thận trọng để thấu hiểu lời Ngài dạy. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không được gần gũi để khuyến khích, cảm hóacải thiện họ. Trường hợp này chúng ta cần phải trang bị thêm một vũ khí trí tuệ nữa. Có bi mà không trí giống như người ngu. Ngược lại có trí mà không bi giống như người cuồng. Do đó bi trí cần phải song vận.

Trong suốt thời kỳ giáo hóa nhân gian, đức Phật thường tìm đến gặp những hạng người độc ác tội lỗi để cảm hóa họ; trong khi đó những hạng người thanh cao đạo đức lại tự tìm về với đức Phật. Họ về với đức Phật vì họ cảm nhận được tâm bi của Ngài không những chỉ rải khắp đồng loại mà còn phổ cập đến tất cả muôn loài. Tâm bi bất khuất trước vũ lực. Tâm bi xem nhẹ uy quyền. Và tâm bi là một trong những hành trang cần thiết nhất trên đường tìm cầu sự thật. Bằng tâm bi, đức Phật đã chinh phục được tất cả mà không hề điểm một giọt máu đào dưới gót chân Ngài.

ĐỨC HỶ:

Đức hỷ hay tâm hỷ là đức tánh thứ ba trong bốn đức an lạc. Hỷ là vui vẻ. Vui vẻ ở đây không có nghĩa là sự thỏa thích riêng tư về một vấn đề gì; nó cũng không phải là một mớ tình cảm hẹp hòi đối với người nào; mà nó chính là một thú vui tràn trề trước hạnh phúc chân thật của mọi người, mọi chúng sanh. Tâm hỷ có khả năng tiêu hủy mọi tật đố và ganh tỵ. Tâm hỷ đem lại một nguồn an lạc trực tiếp vô biên cho chính người mang trọn nó hơn là cho người khác và không bao giờ làm tổn giảm sự an lạc của mọi loài.

Thông thường chúng ta chỉ hòa vui với những cái vui của người thân thuộc, hay rộng hơn tí nữa là với những người không thù nghịch. Không mấy ai có thể hòa vui được trước niềm vui của người mình cho là cừu địch. Trong khi đó người mang tâm hỷ không hề phân biệt niềm vui của người thân kẻ sơ hay của người thù kẻ oán, mà tất cả đều cùng được hòa vui như nhau. Đây là một đức tánh đặc biệt mà chỉ những người có một nếp sống vượt thoát mới tập luyện và sống trọn theo được. Đào tạo được một tâm từ, uốn nắn được một tâm bi đã khó vô cùng, tôi luyện cho được một tâm hỷ lại càng khó hơn. Muốn đạt được tâm hỷ, người thực hành phải có một ý chí vững mạnh, và phải dụng công thật nhiều, dĩ nhiên là phải đòi hỏi thời gian.

Trong khi thực hành tâm hỷ, người thực hành nếu không khéo léo nhận định, rất dễ bị lừa phỉnh. Không ai lừa phỉnh mình, mà chính mình lừa phỉnh mình. Đó là sự vui cười trên môi, nét vui tươi trên mặt chưa hẳn biểu lộ đặc tính của tâm hỷ. Chúng ta cần phải lắng lòng thật sâu và kiểm điểm xem nó có thật phát xuất từ đáy lòng hoan hỷ không. Khi mà chúng ta thực sự có một cảm giác nhẹ nhàng, sảng khoái về mọi thành công của người khác như của chính mình vậy, mới thật sự là Hỷ (vui mừng). Tóm lại, tâm hỷ là một đức tánh thành thật chia vui, thành thật góp mừng và thành thật ngợi khen mọi hành động của người khác. Trong tâm hỷ không hề dung nạp những hình thức bất mãn, tỵ hiềm hay ghen ghét trước mọi thành công của tha nhân. Trong kinh đức Phật thường dạy, người mang trọn tâm hỷ rồi, chỉ cần tùy hỷ trước một việc làm phước thiện của người khác, chính người ấy cũng sẽ gặt hái được những kết quả tương xứng như người đã gây phước thiện.

ĐỨC XẢ:

Xả là đức tánh cuối cùng trong bốn đức tánh cao thượng. Tâm xả là tâm không hề bị vướng bận vào bất cứ một điều gì. Không nằm trong trạng thái ưa thích, cũng không ngả sang tâm niệm ghét bỏ hay bất mãn. Tuy vậy, chúng ta cũng không thể xem nó như một cảm giác lãnh đạm, lạnh lùng; mà là một thái độ an nhiên trước mọi việc, dù việc đó là lành hay dữ. Câu chuyện một thiền sư thản nhiên trước thái độ của một thiếu phụ mang đứa bé đến giao (bảo là con của ông), cũng như khi bà ta đến ẵm đứa bé về (bảo không phải con của ông) là một thí dụ cho người mang trọn tâm xả.

Chuyện kể rằng: Một vị Thiền sư xuất thân từ một gia đình giàu có và rất đạo hạnh. Một cô gái cũng xuất thân từ một gia đình cao sang, tỏ ý với cha mẹ, muốn cưới vị Thiền Sư về làm chồng. Chuyện không thành. Cô ta gian díu với một người làm trong nhà, hạ sanh một con trai. Gia đình tra hỏi, cô ta khai vị thiền sư đạo hạnh kia chính là cha của đứa bé. Chuyện gì xảy ra mọi người có thể đoán được. Cuối cùng cô ta mang đứa bé đến thiền viện giao cho Thiền sư, bảo rằng đây là con của ông hãy nuôi đi. Thiền sư đáp “Vậy à!” và ẵm lấy đứa bé. Một thời gian không lâu, dường như không chịu nổi với thái độ thản nhiên của Thiền sư và cũng dường như sự thật đã bắt đầu được giải đáp, cô ta đến Thiền viện gặp Thiền sư xin lấy lại đứa bé, bảo rằng không phải con của ông. Một lần nữa, Thiền sư đáp “vậy à?” và giao hoàn đứa bé.

Người không có hay không tập luyện tâm xả thường câu nệ và dễ sanh tâm bực dọc. Người không có tâm xả, nghĩa là không giữ được tâm bình thản, khi gặp điều vui hoặc sự khen tặng nào thì lòng vui dạ thích; khi gặp một nỗi buồn hoặc một lời chỉ trích thì tâm bất mãn cuồn cuộn nổi lên. Giữa cảnh thạnh suy, trước lời khen chê chỉ trích, đức Phật khuyên chúng ta hãy thản nhiên như bàn thạch để thực hành tâm xả. Tâm xả sẽ san bằng được mọi hố hận thù và chia rẽ. “Người kia lăng mạ tôi, đánh đập tôi và cướp đoạt của tôi; ai còn mang tâm niệm đó thì sự oán thù không bao giờ tiêu diệt được.” Đức Phật đã căn dặn những người ngày đêm lo thực hành tâm xả như vậy. Cuối cùng, thái độ của người mang trọn tâm xả là đối xử với mọi người rất mực bình đẳng. Bình đẳng đến độ không hề thấy có sự khác biệt giữa những người tội lỗi và các bậc thánh nhân.

CÁCH GIEO TRỒNG BỐN ĐỨC:

Trước hết chúng ta phải gieo trồng bốn đức Từ , Bi, Hỷ, Xả trong chính chúng ta,nghĩa là đừng bao giờ khởi lên một tâm niệm phiền muộn, chán ghét, bất mãnganh tỵ trong tâm, mà phải luôn luôn phát lên những tư tưởng an vui và hạnh phúc. Thường hằng quán tưởng: tâm tôi an tịnh trong mọi thời, thân tôi không bệnh hoạn trong mọi lúc. Tôi cầu mong cho tâm của tất cả mọi người cũng được an tịnh và thân của mọi người cũng không bệnh hoạn như thân tôi. Quán sát lâu ngày như vậy bốn đức tánh cao thượng trên sẽ tăng trưởng. Bốn đức tánh ấy tăng trưởng thì những phiền muộn, chán ghét, bất mãnganh tỵ sẽ tiêu mòn dần cho đến khi không còn đủ năng lực để chi phối chúng ta nữa. Khởi điểm đi từ chính ta đến những người thân cận, rộng ra đến hàng xóm láng giềng, quốc gia xã hội rồi bao trùm nhân loại, và cuối cùngphổ cập đến tất cả chúng sanh. Quả thật là khó. Do vậy, đức Phật đã trao cho những người thực hành bốn đức an lạc trên châm ngôn: “Hãy giữ tâm mình luôn luôn trong sạch giữa đám người đầy thù hận.” và “Hạnh phúc thay ta sống không hận thù giữa những người thù hận.”

Từ, Bi, Hỷ, Xả là bốn đức tánh đặc thù trong giáo lý của đức Phật. Từ đem tình thương đến vạn loài. Bi mang lương dược trị khổ bệnh đến chúng sanh. Hỷ tạo an lạc nội tâm cho chính mình và ban bố cho tha nhân. Xả đem lại bình an rốt ráo cho muôn loài. Bốn chân lý này nằm sẵn trong mỗi chúng ta. Trong đêm thành đạo, trên đường hoằng hóa lợi sanh, đức Phật đã sử dụng bốn chân lý này như những vũ khí lợi hại nhất, và Ngài đã thành công.

HAI MƯƠI NĂM GĐPT VẠN HẠNH

Duyên Nghiệp:

Tuy không phải là cố vấn giáo hạnh GĐPT Cựu Kim Sơn, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng có hướng dẫn đôi bài giáo lý theo yêu cầu của cố Thượng tọa Thích Thiện Tường, đương kim Cố vấn Giáo Hạnh thời bấy giờ (1981-1982). Nhờ những buổi hướng dẫn giáo lý mà tôi biết được một huynh trưởng “trẻ” tên Lê Quang Đỉnh. Anh ta độc thân, làm nghề thợ mộc; nuôi ba bốn em vị thành niên không có gia đình bên cạnh, cho đi học, hướng dẫn đi sinh hoạt GĐPT. Có lẽ đây là lý do khiến tôi thân cận với anh ta nhiều hơn.

Biết anh một thời gian không lâu thì anh mất việc làm, thay đổi chỗ ở; và cũng từ đó tôi thấy anh đi sinh hoạt không còn “chuyên cần” như trước nữa. Một hôm anh tâm sự “Không biết con kéo dài tình trạng này được bao lâu?” Bấy giờ tôi mới biết là từ thành phố Stockton nơi anh ta vừa chọn để sinh sống sau khi mất việc làm tại thành phố Oakland, lái xe về Cựu Kim Sơn (San Francisco) mất một giờ 45 phút, hồi ấy tốc độ xa lộ chỉ cho lái tối đa là 55 dặm/1 giờ. Anh nói tiếp: “Nếu không đi sinh hoạt sợ tụi nó hư, mà đi thường xuyên thì xa quá.” Mà xa thật. Quý vị cứ tưởng tượng đi sinh hoạt GĐPT mà lái xe gần hai giờ đồng hồ, nếu không bị kẹt xe để kịp giờ sinh hoạt, thì phải kể như là một vị Bồ Tát đã đăng địa mới có thể làm miên trường được, chứ người thường thì nhất định phải bỏ cuộc.

