Sách Văn Học Phật Giáo
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
16,801,540
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250Logo-Hanh-Huong-AD-2019-tron-250

Ngữ lục Thiền sư Động Sơn Ngộ Bản

Saturday, November 22, 201418:43(View: 10048)
Ngữ lục Thiền sư Động Sơn Ngộ Bản

Ngữ lục Thiền sư Động Sơn Ngộ Bản

Quách Ngưng Chi hội tập
Sa-môn Huệ Ấn hiệu đính
Tỳ-kheo Nguyên Chơn dịch



TỰA

Đường Đông Tây xa vời vợi, sáu Tổ nối tiếp truyền trao. Truyền đã theo thứ lớp thì nguỵ đã lẫn trong chân. Ngay lúc ngụy đã giao xen thì thuần chân chỉ có tổ Động. Đầu tiên, từ khi hỏi thầy: “Con có mắt, tai...” cho đến khởi tham ngài Nam Tuyền về ngày kị Mã Tổ, rồi đến việc mới lạ Vô tình thuyết pháp, dùng mắt nghe; gạn hỏi Bá Nham Triết danh tánh của Quán sát sứ; ngữ cú vẽ chân tượng Vân Nham; việc cắt dòng qua sông với Mật Sư Bá; quở trách Vân Cư về con đường chư thiên cúng dường; đến cuối cùng thì bày bữa cơm Ngu si. Nêu lên một số hành trạng của như thế, thì biết Đại sư là một Sư biểu hiếm có ở đời.

Những ngữ cú của Sư được chép rải rác trong trứ tác của các nhà, nhưng chưa được gom tập. Cho nên vào niên hiệu Nguyên Văn, thiền sư Huyền Khế biên tập và đặt tên là Động Sơn Lục, tàng bản tại Bạch Hoa Lâm. Có thể cho rằng đây là việc kế thừahoàn thành sự nghiệp của tổ tông! Nhưng đường đến Kinh đô xa muôn dặm, lại nhiều gian nan, thật khó lên bái thỉnh;cho đến mùa Thu năm Canh Thìn vừa qua, đồ chúng tại Cát Tường Thiền tự ở Giang Đô khẩn cầu tôi khảo đính. Đây cũng là việc làm để không quên Tổ đạo. Lão nạp tôi bảo rằng: “ Ô hô! Tổ Động Sơn ư? Chân thật vậy! Sâu xa vậy! Đầy đủ vậy! Không thiên vậy! Chánh trung vậy! Dòng Giang Hán đã trong xanh, mặt trời thu đã chiếu rực. Chỉ có thể dùng đạo tâm để thấy, không thể lấy mắt tục mà nhìn. Đến như người không thể nhìn thấy y, không thể suy lường được y, không thể dời đổi được y mà không có một tự kỉ độc tồn, thì môn hạ Thiếu Lâm thật chỉ có một mà thôi! Như Tán Ninh đã nói trong Cao tăng truyện.

Một ngày tốt, tháng Giêng năm Tân Tị, niên hiệu Bảo Lịch, Huệ Ấn Chỉ Nguyệt đốt hương kính ghi.

Thiền sư Động Sơn người Cối Kê, húy Lương Giới, họ Du. Thuở nhỏ theo thầy học Bát-nhã Tâm Kinh, đến câu “Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý” liền sờ mặt mình và hỏi thầy:

- Con có Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân…. Vì sao trong kinh dạy là không có?

Vị thầy nghe hỏi, kinh ngạc nói:

- Ta chưa phải là thầy của ông! _ Đồng thời chỉ Sư qua núi Ngũ Duệ lễ thiền sư Linh Mặc.

Năm 21 tuổi, Sư đến Tung Sơn thọ giới cụ túc. Sau đó du phương, đầu tiên Sư tham yết thiền sư Nam Tuyền, gặp ngày kỵ Mã Tổ. Nam Tuyền hỏi đại chúng rằng:

- Ngày mai thiết trai kỵ Mã Tổ, chẳng biết Mã Tổ có đến không?

Đại chúng không đáp được, Sư bèn bước ra nói:

-  Đợi có bạn liền đến!

Thiền sư Nam Tuyền nói:

- Gã này tuy là hậu sanh, nhưng có thể gọt dũa được!

Sư nói: Hòa thượng chớ làm tốt trở thành xấu!

***

tham vấn thiền sư Qui Sơn và hỏi:

- Được nghe quốc sư Huệ Trung ở Nam Dương nói câu: “Vô tình thuyết pháp”, con chưa thể tham cứu đến chỗ triệt để, xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy!

Ngài Qui Sơn nói:

- Ông còn nhớ chăng?

Sư đáp: Dạ nhớ!

Thiền sư Qui Sơn: Ông hãy cử lại xem!

Sư liền nêu lại cơ duyên xưa rằng: “Có một vị tăng hỏi Quốc sư: “Thế nào là tâm của Cổ Phật?”.

Quốc sư đáp: Chính là tường, vách, sỏi, đá!

Tăng hỏi: Những vật ấy chẳng phải là vô tình ư?

Quốc sư đáp: Đúng!

Tăng hỏi: Có biết thuyết Pháp không?

Quốc sư đáp: Thường thuyết rõ ràng không nghỉ!

Tăng hỏi: Vì sao con chẳng nghe?

Quốc sư đáp: Tự ông chẳng nghe, không ngại người khác nghe!

Tăng hỏi: Chưa biết ai nghe được?

Quốc sư nói: Các Thánh nghe được!

Tăng hỏi: Hòa thượng có nghe chăng?

Quốc sư đáp: Ta chẳng nghe.

Tăng hỏi: Hòa thượng đã chẳng nghe, sao biết vô tình biết thuyết Pháp?

Quốc sư đáp: Nhờ ta chẳng nghe, nếu ta nghe được tức đồng các Thánh. Bấy giờ ông chẳng thể nghe ta thuyết pháp!

Tăng: Thế thì chúng sanh không có phần vậy!

Quốc sư: Ta thuyết phápchúng sanh chớ không vì các Thánh.

Tăng hỏi: Chúng sanh sau khi nghe thì thế nào?

Quốc sư nói: Liền chẳng phải là chúng sanh!

Tăng hỏi: Nói vô tình thuyết Phápcăn cứ vào kinh điển nào?

Quốc sư đáp: Đúng vậy! Nói mà không có trong kinh điển, thì quân tử không. Ông há chẳng nghe kinh Hoa Nghiêm chép: “Sát thuyết, chúng sanh thuyết, ba đời đều thuyết”.

Sư vừa cử lại xong, thiền sư Qui Sơn nói: Nơi đây ta cũng có, chỉ vì hiếm gặp người ấy mà thôi!

Sư nói: Con chưa hiểu, xin Hòa thượng chỉ dạy!

Qui Sơn liền dựng phất tử, nói: Thể hội chăng?

- Không thể hội, thỉnh Hòa thượng nói! _ Sư đáp.

Thiền sư Qui Sơn nói: Miệng do cha mẹ sanh ra, nhưng chẳng thể nói cho ông biết được!

- Còn có người nào hiện nay mộ đạo như Hòa thượng chăng? _ Sư hỏi.

Thiền sư Qui Sơn đáp: Trong các thạch thất liên tiếp nhau ở huyện Du, Lễ Lăng có đạo nhân Vân Nham, nếu ông có lòng mong cầu khai ngộ, vị đó có thể là thầy của ông!

Sư nói: Chưa biết vị ấy thế nào?

Qui Sơn nói: Ông ta từng hỏi lão tăng rằng: Một đệ tử muốn thờ thầy, khi đi phải như thế nào? Ta trả

lời rằng: “Phải dứt trừ hết Sấm lậu[1] mới được!”. Ông ta nói: “Có thuận ý thầy hay không?”. Ta liền nói: “Thứ nhất, chẳng nên kể lão tăng trong ấy”.

Nghe ngài Qui Sơn nói xong, Sư liền từ giả đến thẳng Vân Nham, nêu lại nhân duyên trước và hỏi:

- Vô tình thuyết pháp ai nghe được?

Vân Nham đáp: Vô tình nghe được!

Sư hỏi: Hòa thượng nghe không?

- Nếu ta nghe thì ông không thể nghe ta thuyết pháp. _ Vân Nham nói.

Sư hỏi: Vì sao con chẳng nghe?

Vân Nham dựng phất tử hỏi: Nghe chăng?

- Không nghe! _ Sư đáp.

Ta thuyết pháp ông còn không nghe, huống gì vô tình thuyết pháp!

- Nói vô tình thuyết phápcăn cứ vào kinh điển nào? _ Sư hỏi.

Vân Nham nói: Ông há chẳng nghe kinh A-di-đà nói: “Nước, chim, rừng cây đều niệm Phật, niệm Pháp” đó sao?

Sư ngay lời này có tỉnh ngộ, liền nói kệ:

Cũng rất kỳ, cũng rất kỳ!

Vô tình thuyết pháp bất tư nghì

Nếu dùng tai nghe thì khó hội

Chỉ từ mắt nhận mới liễu tri!

Sư hỏi Vân Nham:

- Con chưa dứt trừ hết tập khí?

- Ông từng làm gì? _ Vân Nham hỏi.

Sư đáp: Thánh đế[2] cũng chẳng làm.

Vân Nham hỏi: Được hoan hỉ chưa?

- Hoan hỉ thì chẳng không, chỉ như trên đống rác nhặt được hạt minh châu. _ Sư đáp.

***

Sư hỏi Vân Nham:

- Vừa muốn gặp nhau thì thế nào?

Vân Nham đáp: Hãy đi hỏi Xá nhân[3] rành việc!

Sư đáp: Đã hỏi rồi!

Vân Nham hỏi: Y nói với ông thế nào?

***

Thiền sư Vân Nham hỏi Sư:

- Dược Sơn hỏi vị tăng: “Nghe nói ông biết tính toán chuyện hư thật, phải chăng?” Vị tăng liền đáp: “Dạ, không dám!” Ngài Dược Sơn nói: “Ông hãy tính hộ lão tăng xem!” Vị tăng không đáp được, còn ông như thế nào?

Sư đáp: Thỉnh Hòa thượng nói ngày sinh!

***

Trong một lần tham vấn ban đêm, ngài Dược Sơn không thắp đèn, hỏi đại chúng:

- Ta có một câu, đợi đến khi trâu nghé sanh con mới

nói cho các ông!

Có một vị tăng bước ra thưa:

- Trâu nghé sanh con, chỉ sợ Hòa thượng cũng không nói.

Ngài Dược Sơn bảo thị giả đem đèn đến, vị tăng xoay người trở vào trong chúng.

Ngài Vân Nham hỏi Sư, Sư đáp:

- Vị tăng kia đã thể hội, chỉ vì không chịu lễ bái.

***

Vân Nham đến Qui Sơn, Qui Sơn hỏi: Người khéo giữ gìn với người ấy là một hay hai?

- Lụa trong khung dệt là một đoạn hay hai đoạn?

nghe được bèn nói: Như người leo cây.

***

Một hôm Vân Nham dạy chúng rằng:

- Có một đứa trẻ nhà người, hỏi thì không hỏi, nói thì chẳng được.

Sư liền nói: Nhà của hắn có bao nhiêu sách vở?

- Một chữ cũng không. _ Vân Nham đáp.

- Đâu thể biết nhiều như thế! _ Sư nói.

Vân Nham đáp: Ngày đêm chưa từng ngủ nghỉ.

Sư hỏi: Hỏi một câu quan trọng được chăng?

Vân Nham đáp: Nói được lại chẳng nói!

***

Một hôm Vân Nham đan giày, Sư đến gần hỏi:

- Đến gặp thầy xin con mắt, không biết có được chăng?

Vân Nham hỏi: Mắt của ông đã cho ai rồi?

- Lương Giới không có. _ Sư đáp.

- Dẫu có, ông đặt ở đâu? _ Vân Nham hỏi.

Sư không đáp được.

Vân Nham nói: Xin mắt có phải là mắt chăng?

- Chẳng phải mắt! _ Sư đáp.

Vân Nham quát Sư.

***

Vân Nham hỏi một vị Ni: Cha ngươi còn chăng?

- Dạ còn! _ Ni thưa.

- Được bao nhiêu tuổi? _ Vân Nham hỏi.

- Dạ 80 tuổi. _ Ni thưa.

Vân Nham hỏi: Ngươi có một người cha, chẳng phải 80 tuổi, biết chăng?

- Có người như thế sao? _ Ni hỏi.

Vẫn còn là con cháu! _ Vân Nham nói.

Sư nói: Dù chẳng phải là người như thế thì cũng vẫn là con cháu!

***

Vị Viện chủ đến Thạch Thất trở về, Vân Nham liền hỏi: Ông đã đến Thạch Thất, vì sao lại trở về?

Viện chủ không đáp được, Sư đáp thay:

- Nơi đó đã có người chiếm rồi!

- Còn ông đi làm gì? _ Vân Nham hỏi.

Sư đáp: Chẳng thể đoạn dứt nhân tình!

Sư từ giã Vân Nham, Vân Nham hỏi:

- Ông đi đến đâu?

Sư: Tuy rời Hòa thượng, nhưng chưa chọn chỗ trụ.

- Chẳng phải Hồ Nam sao? _ Vân Nham hỏi.

Sư thưa: Dạ không!

Vân Nham hỏi: Chẳng về quê sao?

- Dạ không! _ Sư thưa.

- Bao giờ trở lại? _ Vân Nham hỏi.

Sư đáp: Đợi Hòa thượng có chỗ trụ thì trở lại!

Vân Nham nói: Lần chia tay này về sau khó được gặp mặt!

Sư đáp: Chẳng khó gặp mặt!

***

Khi sắp lên đường, Sư hỏi Vân Nham:

- Sau khi Hòa thượng viên tịch, nếu có người hỏi: “Vẽ lại được chân tướng của thầy không?” thì con phải đáp thế nào?

Vân Nham đáp: Chỉ cần nói với y rằng: “Chính là cái ấy!”.

im lặng giây lâu.

Vân Nham nói: Xà-lê Giới, việc gánh vác cần phải thẩm xét kỉ!

Sư vẫn còn chút ít nghi chưa giải tỏa được. Sư từ biệt Vân Nham. Sau đó, nhân qua suối, Sư thấy bóng của mình dưới nước, hoát nhiên đại ngộ yếu chỉ của Vân Nham, liền làm kệ:

Tránh đi tìm nơi khác

Vời vợi cách xa ta

Mình ta nay tiến bước

Nơi nơi đều gặp Y

Y nay chính là ta

Ta nay chẳng phải Y

Cần phải hiểu như thế

Mới khế hợp như như.

***

Sư hầu ngài Vân Nham, Vân Nham hỏi: Thế nào là thần thông diệu dụng của Lương Giới?

Sư liền chắp tay đến đứng gần Vân Nham, Vân Nham lại hỏi: Thế nào là thần thông diệu dụng?

Sư liền nói: Tạm biệt! _ Rồi bước ra ngoài.

Một hôm, đến tham kiến thiền sư Lỗ Tổ Bảo Vân, sau khi lễ bái xong, Sư đứng hầu một lát rồi đi ra, sau lại trở vào. Lỗ Tổ hỏi:

- Chỉ như thế, chỉ như thế! Cho nên như thế!

Sư nói: Có nhiều người không chấp nhận.

Lỗ Tổ hỏi: Tại sao dùng miệng ông luận bàn?

Sư liền lễ bái và ở lại hầu hạ mấy tháng.

Một hôm, có vị tăng hỏi Lỗ Tổ:

- Thế nào là lời không lời?

Tổ đáp: Miệng ông ở chỗ nào?

Tăng đáp: Không có miệng!