Hai chúng tôi làm một ước hẹn nhỏ: “Tuần nào Đỉnh đi được thì chở các em đi, tuần nào đi không được thì cho thầy hay, thầy sẽ đến để níu kéo các em.” “Hiệp ước miệng” giữa hai chúng tôi đơn giản chỉ có vậy thôi mà đã ràng buộc tôi hơn một năm trường, từ mùa xuân năm 1982 đến mùa hè năm 1983. Trong khoảng thời gian hơn một năm trường đó, mỗi cuối tuần về tôi thấy các em quy tụ đông hơn. Công việc của chúng tôi vào mỗi cuối tuần đặc biệt lưu ý vào ba trọng điểm: Giáo lý, tôi phụ trách. Việt ngữ, hai cô giáo Vân và Hương phụ trách. Việt sử, Đỉnh và Xuân phụ trách. Cố nhiên trong đó sự sinh hoạt tương tợ như Gia Đình Phật Tử, do Nguyên Siêu Trương Phán và một số anh chị em đã có quá trình sinh hoạt đâu đó cộng tác. Chính sự sinh hoạt này đã dẫn tôi và Đỉnh đi hầu tòa vì tội làm ồn ào hàng xóm. Câu chuyện dài dòng và được xem như không quan trọng nên không cần đưa vào đây. Âu đây cũng là duyên nghiệp.

II: Tiền Thân Gia Đình Phật Tử Vạn Hạnh

Đã không quy tụ, không sinh hoạt thì thôi, mà đã quy tụ, đã sinh hoạt thì phải có danh xưng theo kiểu đã có tự bao giờ chung cho các tổ chức dù nhỏ hay lớn. Tôi thấy trong số các em quy tụ về mỗi cuối tuần cũng có những em xuất thân hay ít nhất cũng biết qua tổ chức Gia Đình Phật Tử, nhưng cũng không ít các em chưa nghe qua danh hiệu chứ đừng nói đến tham gia sinh hoạt. Do vậy tôi đặt tên cho nhóm nhỏ sinh hoạt này là “Đoàn Thanh Thiếu Niên Học Phật Stockton.” Gọi là Thanh Thiếu Niên, nhưng hầu hết là Thiếu Niên, vị thành niên, dưới 18 tuổi.

Đoàn này đã ít nhất một lần dự chu niên của Gia Đình Phật Tử Cựu Kim Sơn, không nhớ rõ là lần thứ mấy. Món quà hôm ấy thật là đơn sơ, thuộc loại “cây nhà lá vườn,” do bên nữ của đoàn phụ trách. Tôi còn hình dung được tương đối rõ; một tấm vải màu xanh lá mạ, dài chừng từ 16 đến 18 inches, rộng chừng từ 12 đến 14 inches, căng thẳng trên một cái khuôn gỗ tự làm, nhưng với những dòng chữ do thiếu nữ thêu cũng tạo hình rất đẹp. Phía trên là thêu hình dạng chiếc Kim Môn Kiều (Golden Gate Bridge) và phía dưới mang dòng chữ “Mừng chu niên lần thứ… GĐPT Cựu Kim Sơn”, đại khái là như vậy. Và cố nhiên dưới đó là tên của người tặng: Đoàn Thanh Thiếu Niên Học Phật Stockton.

Đoàn về sau có thêm các huynh trưởng Gia đình Phật Tử từ các trại tỵ nạn qua tham gia như Đồng Duy Lê Ngọc Luôn, Nguyên Phú Nguyễn Thanh Vang, Nhật Tiến Đỗ Văn Hòa… nên sự sinh hoạt nghiêng hẳn về Gia đình Phật tử. Tôi tùy hỷchấp thuận đề nghị của huynh trưởng Nguyên Siêu Trương Phán, người có mặt ngay từ đầu khi tôi đặt chân đến thành phố “mới lạ” này, đổi tên để chính thức sinh hoạt như một Gia đình Phật tử. Do vậy, Đoàn Thanh Thiếu Niên Học Phật Stockton được xem là tiền thân của GĐPT Vạn Hạnh.

Gia Đình Phật Tử Vạn Hạnh

Từ “Đoàn Thanh Thiếu Niên Học Phật Stockton” đổi thành Gia đình Phật tử và như để gởi gắm, nhắc nhở, nhắn nhủ, tôi kèm theo đạo hiệu của một thiền sư Việt nam đạo hiệuVạn Hạnh. Từ đó danh hiệu Đoàn Thanh Thiếu Niên học Phật không còn được kêu nữa, mà là Gia đình Phật tử Vạn Hạnh.

Tôi nhớ lần đầu tiên gia đình tham gia trại họp bạn trong miền, do ban hướng dẫn Gia đình Phật tử bắc Cali tổ chức. Huynh trưởng Nguyên Siêu Trương Phán, liên đoàn trưởng, đứng trước gia đình nghiêm chỉnh tập họp để báo cáo số lượng đoàn sinh tham dự; không hiểu sao lúc ấy tôi cũng có mặt ngay trước đoàn, liên đoàn trưởng hô to: “Vạn Hạnh!” tất cả đều đáp lại bằng “sự lặng thinh!” Trong tích tắc, tôi trả lời DŨNG! Bấy giờ các em mới trả lời theo. Hóa ra gia đình chưa có “tiếng reo”.

Hai Mươi Năm Tiếng Dũng

Tiếng “Dũng” từ đó chính thức trở thành tiếng reo của gia đình và kéo dài suốt hai mươi năm. Sau khi tham dự trại họp bạn miền về, gia đình mới tổ chức lễ ra mắt vào hạ tuần tháng 8 năm 1983. Trước đó bảng hiệu Niệm Phật Đường Quang Nghiêm cũng đã được “dán” lên trước cửa, ấy thế mà có người, trong đó có cả huynh trưởng, vẫn gọi là Niệm Phật đường Vạn Hạnh.

Tiếng “Dũng” vừa là tiếng reo của gia đình Phật tử Vạn Hạnh, vừa là tiếng nhắc nhở cho cá nhân tôi, người đứng mũi chịu sào trong mọi thử thách. Mỗi cuối tuần nghe các em trả lời “Dũng” khi có yêu cầu, tôi cũng tự nhắc mình phải dũng tiến trong mọi khó khăn. Tham dự chu niên của Gia đình Phật tử Vạn Hạnh hôm nay là trên hai mươi năm (Tôi chính thức về an trú tại đây từ đầu tháng 5 năm 1983, và hơn một năm qua lại như đã nhắc ở trước). Một điều thật vĩ đại đối với tôi!

Thỉnh thoảng vẫn còn nghe có người bảo rằng “Gia đình Phật tử Vạn Hạnh có trước chùa Quang Nghiêm.” Cách nói này có thể đúng ở một khía cạnh chữ nghĩa, vì nó thật sự có trước chữ Chùa (vì lúc đó chữ “Chùa” vẫn còn được thay thế bằng ba chữ “Nệm Phật đường”), mà không thể có trước hai chữ “Quang Nghiêm”, vì tôi là tác giả còn sống của cả hai từ “Quang Nghiêm, Vạn Hạnh” như đã đề cập ở đoạn trên.

Gia đình Phật tử Vạn Hạnh như một con sóng, có lúc dâng lên thật cao và có lúc nhận chìm ngang bằng mặt nước. Nhiều lúc số lượng đoàn sinh và huynh trưởng lên gần 200 người, nhưng cũng không thiếu lúc ngang bằng số các đầu ngón tay và ngón chân. Trong thời gian (2002-2003) thì Gia đình Phật tử Vạn Hạnh ở giai đoạn bất tăng, bất giảm, sĩ số trung bình từ 30-40 hoặc 50 em; lý do là huynh trưởng hầu hết cư trú tại các thành phố “lân cận” về sinh hoạt, nên mức độ đều đặn không được duy trì như ý muốn; nhưng phần chất lượng đáng được ghi nhận. Huynh trưởng tuy ở xa, nhưng không phải là huynh trưởng lạ, vì hầu hết đều là huynh trưởng xuất thân của “Hai Mươi Năm Gia Đình Phật Tử Vạn Hạnh”, đó là chưa kể có những huynh trưởng xuất thân từ Vạn Hạnh hiện là huynh trưởng của một số gia đình bạn. Không có gì đáng tự hào, nhưng cũng nói lên một sự đóng góp nhỏ của gia đình Vạn Hạnh trong hai mươi năm qua.

Thay Cho Lời Kết:

Vạn Hạnh thương mến,

Thầy vẫn còn đây tuy đã già hơn 20 tuổi. Tinh thần không minh mẫn, sức lực không còn khang kiện như xưa, mặc dù tinh thần “Dũng” vẫn hằng luôn được duy trì. Nói như vậy là để tự đánh thức thầy và cũng để nhắn nhủ với các con rằng, ngày nào các con còn đến sinh hoạt được với gia đình, các con đừng đánh mất thời gian quý báu mà các con hiện đang có được trong tay. Thầy muốn nói là các con hãy lắng nghe thật kỹ những gì thầy hướng dẫn để rồi đem ra thực tập trong cuộc sống hằng ngày hầu được lợi lạc ngay trong hiện tại. Thầy không còn hướng dẫn các con được bao lâu nữa đâu. Hai mươi năm nếu so với chuỗi thời gian vô tận thì nó không là gì cả, nhưng nếu đem so với tuổi thọ của một đời người thì quá đủ dài để đánh thức chúng ta trong mọi sinh hoạt.

Thầy hân hoan chào mừng gia đình chúng ta tròn 20 tuổi; cầu chúc các con, từ huynh trưởng đến đoàn sinh có đầy đủ tinh thần BI TRÍ DŨNG đúng như tâm nguyện của quý Thầy, Cô cố vấn giáo hạnh tiền bối cũng như các cấp huynh trưởng đã đi qua nhắn gởi lại.

ÂN SƯ

Ân sư giáo dưỡng từ bước đầu

Thua gì bú mớm thuở nằm nôi

Rằng con hãy cố đừng sa ngã

Phải đọa vào trong chốn tam đồ!

MỘT PHẦN NHỎ VỀ CƠN BỆNH CỦA THẦY THIỆN TRÌ

Hôm ấy vào ngày thứ Tư, tôi chỉ còn nhớ là ngày thứ Tư thôi, chứ không nhớ là ngày mấy, đến cả tháng và năm cũng quên luôn. Lý do tại sao tôi nhớ là ngày thứ Tư, quý vị sẽ tìm thấy đâu đây trong dòng “hồi ký” này. Xin thưa trước là, vì ghi lại theo ký ức, cho nên có thể có nhiều thiếu sót, vụng về không lớn thì nhỏ.

Về cơn bệnh của thầy Thiện Trì, nếu thực sự viết thành hồi ký, thì phải có nhiều phần và nhiều tiết mục. Nơi đây tôi không làm việc đó. Tôi chỉ làm một việc nhỏ, rất nhỏ, đó là ghi lại những gì “tốt đẹp” trong những “ngày đầu” Thầy ngã bệnh; mà tuyệt đối không nhắc, không ghi những gì ngược lại. Tôi ghi lại theo cảm xúc, do vậy không phân tiết, phân mục, phân đoạn gì cả. Có thể là ngắn gọn, nhưng cũng có thể là dài dòng. Nhưng dù có dài dòng đến mấy đi nữa, thì nhiều lắm cũng chỉ có thể ghi lại được chừng khoảng một phần mười của câu chuyện xảy ra mà thôi.

Xin được vào đề.