Tổ nói: Lấy gì ăn cơm?

Tăng không đáp được.

Sư đáp thay: Ông ta không đói, ăn cơm làm gì?

***

Sư đến Nam Nguyên (thiền sư Đạo Minh), vừa lên pháp đường, Nam Nguyên liền nói:

- Đã gặp nhau rồi!

Sư liền bước xuống.

Sáng hôm sau, Sư lại lên pháp đường hỏi rằng:

- Hôm qua được Hòa thượng từ bi chỉ dạy, không biết chỗ nào là chỗ đã cùng con gặp mặt?

- Tâm tâm không gián đoạn, lưu nhập vào biển tánh. _ Nam Nguyên đáp.

Sư nói: Cơ hồ đã luống qua rồi!

Sau Sư từ giã Nam Nguyên, Nguyên hỏi:

- Học rộng Phật pháp để lợi ích quần sanh?

Sư đáp: Học rộng Phật pháp thì chẳng hỏi, thế nào là làm lợi ích quần sanh?

- Chính là chẳng trái một vật! Nam Nguyên đáp.

***

Sư đến Hòa thượng Ty Thọ, Ty Thọ hỏi:

- Đến làm gì?

Sư đáp: Đến gần gũi Hòa thượng!

Ty Thọ hỏi: Nếu gần gũi thì lải nhải làm gì?

Sư không đáp. Sau Tào Sơn nghe liền nói:

- Một người gần được!

Sư đến tham lễ hòa thượng Hưng Bình, Hòa thượng bảo: Chớ lễ bái lão hủ!

Sư đáp: Người được lễ chẳng phải là lão hủ!

Ngài Hưng Bình nói: Y cũng không nhận lễ!

Sư nói: Y cũng chẳng từng lễ!

Ngài Hưng Bình hỏi: Thế nào là tâm của cổ Phật?

Sư đáp: Chính là tâm Hòa thượng. Tuy nhiên như thế,

con cũng còn chỗ nghi!

Ngài Hưng Bình bảo: Nếu thế thì hãy đi hỏi người gỗ xem.

Sư thưa: Con có một câu nói mà chang nhờ vào miệng chư Thánh.

Ngài Hưng Bình bảo: Ông hãy nói xem!

Sư thưa: Chẳng phải con!

Sư từ giã hòa thượng Hưng Bình, ngài Hưng Bình hỏi: Đi đâu?

Sư đáp: Nổi trôi vô định!

Ngài Hưng Bình hỏi: Pháp thân nổi trôi hay Báo thân nổi trôi?

Sư đáp: Đều chẳng phải hiểu như thế!

Hòa thượng vỗ tay.

Thiền sư Bảo Phước nói: Động Sơn từ đó thành một gia phong riêng, tìm được mấy người?

***

Sư đến Thứ Sơn, Sơn hỏi:

- Ông đã trụ một phương, còn đến đây làm gì?

Sư đáp: Lương Giới không nghi ngờ gì khác, chỉ đến thăm Hòa thượng!

Hòa thượng bèn gọi: Lương Giới!

Sư: Dạ!

- Là cái gì? _ Hòa thượng Sơn hỏi.

Sư không đáp.

Hòa thượng Sơn nói: Đúng là Phật, chỉ khônghào quang mà thôi!

***

Lúc Sư ở Phần Đàm, nghe thủ tọa Sơ nói:

- Cũng rất kỳ, cũng rất kỳ!

Phật giới, Đạo giới bất tư nghì!

Sư bèn hỏi: Phật giới, Đạo giới thì chẳng hỏi, chỉ như người nói Phật giới, Đạo giới là ai?

Thủ tọaim lặng giây lâu, Sư liền nói:

- Sao chẳng nói nhanh lên!

Thủ tọa Sơ đáp: Tranh biện tức chẳng được!

Sư nói: Nói, chưa từng nói, huống gì là “tranh biện tức chẳng được”.

Thủ tọa Sơ lại im lặng.

Sư lại nói: Phật và Đạo đều là danh ngôn, sao chẳng dẫn dụng kinh giáo?

Sơ đáp: Giáo nói gì?

Sư nói: Được ý quên lời.

Sơ đáp: Còn đem giáo ý vào tâm tức còn bệnh.

Sư đáp: Ngươi nói Phật giới, Đạo giới có bệnh nặng hay nhẹ?

Thủ tọa Sơ lại không đáp được, ngày hôm sau bỗng nhiên thị tịch.

Người bấy giờ cho là Sư hỏi làm chết thủ tọa Sơ.

***

Một hôm Sư và Mật Sư Bá đang đi, bỗng thấy trên dòng suối có một vài cọng rau đang trôi, Sư bèn nói:

- Nơi thâm sơn này không người cư trú, vì sao lại có rau trôi nơi đây? Chẳng lẽ theo dòng suối này lại có người ở sao? Hai vị cùng nhau vạch cỏ men theo suối khoảng 4, 5 dặm, gặp một người có dáng mạo kỳ dị. Đó chính là hòa thượng Long Sơn (Ẩn Sơn), cả hai đặt hành lý xuống tham lễ. Hòa thượng Long Sơn nói:

- Núi này không có đường đi, Xà-lê từ đâu đến?

Sư đáp: Không có đường hãy gác qua, xin hỏi Hòa thượng từ đâu mà vào?

Hòa thượng đáp: Ta chẳng theo mây nước vào!

Sư hỏi: Hòa thượng trụ ở núi này bao lâu rồi?

Hòa thượng đáp: Thời gian chẳng quan hệ.

Sư: Hòa thượng trụ trước hay núi này trụ trước?

Hòa thượng: Chẳng biết!

Sư: Vì sao chẳng biết?

Hòa thượng: Ta chẳng từ cõi trời người đến.

Sư: Hòa thượng đạt được đạo lý gì mà trụ núi này?

- Ta thấy hai con trâu đất tranh nhau vào biển, đến nay dứt bặt tin tức. _ Hòa thượng đáp.

Nghe xong, Sư chỉnh đốn oai nghi lễ bái và hỏi:

- Thế nào là khách trong chủ?

- Núi xanh che mây trắng. _ Hòa thượng đáp.

Sư hỏi: Thế nào là chủ trong chủ?

Hòa thượng: Nhiều năm chẳng ra khỏi nhà.

Sư hỏi: Chủ khách cách xa bao nhiêu?

Hòa thượng: Sóng trên dòng Trường Giang.

Sư: Chủ khách gặp nhau có lời gì?

Hòa thượng: Gió mát lùa trăng sáng.

Nghe xong, Sư bèn từ giã.

***

Một hôm cùng với Mật Sư Bá (thiền sư Thần Sơn) qua sông, Sư bảo: Chớ bước lầm!

- Lầm thì không qua được.

Sư hỏi: Việc chẳng lầm, như thế nào?

Mật Sư Bá đáp: Cùng Trưởng lão qua sông!

***

Một hôm cùng Mật Sư Bá cày xới ở vườn chè, bỗng nhiên Sư ném cuốc nói:

- Hôm nay ta mệt, không còn một chút khí lực.

Bá nói: Nếu không có khí lực, thì đâu biết nói như thế!

Sư: Ông cho rằng chính là cái có khí lực!

***

Lại một lần cùng với Mật Sư Bá qua sông. Sư hỏi: Việc qua sông như thế nào?

Bá đáp: Chẳng ướt chân!

Sư nói: Già rồi mà còn nói câu ấy.

Bá hỏi: Còn ông nói thế nào?

Sư đáp: Chân chẳng ướt!

***

Mật Sư Bá đang châm kim. Sư hỏi: Làm gì thế?

Bá đáp: Châm kim!

Sư hỏi: Việc châm kim như thế nào?

Bá đáp: Mũi mũi giống nhau.

Sư nói: Hai mươi năm cùng tham học mà còn nói lời này, há có công phu như thế sao?

Bá hỏi: Trưởng lão như thế nào?

Sư đáp: Như đạo lý “khắp nơi phát hỏa”.

Hôm khác, Bá hỏi Sư: Thần thông của bậc tri thức, không chỗ nào chẳng vượt qua được. Vậy ngay chỗ vượt qua, xin Sư cho một lời?

Sư đáp: Ý của Sư Bá đâu được chấp giữ ông!

Mật Sư Bá nhân lời này mà đại ngộ. Về sau có những lời xuất cách.

***

Đang đi cùng với Thần Sơn, bỗng thấy một con thỏ trắng chạy ngang qua đường, Sư Bá nói:

- Đẹp đẽ, tài giỏi thay!

Sư nói: Thế nào?

Bá đáp: Giống như người dân thường mà được phong làm Tể tướng!

Sư nói: Già rồi mà còn nói câu ấy!

Bá hỏi: Còn ông thế nào?

Sư đáp: Quyền quí nhiều đời, tạm thời sa sút!

***

Cùng với Mật Sư Bá qua chiếc cầu độc mộc, Sư qua trước bèn dở chiếc cầu lên và nói: Qua đây!

Bá nói: Giới Xà-lê!

Sư liền đặt chiếc cầu xuống.

***

Sư gặp một vị quan, vị quan nói: Đệ tử định chú thích Tín Tâm Minh của Tam tổ Tăng Xán!

Sư nói: Vừa sanh “có – không”, liền mất tâm rồi, chú thích làm gì?

Pháp Nhãn đáp thay: Thế thì đệ tử không chú thích vậy!

***

Sư cùng với Thần Sơn đến Bá Nham Triết, Bá Nham hỏi: Từ đâu đến?

Sư đáp: Từ Hồ Nam đến!

Bá Nham hỏi: Quán Sát sứ họ gì?

Sư đáp: Không có họ!

- Tên gì? _ Bá Nham hỏi.

- Không có tên. _ Sư đáp.

- Có xử lí công việc không? _ Nham hỏi.

- Đã có nhà cửa màn trướng. _ Sư đáp.

- Có xuất nhập chăng? _ Nham hỏi.

- Không xuất nhập. _ Sư đáp.

- Há chẳng xuất nhập sao? _ Nham hỏi.

Sư liền phất tay áo đi ra.

Sáng hôm sau, Bá Nham vào tăng đường gọi Sư, Sư đến gần, Bá Nham nói: Câu trả lời của Thượng tọa ngày hôm qua không hợp ý lão tăng, nên đêm qua không ngủ được. Hôm nay xin Thượng tọa hạ một chuyển ngữ khác, nếu hợp ý thì lão tăng dọn cháo cúng dường, cùng kiết hạ!

Sư nói: Xin Hòa thượng hỏi!

Bá Nham: Chẳng xuất nhập thì thế nào?

Sư đáp: Quá tôn quí!

Bá Nham bèn cùng Sư làm bạn an cư.

]

Sư cùng với Thần Sơn đang đi, Sư chỉ một ngôi chùa bên đường nói:

- Trong đó có người nói tâm, nói tánh.

Mật Sư Bá hỏi: Là ai?

Sư nói: Bị một câu hỏi của Sư Bá, ngay đó mười phần thoát chết.

Bá hỏi: Nói tâm, nói tánh là ai?

Sư nói: Trong chỗ chết được con đường sống.

]

Đến ngày kỵ Vân Nham, Sư thiết trai cúng dường. Có vị tăng hỏi:

- Hòa thượng được ngài Vân Nham chỉ dạy những gì?

Sư đáp: Ta tuy ở đó, nhưng chẳng được chỉ dạy.

Tăng hỏi: Chẳng được chỉ dạy, thì thiết trai để làm gì?

Sư đáp: Đâu dám trái ý thầy.

Tăng hỏi: Hòa thượng phát xuất từ Nam Tuyền, vì sao thiết trai cúng dường Vân Nham?

Sư: Ta chẳng trọng đạo đứcPhật pháp của Tiên sư, chỉ trọng Tiên sư chẳng nói phá cho ta.

Tăng hỏi: Hòa thượng thiết trai cúng dường Tiên sư, vậy có chấp nhận Tiên sư không?

Sư đáp: Nửa chấp nhận, nửa chẳng chấp nhận!

Tăng hỏi: Vì sao chẳng hoàn toàn chấp nhận?

Sư đáp: Nếu hoàn toàn chấp nhận thì cô phụ Tiên sư!

Tăng hỏi: Làm thế nào để thấy vị thầy xưa nay của Hòa thượng?

Sư: Tuổi tác bằng nhau, không có gì trở ngại!

Vị tăng định hỏi tiếp. Sư nói:

- Chẳng bước theo dấu vết trước, xin hỏi một câu.

Vị tăng không trả lời được. Ngài Vân Cư đáp thay: Như thế thì không thấy được vị thầy xưa nay của Hòa thượng!

Về sau có vị tăng hỏi thiền sư Trường Khánh:

- Thế nào là người có tuổi tác bằng nhau?

Trường Khánh đáp: Cổ nhân đã nói như thế, Xà-lê hướng vào trong ấy mà tìm cầu cái gì?

]

Có một vị quan thiết lễ trai tăng, nhân đó thỉnh Sư đọc Đại Tạng kinh.

Sư liền bước xuống giường thiền, chắp tay bái vị quan, vị quan lại bái Sư. Sư dẫn vị quan đi quanh giường thiền một vòng rồi bái vị quan, im lặng hồi lâu mới hỏi: Lãnh hội được chăng?

Vị quan đáp: Không!

Sư nói: Ta và ông đã đọc Đại Tạng kinh rồi, vì sao chẳng lãnh hội được?

]

thượng đường hỏi: Có người nào chẳng báo đáp bốn ân ba cõi chăng?

Đại chúng không đáp được.

Sư lại nói: Nếu không thể hội được ý này thì làm sao thoát được họa sanh tử. Cần phải tâm tâm chẳng duyên theo vật, bước bước không chỗ trụ, không hề gián đoạn, như thế mới được tương ưng. Cần phải ra sức, chẳng để ngày tháng luống qua!

Có một vị tăng bước ra thưa:

- Lạnh nóng đến, làm sao tránh được?

Sư đáp: Khi lạnh thì lạnh giết Xà-lê, khi nóng thì nóng giết Xà-lê.

]

thượng đường: Quét sạch chủ nhân ông, chẳng lọt Đệ nhị kiến!

Bắc Viện thưa: Nên biết có một người không cần làm bạn!

Sư đáp: Còn là Đệ nhị kiến.

Bắc Viện lật đổ giường thiền.

Sư hỏi: Lão huynh làm gì thế?

Bắc Viện nói: Đợi lưỡi tôi hư hoại mới nói cho Hòa thượng nghe!

]

Nhân một hôm tảo tham[4], thiền sư Sơ Sơn Nhân bước ra thưa: Lời chưa có, xin Hòa thượng chỉ dạy!

Sư nói: Không đồng ý thì không có người chấp nhận!

- Có thể gần gũi chăng? _ Sơ Sơn Nhân hỏi.

Sư cũng hỏi: Như ông hôm nay có gần gũi chăng?

Sơ Sơn Nhân đáp: Gần gũi chẳng được thì không có chỗ trái phạm.

]

thượng đường: Muốn biết rõ việc này phải như cây khô trổ hoa, mới hợp với y!

]

 

Sơ Sơn hỏi: Khi tất cả nơi chốn đều không trái thì thế nào?

Sư đáp: Xà-lê! Đây là việc bên công huân!

Sơn: Đã có công vô công, vì sao ông chẳng hỏi?

Sư đáp: Công vô công, đâu chẳng phải là người bên kia!

Sơn: Có rất nhiều người cười ông hỏi như thế!

- Thế thì cách xa quá! _ Sư nói.

Sơn nói: Xa xôi, chẳng xa xôi, cũng chẳng phải chẳng xa xôi!

- Thế nào là xa xôi? _ Sư hỏi.

Sơn đáp: Gọi là người bên kia tức chẳng được.

- Thế nào là chẳng phải xa xôi. _ Sư hỏi.

Sơn nói: Không có chỗ để biện luận.

]

Một buổi tham vấn ban đêm, Sư không đốt đèn. Có một vị tăng bước ra hỏi. Sau khi vị ấy lui về, Sư bảo thị giả đốt đèn và gọi vị tăng ấy. Vị tăng vừa hỏi bước đến gần Sư, Sư nói với thị giả: Hãy đem hai, ba lượng phấn đến cho vị Thượng tọa này!

Vị tăng ấy phất tay áo lui ra. Từ đó lãnh ngộ được huyền chỉ, bèn đem tất cả vật dụng bán đi, thiết trai cúng dường, được 13 năm thì đến từ giả Sư. Sư nói: Hãy giữ gìn cẩn thận!

Bấy giờ có ngài Tuyết Phong hầu một bên hỏi:

- Vị tăng ấy từ giả bao giờ thì trở lại?

Sư nói: Ông ta chỉ biết đi mà chẳng biết trở lại.

Vị tăng ấy trở về tăng đường, lên đơn ngồi kiết già thị tịch.

Ngài Tuyết Phong liền trình Sư, Sư nói: Tuy nhiên như thế cũng còn cách xa ta đến ba đời!

]

thượng đường: Có một người không chấp nhận một ai, không theo một ai trong ngàn vạn người. Các ông hãy nói mặt mũi người ấy xem?

Ngài Vân Cư đáp: Con đến tăng đường đây!

]

Sư dạy chúng: Thể hội được việc Phật hướng thượng, mới có mấy phần nói năng.

Có vị tăng hỏi: Thế nào là nói năng?

Sư đáp: Khi nói Xà-lê chẳng nghe.

Tăng hỏi: Hòa thượng nghe chăng?

Sư đáp: Đợi ta chẳng nói liền nghe.

Tăng hỏi: Thế nào là hỏi đúng đáp đúng?

Sư đáp: Chẳng nói ra từ miệng.

Tăng hỏi: Nếu có người hỏi, Sư có đáp chăng?

Sư đáp: Cũng chưa từng có ai hỏi.

Tăng hỏi: Thế nào là Vật mà từ cửa vào thì chẳng phải là của báu?

Sư đáp: Hãy cẩn thận giữ gìn!

]

Có một vị tăng hỏi Sư: Hòa thượng xuất thế có bao nhiêu người chấp nhận?

Sư đáp: Không có một người chấp nhận.

Tăng hỏi: Vì sao không có một người chấp nhận?

Sư đáp: Vì mỗi người đều có uy vũ như vua!

]

thượng đường: “Đạo vô tâm thì hợp với người, người vô tâm thì hợp đạo. Muốn biết ý chỉ trong đó thì một già một chẳng già”. Sau có một vị tăng hỏi Tào Sơn thế nào là một già?

Tào Sơn đáp: Chẳng cần giúp đỡ!

Tăng hỏi: Thế nào là một chẳng già?

- Cây khô! _ Tào Sơn đáp.

Vị tăng lại hỏi ngài Tiêu Dao Trung, Trung đáp:

- Theo nghĩa ba từ sáu! Vả lại, việc này nên khế hội. Sự tại Diệu, Thể cũng ở chỗ Diệu!

]

Ngày giải hạ, Sư thượng đường:

- Cuối hạ đầu thu, các huynh đệ, kẻ đi Đông hoặc người về Tây. Nhưng nên đi đến chỗ ngàn dặm không có tấc cỏ.

Lát sau, Sư lại nói: Chỉ như nơi ngàn dặm không có tấc cỏ làm sao đến?

Sư lại nhìn hai bên nói: Muốn biết việc này phải như cây khô nở hoa mới hợp với y!

Sau có một vị tăng đến thiền sư Thạch Sương. Sương hỏi: Hòa thượng có lời gì dạy đệ tử?

Vị tăng kia liền nêu câu thoại ấy, thiền sư Thạch Sương nói:

- Có người hạ ngữ [5] không?

- Không? _ Tăng đáp.

Thạch Sương nói: Sao chẳng nói: “Ra khỏi cửa liền gặp cỏ”?

Vị tăng về trình Sư. Sư nói:

- Đây là lời của vị Thiện tri thức có l500 đồ chúng. Nước Đại Đường có được mấy người?

Sau thiền sư Minh An nói: Dù không ra khỏi cửa, cũng có cỏ mọc tràn lan.

]

thượng đường:

- Khi Hướng thì thế nào?

- Khi Phụng thì thế nào?

- Khi Công thì thế nào?

- Khi Cộng công thì thế nào?

- Khi Công công thì thế nào?

Tăng hỏi: Thế nào là Hướng?

Sư hỏi: Khi ăn cơm thì thế nào?

Lại nói:     Đắc lực nên quên no,

Gạo hết lại chẳng đói.

Tăng hỏi: Thế nào là Phụng?

Sư hỏi: Khi trái phạm thì thế nào?

Lại nói:     Chỉ biết quí danh lợi,

Cô phụ người xưa nay.

Tăng hỏi: Thế nào là Công?

Sư hỏi: Khi buông cày cuốc thì thế nào?

Lại nói:     Thõng tay an nhiên ngồi.

Mây trắng chốn thâm u.

Tăng hỏi: Thế nào là Cộng công?

Sư đáp: Chẳng dính sắc.

Phấn trắng khó mất vết.

Trương An, chẳng ở lâu.

Tăng hỏi: Thế nào là Công công?

Sư đáp: Bất cộng.

Nơi dung thông không ngại.

Lại cần gì nơi khác.

]

Sư dạy chúng: Vừa sanh tâm là phạm giới, đắm vị là phá trai! _ Sư lại nói: Vừa sanh tâm đã là lỗi, huống gì đến có lời! Nếu biết có người hướng thượng Phật, mới có phần nói năng.

Có một vị tăng hỏi:

- Thế nào là người hướng thượng Phật?

Sư đáp: Chẳng phải Phật.

Về sau, Bảo Phước nêu: Phật cũng chẳng phải.

Vân Môn: Chẳng có tên tuổi, chẳng có hình dáng, cho nên gọi là chẳng phải.

Pháp Nhãn: Thế mới gọi là Phật.

Sư lại nói:

- Kẻ trượng phu trong trần mà chẳng nhiễm.

Về sau, thiền sư Vân Môn nói: Cây gậy chỉ gọi là cây gậy, tất cả thì gọi là tất cả.

Tăng hỏi: Thế nào là trong huyền lại có huyền?

Sư đáp: Như lưỡi người chết.

Tăng: Thế nào là Pháp thân chủ của Tỳ-lô sư?

Sư đáp: Cây mạ, gié lúa.

Tăng hỏi: Trong ba thân Phật thì thân nào chẳng lọt vào chúng số (số lượng)?

Sư đáp: Thân mà ta thường gần gũi!

Sau vị tăng hỏi ngài Tào Sơn: Tiên sư nói “Thân mà ta thường gần gũi!” ý chỉ thế nào?

Tào Sơn đáp: Cần đầu liền chặt đi!

Có vị tăng hỏi Tuyết Phong, ngài Tuyết Phong dùng trụ trượng đánh vào miệng và nói rằng:

- Ta cũng từng đến Động Sơn.

]

Một hôm Sư rửa bát, thấy hai con chim đang tranh nhau một con sò, có một vị tăng đến hỏi:

- Những con ấy vì sao lại đến nỗi như thế!

Sư đáp: Chỉ vì Xà-lê!

]

Trong hội có một vị lão túc đến Vân Nham rồi trở về. Sư hỏi: Ông đến Vân Nham làm gì?

Vị ấy chẳng thể hội được.

Sư nói: Ngồi lâu bất động!

Vị lão túc cầm một góc cà sa hỏi:

- Khi phụ mẫu chưa sanh, có cái này chăng?

Sư nói: Chỉ như hôm nay há lại có sao?

Vị lão túc vẫy tay.

]

Một hôm ra thăm ruộng lúa, Sư thấy thượng tọa Lãng đang dắt trâu. Sư nói:

- Nên cẩn thận với con trâu này, sợ rằng nó sẽ ăn lúa mạ của người!

Lãng: Nếu là trâu thuần lẽ ra không ăn lúa mạ!

]

Sư hỏi một vị tăng giảng kinh Duy-ma:

- Chẳng thể dùng trí để rõ, chẳng thể dùng thức để biết, là lời gì?

Tăng đáp: Đó là lời khen tặng Pháp thân!

Sư: Gọi là Pháp thân, thì đã sớm khen tặng rồi!

]

thị chúng:

- Cả một Đại Tạng giáo chỉ là một chữ 之 (ý nói tạng giáo chỉ nói quanh co, không chỉ thẳng tâm người, thánh tánh thành Phật)

Sư dạy:

- Dẫu cho nói xưa nay không một vật, thì cũng còn chưa đỡ nổi đãy đựng bát của Tổ.

Có vị tăng hỏi:

- Luôn luôn siêng lau chùi, vì sao không được y bát của Tổ. Chưa biết người nào được?

Sư đáp: Người không vào cửa!

Tăng hỏi: Chỉ như người không vào cửa có được chăng?

Sư: Tuy như thế, không thể không cho y!

]

Sư dạy chúng rằng: Dẫu cho nói xưa nay không một vật, cũng còn chưa đỡ nổi y bát của Tổ sư. Trong đó phải hạ được một chuyển ngữ. Hãy nói hạ được một chuyển ngữ gì?

Lúc ấy có một vị Thượng tọa hạ liên tiếp 96 chuyển ngữ, nhưng không hợp ý Sư, đến chuyển ngữ cuối cùng mới hợp.

Sư hỏi: Vì sao Xà-lê chẳng sớm nói như thế?

Lúc ấy có một vị tăng nghe lén, nhưng không nghe được chuyển ngữ cuối cùng, bèn hỏi ý Thượng tọa ấy, vị Thượng tọa không chịu nói. Vị tăng hầu hạ hơn ba năm, nhưng cũng chẳng được Thượng tọa hạ ngữ. Một hôm vị Thượng tọa bệnh, vị tăng kia nói rằng:

- Con hầu hạ Thượng tọa ba năm, cầu xin Thượng tọa từ bi nêu câu thoại trước kia, nhưng không được. Như vậy thì không cần phải năn nỉ hầu hạ Thượng tọa nữa! _ Bèn cầm dao lên nói rằng: Nếu Thượng tọa không nói tôi sẽ giết!

Vị Thượng tọa sợ hãi nói: Hãy khoan! Tôi sẽ nói!

“Nếu có đem ra cũng không có chỗ đặt để!”.

Vị tăng liền lễ bái.

]

Một hôm toàn thể đại chúng đã đi làm, Sư đi tuần các liêu phòng, thấy một vị tăng còn ở nhà. Sư hỏi: Vì sao ông không đi làm?

Tăng đáp: Con bị bệnh!

Sư nói: Bình thường ông khỏe mạnh, cũng đâu từng đi!

]

Sư hỏi vị tăng: Từ đâu đến?

Tăng đáp: Dạo núi về!

Sư hỏi: Đến đỉnh chăng?

- Đã đến. _ Tăng đáp.

Sư hỏi: Trên đỉnh có người không?

- Không có người. _ Tăng đáp.

Sư nói: Như thế thì ông chưa lên đến đỉnh!

Tăng: Nếu chẳng đến đỉnh, sao lại biết không có người?

Sư nói: Xưa nay ta đã nghi ngờ gã này!

]

Gặp tiết Đông, Sư cùng với thủ tọa Thái đang ăn trái cây. Sư hỏi:

- Có vật trên thì chống trời, dưới thì chọc đất, đen như sơn, thường ở trong hành vi hàng ngày, nhưng trong hành vi hàng ngày thâu nó chẳng được, hãy nói lỗi tại đâu?

Thử tọa đáp: Lỗi tại hành vi hàng ngày.

(Sau Đồng An Hiền đáp: Chẳng biết)

Sư bèn bảo thị giả dẹp mâm trái cây.

]

Có một vị tăng bị bệnh nằm tại Niết-bàn đường cần gặp Sư. Sư đến, vị tăng hỏi:

- Vì sao Hòa thượng chẳng cứu con cái nhà người?

- Ông là con cái nhà nào? _ Sư hỏi.

Tăng đáp: Là con cái nhà Đại xiển-đề[6].

im lặng hồi lâu. Vị tăng hỏi:

- Khi bốn núi[7] bức bách thì làm sao?

Sư nói: Ngày trước lão tăng cũng từng ra vào dưới mái nhà người.

Tăng hỏi: Dung thông hay chẳng dung thông?

Sư đáp: Chẳng dung thông.

Tăng thưa: Dạy con nên đi đến nơi nào?

- Đi vào ruộng lúa. _ Sư nói.

Vị tăng cười lên một tiếng nói: Xin tạm biệt!

Xong ngồi kiết già thị tịch.

Sư liền dùng gậy gõ vào đầu vị tăng ấy ba cái và nói: Ngươi chỉ biết đi, nhưng không biết đến!

]

Sư thăm bệnh một vị tăng, vị tăng hỏi:

- Khi gió lửa ly tán như thế nào?

Sư đáp: Khi đến thì không một vật, khi đi thì cũng mặc tình theo y.

Tăng hỏi: Bệnh hoạn thì làm sao?

- Nên biết có người không bệnh. _ Sư nói.

Tăng hỏi: Người không bệnh là ai?

Sư đáp: Ngộ thì không gang tấc, không ngộ thì cách núi!

Tăng hỏi: Con đường phía trước cho tính toán chăng?

Sư: Tuy đen như dầu hắc, nhưng có thể thành lập ngay hôm nay!

Bảy vị Sư ở Kinh Triệu sai một vị tăng đến hỏi Sư: Rốt cuộc cái ấy thế nào?

Sư đáp: Nên hỏi Y mới được!

]

thị chúng: Ta có ba con đường để tiếp dẫn người, đó là đường Chim, Huyền lộTriển thủ.

Có một vị tăng hỏi:

- Thường ngày thầy dạy người đi đường Chim, chưa biết thế nào là đường Chim?

- Chẳng gặp một người. _ Sư đáp.

Tăng hỏi: Đi như thế nào?

- Cần phải dưới chân không dính dáng. _ Sư đáp.

Tăng hỏi: Đi đường Chim, chẳng lẽ là bản lai diện mục sao?

Sư nói: Xà-lê do đâu mà điên đảo?

Tăng hỏi: Chỗ nào là chỗ học nhân điên đảo?

Sư: Nếu chẳng điên đảo, vì sao nhận tớ làm chủ?

Tăng: Thế nào là bản lai diện mục?

- Chẳng đi đường chim. _ Sư đáp.

]

Sư hỏi một vị tăng: Từ đâu về?

Tăng đáp: Đan giày cỏ về!

- Hãy biết nương cậy vào hắn ta. _ Sư đáp.

Tăng nói: Nương cậy vào hắn ta!

Sư hỏi: Hắn có dạy ngươi chăng?

Vị tăng không đáp được. Thiền sư Triệu Châu đáp thay: Nếu đồng ý thì chẳng trái phạm!

]

Có một vị Am chủ bị bệnh, hễ thấy một vị tăng nào đến thăm liền nói: Cứu tôi! Cứu tôi!

Những vị tăng hạ ngữ đều không khế hợp, Sư nghe thế liền đến thăm. Vị Am chủ kia lại nói:

- Cứu tôi! Cứu tôi!

Sư đáp: Cứu tôi cái gì?

Am chủ hỏi: Có phải là cháu của Dược Sơn và cũng là trưởng tử của Vân Nham đó chăng?