Vào khoảng 11 giờ trưa ngày thứ Tư thì có điện thoại của Mã Kim Diệp gọi về chùa Quang Nghiêm báo tin là thầy Thiện Trì bị bệnh và đã đưa vào bệnh viện. Tôi không biết nguyên văn như thế nào, vì lúc đó tôi không có mặt tại chùa, chỉ nghe thuật lại qua người nhận tin khi tôi đến trai đường để thọ trai. Vừa đến trai đường khoảng 11 giờ rưỡi hơn, điện thoại lại reo. Tôi chắc chắn đây là điện thoại có liên quan đến tin tức thầy Thiện Trì, nên trực tiếp bắt điện thoại. Quả đúng vậy! Đầu dây bên kia là Mã Kim Diệp, nói với giọng hồi hộp, đứt quãng “Thầy lên gấp! Thầy Thiện Trì sắp chết rồi… Bác sĩ chạy hết rồi…”

Tôi ngồi vào bàn, ăn vội hết chén cơm đã được bới sẵn. Tự lái xe đi một mình. Tới nơi (bệnh viện Kaiser, gần chùa), tôi đi ngay vào phòng hỏi tin tức. Họ bấm máy vi tính (computer) và trả lờikhông có ở đây.” Tôi đinh ninh với họ là người điện thoại cho tôi, gọi ngay tại bệnh viện này. Một người đàn bà trẻ hơn, tỏ vẻ hoạt bát hơn, nói vói “có thể mới vào, chưa có tên trong máy… ông đi đến khu cấp cứu xem…” Tôi được hướng dẫn cách đến khu cấp cứu. Vừa đi cuối hành lang, quẹo phải, tôi thấy Mã Đạt đang đứng với chiếc điện thoại cầm tay; Đạt chỉ cho tôi tiến thẳng vào nơi thầy Thiện Trì đang nằm…

Thầy đang thở hổn hển trên giường và trong cặp đồ của bệnh viện. Miệng thầy được nhét vào một vật bằng cao su để hai hàm răng không cắn chặt lại được. Không thấy bác sĩ, cũng chẳng thấy y tá! Quảng Phúc là người duy nhất có mặt trong phòng cấp cứu lúc tôi bước vào. Bà ta vừa lau nước bọt trên miệng thầy, vừa khóc. Không ai chào hỏi ai. Đứng nhìn thầy trong xúc cảm một hồi, tôi cất tiếng hỏi, bà cho biếtbác sĩ bảo trễ quá, không cứu được…!

Đang đứng im, một người đàn bà với sợi dây nghe tim quấn cổ bước vào. Tôi tự giới thiệu mình với bà ta mà thực sự tôi không để ýBác sĩ hay Y tá. Bà bảo tôi đợi chốc lát; bà quay ra độ vài phút dẫn thêm một người đàn bà nữa, và giới thiệu đây là Bác sĩ…đưa cho tôi xem một tấm hình (phim) chụp bộ phận đầu, và cắt nghĩa tại sao không cứu được.

Tôi nặng nề bước ra ngoài. Đạt vẫn còn đứng đó với chiếc điện thoại cầm tay. Đạt như hiểu ý tôi, dẫn tôi ra phía sau, nơi “cả gia đình” họ Mã đang tụ họp. Đông đủ mặt: Mã Vân, Mã Hồng…

Nơi đây, qua điện thoại cầm tay của Đạt, tôi đã liên lạc với một số quý ngài chức sắc trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ. Vì ngài ThiệnTrì là đương kim chủ tịch Hội đồng Giám Luật.

Xin ghi chú một điều là, lúc tôi liên lạc với quý ngài chức sắc vừa để thông báo tin, vừa xin quý ngài thành lập Ban Tang Lễ cho đúng phép tắc của một chức sắc cao cấp trong giáo hội. Thầy Viên Lý được đề nghị viết tiểu sử, vì thầy là đồng môn pháp phái. Thầy xác nhận tuy là đồng môn pháp phái, nhưng là lớp nhỏ, nên không mấy rành về thầy Thiện Trì. Tuy vậy, thầy cũng chu toàn được bản tiểu sử bằng cách là nhờ thầy Quảng Ba từ Úc Đại Lợi, gọi thẳng về Việt nam gặp một trong hai người em của thầy Thiện Trì, cũng là tu sĩ. Đến khoảng 4 giờ sáng, không biết tại sao tôi lại từ bệnh viện đi bộ về chùa Kim Quang. Đang ngồi tại chiếc ghế đặt ở Tổ đường, thì Tiến, GĐPT Kim Quang, người được sắp xếp trực điện thoại, bước vào cho hay là thầy Quảng Ba từ Úc muốn gặp tôi trên điện thoại. Tôi tiếp điện thoại. Sau mấy câu hỏi về tình trạng sức khỏe của thầy Thiện Trì, thầy cho biết là bản tiểu sử đã tạm xong phần căn bản tại quê nhà, chỉ cần bổ túc thêm mười mấy năm tại Mỹ, nếu thấy thiếu. Thầy ấy hỏi là gởi (fax) thẳng qua cho tôi hay cho ai? Tại chùa Kim Quang thì không có máy fax; fax về Quang Nghiêm thì cũng vậy thôi, vì tôi đang ở Kim Quang. Tôi nói với thầy Quảng Ba nên fax về văn phòng Giáo hội, vì thầy Viên Lý tuy đang ở Kim Quang, nhưng vẫn có thầy Minh Dung ở văn phòng.

Vì thầy Thiện Trì được quyết định cứu chữa, nên bản tiểu sử tới giờ này tôi vẫn chưa thấy mặt. Phần tôi lúc khoảng 6 giờ chiều, tôi về chùa Kim Quang và chọn một tấm hình vừa ý, cho đem đi phóng ảnh lớn tối đa. Cố đạo hữu Lê Quốc Tường pháp danh Nhật Sanh Cát, không những lãnh trách nhiệm đi phóng ảnh, mà còn cúng dường mọi phí tổn cho tấm ảnh. Tấm ảnh đó khi thầy Thiện Trì còn nằm bệnh viện thì thấy để tại Tổ đường, không biết bây giờ nằm ở đâu.

Xin mở dấu ngoặc nơi đây để nói về chiếc điện thoại cầm tay. Mặc dù ở Mỹ đã hơn 16 năm, tính đến thời điểm đó, tôi vẫn chưa biết sử dụng điện thoại cầm tay. Đạt phải vẽ cho tôi mọi thứ. Cũng không biết luôn rằng, điện thoại cầm tay phải trả tiền “hai chiều”, nghĩa là mình gọi đi trả tiền đã đành, mà người ta gọi tới mình bắt, cũng phải trả tiền luôn. Mô Phật!!! Vì không biết, nên trong khi liên lạc được với quý Thầy, Thầy nào tôi cũng cho số điện thoại cầm tay đó. Có thể, cứ thế, người này cho người kia, và rồi điện thoại cứ reo liên hồi… Đến ngày hôm sau thì chiếc điện thoại ấy được “nghỉ phép” ở nhà. Điện thoại đó là điện thoại làm ăn của người ta, phải biết như vậy. Vâng, thì sau đó không lâu tôi đã biết, thưa quý Ngài!

Trong khi tôi liên lạc quý thầy, thì bệnh viện họ lo tìm một phòng để di chuyển thầy Thiện Trì ra. Di chuyển ra không phải để chữa trị, mà để chúng ta lo về những vấn đề nghi lễ tôn giáo, họ bảo thế. Lúc ấy vào khoảng 2 hay 3 giờ chiều. Bấy giờ luật lệ của bệnh viện đã bị “chúng ta” bất tuân. Hành lang tràn ngập người. Những người có trách nhiệm đã có mặt ngay tại “hiện trường” để nhắc nhở chúng ta phải tuân theo luật lệ của bệnh viện. Đã có những dấu khó chịu xuất hiện trên mặt của những người qua lại. Mặc kệ, ai khó chịu thì khó, chúng tôi lo cho thầy của chúng tôi cái đã, mọi việc tính sau. Cứu chết mà còn phải tuân luật lệ nữa, chi bằng để chết quách đi cho rồi! Cũng được, nếu có người muốn lý luận như vậy.

Căn phòng thầy nằm không rộng. Ấy thế mà nếu đếm kỹ, chắc cũng phải trên 20 người, hoặc hơn thế nữa, vừa đứng, vừa chen. Máy lạnh đã mở hết ga, vẫn không xua đuổi được tí xíu hơi nóng nào. Tiếng niệm Phật vang dội ra đến ngoài hành lang. Các phòng lân cận và những người qua lại hành lang hôm ấy, họ không biết rằng họ có được một phước duyên lớn là đã được một hạt giống Phật nghiễm nhiên rơi vào tạng thức họ.

Tôi nắm tay thầy Thiện Trì và niệm Phật như bao nhiêu người khác. Tôi có cảm giác như thầy muốn nói một điều gì, nên thỉnh thoảng thầy ấn nhẹ vào tay tôi (?) Trước đó thì tôi được một người trong bệnh viện nói rằng “các ông muốn nói gì với ổng thì cứ nói. Ông nói không được, nhưng nghe được hết.” Nhớ lại câu này, tôi đứng dậy đi ra hành lang. Tôi cũng không nhớ được lúc đó tôi đi ra để làm gì. Đầu óc tôi lúc bấy giờ gần như trống rỗng. Vừa bước ra thì tôi gặp một người đàn ông, trong trang phục “Linh Mục”, và một người đàn bà mặc đồng phục quần lam, áo vạt hò (khách) lam; hai người nắm tay nhau đi về hướng phòng thầy Thiện Trì. Mấy phút sau thì tôi được biết là hai má con bà Cao Liên Phòng (mẹ) và mục sư Lữ (con). Tôi đang đứng xớ rớ tại cửa một phòng chờ đợi mà bây giờ chứa đầy toàn người Việt, cố nhiên là Phật tử đang chờ nghe tin tức của thầy Thiện Trì; Mục sư Lữ tiến tới, có lẽ thấy tôi trong trang phục tu sĩ Phật giáo, biết chắc nếu không bà con, thì cũng là bạn của thầy Thiện Trì, nên hỏi trổng một câu mà tôi chắc là ông đang hỏi tôi. Bằng một giọng tiếng Việt không mấy gì trôi chảy, ông hỏi:

Không có cách gì cứu thầy Thiện Trì sao?

Bác sĩ bảo không – tôi trả lời vậy.

Thầy Thiện Trì hiền lànhdễ thương.

Tôi chưa kịp có ý kiến gì trong câu này thì có tiếng khóc thật lớn, và la thật to “Thầy chết rồi!” Mục sư Lữ vội lại ôm mẹ thì thầm, vì chính người khóc to, la lớn là mẹ ông… Người đàn bà có trách nhiệm tại dãy lầu ấy quay qua hỏi tôi “Bộ thầy ấy qua đời rồi hả?” Tôi trả lời bằng cách đi thẳng về phòng thầy Thiện Trì để quan sát. Thầy vẫn còn thở như lúc tôi còn ngồi bên cạnh thầy vậy.

Một lát sau tôi trở ra thì có quý thầy lần lượt đến. Thầy Giác Lượng, thầy Tịnh Từ, thầy Thông Đạt, thầy Từ Lực (?), thầy Viên Lý ( đến sau cùng),Sư bà Đức Viên, ni sư Nguyên Thanh (?) Quý đạo hữu từ chùa Từ Quang, San Francisco cũng có mặt: Lê Trọng Hiệp, Ngô Trọng Anh (?), bà Mai Thanh Tuyền…

Đến khoảng 8 giờ tối thì chúng tôi có một buổi họp quyết định tối hậu về sinh mạng của thầy Thiện Trì. Một đạo hữu nữ thuộc chùa Kim Quang, làm nghề y tá, chị Hinh (?) (tôi quên tên) và mục sư Lữ đi gặp bác sĩ để nghe họ khuyên nên cứu thầy hay không. Chừng nửa tiếng đồng hồ các vị ấy trở về. Mọi người lắng nghe hai người trình bày. Tin tức không mấy gì lạc quan. Một câu hỏi quyết định được nêu ra: Nếu sống mà chỉ nằm đó, mình không nói năng gì được và người ta nói gì mình cũng không hiểu. Nếu là quý vị, thì quý vị có muốn sống không?

Không khí trở nên nặng nề và yên lặng một cách lạ thường. Bỗng tôi nghe trong số người có mặt, giọng đàn ông lên tiếng, “Bạch quý thầy, thưa quý đạo hữu, ông bà chúng ta thường nói: còn nước còn tát…” Nếu tôi không lầm đó là giọng nói của đạo hữu Lê Trọng Hiệp, Phật tử chùa Từ Quang, San Francisco. Tiếp theo là thầy Tịnh Từ, Thầy nói vừa đủ nghe: “Dẫu sau này thầy nằm đó không nói năng gì được, nhưng thầy còn trụ thế thêm một thời gian nữa thì chúng ta cũng ấm áp lắm rồi!” Bồi thêm một câu của thầy Tịnh Từ là “Mình có Tam Bảo mà thầy!” của một đạo hữu nữ mà tôi không biết là ai. Tôi thực sự xúc động qua hai câu nói này, nên đề nghị giải phẫu thầy ngay trong đêm. Mọi người đồng ý, nhưng lại có nhiều ý kiến khác nhau.

Ý kiến giải phẫu trong đêm, cố nhiên là mọi người không ai bảo ai đều chấp thuận. Trục trặc xảy ra là bác sĩ chuyên môn đến 6 giờ sáng mới có mặt được. Mọi người xôn xao…

Bà Mai Thanh Tuyền, Phật tử chùa Từ Quang, đề nghị chuyển thầy đến bệnh viện Stanford. Lý do là có nhiều bác sĩ, đầy đủ dụng cụ. Một số đồng ý; một số không; có nhiều lý do. Lý do thứ nhất mang nặng tính tình cảm, bảo rằng xa chùa quá, Phật tử không mấy người đi thăm viếng thầy được… Song, trong đó có một đạo hữu, đạo hữu này lại là y tá ngay tại bệnh viện mà thầy Thiện Trì đang cấp không nên di chuyển, nguy hiểm thêm…”

Trong khi chờ đợi đến 6 giờ sáng, đề nghị xin cho dùng cấp cứu bằng thuốc Bắc. Đây là ý kiến của Mã Vân, chị ta biết về thuốc Bắc. Lại có người đồng ý, có người không. Có một ý kiến chiếc trung: hỏi bác sĩ cho thì làm, Mã Đạt được cử liên lạc với bác sĩ; đã được trả lời: cứ làm thử…

Thang thuốc đã được luyện sẵn nằm chờ trong túi xách… Thuốc đưa vào miệng thầy bằng muỗng thì bị tràn ra, nên phải sử dụng ống bơm nhỏ để đưa vào cho dễ. Thấy dễ nên tôi cứ từ từ cho thuốc vào miệng thầy, chén thuốc 8 phân, cạn gần được phân nửa, thì thấy mắt thầy mở to ra. Thầy Viên Lý đứng bên cạnh tỏ vẻ mừng, thầy bảo “Thuốc có hiệu nghiệm!” Tôi tiếp tục bơm thuốc, một hồi thấy thuốc chảy ra ngã lỗ mũi. Tôi dừng tay. May quá, bây giờ chính đạo hữu y tá nêu lý do không nên chuyển thầy đi bệnh viện khác xuất hiện. Vì trong nghề nên anh ta biết phải làm gì. Anh dùng ngay chiếc máy hút đàm, hút tất cả chất thuốc trong miệng và trong cổ họng của thầy ra… Đạo hữu này là một trong hàng huynh trưởng GĐPT Kim Quang, tôi quên tên. Sau này tôi được biết lý do thuốc trào ra lên mũi là vì khi bị chấn động mạch máu não đến cơn nguy kịch thì thực quản không làm việc; nếu ta cưỡng bách thì mọi thứ đi vào phổi. Không biết tại sao mẩu tin này không được bệnh viện cho biết sớm hơn! Thì ra, lúc thầy mở to mắt mà thầy Viên Lý “mừng”, không phải là thuốc có “hiệu nghiệm” như thầy tưởng, mà là thầy Thiện Trì nghẹt thở. Mô Phật, xin sám hối Thầy.

Trong khi thầy được cho thử bằng thuốc Bắc thì bệnh viện cũng bắt đầu tiếp sức thầy bằng “dưỡng khí” và nước biển. Nghe nói người ta có cho vào trong bình nước biển một loại thuốc chống đông máu để sáng mai cuộc giải phẫu được dễ dàng…

Vấn đề bảo hiểm sức khỏe của thầy cũng được nhắc đến để chúng ta kịp thời trù liệu. Quảng Phúc thì đinh ninh là đã mua được bảo hiểm cho thầy 3 tháng trước đây và mọi giấy tờ liên hệ đã giao cho thầy, đặc biệt là tấm thẻ nhỏ để mỗi lần đi khám bệnh hay phải cấp cứu thì sử dụng. Tấm thẻ “oan nghiệt” nầy là không tìm thấy trong số giấy tờ tùy thân của thầy. Chính vì vậy mà đến lúc quyết định cứu chữa, thì hồ sơ bệnh viện của thầy vẫn chưa ghi nhận là có bảo hiểm. Được biết tên của hãng bảo hiểm, bà Cao Liên Phòng dẫn mục sư Lữ, con của bà, ra ngoài tìm điện thoại liên lạc thẳng với hãng chính, được xác nhận là không những là có, mà còn có tương đối cao… Có lẽ đó là lý do mà có tin cho rằng: Bà Cao Liên Phòng đã “lo” bảo hiểm sức khỏe cho thầy?

Tối hôm đó, tôi và thầy Thông Đạt cùng một vài đạo hữu ở lại bệnh viện. Thầy Tịnh Từ và quý thầy khác yêu cầu tất cả quý Phật tử về bên chùa tụng kinh cầu nguyện. Cầu nguyện là điều chính, nhưng cũng là cách để ngăn bớt Phật tử đến bệnh viện đông đảo ảnh hưởng sức khỏe của thầy cũng như làm mất trật tự của người khác.

Trước 6 giờ sáng thì hầu hết quý thầy và một số đạo hữu Kim Quang đã có mặt tại bệnh viện. Đạo hữu Quảng Phúc đến trao cho tôi một tờ giấy copy. Tôi xem tờ giấy thấy đó là bản copy bản chính của giấy bảo hiểm sức khỏe của thầy Thiện Trì và tấm chi phí trả tiền mà hãng đã rút tiền xong…

6:20 phút sáng bác sĩ mới đến. Sau đó là thủ tục giải phẫu được tiến hành.

Trong khoảng từ 7 đến 10 giờ sáng, chúng tôi ngồi chờ tin tại phòng chờ đợi. Lúc bấy giờ tôi còn nhớ được có sự hiện diện của : Quảng Phúc (Bà Lộc), Diệu Ngọc (bà Phương), Diệu Tịnh (?) (bà Căn), Cao Liên Phòng, Mục sư Lữ, Mỹ (con của Quảng Phúc), có thể còn nhiều người nữa. Quý thầy quý sư cô lúc này được phân bố túc trực tại chùa để cầu nguyện. Trong khi chờ tin, chúng tôi nói về sự cần thiết của vấn đề bảo hiểm sức khỏe, nhất là quý thầy. Diệu Ngọc nói: “Từ lâu rồi, tụi con thưa thầy tụi con để mua bảo hiểm sức khỏe, thầy không chịu. Thầy nói, thầy có bảo hiểm Di Đà rồi. Tụi con thấy nó quan trọng, nên nhất định phải lo cho được; khổ nỗi thầy bị bệnh cao máu, nên bác sĩ không chịu ký giấy. Phải chờ cho đến khi nào máu của thầy ở mức độ bình thường tương đối. May quá 3,4 tháng trước đây bác sĩ đo máu thấy bình thường, nên họ ký giấy, nhờ vậy mà nay thầy có bảo hiểm, không thì giờ chẳng biết làm sao?”

Đến khoảng 11 giờ sáng thì mọi người được thông báo là cuộc giải phẫu “tốt.” Những khắc khoải, những lo âu cho bệnh trạng thầy như được vơi bớt phần nào, nên mọi người cảm thấy có “nhẹ.”

Thầy được chuyển đến phòng hồi sinh. Nơi đây mọi sự thăm viếng đều được giới hạn đúng mức. Từ đó, bản phân công ai làm gì được tạm thời công bố. Phật tử mọi giới được yêu cầu ở lại chùa để nghe tin tức mà không nên đến bệnh viện. Không biết vì thuốc mê nhiều, vì sức lực của thầy yếu hay vì bệnh lý nặng mà sự hồi sinh của thầy kéo dài rất lâu, tôi nhớ không dưới 3 hay 4 ngày. Những tảng đá lo âu lại đè nặng!

Cái gì đến phải đến. Thầy hồi tỉnh sau mấy ngày tại phòng hồi sinh và được chuyển qua một khu dưỡng bệnh. Nơi đây được thăm viếng có giờ giấc, nhưng không quá 2 người mỗi lần và không lâu hơn 5 phút.

Sau cuộc giải phẫu, bác sĩ được hỏi là: Liệu thầy có đi, đứng, nói năng lại được không? Bác sĩ trả lời: Đi đứng bình thường như cũ thì không, nhưng có thể đi lại để tự lo liệu cho việc tắm rửa và vệ sinh thì có nhiều hy vọng. Còn nói năng thì sao? Phải từ 8 tháng trở lên mới trả lời được.

Sau một tháng vừa giải phẫu vừa điều trị tại bệnh viện Kaiser bên cạnh chùa, Thầy được chuyển đến một bệnh viện khác, cũng tại Sacto, chuyên về tập vận động, đặc biệt là tập đi cho thầy. Tại bệnh viện mới này thầy được người chuyên môn tập rất đều đặn, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần một giờ đồng hồ. Sức khỏe và sắc diện của thầy tăng thấy rõ; ai nấy đều biểu lộ sự mừng vui ra mặt. Sau gần một tháng tập đều đặn, thầy đã tự chống gậy đi được những bước chập chững. Thật vậy, khi về lại chùa thầy đã tự chống gậy (cây gậy hiện vẫn còn trong phòng của thầy bây giờ) đi từ liêu phòng của thầy đến tận thiện đường để chứng minh cho Phật tử tụng kinh. Không những đi được, mà thầy còn tự ngồi trên chiếc ghế được chuẩn bị sẵn cho thầy nữa kia.