Sư đáp: Không dám!

Am chủ liền chắp tay nói: Mọi người hãy đưa tiễn tôi!

Rồi an nhiên thị tịch.

Có một vị tăng hỏi Sư:

- Vong tăng sau khi thiêu hóa thì đi về đâu?

Sư đáp: Chỉ một cọng cỏ sau khi thiêu.

]

Thượng tọa Ý hỏi Sư: Như như biến có trước hay Bất như như biến có trước?

Sư đáp: Như như biến có trước, Bất như như biến cũng có trước.

- Như như biến chia ra hơn kém hay Bất như như biến chia ra hơn kém? _ Thượng tọa hỏi.

Sư đáp: Như như biến chia ra hơn kém, Bất như như biến cũng chia ra hơn kém.

- Vì sao lại chia ra bỉ thử? _ Thượng tọa hỏi.

Sư đáp: Cũng chia cũng chẳng chia.

- Thế nào là phân chia? _ Thượng tọa hỏi.

Sư đáp: Như như biến!

- Thế nào là chẳng phân chia? _ Thượng tọa hỏi.

Sư đáp: Bất như như biến!

Thượng tọa hỏi: Chẳng lẽ là việc toàn thân chẳng toàn thân?

Sư đáp: Chẳng phải đạo lý ấy!

- Như vậy là đạo lý gì? _ Thượng tọa hỏi.

Sư đáp: Đó là đạo lý Như như biến, Bất như như biến! Thượng tọa cần biết không? Cũng như bà già 80 tuổi gả cho đứa bé 3 tuổi, tuy lớn nhưng vẫn bị đứa bé kia kêu gọi mãi, chẳng được tự do.

Sau có một vị tăng hỏi Thiền sư Tào Sơn:

- Thế nào là bà già 80 tuổi?

- Trên đầu tóc trắng như tuyết! _ Tào Sơn đáp.

Tăng hỏi: Thế nào là đứa bé 3 tuổi?

- Không làm chủ được! _ Tào Sơn đáp.

Tăng hỏi: Vì sao chẳng làm chủ được?

- Ông chẳng nghe nói đứa bé 3 tuổi không có những lỗi lầm ư? _ Tào Sơn đáp.

Tăng hỏi: Đã là bà già 80 tuổi, vì sao lại gả cho đứa bé 3 tuổi?

- Cần phải giống như bà lão 80 tuổi, mới hiểu được việc tôn trọng đứa bé kia! _ Tào Sơn nói.

]

Thấy thượng tọa U đến, Sư liền trốn vào sau giường thiền. Vị Thượng tọa hỏi:

- Vì sao Hòa thượng lại tránh mặt đệ tử?

Sư đáp: Tưởng rằng Xà-lê không thấy lão tăng!

Có một vị tăng hỏi Chu Du:

- Thế nào là hạnh Sa-môn?

Du đáp: Hạnh thì chẳng phải là không có, nhưng có biết tức thành trái.

Sau có một vị tăng khác hỏi Sư, Sư nói:

- Vì sao ông ấy không hỏi “chưa biết là hạnh gì?”. Vị tăng ấy nêu lại cho ngài Chu Du. Du đáp:

- Phật thì hành Phật hạnh.

Vị tăng thưa lại với Sư, Sư nói: U Châu thì còn có thể được, chỉ có khổ nhất là Tân-la.

Vị tăng lại hỏi: Thế nào là hạnh Sa-môn?

Sư đáp: Đầu dài ba thước, cổ ngắn hai tấc.

Sư đáp xong bèn sai thị giả mang lời này đến thiền sư Tam Thánh Huệ Nhiên, Tam Thánh bèn bấm trên tay của thị giả một cái, thị giả về trình lại với Sư. Sư chấp nhận.

]

Sư hỏi vị tăng: Từ đâu đến?

- Từ tháp của Tam tổ đến. _ Tăng thưa.

Sư đáp: Đã từ tháp Tổ đến, thì cần gặp lão tăng làm gì?

Tăng: Tổ sư khác, con và Hòa thượng chẳng khác.

Sư nói: Lão tăng muốn thấy vị thầy xưa nay của Xà-lê, được chăng?

Tăng nói: Cũng cần phải đợi Hòa thượng xuất đầu mới được.

Sư nói: Lão tăng vừa rồi tạm thời vắng mặt.

Vị tăng hỏi: Thế nào là tự kỷ trước kiếp Không?

Sư đáp: Ngựa trắng vào đám hoa lau!

Vị quan liền hỏi: Có người tu hành không?

Sư đáp: Đợi ông làm nam tử thì tu hành.

]

Vị tăng hỏi Sư: Người xưa có câu: “Khi gặp mặt mà chẳng mang ra, khởi ý liền biết có”, là thế nào?

Sư liền chắp tay đảnh lễ.

]

Sư hỏi vị tăng: Ở thế gian, vật gì khổ nhất?

Tăng đáp: Địa ngục khổ nhất!

Sư nói: Không đúng!

Tăng hỏi: Ý của Sư thế nào?

Sư đáp: Mặc lớp y này mà không rõ được việc lớn là khổ nhất!

]

Sư hỏi vị tăng tên gì?

Tăng đáp: Con!

Sư hỏi: Cái gì là chủ nhân ông của Xà-lê?

Tăng đáp: Cái vừa trả lời!

Sư nói: Khổ thay! Khổ thay! Tất cả người học hôm nay đều như thế, chỉ nhận đầy tớ cho là tự kỷ, Phật pháp chìm đắm là do đây, chủ trong khách còn chưa phân biệt được, làm sao biện biệt được chủ trong chủ!

Tăng liền hỏi: Thế nào là chủ trong chủ?

- Xà-lê tự nói đi! _ Sư đáp.

Tăng đáp: Con nói được tức là chủ trong khách. Thế nào là chủ trong chủ?

Sư đáp: Nói như thế thì dễ dàng, giữ được mãi mãi thì rất khó! _  Sư liền tụng:

Ngày nay người học ở các nơi,

Ngàn ngàn vạn vạn chỉ ngoài trời.

Như muốn vào kinh chầu Thánh chúa

Mới đến Đồng quan ngỡ đến rồi!

]

Vị tăng hỏi Sư:

- Thế nào là núi xanh cha mây trắng?

Sư đáp: Chẳng rậm rạp um tùm!

Tăng hỏi: Thế nào là mây trắng con núi xanh?

Sư: Chẳng phân biệt được Đông Tây!

Tăng: Thế nào là mây trắng suốt ngày nương tựa?

Sư đáp: Lìa bỏ chẳng được.

Tăng hỏi: Thế nào là núi xanh chẳng hay biết?

- Không thèm nhìn đến. _ Sư đáp rồi tụng:

Núi xanh cha mây trắng

Mây trắng con núi xanh

Mây trắng suốt ngày cưỡi

Núi xanh trọn chẳng hay.

]

Vị tăng hỏi:

- Loại cỏ gì mọc ở bờ bên kia dòng sông trong?

Sư đáp: Loại cỏ không nảy mầm.

]

Tăng hỏi: Ý Tổ sư từ Tây Trúc sang là gì?

Đáp: Giống như tê ngưu sợ con gà.

]

Có vị tăng hỏi:

- Khi con rắn muốn nuốt con ếch, như cứu là phải hay chẳng cứu là phải?

Sư đáp: Cứu thì hai mắt lại không thấy, không cứu thì hình ảnh không rõ ràng.

]

Vị tăng từ giã thiền sư Đại Từ, Đại Từ hỏi:

- Đi đâu?

Tăng đáp: Tạm thời đến Giang Tây!

Đại Từ: Ta làm phiền ông một việc có được chăng?

Tăng hỏi: Hòa thượng có việc gì?

- Ông đưa lão tăng đi với. _ Đại Từ nói.

Tăng đáp: Nếu có người hơn Hòa thượng nữa, con cũng không thể đưa đi được!

Đại Từ liền thôi.

Về sau, vị tăng ấy thưa lại với Sư, Sư nói: Xà- lê đâu được nói như thế!

Vị tăng nói: Còn Hòa thượng nói thế nào?

Sư đáp: Được!

Sau Pháp Nhãn cử: Nếu Hòa thượng có đi, con xin lấy nón che cho Hòa thượng!

Sư lại hỏi vị tăng: Đại Từ có lời gì khác chăng?

Tăng: Có lúc hòa thượng Đại Từ dạy chúng rằng: “Nói được một trượng không bằng làm được một thước, nói được một thước không bằng làm được một tấc!”  _ Vị tăng nêu xong. Sư liền nói:

- Ta chẳng nói như thế!

Vị tăng hỏi: Hòa thượng nói thế nào?

Sư đáp: Cái làm được thì nói chẳng được, cái nói được thì làm chẳng được!

Sau Vân Cư nói: Khi làm thì không đường để nói, khi nói thì không đường để làm, khi không nói không làm thì nên tính đường nào?

Lạc Phổ nói: Nói và làm đều chẳng đến, tức là còn việc chính!

]

Sư nêu: “Dược Sơn hỏi tăng từ đâu đến?

Tăng thưa:  Từ Hồ Nam đến!

Dược Sơn hỏi: Hồ Động Đình nước đầy chưa?

- Chưa đầy. _ Tăng đáp.

Dược Sơn hỏi: Mưa nhiều thế, vì sao chưa đầy?

Tăng không đáp được.

Sư đáp thay: Trong kiếp nào từng có tăng giảm?

Đạo Ngô đáp thay: Đầy rồi!

Vân Nham đáp: Trong lặng!

]

thị chúng:

Nghe Dược Sơnthiền sư Vân Nham dạo núi. Bỗng nhiên cái dao mang nơi hông cọ xát phát ra âm thanh. Ngài Vân Nham hỏi:

- Vật gì kêu thế?

Ngài Dược Sơn rút dao ra đưa ngang miệng làm thế chặt. Sư nêu xong liền nói:

- Xem Dược Sơn xoay thân vì việc ấy, người ngày nay muốn rõ được việc hướng thượng, nên thể hội ý này mới được!

]

Thiền sư Ngũ Duệ Linh Mặc đến ngài Thạch Đầu nói rằng: Nêu một lời mà khế hợp thì ở lại, không hợp thì đi!

Ngài Thạch Đầu vẫn ngồi im. Thiền sư Ngũ Duệ liền đi ra, Thạch Đầu theo sau gọi: Xà-lê! Xà-lê!

Ngũ Duệ quay đầu lại. Thạch Đầu nói:

- Từ sanh đến tử chỉ là cái ấy, suy nghĩ tính toán làm gì?

Ngũ Duệ ngay một lời bỗng nhiên khế ngộ, bèn bẻ gãy trụ trượng rồi ở lại nơi đây.

Sư nói: Lúc bấy giờ, nếu chẳng phải là tiên sư Ngũ Duệ thì khó gánh vác, nhưng như thế cũng còn chút dính mắc!

]

thị chúng: Chỉ có bồ-đề của Phật mới là chỗ quy hướng chơn thật! _ Sư hét một tiếng và nói:

- Vẫn còn có cái suy nghĩ này!

]

thị chúng: “Bồ-tát Văn-thù cùng với Vô Trước uống trà, bồ-tát Văn-thù cầm chén pha lê hỏi ngài Vô Trước:

- Phương Nam có cái này chăng?

- Không! _ Vô Trước đáp.

Văn-thù hỏi: Bình thường uống trà bằng gì?

Vô Trước không đáp được”.

Sư đưa tay ra nói: Có không hãy gác qua, xin mượn cái ấy xem được chăng?

Sư lại nói: “Bàn Sơn thượng đường dạy rằng:

- Phàm, tâm như mặt trăng tròn sáng độc lập chiếu soi, ánh sáng bao trùm vạn tượng. Ánh sáng không chiếu cảnh, cảnh cũng chẳng hiển bày. Ánh sáng và cảnh đều mất, thì có vật gì?” _ Sư nói: Ánh sáng và cảnh chưa mất, lại có vật gì?

]

Sư nói: Lúc Đặng Ẩn Phong còn ở chỗ của ngài Thạch Đầu, một hôm, ngài Thạch Đầu đang cắt cỏ, Đặng Ẩn Phong chắp tay đến đứng gần bên trái, ngài Thạch Đầu quăng cái liềm xuống trước mặt Ẩn Phong, cắt đứt một cọng cỏ. Đặng Ẩn Phong nói: Hòa thượng chỉ cắt được cái này, không cắt được cái kia!

Ngài Thạch Đầu đưa liềm, Ẩn Phong nhận lấy và làm thế cắt cỏ. Ngài Thạch Đầu nói:

- Ông chỉ biết cắt cái kia, không biết cắt cái này!

Ẩn Phong không đáp.

Sư đáp thay: Có gò nỗng chăng?

]

Sư nói: Thiền sư Nam Tuyền hỏi một vị tăng:

- Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, khi tất cả suy nghĩ chưa sanh, trả bản lai diện mục lại cho ta!

Vị tăng đáp: Không lộ bày dáng mạo cử chỉ.

Sư nói: Có từng đem ra chỉ cho người chăng?

]

Sư nói: Đại phu Lục Hoàn hỏi Nam Tuyền: Trong nhà đệ tử có một phiến đá, mọi người thường ngồi, nằm trên đó, như nay định mang đi tạo tượng Phật, có được chăng?

Nam Tuyền: Được!

Hoàn: Không được chăng?

- Không được! _ Nam Tuyền đáp.

Sau Vân Nham nói:

- Ngồi là Phật, không ngồi thì chẳng phải Phật!

Sư lại đáp:

- Không ngồi tức Phật, ngồi tức chẳng phải Phật!

]

Sư lại nói: “Nam Tuyền hỏi Thần Sơn: Làm gì?

- Đan lưới. _ Thần Sơn đáp.

Nam Tuyền hỏi: Tay đan hay chân đan?

Thần Sơn đáp: Thỉnh Hòa thượng nói!

Nam Tuyền bảo: Ghi nhớ kỹ càng rồi nêu lại cho

bậc Tác gia[8] biết!”. Cử xong, Sư nói: Phải là người không có tay chân mới biết đan lưới!

]

Có một vị tăng hỏi Chương Kính:

- Tâm pháp đều quên, qui về nơi đâu?

Chương Kính đáp: Người đất Dĩnh không tham ô, đâu nhọc gì kiểm xét!

Tăng: Thỉnh Thầy một lời không phản đối!

Chương Kính: Không có phản cú.

Khi hỏi Sư, Sư đáp:

- Nói thì nói được, nhưng ít gặp bậc Tác gia.

]

Sư dạy chúng:

Một hôm tiên sư Ngũ Duệ tắm rửa xong, đốt hương, ngồi ngay thẳng, nói với đại chúng rằng:

- Pháp thân vắng lặng, nhưng thị hiện có đến đi, ngàn Thánh đồng nguồn, vạn loài hàm linh qui về một. Ta nay như bọt sắp tan, đâu cần gì đến hưng suy, các ông chớ nên nhọc tâm thần, chỉ cần chánh niệm, nếu tuân theo lời nầy, tức là đã báo ơn ta. Ví như trái lời thì chẳng phải là đệ tử của ta!

Lúc bấy giờ có vị tăng hỏi:

- Hòa thượng đi về đâu?

Tiên sư đáp: Không có chỗ đi!

Tăng hỏi: Vì sao con không thấy?

Tiên sư đáp: Chẳng phải chỗ mắt có thể thấy.

Cử xong, Sư nói: Bậc Tác gia!

]

Sư hỏi Thạch Lũng: Lúc xưa có một đồng tử rất hiểu việc, nhưng nay đã đi đâu rồi?

- Không thể gần ngọn lửa được, lại trở về thế giới mát mẻ rồi! _ Thạch Lũng đáp.