Sau hơn một tuần lễ chuyển về bệnh viện mới này, thầy đã nói được chữ “Tường” đầu tiên. Tường là kiết tường, là điềm lành, và cũng có thể hiểu là tốt đẹp vô sự, “tiền hung hậu kiết”… Tam Bảo gia hộ, Hộ Pháp sai sử, sắp xếp sao đó mà trong số nhiều người đến thăm thầy hôm ấy, có một người mang tên là “Tường.” Đạo hữu ấy hỏi “Thầy còn nhớ con không?” Thầy trả lời vỏn vẹn một tiếng “Tường.” Tin này được thông báo cho bác sĩ điều trị biết, ông ta bảo là mầu nhiệm (miracle). Những ngày sau đó, không biết do lịch trình của bệnh viện, hay do sự điều trị của bác sĩ điều trị, mà họ cho người đến tập nói cho thầy. Nói tiếng một, cố nhiên là nói tiếng Mỹ. Bình thường thầy còn “không thèm” nói tiếng Mỹ huống nữa là khi thầy bệnh. Hay là họ nghĩ khi giải phẫu xong, đổi máu, rồi nói tiếng gì cũng được?!

Nghe nói là thầy đã không chịu nói khi người ta bắt thầy nói. Tuy vậy, sự nói năng của thầy vẫn tự tăng theo sự bình phục về thể xác của thầy. Cộng thêm thời gian thầy về lưu trú tại chùa An Lạc để võ sư Bảo Truyền luyện tập thêm cũng rất phấn khởi. Do vậy, khi về lại chùa, không những tự chống gậy đến thiền đường, mà còn nguyện nhang rõ ràng nữa, nhất là không lộn.

Từ khi chuyển về bệnh viện mới này, một tuần tôi mới đi thăm thầy một lần. Tôi thường đi thăm thầy vào ngày thứ Tư. Chiều tối về thì tôi lại gỡ tờ lịch của ngày hôm ấy bỏ vào một bao thư. Đúng một năm sau, tôi gởi tất cả những tờ lịch ấy kèm theo mấy chữ mà tôi còn nhớ: “Tặng thầy để làm kỷ niệm…” Gởi theo đường bưu điện. Tôi không biết những tờ lịch ấy có đến tận tay thầy hay không.

“…Thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã…”

Thật vậy, sự việc chẳng bao giờ xuôi chèo, mát mái như mình muốn. Trở trời, đổi gió sao đó mà thầy lại nhịn ăn đến gần cả tháng. Sức khỏe của thầy đổ giốc, sự đi lại mỗi ngày mỗi giới hạn. Cho đến lúc thầy không còn đi được bước nào nữa hết!!!

Nằm lâu ngày, đầu của thầy đã nổi nhọt, lưng và mông của thầy đã bị lở, trông rất thương tâm!

Trông thầy về cảnh Phật sớm hơn là điều mà trong tâm tư của các Pháp hữu không bao giờ có, mặc dù biết rằng điều ấy trước sau gì cũng phải đến, vì là “tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã.” Nhìn thấy thầy nằm đó mà không di chuyển được, nhất là các pháp hữu không giúp gì được cho thầy, thật không có nỗi xót xa nào hơn!

Ngày hôm qua thầy còn mạnh, tối thầy vẫn hướng dẫn Phật tử tụng kinh lễ sám như thường lệ. Sáng hôm sau vẫn dậy sớm tham thiền, niệm Phật, công phu như mọi ngày. Sau thời gian công phu sáng, thầy ra bên ngoài coi lại nền móng và những vật liệu đang chuẩn bị xây lại thiền thất để rồi tiến đến việc xây lại chùa Kim Quang. Chính trong thời điểm ấy thầy lâm bạo bệnh. Phật tử qua đường phát giác, làm phương pháp ngoại khoa không hiệu nghiệm, đưa thầy vào bệnh viện thì đã trễ mấy tiếng đồng hồ, rồi lại trễ đến ngày hôm sau… Quả là “vô thường lão, bệnh, bất dữ nhơn kỳ!” (Sự vô thường, sự già nua, sự đau ốm không hẹn trước với ai hết.)

Thầy bệnh lâu ngày, chùa chiền không người chăm sóc, Phật tử không ai hướng dẫn tu học dần dần thưa thớt đến trống vắng.

Vào khoảng trung tuần tháng 9 dẫn đến cuối tháng 9 năm 2000, thầy Phước Hạnh từ Gia Nã Đại qua thăm, cầm lòng không đặng, đến lần thăm sau cùng để trở về trở về Gia Nã Đại, thầy đã tâm sự: “Tôi muốn trở lại Mỹ, thay anh em, để giúp thầy Thiện Trì…, anh em thấy sao?”

Lời đùa, nhưng tâm rất hoan hỷ, tôi trả lời: Tất cả “anh em” chúng tôi bây giờ chỉ còn thấy “trăng” mà không còn thấy “sao”. Một vầng sáng đã xuất hiện tận chân trời. Vầng sáng ấy đã tỏa rạng, không những chiếu rõ hình hài của thầy Phước Hạnh, mà còn chiếu tận tâm tư của thầy nữa.

Thầy Phước Hạnh lưu lại Kim Quang hơn một năm. Ngoài sự giúp đỡ thầy Thiện Trì một số vấn đề trong tầm tay của thầy, thầy còn hướng dẫn Phật tử lễ sám, tu tập hằng tuần. Nhưng rồi, những Phật sự Thầy đã dự định từ lâu vụt đến, nên Thầy cũng từ giã ra đi trở lại Gia Nã Đại để về lại Việt Nam. Thiện Duyên, người mà trước kia thầy Thiện Trì gặp và rước về từ Nữu Ước lưu trú tu tập tại Kim Quang một thời gian, sau vì nhu cầu học vấn đã rời Kim Quang một thời gian, nay về lạI thay thế trông nom Phật sự cho đến khi thầy Thiện Trì viên tịch vào ngày 31 tháng 7 năm 2003.

Khi thầy Thiện Trì viên tịch, Thiện Duyên đã làm hết chức năng của một học đồ, tận tụy phối trí tang lễ từ trong ra ngoài, được sự cộng tác chặt chẽ của quý đạo hữu thường tới lui tu tập, bên cạnh đó sự hỗ trợ tích cực của Gia đình Phật tử Kim Quang, nên tang lễ được xem là ấm cúnghoàn hảo. Thiện Duyên đã đích thân thâu thập linh cốt của thầy Thiện Trì từ mảnh vụn rất nhỏ gần như thành tro, tươm tất vào bình gọn gàng, cộng tất cả là bảy bình, về thờ tại Giác linh đường cho đến ngày thầy Thiện Hữu, bào đệ của thầy Thiện Trì, thỉnh về Việt Nam nhập tháp theo lời yêu cầu của thế quyến.

Hôm ấy nhằm ngày 17 tháng giêng năm Giáp Thân, ngày Bố Tát hàng tháng của cộng động chư Tăng tại miền Bắc California, nên tôi có mặt. Tôi sắp sửa ra về thì thầy Thiện Hữu đến. Sau câu chuyện hàn huyên đạo vị, thầy ngỏ lời thỉnh linh cốt thầy Thiện Trì về quê xây tháp thờ. Người ở lại sau cùng hôm ấy là tôi, mà là người lớn tuổi nhất trong đám, nên tôi mạo muội thay mặt chư tăng, không dám thay mặt cho tất cả chư tăng, mà chỉ thay mặt một số quý thầy ngang hàng với thầy Thiện Trì, trình bày cảm nghĩ, tâm sự… và xin thầy Thiện Hữu để lại đôi chút linh cốt của thầy Thiện Trì, trước như một sự lưu kỷ cho tất cả pháp lữ, sau để chư Phật tử chiêm bái “nhục thân” của vị Tôn sư, Ân sư đã tận tụy giáo dưỡng lúc bình sinh; nhưng… vì sự toàn vẹn của thi thể nên thầy Thiện Hữu đã thỉnh hết về quê!

Hôm nay nhân ngày Tiểu Tường của cố Pháp hữu Thiện Trì, theo lời yêu cầu của Thiện Duyên, tôi ghi lại đôi dòng tâm sự. Như mở đầu chúng tôi đã thưa là vụng về và nhiều thiếu sót. Nhưng có điều cần được ghi nhận là, những gì được ghi lại nơi đây đều hết sức thật, theo ký ức của chúng tôi.

Sau cùng, xin lỗi Giác linh thầy Thiện Trì, tôi đã làm một điều, tức ghi lại những gì đã xảy ra một cách giới hạn trong thời gian thầy ngã bệnh, điều mà lúc sanh tiền Thầy không mấy gì ưa thích. Sorry Thầy!

(1) Bài này tôi viết vào ngày sinh nhật lần thứ 62 của thầy Thiện Trì, tính theo âm lịch, 19 tháng 02 năm Canh Thìn. Thầy sinh năm Kỷ Mão. Nay chỉ thêm vào phần chót nên đôi chỗ quý vị thấy hơi là lạ. Sở dĩ tôi biết ngày sinh nhật của thầy Thiện Trì là trong khi thầy nằm bệnh tại bệnh viện, gia đình “họ Mã” có tổ chức sinh nhật cho thầy ngay trong bệnh viện, tôi được mời tham dự. Tôi biết thầy Thiện Trì sinh năm Kỷ Mão là khi nói chuyện với thầy Quảng Ba lúc 4h sáng về bản tiểu sử như đã đề cập ở trước.

THIỀN CA

Hôm nay trời ấm quá

Xem kinh mắt đã nhòa

Mở cửa trông trời xa

Trời xanh biếc bao la!

Trên cành chim hót ca

Cây lại trổ đầy hoa

Những nốt nhạc đang hòa

Dệt thành bản thiền ca.

NHÂN NGÀY KHÁNH THÀNH CHÙA KIM QUANG

Ngày 04 tháng 07 năm 2009

Kính thưa liệt quý vị,

1 – Tâm Nguyện:

Tâm nguyện của hòa thượng Thích Thiện Trì, đệ nhứt trú trì chùa Kim Quang, nay đã được thực hiện. Tâm nguyện đó là một ngôi chùa mang vóc dáng Việt Nam được chuyên chở theo trên đường tìm tự do của Tăng ni, Phật tửđồng hương Việt Nam có duyên định cư tại thủ phủ Sacramento này. Thi sĩ Huyền Không diễn tả mái chùa như sau: “Mái chùa che chở hồn dân tộc, nếp sống muôn đời của tổ tông. Thật vậy, sau ngày 30/4/75, dân tộc Việt như một đàn chim Lạc Hồng bị động tổ, đã vỗ cánh tung bay khắp bốn phương trời. Nơi nào đàn chim ấy ngừng bay, thì nơi ấy văn hóa ngàn đời của dân tộc Việt được thi thiết. Hình ảnh ngôi chùa Kim Quang được khánh thành ngày hôm nay là một trong những biểu tượng văn hóa ngàn đời đó.

2 – Văn Hóa:

Không có một công trình văn hóa nào mang tính dài lâu mà có thể thành tựu trong một sớm một chiều. Chùa Kim Quang đã có mặt và đóng góp một cách khiêm tốn bằng khả năng hữu hạn của mình trải dài suốt 30 năm qua và chắc chắn còn tiếp tục đóng góp bằng tâm lực, sức lực, và vật lực trong tương lai. Tôi muốn tất cả chúng ta, chư Tăng ni, Phật tử, đồng hương có mặt có mặt, vắng mặt, ở tiểu bang California, hay những tiểu bang xa xôi; hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đóng góp cho sự hình thành ngôi chùa Kim Quang hôm nay, tán thán công đức dấn thân phục vụ đạo pháp và dân tộc của vị tân trú trì Thích Thiện Duyên. Đại đức Thích Thiện Duyên đã về điều hành Phật sự tại chùa Kim Quang từ đầu năm 2001. Đến ngày 27 tháng 12 năm 2003 khởi sự đặt viên đá đầu tiên để xây Đại Hùng Bảo Điện, và kéo dài gần sáu năm trường để hôm nay chúng ta câu hội về dự lễ khánh thành. Và cũng kể từ ngày 27 tháng 12 năm 2003, đại đức Thích Thiện Duyên đã chính thức trở thành vị đệ nhị trú trì chùa Kim Quang. Tôi tin rằng đại đức Thích Thiện Duyên sẽ kế thừa xứng đáng trong trách vụ của mình qua lời huấn thị của chư vị tổ sư: “Hoằng pháp thị gia vụ, lợi sanh vi bản hoài” tức là hoằng pháp như việc nhà, lợi sanh là bổn phận. Tôi cũng tin rằng chư vị đại đức Thích Thiện Nhơn, Thích Thiện Long, Thích Đạo Chí đang cộng trú và cộng tác với đại đức Thích Thiện Duyên cùng mang chung một tâm nguyện: “Nơi nào chúng sanh cần, có chúng con; chỗ nào đạo pháp cần, chúng sanh đến,” chẳng quản gian lao, không từ khó nhọc.

3 – Duyên Sanh:

Giáo lý duyên sanhgiáo lý xương sống của toàn bộ giáo lýđức Phật đã tuyên xướng gần nửa thế kỷ trên đường hoằng pháp lợi sanh của Ngài. Duyên sanh là cọng sanh và cọng tồn. Ngôi chùa Kim Quang thành tựu hôm nay đã nói lên một phần quan trọng của giáo lý đó. Nó đã cộng sanh bằng tất cả tấm lòng và thể hiện qua vật chất của tất cả người Việt ly hương nói chung và Phật tử nói riêng. Rồi nó cũng sẽ cộng tồn với tất cả chúng ta và những thế hệ con cháu của chúng ta trong tương lai. Tôi và chư tôn đức Tăng ni nhất tâm tán thán công đức vô lượng của toàn thể đồng hương và đồng bào Phật tử, trong đó có tổ chứa Gia đình Phật tử, đặc biệt là GĐPT Kim Quang đã hỗ trợ không ngừng để có ngôi bảo điện chùa Kim Quang hôm nay. Tôi và chư Tăng ni chỉ còn biết chấp tay hướng về mười phương Tam Bảo, cầu Tam Bảo lực gia hộ liệt quý vị hưởng tròn quả phúc bây giờ và tương lai cho đến ngày thành tựu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

4 – Tâm Lực:

Nếu chưa là một vị thánh, thì bất cứ một công việc gì được thành tựu bằng chính đôi tay, tâm lựcnguyện lực của chúng ta cũng đều mang theo một niềm kiêu hãnh. Ngôi chùa Kim Quang được thành tựu hôm nay là một niềm kiêu hãnh chung của toàn thể người Việt ly hương, đặc biệt là người Việt ly hương định cư tại thủ phủ Sacramento này. Chúng ta có quyền kiêu hãnh và tự hào, vì kiêu hãnh và tự hào nếu đặt đúng vào vị trí của nó sẽ giúp chúng ta thăng tiến rất nhanh trên đường hướng thiện và hướng thượng. Nhưng đừng bao giờ chúng ta tự cao và tự đại, vì tự cao và tự đại là độc tố có khả năng bào mòn công đức và phước báu của chúng ta, dễ dàng dẫn đến đọa lạc.

5 – Duy Trì:

Sau cùng, chúng ta hãy cùng nhau duy trìtiếp tục phát triển ngôi chùa Kim Quang này để lợi lạc quần sanh. Duy trì và phát triển một công trình thuần túy văn hóa thì không khó. Nhưng ngôi chùa Kim Quang này là một công trình “văn hóa tâm linh.” Do đó chúng ta phải duy trì và phát triển cả hai phương diện vật chấttinh thần. Vật chấtchúng ta phải quán xuyến, tu sửa để ngôi chùa được kéo dài theo thời gian. Tinh thầnchúng ta phải nỗ lực tu họcthực hành lời Phật dạy trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Ngôi chùa là một ngôi nhà tâm linh, nếu chúng ta lơ đãng trong việc phát triển tâm linh tức chúng ta đã tự quên lấy chính mình. Nhứt tâm cầu nguyện cho thầy trú trì, tăng chúng, chư đồng hươngPhật tử mọi giới mọi thời, đều được an lạc.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

- Kính chào liệt quý vị.

LUÂN HỒI

Skandha! Skandha

Mi và ta không khác

Cớ sao mà thiện ác mãi phân đôi

Thôi thì quẳng gánh luân hồi

Ta cùng ngồi lại bên đồi ngắm trăng.

LỄ CUNG NGHINH TÔN TƯỢNG PHẬT NGỌC TẠI SACRAMENTO

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

I - Dẫn Nhập

Thưa quý vị,

Kinh Kim Cang, Phật dạy “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng…” hoặc là “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dị âm thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai” hay là “Nhất thiết hữu vi pháp: như mộng, huyễn, bào, ảnh; như lộ, diệc như điển.” Đã là hư vọng, đã hành tà đạo, đã như mộng huyễn… thì không thể nào mang đến hòa bình chân thật cho thế giới.

Do vậy, tất cả các loại hình tượng Phật: Phật vẽ trên giấy, Phật thêu trên lụa, Phật được tạo bằng đất sét, bằng xi măng, bằng thạch cao, bằng tất cả các loại đá trong đó có loại đá quý mà chúng ta gọi là “ngọc”. Tất cả đều không có khả năng mang lại hòa bình cho thế giới. Chỉ có một vị Phật duy nhất, có đủ khả năng mang lại hòa bình cho thế giới, đem lại an lạc, hạnh phúc cho mọi loài, đó là Phật tâm. Phật tâm hay tâm Phật là tâm có dung chứa đầy đủ Từ BiTrí Tuệ. Và chỉ có Từ biTrí tuệ của chúng sanh mới mang lại thương yêuhiểu biết cho nhau, mới xoa dịu niềm đau khổ cho nhau; mới mang lại hạnh phúc hòa bình cho nhau. Muốn mang lại hòa bình cho thế giới, trước hết tâm của mọi người phải bình an. Muốn bình an phải nỗ lực thực hành lời Phật dạy. Tâm bình thế giới bình. Đó là điều căn bản, là cốt lõi của đạo Phật mà người Phật tử hay không Phật tử phải nắm cho vững, phải hiểu cho thấu. Vậy thì tôn tượng Phật ngọc đang đối diện trước mặt chúng ta có khả năng gì?

Nói như vậy, hỏi như vậy, không phải chúng tôi muốn đem đến sự hoang mang, hoài nghi cho đại chúng hay phủ nhận tấm lòng, tấc dạ, công đức của quý Thượng tọa, quý Đại đức, quý Phật tửđồng hương đã tận tụy đến vất vả để cùng nhau chung lo tôn nghinh tôn tượng Phật ngọc về an trú tại khuôn viên chùa Kim Quang hôm nay. Không! Hoàn toàn chúng tôi không có tâm niệm đó.

II - Nội Dung

Vậy thì đoạn văn vừa rồi muốn nói lên điều gì?

Thưa đại chúng,

Trong đạo Phật có hai vấn đề mà người tu học Phật phải được dung thông, đó là Lý và Sự. Kinh Hoa Nghiêm gọi là Lý Sự Vô Ngại hay là Lý Sự Vô Ngại pháp giới. Điều chúng tôi trình bày ở phần mở đầu thuộc về phần lý. Bây giờ chúng ta đang đối diện với phần sự, tức đối diện với thực tế. Trước mặt chúng ta là một pho tượng được tạo bằng ngọc, tức là một loại đá quý trong những loại đá quý. Pho tượng này đã được di chuyển đến nhiều quốc gia trên thế giới. Nơi nào cũng được cộng đồng người Việt chiêm ngưỡng bằng tất cả tấm lòng chí thành chí kính của mình. Bằng sự thanh tịnh của nội tâm, bằng tấm lòng chí thành chí kính, muôn người như một, triệu người như một, hàng triệu triệu người như một cùng dâng hiến một món quà tâm linh thiêng liêng quý báu không những cho bản thân, gia đình mà cho toàn thế giới, tất nhiên thế giới phải chấn động bởi những đợt sóng Từ Bi Trí Tuệ đó, rồi theo đó sẽ được chuyển hóa hận thù thành yêu thương, ganh tỵ thành tha thứbao dung. Vì Từ Bi Trí Tuệ là chất liệu cần thiết cho hòa bình thế giới. Và đó là ý nghĩa của câu “Phật Ngọc cho Hòa Bình Thế Giới hay Vì Hòa Bình Thế Giới.” Bởi vì pho tượng ít thấy này đã cùng lúc quy tụ được một lượng người hết sức đông đảo, so với các buổi lễ thỉnh tượng khác.

Thưa quý vị, đây là lần đầu tiên cộng đồng Phật giáo Việt Nam Bắc California, từ hàng xuất gia cho đến tại gia trong suốt bốn thập niên qua đã nhất trí hiến tặng một “Phật sự” mang tính phổ quát này. Chúng ta trân trọng cảm tạ chư vị Thượng tọa, Đại đức trong ban tổ chức: Thượng tọa trưởng ban Thích Nhật Huệ, nhị vị phó ban Thượng tọa Thích Từ Lực, Đại đức Thích Thiện Duyên, cùng quý Thượng tọa, Đại đức tại chùa Kim Quang, với sự yểm trợ đắc lực của ban quản trị cũng như Phật tử địa phương, trong đó có quý hội đoàn, đoàn thể, quý đồng hương, và GĐPT Kim Quang.

III - Kết Luận:

Tôi tin rằng lượng sóng Từ Bi Trí Tuệ qua phương tiện chiêm lễ và nhất tâm cầu nguyện của chúng ta hôm nay sẽ chan hòa với các lượng sóng Từ Bi Trí Tuệ khắp các nơi mà tôn tượng đã có dịp ngang qua để bao trùm khắp nhân loại trên thế giới hầu góp phần trong việc chuyển hóa khổ đau thành an lạc, hóa giải hận thù thành yêu thương để thế giới được hòa bình thật sự.

Phi Từ BiTrí Tuệ, không gì, không ai có thể mang lại hòa bình cho thế giới, ngoài việc thân tâm hợp nhất của mọi người, hay ít ra của nhiều người trên hành tinh này, để cùng tỏa ra một năng lượng Từ Bi Trí Tuệ hùng hậu, mới có thể làm được điều hy hữu đó.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính chào liệt quý vị.

10/2010

HOA ĐĂNG

Kính thưa quý vị,

Hôm nay ngày 16/10/10 nhằm ngày 9 tháng 9 năm Canh Dần, chúng ta đang câu hội tại chùa Kim Quang, nơi Tôn Trí Ngọc Thân Đức Bổn Sư trong gần suốt 2 tuần lễ qua. Đêm câu hội này có tên là lễ Hoa Đăng, hay gọi nôm na là Lễ Thắp Sáng Đèn Tâm. Hoa Đăng hay Thắp Sáng Đèn Tâm là một tên khác đã được đức Thế Tôn nhắc đến khi Ngài còn tại thế mỗi khi nhắc nhở Tứ chúng chuyên lo tu tập để làm cho ngọn đèn tâm của mình luôn được tỏ rạng qua từ ngữ VÔ TẬN ĐĂNG, hay VÔ TẬN TẠNG ĐĂNG, tức ngọn đèn không bao giờ lu mờ hay bị tắt.