Có một người hỏi vị tăng rằng:

- Có một vị tăng Chủ sự dưới hội thiền sư Diêm Quan, một hôm bỗng thấy quỉ sứ đến truy tìm.

Vị tăng nói: Ta làm Chủ sự tăng, chưa rảnh để tu hành, xin chậm cho bảy ngày có được chăng?

Quỉ sứ nói: Đợi ta về hỏi Diêm vương, nếu chấp nhận thì bảy ngày sau đến, nếu không, trong chốc lát sẽ trở lại! _ Quỉ sứ nói xong liền biến mất, bảy ngày sau quỉ sứ đến tìm vị tăng kia, nhưng không gặp. Nếu gặp thì làm sao chống lại quỉ sứ?

Sư đáp thay: Bị quỉ sứ tìm được rồi!

]

Vị tăng ở Giang Lăng đến tham vấn ngài Đại Xuyên (Thái Hồ). Đại Xuyên hỏi:

- Rời Giang Lăng bao giờ?

Vị tăng đưa tọa cụ lên.

Đại Xuyên nói: Cảm ơn ông đã từ xa đến đây, hãy xuống dưới đi!

Vị tăng liền nhiễu giường thiền một vòng rồi bước ra.

Ngài Đại Xuyên liền nói: Nếu chẳng như thế thì đâu biết được con mắt chân thật!

Vị tăng bèn vỗ tay nói: Khổ quá! Mấy lần xét lầm các bậc lão túc các nơi!

Đại Xuyên: Thật là hiểu rõ đạo lý Thiền tông!

Vị tăng ấy đến thuật lại với ngài Đơn Hà.

Đơn Hà nói: Đạo pháp ấy đối với Đại Xuyên thì được, còn với ta thì không như thế!

Vị tăng liền hỏi: Chưa biết Ngài như thế nào?

Đơn Hà nói: Còn hơn Đại Xuyên ba bước!

Vị tăng liền lễ bái.

Đơn Hà: Người xét lầm rất nhiều bậc lão túc các nơi!

Sư nói: Nếu chẳng phải là Đơn Hà thì khó phân biệt được vàng, đá!

]

Vân Cư đến tham vấn, Sư hỏi: Từ đâu đến?

- Từ Thúy Vi đến. _ Vân Cư đáp.

Sư hỏi: Thúy Vi có lời gì dạy chúng?

Vân Cư: Lúc Thúy Vi cúng dường La-hán, con có hỏi: “Cúng dường La-hán, La-hán có đến chăng?” Thúy Vi liền nói: “Mỗi ngày ngươi thường thấy gì?”.

Sư nghe thế liền hỏi: Thật có lời này sao?

- Có! _ Vân Cư đáp.

Sư nói: Chẳng uổng là đã tham kiến bậc Tác gia đến đây!

]

Sư hỏi Vân Cư: Ông tên gì?

- Đạo Ưng. _ Vân Cư đáp.

Sư nói: Hãy nói việc hướng thượng!

- Nếu là việc hướng thượng thì chẳng gọi là Đạo Ưng. _ Vân Cư đáp

Sư nói: Ông trả lời rất giống như ta lúc còn ở tại Vân Nham.

Thiền sư Vân Cư hỏi: Ý Tổ sư từ Tây Trúc sang là gì?

Sư hỏi: Xà-lê! Mai sau làm trụ trì tiếp tăng độ chúng, bỗng có người hỏi thì ông trả lời câu ấy như thế nào?

- Đạo Ưng tội lỗi! _ Vân Cư đáp.

Sư nói với Vân Cư rằng: Ta nghe hòa thượng Tư Đại từng sanh ra làm vua ở nước Nhật, phải chăng?

Vân Cư: Nếu là Tư Đại thì Phật cũng chẳng làm!

đồng ý.

]

Sư hỏi Vân Cư: Từ đâu đến?

- Đạp núi đến. _ Vân Cư đáp.

Sư hỏi: Núi nào có thể ở được?

Vân Cư hỏi lại: Núi nào không thể ở được?

Sư: Như thế thì cả nước đều bị Xà-lê chiếm rồi!

- Chẳng đúng! _ Vân Cư đáp.

Sư nói: Thế thì ông được con đường vào!

- Không có đường! _ Vân Cư nói.

Sư nói: Không có đường thì đâu gặp mặt lão tăng!

Vân Cư nói: Nếu có đường, tức cách Hòa thượng một ngọn núi rồi!

Sư nói: Người này về sau, ngàn vạn người nắm bắt chẳng được!

]

Một hôm cùng với Vân Cư qua sông. Sư hỏi:

- Nước sâu bao nhiêu?

- Chẳng ướt! _ Vân Cư đáp.

Sư nói: Kẻ thô!

Vân Cư: Thỉnh Sư nói!

- Chẳng khô! _ Sư nói.

]

Sư nói với Vân Cư: “Xưa ngài Nam Tuyền hỏi một vị tăng giảng kinh Di-lặc Hạ Sanh rằng:

- Khi nào Di-lặc hạ sanh?

Tăng đáp: Hiện ở tại cung trời, mai sau sẽ hạ sanh. Trên trời không có Di-lặc, dưới đất không Di-lặc! Lúc bấy giờ Vân Cư nghe nói, bèn hỏi Sư:

- Như trên trời không có Di-lặc, dưới đất không có Di-lặc, vậy chưa biết ai đặt tên?

Khi Vân Nham hỏi câu này, giường thiền của Sư chấn động, Sư bèn nói:

- Ưng Xà-lê, lúc ta ở tại Vân Nham từng hỏi Tiên sư một câu, cũng làm cho lò hương chấn động. Ngày hôm nay bị ông hỏi một câu, toàn thân ta toát mồ hôi!

]

Vân Cư kết thảo am ở tại Tam Phong, trải qua ba ngày không đến trai đường. Sư bèn hỏi:

- Vì sao những ngày gần đây ông không ăn cơm?

Vân Cư đáp: Mỗi ngày đều có Thiên thần cúng dường.

Sư nói: Ta tưởng ông là người ấy, nhưng nay vẫn còn kiến giải như thế, tối hãy đến đây!

Tối ấy Vân Cư đến. Sư gọi: Cư Am chủ!

Vân Cư: Dạ!

Sư nói: Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác là gì?

Vân Cư trở về am thiền định. Thiên thần từ đó tìm không thấy, trải qua ba ngày mới thôi.

]

Một hôm Vân Cư đang làm tương. Sư hỏi:

- Làm gì?

- Làm nước tương! _ Vân Cư đáp.

Sư hỏi: Dùng bao nhiêu muối?

- Tùy ý cho vào! _ Vân Cư đáp.

Sư hỏi: Mùi vị như thế nào?

- Được! _ Vân Cư đáp.

]

Sư hỏi Vân Cư: Người Đại Xiển-đề giết cha, giết mẹ, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng. Như thế thì đâu còn hiếu dưỡng?

- Như thế mới được hiếu dưỡng. _ Vân Cư đáp.

Từ đó Sư chấp nhận Vân Nham là bậc lãnh đạo trong chúng.

]

Một hôm Vân Cư đang làm việc, lỡ tay chém chết con giun. Sư thấy bèn nói: Cái ông này!

- Nó chưa chết! _ Vân Cư nói.

Sư hỏi: Nhị Tổ đến tại Nghiệp Đô, là thế nào?

Vân Cư không đáp được.

]

Sư viết chữ Phật (佛) trên cây quạt, Vân Cư thấy thế lại viết chữ Bất (). Sư đối lại chữ Phi ().

Tuyết Phong thấy bèn gạch hết.

]

Tào Sơn đến tham yết. Sư hỏi: Xà-lê tên gì?

- Bản Tịch! _ Tào Sơn đáp.

Sư nói: Hãy nói lại việc hướng thượng[9]!

Tào Sơn: Không nói!

Sư: Vì sao không nói?

- Chẳng phải tên Bản Tịch. _ Tào Sơn đáp.

Sư rất xem trọng.

]

Khi hành cước, Tào Sơn hỏi thiền sư Ô Thạch Linh Quán: Thế nào là chủ của pháp thân Tỳ-lô sư?

Linh Quán đáp: Nếu ta nói cho ông thì đã có một cái khác rồi!

Tào Sơn bạch lại với Sư. Sư nói:

- Câu thoại rất hay, chỉ thiếu lời hỏi tiếp theo. Vì sao không hỏi: “Vì sao chẳng nói?”

Tào Sơn trở lại chỗ của thiền sư Linh Quán và lặp lại câu trên. Linh Quán đáp:

- Nếu cho rằng ta không nói, tức là làm câm mất miệng của ta. Nếu cho rằng ta nói, tức là làm thụt mất lưỡi của ngươi!

Tào Sơn về thuật lại, Sư khen rằng: Cổ Phật!

]

Tào Sơn được Sư thầm ấn khả, lưu luyến ở lại hầu mấy năm, sau từ giã, Sư hỏi: Đi đâu?

- Đi đến chỗ không thay đổi. _ Tào Sơn đáp.

Sư hỏi: Chỗ không thay đổi, há có thể đến sao?

- Đến cũng chẳng thay đổi! _ Tào Sơn đáp.

Sư hỏi: Ông trở về làng, chẳng phải vượt qua vách núi cheo leo sao?

- Phải! _ Tào Sơn đáp.

- Khi trở lại chẳng phải ông cũng đã vượt qua vách núi cheo leo sao?_ Sư lại hỏi.

- Phải! _ Tào Sơn đáp.

Sư hỏi: Có một người không cần phải vượt qua vách núi cheo leo mà cũng đến đó, ông biết chăng?

- Hắn không đến nơi ấy! _ Tào Sơn đáp.

Sư hỏi: Ông thấy đạo lý gì mà nói hắn không đến nơi ấy?

- Nếu chẳng đến mảnh ruộng ấy thì đâu biết nói như thế! _ Tào Sơn đáp.

Sư bèn phó chúc cho Tào Sơn rằng:

- Lúc ta ở nơi tiên sư Vân Nham, thân chứng được Bảo Cảnh Tam-muội, đó là yếu chỉ cùng tột của muôn pháp, nay trao lại cho ông! Sư lại nói:

- Thời mạt pháp, con người phần nhiều là càn huệ (trí huệ khô không hoạt bát), nếu muốn phân biệt chơn ngụy thì có ba loại Sấm lậu. Thứ nhất là Kiến sấm lậu, tức căn cơ không lìa địa vị, đọa lạc tại biển độc; thứ hai là Tình sấm lậu, tức bị kẹt tại thủ xả, chỗ thấy thiên khô; thứ ba là Ngữ sấm lậu, tức chuyên nghiên cứu ngữ cú của Tổ sư mà đánh mất Tông chỉ, trước sau mờ mịt. Trí ô trọc của người học lưu chuyển, tất cả chẳng ngoài ba loại này, ông cần phải biết rõ!

]

Đạo Toàn (Trung Động Sơn) hỏi:

- Thế nào là yếu chỉ xuất ly?

- Khói tỏa dưới chân Xà-lê. _ Sư đáp.

Đạo Toàn ngay lời này đại ngộ, bèn trụ tại đây.

Vân Cư nói tiếp: Cuối cùng chẳng dám cô phụ “khói tỏa dưới chân Hòa thượng”.

Sư nói: Bước bước đều huyền vi, tức công phu đã cùng tột!

]

Có một tăng nêu lại nhân duyên Long Nha tham vấn Thúy Vi: “Đệ tử từ khi tham kiến Hòa thượng đến nay đã hơn một tháng, mà chưa được chỉ dạy, như thế có ý gì?

Thúy Vi đáp: Nghi ngờ điều gì?”.

Tăng nêu xong, hỏi Sư, Sư đáp:

- Xà-lê đâu thể trách lão tăng!

]

Long Nha tham yết Đức Sơn và hỏi:

- Từ xa đã nghe một câu Phật pháp của Đức Sơn, nhưng khi đến đây thì chưa từng thấy Hòa thượng nói một câu Phật pháp.

Đức Sơn: Nghi ngờ điều gì?

Long Nha không chấp nhận. Bèn đến hỏi Sư. Sư đáp: Đâu thể trách lão tăng được!

Long Nha nói: Ngày trước con hỏi Đức Sơn rằng: Khi đệ tử cầm kiếm Mạc Da[10] muốn lấy đầu thầy thì thế nào?

Đức Sơn liền đưa cổ ra và la: Ôi!

Long Nha nói: Đầu rơi rồi!

Đức Sơn mỉm cười.

Sư hỏi: Đức Sơn nói gì?

Long Nha nói: Đức Sơn không nói!

Sư: Chớ cho là Đức Sơn không nói! Hãy đem chiếc đầu đã lìa của Đức Sơn trình lão tăng xem!

Long Nha ngay đó có tỉnh, bèn sám hối và ở lại, theo chúng tu học.

]

Long Nha hỏi: Ý Tổ sư là gì?

- Đợi nước Động Sơn chảy ngược, lúc đó ta sẽ nói cho ông nghe!_ Sư đáp.

Long Nha nghe lời này mới ngộ được yếu chỉ.

]

Hoa Nghiêm hỏi: Đệ tử chưa thấy con đường lý, chưa tránh khỏi tình thức.

Sư hỏi: Ông thấy con đường lý không?

Hoa Nghiêm đáp: Thấy không có con đường lý!

Sư hỏi: Nơi nào tình thức đến được?

- Đệ tử hỏi thật! _ Hoa Nghiêm nói.

Sư: Thế thì nên đi đến nơi vạn dặm không có tấc cỏ!

Hoa Nghiêm hỏi: Nơi không có tấc cỏ, có cho đến không?

Sư đáp: Chỉ cần đi như thế!

]

Hoa Nghiêm bửa củi, Sư nắm thanh củi lại và hỏi:       Khi gặp mặt trên con đường hẹp thì thế nào?

- Đâu mong phản trắc! _ Hoa Nghiêm đáp.

Ông hãy nhớ lời ta! Nếu ông trụ ở hướng Bắc thì sẽ có 1000 đồ chúng, nếu trụ ở phương Nam thì chỉ có hai, ba trăm chúng mà thôi!

]

Cửu Phong đến tham kiến, Sư hỏi:

- Trong tay có thần châu, ban ngày chỉ cho người, người còn đưa kiếm đề phòng, huống gì trong đêm tối? Ông thật đáng quí!

Cửu Phong nói: Chỉ vì không biết thần châu mới như thế! Nếu biết thì cũng không có ngày đêm.

Sư khen Cửu Phong là bậc tuấn kiệt.

]

Thanh Lâm đến tham vấn, Sư hỏi:

- Vừa rời nơi nào?

- Vũ Lăng! _ Thanh Lâm đáp.

Sư nói: Phật pháp ở Vũ Lăng đâu giống nơi đây!

Thanh Lâm nói: Mùa Đông ở đất Hồ măng mọc.

Sư nói: Hãy lấy gạo thơm nấu cơm cúng dường vị tăng này!

Thanh Lâm phất tay áo bước ra.

Sư nói: Người này về sau sẽ dẹp người trong thiên hạ!

]

Một hôm Thanh Lâm đang trồng cây tùng ở chỗ ngài Động Sơn, bỗng có một ông họ Lưu đến xin một bài kệ. Thanh Lâm liền đọc:

Cao cao hơn ba thước

Rậm rạp che cỏ hoang

Chẳng biết người đời nào

Được thấy cội tùng nầy?

Họ Lưu được bài kệ trình Sư. Sư nói:

- Đây là chủ nhân đời thứ ba của Động Sơn.

Thanh Lâm từ giã Sư. Sư hỏi: Đi đâu?

Thanh Lâm nói: Kim luân không ẩn mất,

Khắp cõi, sạch bụi hồng!

Sư nói: Hãy giữ gìn cẩn thận!

Thanh Lâm tạm biệt thầy, rồi đi. Sư tiễn đến cửa và nói với Thanh Lâm:

- Đi như vậy, một câu nói thế nào?

Thanh Lâm nói: Bước bước đạp bụi hồng,

Toàn thân không ảnh tượng.

im lặng hồi lâu. Thanh Lâm nói:

- Hòa thượng sao chẳng nói nhanh lên!

Sư nói: Vì sao ông lại nôn nóng thế?

- Con tội lỗi! _ Thanh Lâm nói xong, liền lễ tạ lên đường.

]

Bắc Viện từ giã Sư định vào núi, Sư nói: Hãy chú ý! Vách núi cheo leo nguy hiểm, nên cẩn thận!

Bắc Viện trầm ngâm giây lâu. Sư gọi:

- Thông Xà-lê!

Bắc Viện: Dạ!

Sư nói: Sao chẳng vào núi đi?

Bắc Viện liền đại ngộ, ở lại hầu hạ Sư. Người đời bấy giờ gọi Bắc Viện là “Quắc Đầu Thông” (Thông cái cuốc).

]

Sư hỏi Sơ Sơn:

- Kiếp không[11] chẳng có người, là trụ xứ của ai?

- Chẳng biết! _ Sơ Sơn đáp.

Sư hỏi: Người có ý chỉ gì không?

- Sao Hòa thượng chẳng hỏi hắn ta? _ Sơ Sơn nói.

Sư đáp: Đang hỏi!

- Có ý chỉ gì? _ Sơ Sơn hỏi.

Sư không đáp.

]

Khâm Sơn từ xa đến tham vấn, Sư hỏi:

- Từ đâu đến?

- Từ chỗ Đại Từ đến. _ Khâm Sơn đáp.

Sư hỏi: Có thấy Đại Từ chăng?

- Thấy! _ Khâm Sơn đáp.

Sư: Thấy trước khi hiển sắc hay sau khi hiển sắc?

Khâm Sơn hỏi: Chẳng phải thấy trước sắc hay sau sắc?

im lặng gác qua.

Khâm Sơn hỏi: Rời xa thầy quá sớm không hiểu hết được ý của thầy!

Pháp Nhãn niêm[12]: Không hiểu hết ý thầy thì khó kế thừa thầy!

]

Một hôm Nham Đầu, Tuyết Phong, Khâm Sơn đến tham vấn. Sư đem trà đến, Khâm Sơn bèn nhắm mắt lại. Sư hỏi: Từ đâu đến?

- Nhập định đến! _ Khâm Sơn đáp.

Sư nói: Định vốn không cửa, từ đâu mà vào?

]

Tuyết Phong đến tham kiến, Sư hỏi: Từ đâu đến?

- Từ Thiên Thai đến! _ Tuyết Phong đáp.

Sư hỏi: Thấy Trí Giả chăng?

Tuyết Phong: Nghĩa Tồn có phần ăn gậy sắt!

]

Tuyết Phong làm Phạn đầu trong hội của Sư, một hôm đang đãi gạo, Sư hỏi:

- Đãi cát lấy gạo hay đãi gạo lấy cát?

- Cát gạo đều bỏ. _ Tuyết Phong đáp.

Sư hỏi: Đại chúng ăn gì?

Tuyết Phong bèn úp luôn thau gạo.

Sư nói: Về sau ông còn phải gặp riêng một người!

]

Một hôm Sư hỏi Tuyết Phong: Từ đâu đến?

- Vừa đẽo cột xong đến đây! _ Tuyết Phong đáp.

Sư hỏi: Mấy búa thì xong?

- Một búa liền xong! _ Tuyết Phong đáp.

Sư hỏi: Còn là việc bên này, việc bên kia thì thế nào?

- Không có chỗ hạ thủ. _ Tuyết Phong đáp.

Sư nói: Cũng còn là việc bên này, việc bên kia thì thế nào?

Tuyết Phong liền thôi.

]

Một hôm Tuyết Phong nấu cơm. Sư hỏi:

- Hôm nay nấu bao nhiêu?

- Hai thạch! _ Tuyết Phong nói.

Sư hỏi: Ăn đủ chăng?

- Nơi đây có người không ăn. _ Tuyết Phong nói.

Sư hỏi: Bỗng nhiên tất cả đều ăn, thì sao?

Tuyết Phong không đáp được. Vân Cư đáp thay:

- Tất cả đều ăn thì không thấy có người đói!

]

Thấy Tuyết Phong đến, Sư hỏi: Vào cửa nên có lời, không lời mà cái ấy đã sớm vào rồi!

- Con không có miệng. _ Tuyết Phong nói.

Sư nói: Không có miệng hãy gác qua, hãy trả mắt lại cho lão tăng!

Tuyết Phong liền thôi.

Vân Cư cử[13]: Đợi con có miệng liền nói!

]

Vân Phong từ giã Sư, Sư nói: Ông đi về đâu?

- Trở về núi. _ Vân Phong nói.

Sư hỏi: Bây giờ theo đường nào ra khỏi núi?

- Theo đỉnh cao, vực thẳm đi ra! - Vân Phong nói.

Sư hỏi: Có một người không theo đỉnh cao vực thẳm đi ra, ông biết chăng?

- Không biết! _ Vân Phong nói.

Sư hỏi: Vì sao không biết?

- Hắn không có mặt mày. _ Vân Phong nói.

Sư nói: Ông đã không biết, làm sao biết được không có mặt mày?

Vân Phong im lặng.

]

Nham Đầu đến tham vấn Đức Sơn, vào phương trượng, vừa bước qua cửa liền nói: “Là phàm hay thánh?” Đức Sơn hét, Nham Đầu lễ bái.

Có người nêu lại với Sư. Sư nói:

- Nếu chẳng phải là thượng tọa Khoát (Nham Đầu Toàn Khoát) thì rất khó gánh vác nổi!

Nham Đầu nghe được liền nói: Lão Động Sơn không biết tốt xấu, lầm lẫn phát ra danh ngôn. Lúc bấy giờ một tay ta đưa ra, một tay ta nắm bắt!

Lang Nha Giác cử: Nham Đầu thì không có người nào dám hỏi đến, tất nhiên là kỳ đặc, nhưng vừa bị Động Sơn cho một chùy sau ót, thì liền tỉnh ngộ!

]

Sư hỏi Thị giả của Đức Sơn: Từ phương nào đến?

- Từ Đức Sơn đến! _ Thị giả thưa.

Sư hỏi: Đến làm gì?

Thị giả thưa: Vì hiếu thuận Hòa thượng mà đến!

Sư hỏi: Ở thế gian loại chúng sanh nào có hiếu thuận nhất?

Thị giả không đáp được.

]

Sư bị bệnh, sai vị Sa-di đến báo với Vân Cư và dặn dò vị Sa-di rằng: Nếu Vân Cư có hỏi: “Hòa thượng có khỏe chăng?” Thì ngươi chỉ trả lời: “Con đường Vân Nham sắp đứt rồi!”

Khi nói lời này xong ngươi hãy tránh xa ra, sợ rằng ông ta sẽ đánh ngươi!

Vị Sa-di lãnh mệnh đến Vân Cư, vị Sa-di nói chưa dứt tiếng đã bị Vân Cư đánh một gậy. Vị Sa-di không đáp được.

Đồng An Hiếu đáp thay: Thế thì một nhánh của Vân Nham không rơi rồi!

]

Sư sắp viên tịch, bảo chúng nhóm họp và hỏi rằng: “Ta có danh suông ở thế gian, ai vì ta dẹp bỏ được?” Đại chúng không ai trả lời.

Lúc bấy giờ có một Sa-di bước ra thưa:

- Xin hỏi pháp hiệu của Hòa thượng?

Sư đáp: Danh suông của ta đã mất!

Thạch Sương cử:

- Không có ai được ông ta chấp nhận.

Vân Cư nói: Nếu có danh suông thì chẳng phải thầy của ta!

Tào Sơn nói: Từ xưa đến nay không ai biết được!

Sơ Sơn nói: Rồng có biệt tài ra khỏi nước, mà  không ai biết được!

]

Có một vị tăng hỏi: Hòa thượng bị bệnh, lại có cái chẳng bệnh không?

Sư đáp: Có!

Tăng hỏi: Cái chẳng bệnh thấy Hòa thượng chăng?

Sư đáp: Lão tăng có phần thấy được cái ấy!

Tăng hỏi: Chưa biết Hòa thượng làm sao để thấy cái ấy?

Sư đáp: Khi lão tăng thấy thì chẳng thấy có bệnh.

Sư lại hỏi vị tăng: Lìa bỏ thân hữu lậu này, đến chỗ nào để cùng lão tăng gặp mặt?

Vị tăng không đáp được.

Sư bèn tụng (dạy chúng) rằng:

Người học tuy nhiều, ngộ vắng trông

Lỗi do tìm cầu lời Tổ tông

Muốn được bặt hình cùng dấu vết

Nổ lực bước vào chốn hư không.

]

Vào sáng mùng 1 tháng 3 năm Hàm Thông thứ 10 (năm Kỷ Sửu – 863), Sư cạo tóc, tắm gội sạch sẽ, đắp y ngồi kiết-già, đánh chuông từ biệt đại chúng rồi an nhiên thị tịch. Đại chúng thương tiếc than khóc không thôi. Bỗng nhiên, Sư mở mắt nói rằng:

- Phàm người xuất gia, chẳng nên duyên theo vật, đó là chơn tu hành. Sống lao nhọc, chết yên ổn, có gì mà phải bi luyến! Bèn gọi vị tăng Chủ sự thiết trai “Ngu si” cho toàn môn đồ tham dự, phiền trách về sự lưu luyến của họ. Nhưng đại chúng vẫn buồn thương, nên kéo dài đến ngày thứ bảy trai lễ mới hoàn tất. Sau khi thọ trai với chúng xong, Sư nói: “Hàng tăng gia, lúc sắp thị tịch, điều quan trọng là chớ nên làm huyên náo như thế này!”

Đến ngày thứ 8, sau khi gội rửa xong, Sư ngồi an nhiên thị tịch, thọ 63 tuổi, hạ lạp 42, thụy hiệu là Ngộ Bản Đại Sư, tháp hiệu Huệ Giác.


BẢO CẢNH TAM MUỘI CA

Pháp ấy như thế

Phật tổ thầm trao

Ông nay đã vào

Phải khéo bảo hộ

Chén bạc đựng tuyết

Cò trắng dưới trăng

Loại mà chẳng đồng

Lẫn lộn biết nơi

Ý chẳng tại lời

Người học cũng đến

Động thành hang ổ

Sai lạc chấp trước

Tránh, chạm đều sai

Như đống lửa lớn

Chỉ hiện sắc màu

Tức thuộc nhiễm ô

Nửa đêm sáng tỏ

Ngày đến ẩn tàng

Phép tắc vạn loài

Để trừ các khổ

Tuy chẳng hữu vi

Nhưng lại có lời

Như nhìn gương báu

Hình ảnh trông nhau

Ngươi chẳng phải y

Y chính là ngươi!

Như trẻ mới sanh

Ngũ căn đầy đủ

Chẳng đến chẳng đi

Chẳng trụ chẳng đứng

Bập bẹ nói năng

câu không câu

Trọn chẳng thành nghĩa

Vì lời chẳng rõ

Trùng, ly sáu hào

Chánh, Thiên hồi hỗ

Chồng xếp làm ba

Biến khắp thành năm

Như vị cỏ thuốc

Như chày Kim cang

Chánh thiên diệu hợp

Gõ xướng song hành

Thông tông thông đạo

Ra vào không ngại

Cẩn thận thì tốt

Chẳng thể, liền sai

Thiên chơn mà diệu

Chẳng thuộc ngộ mê

Tùy thời tùy lúc

Lặng lẽ, rõ ràng

Nhỏ không gì hơn

Lớn vô cùng tận

Sai lạc mảy may

Chẳng hợp âm luật

Nay có đốn tiệm

Tùy duyên lập tông

Tông thú phân rồi

Tức thành qui củ

Tông thông thú tột

Chơn thường lưu chuyển

Trong động ngoài yên

Ngựa cột, chuột nhốt

Bậc Thánh xót thương

Ban pháp bố thí

Tùy chỗ điên đảo

Lấy đen làm trắng

Điên đảo tưởng diệt

Ngay tâm tự nhận

Muốn hợp dấu xưa

Xin xem Cổ đức

Phật đạo sắp thành

Mười kiếp quán tho[14]

Công đức vô biên

Như tai hổ dữ

Như chân ngựa hay

Vì có hạ liệt

Ghế báu tòa trân

Vì có sợ hãi

Lê nô, bạch cổ

Hậu Nghệ thiện xạ

Trăm bước chẳng sai

Tên nhọn chạm nhau

Tài đâu can dự

Người gỗ vừa ca

Gái đá liền múa

Tình thức chẳng hiểu

Suy nghĩ chẳng cho

Thần thờ phụng vua

Con thuận lời bố

Không thuận bất hiếu

Không thờ bất trung

Hành nghi chẳng lộ

Tác dụng kín thầm

Như ngu như ngốc

Là chủ trong chủ.

]


HUYỀN TRUNG MINH VÀ LỜI TỰA

Trộm nghĩ, âm đã tuyệt vận thì phải nhờ huyền xướng để rõ tông. Khế lý luận bàn là dùng vô công mà hội diệu chỉ. Thể dụng dung thông, thiên viên uyển chuyển. Cũng giống như Bào Đinh lướt đao, Dĩnh nhân vung búa, Luân Biển làm trục xe, tài nghệ siêu việt, tâm hạnh hợp nhất, hư huyền chẳng phạm, hồi hỗ giao nhau. Đi đường chim mà tịch liêu, dùng huyền lộ mà bao quát. Tuy thể “không” vắng lặng mà chẳng trái duyên khởi. “Không câu” trong “có câu” vi diệu tại thể hiện tiền, “không lời” trong “có lời”, chuyển xoay mà lại diệu. Cho nên dụng mà chẳng động, tịch mà chẳng ngưng. Gió mát thổi rạp cỏ mà chẳng lay, trăng sáng đầy trời mà chẳng chiếu. Phượng đỏ chẳng đậu trên ngô đồng, mặt trời há chìm nơi đầm lắng! Độc tồn mà chẳng cô, không rễ nhưng kiên cố. Cùng sáng, đồng âm, sự lý giao dung. Cho nên, xướng cao khúc Tuyết nhưng người họa hiếm hoi, trống đặt bên hiên mà nào ai biết gõ nhịp. Chẳng đạt diệu chỉ, khó đến chỗ vô vi; hoặc giả, dụng mà vô công, tịch mà rỗng chiếu, lý sự rõ ràng, thể dụng không ngại. Ý chỉ trong huyền, chỉ bày như thế. Minh ghi:

Mặt trời rọi cửa

Trong suốt mùa thu

Trăng sáng trên sân

Từng đêm mùa hạ

Vạn tượng sum la

Gia phong Cổ Phật

Trời xanh lồng lộng

Kế sống đạo nhân

Mầm linh xanh tốt

Ruộng cỏ, cha lo

Trâu trắng ngoài đồng

Kẻ chăn biếng thả

Long ngâm, kho cốt[15]

Âm lạ khó nghe

Ngựa gỗ hí rồi

Ai từng nghe được

Trăng sáng ngoài rèm

Gương soi luống tỏ

Trong điện Không vương

Hào quang đâu chiếu

Nguồn trong nước lặng

Chèo chiếc thuyền con

Cổ Phật đạo tràng

Còn ngồi xa mã

Dưới cây không bóng

Vĩnh kiếp mát vui

Nhìn thấy rừng hoang

Trọn năm phóng khoáng

Đứng đi động tịnh

Chẳng khác đường chim

Ngồi đứng kinh hành

Đều là huyền lộ

Đường xưa chẳng bước

Trở về trái cha

Nửa đêm tỏ sáng

Ngày lại chẳng bày

Trước, đi chẳng đến

Sau, lại vượt qua

Thuyền con không đáy

Bền chắc theo dòng

Bóng trăng đầm lắng

Ẩn hiện khó chìm

Núi xanh mây trắng

Không rễ lại bền

Núi non kỳ vĩ

Hạc đâu dừng cánh

Cây linh xa thẳm

Phượng chẳng gá nương

Luống gõ trống rồi

Tri âm đâu tá

Kích “không” thành tiếng

Ai biết vỗ tay

Điệu khúc Hồ-già

Ngũ âm chẳng hợp

Thanh âm cao vút

Lồng lộng trời xanh

Mặc tình cho anh

Vang ca khúc hát.