Trong gần hai tuần lễ qua, chúng ta Phật tử hay không Phật tử, đồng hương Việt nam hay các sắc dân khác, kể cả người dân bản xứ, không phân biệt màu da, chủng tộc, đều có ít nhất một lần chiêm bái hay chỉ tham quan trong ý nghĩa văn hóa nghệ thuật. Dù trong ý nghĩa nào chăng nữa, theo tinh thần Kinh Pháp Hoa, tất cả đều có chủng tử Phật, sớm muộn gì cũng sẽ thành Phật. Chúng tôi tin tưởng mãnh liệt rằng điều đó nhất định phải xảy ra cho chúng ta, vấn đề còn lại là thời gian. Thời gian không phải do Phật quyết định, mà do chúng ta tự định đoạt; nếu sự tinh tấnnỗ lực không ngừng dù gặp phải nghịch cảnh khó khăn nào, chúng ta cũng không lùi bước trên đường tu, thì con đường thành Phật phải được thu ngắn.

Ban tổ chứa, đặc biệtThượng tọa trưởng ban Thích Nhật Huệ, nhị vị phó ban Thượng tọa Thích Từ LựcĐại đức Thích Thiện Duyên, mặc dù hết sức bận rộn trong hai tuần lễ qua , nếu không muốn nói là gần bốn tháng qua, đã tận dụng khả năng và sức lực còn lại để cho chúng ta đêm Lễ Hội Hoa Đăng mang đầy ý nghĩa giác ngộ hôm nay. Thay mặt Chư Tôn Đức Tăng Ni, và toàn thể thành viên tham dự, trân trọng biết ơn ban tổ chức, kính chúc quý ngài vô biên phước lạc và sớm thành tựu quả vị Phật. Chúng tôi cũng xin được mạn phép thay mặt chư Tăng Ni kính chào mừng liệt quý vị đã hưởng ứng đêm Lễ Hội Hoa Đăng hôm nay. Mỗi thành viên chúng ta, dù trực tiếp hay gián tiếp tham dự đêm lễ hội này đều là những vị Phật có đầy đủ khả năng đem bình an giác ngộ, hòa bình hạnh phúc cho muôn loài bây giờ và vô tận tương lai trong bất kỳ thế giới khổ đau nào. Điều này đức Phật đã nhấn mạnh nhiều lần trong gần nửa thế kỷ tuyên dương chánh pháp. Và vì tầm mức quan trọng của vấn đề, nên Ngài đã lập lại một lần chót trong bản kinh có tên là Niết Bàn: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ (đang) thành.” Chúng tôi vô cùng hoan hỷ mỗi khi có dịp trùng tuyên lại câu kinh tỏa rạng ánh sáng trí tuệ này tại bất kỳ nơi nào.

Thưa đại chúng,

Theo vận nước nổi trôi, chúng tôi một số rất ít Tăng ni cùng có mặt với đồng bào trong cùng cảnh ngộ trong và sau ngày 30/4/75, mỗi người một cách, vận dụng khả năng trí tuệkiến thức của mình để gìn giữ quê hương, trao truyền văn minh, văn hóa cho đàn con, đàn cháu của chúng ta, những người mang cùng một dòng máu Lạc Hồng, để mãi mãi không hổ danh là con Hồng cháu Lạc dù đang lưu lạc ở bất cứ chân trời góc bể nào. Trong khả năng hạn hẹp, với cố gắng tuy nhỏ nhoi, nhưng hết sức cật lực, để cùng nhau câu hội, quy tụ đồng hương, và đồng bào Phật tử thành hình một cộng đồng tạm gọi là cộng đồng Phật giáo Việt Nam Bắc California tính đến nay đã tròn 35 năm. 35 năm, nếu so với chuỗi thời gian vô tận thì không tạo được một chấm phá nào cả. Nhưng nếu so với đời người thì phài nói là tương đối dài. Trong 35 năm qua, đối với đồng hương, chúng tôi đã cộng tác với các hội đoàn, đoàn thể để đóng góp khả năng của mình, dù chỉ đóng góp một lời nói thô sơ mộc mạc, nhưng với tất cả tấm lòng trong sáng vô vị lợi, hầu mong duy trì và phát huy tinh thần dân tộc theo chỉ đạo của giáo lý Từ Bi Giác Ngộ của Đức Thế Tôn. Đối với đạo giáo, chúng tôi đã sống hòa hài với các tôn giáo bạn trong từng hoàn cảnh. Riêng với Phật giáo, chúng tôi đã cổ vũ xây dựng Tịnh Xá, Tịnh Thất, Niệm Phật Đường hay chùa v.v… Mỗi Tịnh Xá, Tịnh Thất, Niệm Phật Đường đều là nơi câu hội đông đảo quần chúng Phật tử và đều có tổ chức GĐPT hay ít nhất cũng quy tụ được những người trẻ câu hội học hỏi tiếng Việt hay phong tục tập quán Việt. Thành quả tuy rất khiêm tốn, nhưng chúng tôi rất ấm lòng mỗi khi thấy, nghe bà con câu hội, chào hỏi nhau bằng tiếng Việt, kể cho con cháu mình nghe những chuyện ngụ ngôn, ngâm lên những câu ca dao tục ngữ. Chúng tôi nguyện sẽ không “về hưu”, không chùn bước dù phải gặp khó khăn hay nghịch cảnh, xin tất cả quý vị hãy tiếp tay và tiếp sức cùng chúng tôi trong sự nghiệp làm sáng danh dân tộc Việt. Tất cả chúng ta đều là những người “mang chuông Việt đi đánh xứ người.” Hãy nâng đỡ và giúp đỡ cho nhau mỗi khi gặp khó khăn. Tôi nghĩ, chuyện 35 năm, nhất là 35 năm làm con dân lưu lạc, phải chờ một nhà văn viết thành một tập sách vài ba trăm trang may ra mới nói hết, không thể nào diễn tả trong 5, 10 phút hôm nay.

Trước khi dứt lời, thay mặt chư Tăng Ni đang hành đạo, học đạotu đạo tại miền Bắc California chân thành cảm tạ sự hỗ trợ về mọi mặt của liệt quý vị, không phân biệt tôn giáo, đảng phái trong suốt 35 năm qua. Những gì chúng tôi đã, đang và sẽ tiếp tục hành hoạt đều có mặt và có sự hỗ trợ của liệt quý vị.

Chân thành cảm ơncảm tạ quý liệt vị

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát.

ĐÔI DÒNG VỀ CHÙA QUANG NGHIÊM

Chùa Quang Nghiêm tọa lạc tại địa chỉ:

2294 East Fremont Street, Stockton CA 95205.

Điện thoại: (209) 941 – 4991; Fax: (209) 462 – 3391.

Tiền thân của ngôi chùa là một ngôi nhà thờ Tin Lành nhỏ, cũ. Được tạo mãi từ tháng 02 năm 1984 bởi sư ông Thích Minh Đạt.

Sư Ông Minh Đạt đến định cư tại Mỹ tháng 8 năm 1979. Cùng lưu trú với sư ông Thích Tịnh Từ tại chùa Từ Quang, San Francisco, California. Tháng 5 năm 1983, sư ông Minh Đạt về thành phố Stockton lập Hội Phật giáo Việt Nam Stockton (Vietnamese Buddhist Association of Stockton) và thành lập chùa Quang Nghiêm.

Xuất thân từ Tổ đình Ấn Quang (1960), tốt nghiệp cao học Phật học tại viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm niên khóa 1975-1977.

Để nhớ lại nơi “sinh ra” và nơi “lớn lên,” sư ông đã rút chữ Quang của Ấn Quang, và chữ Nghiêm của Huệ Nghiêm đặt tên cho ngôi chùa mà sư ông sáng lập đầu tiên trên đất Mỹ - chùa Quang Nghiêm. Bổn sư của sư ông là sư cố thượng Thiện hạ Hòa, tức đại lão hòa thượng Thích Thiện Hòa, khai nguyên tổ đình Ấn Quang, Sài gòn, Việt Nam.

Sư ông tâm sự: “Sư ông không phải là mẫu người có năng khiếu về việc điều hành một ngôi chùa. Hồi còn là tăng sinh, một thầy bạn hỏi sư ông là sau này ra trường làm gì? Sư ông trả lời rằng ‘chỉ thích dạy trong các Phật học viện thôi.’ Không ngờ vận nước nổi trôi, sư ông ra nước ngoài, chẳng đặng đừng, sư ông đi lập chùa. Sống chung với chúng, bất kỳ lứa tuổi nào, mình cũng có nhiều thì giờ tu tập, học hành, nghiên cứu hơn… thôi thì ‘cờ vô tay phải phất’ vậy; tụi con cố gắng tu tậphọc hành cho giỏi để sau này trở thành rường cột cho Phật pháp…”

Khi có ý niệm lập chùa, về phần cá nhân, sư ông nỗ lực tu tập nhiều hơn, vì sư ông quan niệm rằng một vị ‘trú trì’ cần có nhiều nội lực mới có thể thực hiện trọn vẹn việc tự lợilợi tha. Do đó, sau khi có chùa, sư ông thiết lập thời khóa tu học cho cả hai chúng: xuất giatại gia. Về chúng tại gia: 1) Đối với tuổi trẻ, có đoàn Thanh Thiếu Niên Học Phật, về sau là gia đình Phật tử Vạn Hạnh, sinh hoạt mỗi cuối tuần. Ngoài ra còn có lớp giáo lý cho học sinh, sinh viên được tổ chức vào mỗi tối thứ sáu. 2) Đối với tín đồ lớn tuổi hay “không thích” sinh hoạt trong gia đình Phật tử, có chương trình ngày Quán Niệm và Tu Bát Quan Trai hằng tháng. Về chúng xuất gia, ngoài việc duy trì hai thời công phu sớm tối để quân bình nếp sống nội tâm hằng ngày, mỗi tối thứ bảy có giờ giáo lý; hằng năm đều có An Cư Kiết Hạ như luật định. Các môn Kinh, Luật, Luận được sư ông phối trí hướng dẫn trong thời gian An Cư.

Đến nay (2011) ngôi chùa Quang Nghiêm đã tròn 27 tuổi, chương trình tu tập vẫn duy trì đều đặn. Điều cần nhấn mạnh nơi đây là chùa Quang Nghiêm không những được duy trì, mà còn phát triển theo thời gian hết sức khích lệ. Đại chúng chỉ cần nhìn hai tấm hình lúc mới dọn về chùa và tấm hình hiện tại thì thấy rất rõ sự thay đổi. Trong sự phát triển đó, có một sự phát triển “vượt bực”, đó là việc xây tượng đài Đức Quán Thế Âm cao 20 bộ Anh và một bảo tháp cao 30 bộ Anh bằng vật liệu nặng. Công trình này đã làm nức lòng mọi người con Phật nói riêng và tập thể người Việt ly hương nói chung.

Trên đây là vài nét về ngôi chùa Quang Nghiêm kể từ ngày thành lập (2/1984), duy trì, phát triển không ngừng suốt 27 năm qua (2/2011).

Ban thư ký ghi theo trí nhớ những gì Sư Ông đã chỉ dạy trong những mùa An Cư.

MỤC LỤC

Lời Thưa

Mặt Trời Chưa Lặn

LĂNG GIÀ (I)

Tăng Trưởng Nội Lực

BẤT DIỆT

Ai, Ai?