]

TÂN PHONG NGÂM

Đường cũ thênh thang ai cất bước

Không người biết hát khúc hoàn hương

Dưới trăng, gió mát ôm cây đợi

Cỏ xanh xuân sắc, thỏ xa phương

Hương trời tụ chừ, tuyệt phấn thơm

Ánh trăng ngưng chừ, không soi chiếu

Hạnh huyền bởi đó vào gian hiểm

Thể diệu do đây trái dãn thâu

Đâu chẳng hay chừ, nào nắm mở

Nếu như thế chừ, ngọc trong bùn

Thơm hôi cùng chốn, nên biết rõ

Giải trải[16] cùng chuồng, luống công phân

Trăng đầy trời chừ, soi hang trống

Gió chẳng dứt chừ, rạp tòng trúc

Ta nay đến đó được thung dung

Tiên sư bảo ta nên theo bước

Đường Tân Phong chừ, dốc vẫn trơn

Động Tân Phong chừ, nơi vắng vẻ

Lên hãy lên chừ, chớ lay động

Bước hãy bước chừ, chớ vội vàng

Hết cỏ gai chừ, thôi chặt phá

Uống hương thơm chừ, vị thanh khiết

Mang nặng lên rồi, ném giày rách

Thấy y, sớm đã không mang vác

Đi, sánh vai chừ, dẵm dấu thơm

Đến, lắng tâm chừ, đạp nguồn trong

Cửa nhà tuy có, ít người thăm

Suối rừng chẳng dưỡng cây vô dụng

Đạo chẳng dũa mài chẳng dáng hình

Người Dĩnh vung búa nào nhìn ngắm

Công phu chưa đạt, chẳng vuông tròn

Ngôn ngữ chẳng thông, không quyến thuộc

Sự chẳng thế chừ, nào sáng tối

Ta chẳng thế chừ, đâu đứt nối

Ân cần khuyên bảo người trong đạo

Nếu đắm huyền quan tức buộc mình.

]


CƯƠNG YẾU TỤNG

I. Nhịp xướng đồng thời

Kim vàng nối hai mảnh

Đường may ẩn kín thành

Thể không, diệu bảo ấn

Lớp lớp gấm rõ rành.

II. Khóa vàng huyền lộ

Xen lẫn tối trong sáng

Công bằng, khó tỉnh giác

Sức cùng, quên tấn thối

Lưới vàng bủa giăng giăng

III. Chẳng đọa phàm thánh

Sự lý đều chẳng chấp

Phản chiếu dứt u thâm

Tránh gió không khéo vụng

Điện chớp khó truy tầm.

]

TỤNG CÔNG HUÂN NGŨ VỊ

HƯỚNG:

Minh quân theo phép nhà Nghiêu,

Hạ mình dùng lễ đãi chiêu lương hiền

Có khi vượt chốn não phiền

Văn minh khắp chốn tụng truyền Thánh ân.

PHỤNG:

Vì ai tẩy sạch phấn hồng

Người xưa trở lại Quốc đồng kêu vang

Trên cành hoa đã rụng tàn

Mà chim vẫn hót, non ngàn đều nghe

CÔNG:

Cưỡi ngược voi ngọc đuổi lân (kì lân)

Cây khô hoa nở vào xuân kiếp tiền.

Hôm nay cao ẩn non miền

Trăng trong gió mát thuận duyên đúng thời

CỘNG CÔNG:

Chúng sanh, chư Phật chẳng đồng

Non kia tự vút, đây dòng tự sâu

Việc lớn ngộ từ muôn đầu

Hoa khai chim hót sắc màu rực soi.

CÔNG CÔNG:

Sừng vừa nhú đã chẳng kham

Đem tâm cầu Phật, đã mang lỗi lầm

Kiếp không vời vợi há tầm

Năm ba tri thức[17] phương Nam, phỏng cầu.

TỰ RĂN

Chẳng cầu danh lợi chẳng cầu vinh

Nhậm vận tùy duyên độ chúng sinh

Ba tấc khí tiêu đâu là chủ

Trăm năm thân diệt luống hư danh

Áo quần vừa rách liền vá sửa

Lương thực cạn rồi lại đầy dinh

Xác thân hư huyễn nào mấy chốc

Mãi luyến làm chi lớn vô minh.

]

KHUYÊN RĂN

Phàm là bậc Sa-môn Thích tử phải lấy việc hướng thượng làm tông chỉ. Lìa bỏ các duyên, sống đời đạm bạc; dứt tình thân cha mẹ, bỏ nghĩa cả vua tôi; cạo tóc đắp ca-sa, tay ôm bình bát, đạp trên con đường tắt xuất trần, bước lên giai vị Thánh. Thân tâm trong sạch như sương, thanh tịnh như tuyết; long thần kính ngưỡng, ma quỷ qui hàng, chuyên tâm thành ý báo thâm ân Phật.  Thế thì cha mẹ mới mong được lợi ích. Há chỉ lo thâu nạp môn đồ, chạy theo bè bạn, lo việc bút nghiên, văn chương trau chuốt, thiết tha danh lợi, lao nhọc theo trần, chẳng tuân giới luật, trái phạm oai nghi, để một đời luống uổng trôi qua, vĩnh kiếp mai sau chịu nhiều gian khổ. Nếu như thế đâu được gọi là Thích tử Thiền môn.

THƯ TỪ BIỆT BẮC ĐƯỜNG (MẸ)

Được nghe: Chư Phật nhiều đời đều từ cha mẹ mà có thân, vạn loài hữu tình đều do đất trời che chở. Cho nên không có cha mẹ thì chẳng thể sanh; không có đất trời thì chẳng khôn lớn. Tất cả đều thấm nhuần ân dưỡng dục, thọ nhận đức bao dung. Than ôi! Tất cả loài hàm linh, cho đến vạn tượng hữu tình đều vô thường, chưa lìa sanh diệt. Thế thì tình bú mớm thật vô cùng, ân dưỡng dục thật cao sâu. Dù dùng trân vị thế gian cung dưỡng cũng khó đáp đền; dù lấy máu thịt thân mình cúng dâng há đâu vẹn báo! Cho nên, Hiếu kinh có dạy: “Tuy một ngày dùng ba con trâu để dâng cũng còn bất hiếu”. Bởi vì cùng dắt nhau chìm đắm, vĩnh kiếp luân hồi. Như vậy, muốn báo thâm ân, không gì bằng công đức xuất gia, qua sông ái sanh tử, vượt biển khổ não phiền. Thế mới đền được ân cha mẹ nhiều đời, đáp tình thâm vạn kiếp, Tam hữu Tứ ân đồng báo trả. Như kinh dạy: “Một người con xuất gia thì chín họ được sanh Thiên”.

Lương Giới quyết xả bỏ thân mạng đời này, thề chẳng về nhà. Ngay nơi căn trần vĩnh kiếp mà đốn khai Phật huệ. Cầu mong cha mẹ rộng lòng tha thứ, ý chớ phan duyên. Hãy học theo vua Tịnh PhạnThánh mẫu Ma-gia, mai sau sẽ gặp nhau nơi Phật hội, còn ngày hôm nay tạm thời ly biệt. Chẳng phải con không cung hiếu song thân, bởi vì thời gian chờ đợi người. Cho nên Cổ đức có câu: “Chẳng ngay nơi đời này mà độ thân, còn chờ đợi đến bao giờ mới độ được?” Kính mong cha mẹ khắc ghi, chớ đem lòng luyến nhớ!

Chưa liễu nguồn tâm trải mấy Xuân

Than ôi phù thế mãi xoay vần!

Bao người đạt đạo nơi cửa Phật

Mình ta chìm đắm ở thế trần

Kính dâng thư này từ quyến thuộc

Nguyện xong Đại pháp báo từ ân

Chẳng nên than khóc, thôi bi luyến

Cũng giống như xưa chẳng có thân

Mây trắng bên non thường làm bạn

Vách cao trước núi ấy tương lân

Lợi danh thế sự không can dự

Yêu, ghét  nhân gian miễn luận bàn.

Tổ ý ngay lời liền thể hội

Huyền vi trong cú thấu nguồn chân

Toàn gia thân thích cần gặp mặt

Đợi đến mai sau chứng qủa nhân.

]

THƯ GỞI MẸ (II)

Lương Giới từ khi lìa xa Từ mẫu, cất bước về Nam, đến nay thấm thoát đã 10 năm, hành trình chập chùng trải qua vạn dặm. Cầu mong Người ở nhà nên lắng tâm tu đạo, nhiếp ý về không. Hãy dứt đi nỗi sầu ly biệt, chẳng nên tựa cửa ngóng trông. Việc nhà, mẹ hãy tùy thời tùy lúc mà làm, lo lắng bận rộn chỉ tăng thêm phiền não! Anh Cả thì nên siêng năng hiếu thuận, như Vương Tường khổ tìm cá trong băng lạnh[18]; em nhỏ thì dốc sức phụng thừa, như Mạnh Tông khóc tìm măng nơi sương tuyết[19]. Phàm, người sống trên đời phải tu thân, hành hiếu thuận để hợp đạo trời, còn hàng Tăng lữ nương chốn “Không môn”, mến đạo tham thiền, như thế mới mong báo đền thâm ân dưỡng dục. Nay thì ngàn núi trăm sông, chia cách đôi đường, chỉ có thể tỏ bày tấc lòng trên trang giấy:

Chẳng cầu danh lợi, chẳng cầu vinh

Vui chốn Không môn bỏ thế tình

Não phiền trừ sạch, sầu bi dứt

Tình thâm đoạn bỏ, ái tâm khinh

Sáu căn thanh tịnh hương lan tỏa

Nhất niệm vô sanh huệ hiển minh

Mong cho thân mẫu thôi luyến nhớ

Xem như đã chết, hoặc không sinh.

THƯ TRẢ LỜI CỦA MẸ

Ta cùng ông vốn có duyên đời trước, cho nên đời này mới kết thành tình thâm mẫu tử. Từ khi mới mang thai, ngày đêm ta mãi cầu thần khẩn Phật nguyện ước sanh được con trai. Đến lúc tháng ngày đã đủ, hạ sanh ra ông thì mạng ta như chỉ mành. Ước nguyện đã thành, ta quí con như trân bảo, chẳng hiềm phân tiểu hôi dơ, nào ngại bú mớm lao khổ. Đến khi vừa lớn thì cho đến trường học tập, hoặc như có lúc tạm thời đi chưa về thì tựa cửa ngóng trông. Hôm nay, ông gởi thư về quyết chí xuất gia, ở nhà cha thì mất sớm, mẹ thì già nua, anh thì ốm đau, em thì còn nhỏ, ta biết nương tựa vào ai? Con có tâm bỏ mẹ, mẹ nào có ý xa con! Từ khi ông bỏ nhà đến phương xa, thì lòng ta ngày đêm đau như cắt, than khóc buồn lo. Khổ thay! Khổ thay!

Nay ông đã thề chẳng trở về, ta cũng thuận chí theo ông. Ta chẳng cầu mong ông như Vương Tường nằm trên băng tuyết[20], hay Đinh Lan khắc tượng gỗ[21], mà chỉ mong ông như tôn giả Mục-kiền-liên độ mẹ thoát khỏi trầm luân, chứng thành Phật quả. Nếu chẳng được như thế, thì mãi mãi thầm trách, tha thiết mong ông hiểu được!

]

Lúc Sư ở Phần Đàm đọc Đại Tạng đã soạn ra được Đại Thừa Kinh Yếu một quyển và Phần Đàm Đạo Tục Kệ Tụng Giới lưu hành ở đời.

 

***

BỔ SUNG

NGÔN HẠNH CỦA ĐỘNG SƠN NGỘ BẢN

Sa-môn Nghi Mặc Huyền Khế ( người Nhật) hiệu đính.

 

Sư hỏi Vân Nham: Con định vẽ chơn tướng của Hòa thượng được chăng?

- Vẽ được mấy phần? _ Vân Nham hỏi

Sư đáp: Bình thường thì vẽ được 7, 8 phần!

Vân Nham: Vẫn còn sai!

Sư hỏi: Khi chẳng khác chơn tượng thì thế nào?

- Cần phải được mười phần! _ Vân Nham đáp.

Sư hỏi: Cổ nhân nói dẫu được 10 phần cũng chẳng giống thì thế nào?

Vân Nham nói: Cái ấy chẳng tính số phần!

]

Một hôm Sư cùng với thiền sư Vân Nham cày đất trồng gừng, Vân Nham vẫn theo việc làm của bậc Tiên đức. Sư liền hỏi: Người này đi đâu?

Thiền sư Vân Nham im lặng hồi lâu rồi nói:

- Thế nào? Thế nào?

Sư nói: Quá chậm! _ Sư hỏi Vân Nham:

- Khi chưa có ấm giới, thì nói được chăng?

Vân Nham hỏi: Ông nay có chăng?

 

Một hôm Tuyết Phong đang bửa củi, ném một thanh

củi đến trước mặt Sư. Sư  hỏi:

- Nặng bao nhiêu?

Tuyết Phong: Khắp nơi chẳng có ai mang nổi!

Sư nói: Như thế đâu thể đem đến đây!

Vân Nham im lặng.

 

Khi Thọ Sơn Giải hành cước, có đến pháp hội của Sư. Sư hỏi: Xà-lê quê quán nơi nào?

Thọ Sơn Giải đáp: Nếu Hòa thượng thật hỏi, thì con ở đất Môn!

Sư hỏi: Cha ông tên gì?

- Như nay được Hòa thượng hỏi câu này bỗng nhiên con quên cả đầu đuôi! _ Thọ Sơn Giải đáp.

 

Sư hỏi vị tăng: Tâm pháp đều quên, tánh tức chơn là tòa thứ mấy?

Tăng đáp: Tòa thứ hai!

Sư hỏi: Vì sao chẳng cho y tòa thứ nhất?

Tăng không đối được. Có một vị khác đáp thay:

- Chẳng phải tâm, chẳng phải pháp.

Sư nói: Tâm pháp đều quên tức chẳng phải pháp, vì sao lại nói như thế?

Tăng không đáp được.

Sư tự đáp thay: Thật là chẳng được tòa nào!

Sư dạy chúng: Người hiểu thì biết vào địa ngục, người chẳng hiểu thì đi ngoài cửa. Sư hỏi vị tăng người Tân La: Khi chưa vượt biển thì ở đâu?

Tăng không đáp được.

Sư tự đáp: Nay đã vượt qua biển, lại ở nơi nào?

Sư nói: Ngày hôm nay người học muốn lãnh hội, thì phải biết người hướng thượng Phật mới được, nhưng họ chỉ biết chư Phật trong mười phương, mà chẳng biết chỗ xuất sanh của 10 phương chư Phật. Biết suông có Phật thì chẳng thành Phật!