Giữa Lòng Thế Gian

Mừng Sinh Nhật

KHÔNG (III)

Thư Gởi Bạn

BỒ ĐỀ

Tri Hành Hợp Nhứt

Quà Xuân Dâng Mẹ

MỈM CƯỜI

Tưởng Niệm Ngày Thành Đạo

TIỄN NI SƯ TRÍ HẢI

Cây Tùng Trước Sân

Sự Cần Thiết của Các Lớp Học Phật

Duy Ngã hay Vô Ngã

NHUẬN THẤM

Đạo Phật

Thờ Phật

Niệm Phật

Lạy Phật

Cúng Phật

NI SƯ TRÍ HẢI – BÓNG HẠC

Tụng KinhTrì Chú

ÔN HỘI CHỦ

Tứ Vô Lượng Tâm

Hai Mươi Năm GĐPT Vạn Hạnh

ÂN SƯ

Một Phần Nhỏ Về Cơn Bệnh Của Thầy Thiện Trì

THIỀN CA

Nhân Ngày Khánh Thành Chùa Kim Quang

LUÂN HỒI

Lễ Cung Nghinh Tôn Tượng Phật Ngọc tại Sacramento

Hoa Đăng

Đôi Dòng Về Chùa Quang Nghiêm

Hình Ảnh

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 14286)
Để góp nhặt hết tất cả những ý niệm tác thành tập sách nhỏ “Tâm Nguyên Vô Đề” này là một lời sách tấn, khuyến khích của Thiện hữu tri thức để lưu dấu một cái gì. Cái uyên nguyên của Tâm... Nguyên Siêu
(View: 10930)
“Phật pháp trong đời sống” của cư sĩ Tâm Diệu là tuyển tập về mười hai chuyên đề Phật học gắn liền với đời sống của người tại gia.
(View: 10683)
Gió không từ đâu tới; gió cũng đã chẳng đi về đâu. Gió hiện hữu, rồi gió tan biến, xa lìa. Tử sinh cũng như thế. Tuy có đó, tuy mất đó
(View: 9619)
Đa số Phật tử Việt Nam thường chỉ học hỏi Phật pháp qua truyền thống Trung Hoa; ít ai để ý đến sự sai biệt căn để giữa khởi nguyên của Phật giáo từ Ấn Độ
(View: 17341)
Trăng bồng bềnh trên ngàn thông Và thềm đêm vắng lạnh, khi âm xưa trong veo từ các ngón tay anh đến. Giai điệu cổ luôn khiến người nghe rơi nước mắt, nhưng nhạc Thiền ở bên kia tình cảm.
(View: 8103)
Tay Bụt trong tay ta có nghĩa là ta được nắm tay Bụt mà đi. Cũng có nghĩa là trong tay ta đã có tay Bụt. Bụt và ta không còn là hai thực tại riêng biệt.
(View: 32371)
“Teachings from Ancient Vietnamese Zen Masters” là bản dịch tiếng Anh nhiều bài thơ, bài kệ và bài pháp của chư tôn thiền đức Phật Giáo Việt Nam từ ngài Khương Tăng Hội ở thế kỷ thứ 3 sau Tây Lịch...
(View: 11850)
Chư Phật cùng tất cả chúng sanh chỉ là một tâm, không có pháp riêng. Tâm nầy từ vô thủy đến nay không từng sanh không từng diệt...
(View: 6359)
Bộ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục do cư sĩ Bành Tế Thanh cùng cháu là Hy Tốc, người đời Càn Long nhà Thanh sưu tập những truyện niệm Phật được vãng sanh soạn thành.
(View: 5865)
Tâm là nguồn sống vô tận và ánh sáng của tâm là ánh sáng vô tận. Tâm lắng yên phiền nãotâm bình đẳng và thanh tịnh vô tận.
(View: 7035)
Nguyên tác: The Art of Happiness in a Troubled World; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma và Howard C. Cutler; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 6154)
Cuốn sách này được viết ở Thái Lan, nơi tôi đã sống trong một vài năm. Khi tôi gặp người Thái, tôi đã rất ấn tượng trước sự rộng lượng của họ.
(View: 7446)
Sách này không ngại phổ biến cho nhiều người cùng đọc. Có thể nhờ đọc nó, người ta có cơ hội bước vào cửa ngõ Chánh pháp...
(View: 9213)
Bửu Tạng Luận tác giảTăng Triệu, bài luận này và bộ Triệu Luận đều có ghi trong tập 96 của Tục Tạng Kinh, nhưng bộ Triệu Luận đã lưu hành từ xưa nay...
(View: 7120)
Theo truyền thuyết Ấn giáo, thần Vishnu có lần hoá sinh làm một vị vương tử sống bên bờ sông Hằng. Tên ông là Ravana...
(View: 11852)
Quyển Hai quãng đời của Sơ tổ Trúc Lâm do chúng tôi giảng giải, để nói lên một con người siêu việt của dân tộc Việt Nam.
(View: 6955)
Sư sống vào thời Hậu Lê, người ta quen gọi là Tổ Cầu. Tổ tiên quê ở làng Áng Độ, huyện Chân Phúc. Ông Tổ năm đời của Sư làm quan Quản chu tượng coi thợ đóng thuyền cho triều đình.
(View: 6393)
Đây là một quyển sách ghi lại ba ngày thuyết giảng của Đức Đạt-lai Lạt-ma tại thành phố Luân Đôn vào mùa xuân năm 1984, tức cách nay (2014) đúng ba mươi năm.
(View: 6938)
108 lời dạy của Đức Đạt-lai Lạt-ma được gom góp trong quyển sách tuy bé nhỏ này nhưng cũng đã phản ảnh được một phần nào tư tưởng của một con người rất lớn, một con người khác thường giữa thế giới nhiễu nhương ngày nay.
(View: 6382)
Đức Phật hướng dẫn cần chuyển hóa tâm thức làm cho nỗi đau, phiền não, nghiệp chướng không còn sức sống, lúc đó chúng ta mới đạt được hạnh phúc thật sự.
(View: 6125)
Đại sư quả quyết với chúng ta rằng những điều nói ra trong "Chứng Đạo Ca" là để dẫn chúng ta "Chứng thực tướng, không nhân pháp,"
(View: 6861)
Suốt hai mươi lăm thế kỷ hiện hữu trên thế gian này, đạo Phật chưa một lần gây tổn thương hoặc làm thiệt hại cho bất cứ một dân tộc, xã hội hay quốc gia nào.
(View: 6190)
Chủ yếu Đạo Phật là chỉ dạy chúng sanh giải thoát mọi khổ đau, song lâu đài giải thoát phải xây dựng trên một nền tảng giác ngộ...
(View: 6523)
Bậc Thánh A La Hán, bậc đã thanh lọc tâm, là người không bao giờ còn phải tái sinh trở lại. Nếu tâm của ngài căn bảnthanh tịnh...
(View: 6284)
Tiếng đại hồng chung ngân vang như xé tan bầu không khí đang trầm lắng. Đó là báo hiệu cho mọi người chuẩn bị hành lễ của thời khóa Tịnh độ tối...
(View: 8680)
Chủ đề: 50 năm xuất giahành đạo của HT. Thích Như Điển
(View: 10849)
Sự Thực Hành Guru Yoga Theo Truyền Thống Longchen Nyingthig
(View: 8991)
Bản tiếng Anh của Santideva. A Guide to the Bodhisattva Way of Life; Do Đặng Hữu Phúc dịch sang tiếng Việt dựa theo bản Phạn-Anh.
(View: 8777)
Các Tổ sư Thiền có khi hỏi đã không đáp, mà dùng gậy đánh, roi quật, miệng hét như trường hợp Tổ Hoàng BáThiền sư Nghĩa Huyền...
(View: 6590)
Thân hình tuy còn ngồi ở nơi thành thị, nhưng phong thái mình đã là phong thái của người sống ở núi rừng. Khi các nghiệp (thân, khẩu và ý) đã lắng xuống thì thể và tính mình đều được an tĩnh...
(View: 7335)
Kinh Quán Niệm Hơi Thở là một hệ thống thiền tập rất căn bản của đạo Bụt, là một nghệ thuật vun trồngđiều phục thân tâm tuyệt vời.
(View: 6632)
Hồn Bướm Mơ Tiên là tác phẩm mang âm hưởng Phật giáo rất sâu sắc dưới cái nhìn của tác giả.
(View: 12266)
Phật Giáo còn được phân chia thành hai nhánh khác nhau là Tiểu Thừa (Hinayana) và Đại Thừa (Mahayana)... Nguyên tác: Ajahn Chan; Hoang Phong chuyển dịch
(View: 7645)
Giai Nhân Và Hòa Thượng gồm có 10 truyện ngắn Do Hội Giáo Dục Từ Thiện Sariputtra Xuất bản năm 2006... HT Thích Như Điển
(View: 5513)
Kỷ Yếu Kỷ Niệm Chu Niên 20 Năm Thành Lập Tu Viện Quảng Đức, chính thức ra mắt nhân dịp Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15 của Giáo Hội, được tổ chức tại Tu Viện Quảng Đức từ ngày 1 đến 11 tháng 7 năm 2014...
(View: 16102)
Quyển sách nầy nhằm giải đáp một phần nào những thắc mắc trên qua kinh nghiệm bản thân của người viết... HT Thích Như Điển
(View: 10198)
Đi đến nước cùng non tận chỗ, Tự nhiên được báu chẳng về không... Thích Tâm Hạnh
(View: 5940)
Tôi chia sẻ các phương pháp điều trị ung thư không phải để khoe khoang kiến thức về bệnh tật, y khoa và thiền học... Chân Pháp Đăng
(View: 12947)
Trời tu viện rộng và đẹp, sáng nay mây ngoài biển đã kéo vào chưa? Thôi, xin mời thầy hãy vào cốc Trăng Lên, nhóm lửa và thêm chút củi vào cho ấm... Nguyễn Duy Nhiên
(View: 39126)
Có thể nói, không có một Tôn giáo nào, một hệ tư tưởng nào đề cao con người và đặt niềm tin vào con người như là đạo Phật... HT Thích Minh Châu
(View: 6108)
Ghi chép lại những bài giảng của Chư Tôn Đức cho các Huynh trưởng và Đoàn sinh GĐPTVN... Tâm Minh Vương Thúy Nga
(View: 5287)
“Nếu chẳng một phen xương lạnh buốt, Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương”... Thích Chân Tính
(View: 10102)
12 lời nguyện niệm Phật này, nhằm giúp cho Phật tử có định hướng trong việc tu tậpchí nguyện để về thế giới Cực Lạc của Đức Phật A-Di-Đà... Thích Chân Tính
(View: 10431)
Thư cho người em Tịnh độ là một bộ luận nhỏ, gom nhặt những yếu nghĩa của Tông Tịnh độ, chia thành từng bài nhỏ, mỗi bài là một chủ đề... Thích Hồng Nhơn
(View: 11927)
Đi vào cửa Pháp: Tuyển tập Giáo huấn của các Đạo sư Tây Tạng - Bản dịch Việt ngữ của Liên Hoa & Thanh Liên
(View: 5860)
Mỗi trang sách là một lời nhắn nhủ, ta như đang nghe giọng nói nhẹ nhàng, dí dỏm của Thầy: Các bạn cứ nhìn lại xem, tình thươngtuệ giác của Bụt ở ngay trong lòng của bạn.