Sư hỏi một vị tăng:

- Ba người cùng đi, một người biết nói, một người không biết nói, còn người kia thế nào?

Tăng đáp: Như vậy, chẳng phải đã phân biệt được chủ khách sao?

Sư: Đúng!

Tăng hỏi: Thế nào là khách?

Sư đáp: Nói và chẳng nói đều là khách! Như người biết đùa giỡn với hạt châu thì không để châu chạm vào tay, cũng không để châu rơi xuống đất. Như nay cái hay qua lại đó gọi là gì mới đúng?

Tăng không đáp được.

Sư đáp thay: Chẳng được! Chẳng được!

Thấy một vị Thượng tọa đến lễ bái. Sư hỏi:

- Đến làm gì?

Thượng tọa đáp: Đến chẳng vì Hòa thượng!

Sư: Nếu lễ bái Tôn giả thì ta ngồi sang một bên!

Trưởng lão Thận Vi cầm cây gậy, có một vị tăng hỏi: Cây gậy này xuất xứ từ đâu?

- Dưới tuyết! _ Trưởng lão đáp.

không chấp nhận và đáp thay:

- Như nay xuất hiện có ai biết được chăng?

Thiền sư Hoàng Bá dẫn 300 môn đồ từ ngài Diêm Quan đến chỗ thiền sư Nam Tuyền, mỗi ngày thượng đường thuyết pháp cho 300 vị này. Một hôm thiền sư Nam Tuyền đến hỏi: Đạo tràng này có thể cho hỏi một câu chăng?

Thiền sư Hoàng Bá đáp: Thỉnh Hòa thượng!

Thiền sư Nam Tuyền nói: Định học, Huệ học nói về kiến Phật tánh, lý này như thế nào?

Hoàng Bá đáp: Trong 12 thời không nương tựa một vật!

Nam Tuyền hỏi: Có phải là kiến giải của Trưởng lão không?

- Dạ, không dám! _ Hoàng Bá đáp.

Nam Tuyền hỏi: Tiền nước tương hãy gác qua, còn tiền giày cỏ ai trả?

Về sau có một vị tăng đến nêu lại với Sư, Sư đáp:

- Viết giấy nợ rồi ăn gậy!

Sư hỏi vị tăng: Ông tên gì?

Tăng đáp: Thỉnh Hòa thượng đặt tên!

Sư lại đặt tên là Lương Giới.

Tăng không đáp được. Vân Cư đáp thay:

- Thế thì không có chỗ xuất đầu, thế thì tất cả đều bị Hòa thượng chiếm hết rồi!

Có người hỏi thiền sư Vân Khánh Đoan:

- Con giun bị chặt làm hai đoạn, hai đầu đều cử động, thế Phật tánh tại đầu nào?

Thiền sư Đoan liền giang hai tay.

Sư đáp: Như nay hỏi cái ấy tại đầu nào?

Một hôm Sư ra ruộng, thấy mọi người đang cấy lúa. Có một vị tăng cấy ngược, Sư bèn hỏi:

- Vì sao Xà-lê lại cấy ngược?

- Trong tim còn sống. _ Tăng đáp.

Sư không nói và trở về viện.

Hôm sau đại chúng lại đi làm, Sư ra trước, đứng đợi vị tăng cấy ngược ngày hôm qua, tăng ấy ra sau cùng. Sư liền hỏi:

- Xà-lê! Hôm qua ai chặt tre ở vườn Đông?

Vị tăng không lường được, trả lời: Không biết!

Sư hỏi: Xà-lê người xứ nào?

- Người Đặng Châu! _ Tăng đáp.

Sư nói: Lúc hành cước lão tăng từng đến nơi đó!

Vị tăng hỏi Sư: Nghe Hòa thượng nói Quát cốt thiền (Thiền nạo xương), vậy thỉnh Hòa thượng nạo bốn phương tám hướng!

Sư đáp: Không có chỗ nạo!

Tăng hỏi: Hòa thượng là bậc tài giỏi, vì sao nạo chẳng được?

Sư đáp: Ông có nghe nói danh y bó tay không?

Tăng hỏi: Thế nào là con mắt của bậc Thiện tri thức?

Sư đáp: Giấy cháy không cần dầu!

Tăng hỏi: Trong 12 thời nên dùng vật gì để hiến cúng?

Sư đáp: Không có vật!

Tăng hỏi: Thế nào là chỗ cấp thiết của thân mạng?

Sư đáp: Chẳng phải tạp chủng!

Tăng hỏi: Đem gì để hiến cúng?

Sư đáp: Đem hư không để hiến cúng!

Tăng nói: Hư không với phi hư không xem ra chẳng giống nhau?

Sư đáp: Nói giống cũng được, không giống cũng được!

- Thế nào là giống? _ Tăng hỏi.

Sư đáp: Trước mắt!

- Thế nào là chẳng giống? _ Tăng hỏi.

Sư đáp: Trước mắt chẳng phải!

Tăng hỏi: Khi phản bổn hoàn nguyên thì thế nào?

Sư đáp: Như một mảnh tuyết từ trên trời rơi xuống giống sợi tơ, nếu có vật giữ lại thì không rơi xuống đất!

Tăng hỏi: Thế nào là tạm thời không tồn tại, như người chết?

Sư đáp: Nên chôn đi!

- Hôi thối rồi! _ Tăng đáp.

Sư đáp: Mạng tuyệt rồi!

Pháp tử của Sư có 27 người được ghi chép trong sử truyện, trong đó 19 người có cơ ngữ[22].



[1] Sấm lậu: Tức kiến chấp ngã, pháp.

[2] Thánh đế: Đệ nhất nghĩa đế, tức giáo nghĩa chân thật, cùng tột của giáo môn.

[3] Xá nhân: Một chức quan thân cận với các vương công, như Thái tử xá nhân là quan thuộc hạ của Thái tử.

[4] Tảo tham: Thời tham thiền vào buổi sáng.

[5] Hạ ngữ: Trình bày kiến giải khi có người nêu ra một tắc công án – lời khai thị.

[6] Đại xiển-đề: Người không tin nhân quả, đoạn mất căn lành, không thể thành Phật.

[7] Bốn núi: Dụ cho 4 việc sanh, già, bệnh, chết.

[8] Tác gia: Còn gọi là Tác giả, từ ngữ gọi Thiền sư kiệt xuất.

[9] Hướng thượng: Công phu từ cảnh giới mê vào thẳng cảnh giới ngộ, cầu Bồ-đề.

[10] Kiếm Mạc Da: Còn gọi là Mạc Tà, một trong 2 thanh kiếm nổi tiếng nước Ngô (hoặc Hàn, Sở) do 2 vợ chồng là Can Tương và Mạc Da tạo. Thiền tông dùng từ nầy dụ cho trí tuệ vốn có của con người, hoặc tri kiến Bát-nhã của Thiền sư.

[11] Kiếp không: Một trong 4 kiếp Thành, Trụ, Hoại, Không. Đây là thời kì thứ 4 của thế gian, từ cõi Dục cho đến trời Tam Thiền đều bị hoại diệt. Hoặc chỉ cho thời kì trước khi hình thành thế giới, Thiền tông dùng từ này dụ cho Bản lai diện mục.

[12] Niêm: Nêu ra kiến giải của mình.

[13] : Nêu lên, đưa ra ý kiến của mình.

[14] Quán thọ: Đức Phật rời tòa kim cang, quán cây Bồ-đề sau khi thành đạọ

[15] Long ngâm, khô cốt: Long ngâm, (Gọi đủ là Khô mộc lí long ngâm): Rồng gầm trong cây khô. Khô cốt cũng gọi là Độc lâu lí nhãn tình, tức con mắt trong đầu lâu. Cả hai đều chỉ cho trạng thái dứt sạch vọng niệm, bặt cả tình thức, thể lộ trí tuệ vô phân biệt.

[16] Giải trải: Một loài dị thú trong truyền thuyết của Trung Quốc, đầu chỉ có một sừng, có thể phân biệt được phải trái. Thấy người đánh nhau, nó dùng sừng húc vào kẻ tà ác. Người xưa cho giải trải là con vật cát tường.

[17] Năm ba tri thức: Tức 53 vị Thiện tri thứcĐồng tử Thiện Tài  tham cầu.

[18] Xem Nhị Thập Tứ Hiếu.

[19] Xem Nhị Thập Tứ Hiếu.

[20] Xem Nhị Thập Tứ Hiếu.

[21] Xem Nhị Thập Tứ Hiếu.

[22] Cơ ngữ: Câu nói khế hợp với căn cơgiáo pháp. Hoặc chỉ cho lời thăm dò giao lưu Thiền pháp, hay lời khai ngộ người học.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 449)
Sống Trong Từng Sát Naphương pháp thực tập sống tỉnh thức, sống và ý thức về sự sống trong từng mỗi phút giây. Đây là phương thức tu tập dựa trên tinh thần Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm.
(View: 529)
Nguyên bản: How to practice the way to a meaningful life. Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma. Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 1072)
Mối Tơ Vương của Huyền Trân Công Chúa (Phóng tác lịch sử tiểu thuyết vào cuối đời Lý đầu đời Trần) HT Thích Như Điển
(View: 1245)
Nguyệt San Chánh Pháp Số 84 Tháng 11/2018
(View: 2193)
Nhẫn nhục là thù diệu nhất vì người con Phật thực hành hạnh nhẫn nhục thành thục, thì có thể trừ được sân tâm và hại tâm, là nhân tố quan trọng để hành giả thành tựu từ tâm giải thoátbi tâm giải thoát.
(View: 14109)
Tác giả: Diệu Hạnh Giao Trinh sưu tầm và kể chuyện, Nguyễn Minh Tiến hiệu đínhgiới thiệu
(View: 1239)
Cảm Đức Từ Bi - tác giả Huỳnh Kim Quang
(View: 1572)
Một bản dịch về Thiền Nhật Bản vừa ấn hành tuần này. Sách nhan đề “Thiền Lâm Tế Nhật Bản” của tác giả Matsubara Taidoo. Bản Việt dịch do Hòa Thượng Thích Như Điển thực hiện.
(View: 1475)
Tuyển tập “Bát Cơm Hương Tích” của Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng là một phần lớn của đời tác giả, ghi lại những gì Thầy mắt thấy tai nghe một thời và rồi nhớ lại...
(View: 2241)
Quyển sách "Hãy làm một cuộc cách mạng" trên đây của Đức Đạt-lai Lạt-ma khởi sự được thành hình từ một cuộc phỏng vấn mà Ngài đã dành riêng cho một đệ tử thân tín là bà Sofia Stril-Rever vào ngày 3 tháng giêng năm 2017.
(View: 2780)
THIỀN QUÁN VỀ SỐNG VÀ CHẾT - Cẩm Nang Hướng Dẫn Thực Hành - The Zen of Living and Dying A Practical and Spiritual Guide
(View: 2087)
Mùa An Cư Kiết Hạ năm 2016 nầy tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 67 để sang năm 2017 xuất bản với nhan đề là "Nước Mỹ bao lần đi và bao lần đến"
(View: 2351)
Người đứng mãi giữa lòng sông nhuộm nắng, Kể chuyện gì nơi ngày cũ xa xưa, Con bướm nhỏ đi về trong cánh mỏng, Nhưng về đâu một chiếc lá xa mùa (Tuệ Sỹ)
(View: 5997)
TĂNG GIÀ THỜI ĐỨC PHẬT Thích Chơn Thiện Nhà xuất bản Phương Đông
(View: 9139)
Người học Phật có được một tài liệu đầy đủ, chính xác, đáng tin cậy, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ tra cứu khi cần...
(View: 2770)
Tác phẩm nầy chỉ gởi đến những ai chưa một lần đến Mỹ; hoặc cho những ai đã ở Mỹ lâu năm; nhưng chưa một lần đến California...
(View: 3001)
Từ Mảnh Đất Tâm - Huỳnh Kim Quang
(View: 2812)
Một năm lại sắp trôi qua với những vết tích điêu tàn, khổ nạn để lại trên khắp trái đất. Nhìn lại, chúng ta không khỏi giật mình, và chạnh lòng thương tưởng
(View: 2489)
Chung trà cuối năm uống qua ngày đầu năm. Sương lạnh buổi sớm len vào cửa sổ. Trầm hương lãng đãng quyện nơi thư phòng..
(View: 2950)
Một năm lại sắp trôi qua với những vết tích điêu tàn, khổ nạn để lại trên khắp trái đất. Nhìn lại, chúng ta không khỏi giật mình, và chạnh lòng thương tưởng
(View: 2931)
Nước lũ từ thượng nguồn cuồn cuộn đổ về, lại thêm nước từ đập thủy điện ồ ạt xả ra. Dân không được báo trước.
(View: 2781)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dươnglưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoátgiác ngộ cho...
(View: 3903)
Là người mới bắt đầu học Phật hoặc đã học Phật nhưng chưa thấm nhuần Phật pháp chân chính, chúng tôi biên soạn...
(View: 3124)
Hôm nay là ngày 10 tháng 6 năm 2015, tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, Đức Quốc, tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 65 của mình...
(View: 2986)
Bắt đầu vào hạ, trời nóng bức suốt mấy ngày liền. Bãi biển đông người, nhộn nhịp già trẻ lớn bé. Những chiếc...
(View: 5352)
Phật giáo ra đời từ một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại - Ấn Độ - và nhanh chóng phổ biến tại các nước phương Đông...
(View: 10955)
Trong tập sách nhỏ này tôi đã bàn đến hầu hết những gì mọi người đều công nhậngiáo lý tinh yếu và căn bản của Đức Phật... Con Đường Thoát Khổ - Đại đức W. Rahula; Thích Nữ Trí Hải dịch
(View: 22950)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
(View: 9136)
Tập sách do Minh Thiện và Diệu Xuân biên soạn
(View: 12156)
Phật GiáoVũ Trụ Quan (PDF) - Tác giả: Lê Huy Trứ
(View: 7041)
Hạnh Mong Cầu (sách PDF) - Lê Huy Trứ
(View: 8491)
Đọc “Dấu Thời Gian” không phải là đọc sự tư duy sáng tạo mà là đọc những chứng tích lịch sử thời đại, chứng nhân cùng những tâm tình được khơi dậy trong lòng tác giả xuyên qua những chặng đường thời gian...
(View: 4832)
Báo Chánh Pháp Số 48 Tháng 11/2015
(View: 7152)
Nguyệt san Chánh Pháp Tháng 10 năm 2015
(View: 4720)
Báo Chánh Pháp Số 46 Tháng 9/2015 - Chuyên đề Vu Lan - Mùa Báo Hiếu
(View: 23119)
Phương Trời Cao Rộng - Truyện dài của Vĩnh Hảo, Chiêu Hà xuất bản tại California, Hoa Kỳ năm 1993, tái bản năm 1995
(View: 4430)
Tiếng nói của những người con Phật có tấm lòng từ bi và trí tuệ đi vào đời...
(View: 5604)
Báo Chánh Pháp - bộ mới Số 43, tháng 06 năm 2015
(View: 5376)
Hy hữu, vì biết lấy Phật giáo làm lý tưởng đời mình và chọn sự thực hành Phật Pháp như là sinh hoạt nền tảng hàng ngày
(View: 7565)
Nguời quân tử ra làm quan đi vào con đường hành chính, không những ngồi ung dung nơi miếu đường nói truyện văn nhã, để lấy tiếng là người có đức vọng...
(View: 4580)
Báo Chánh Pháp Số 41 Tháng 4/2015
(View: 5149)
Tuyển tập những bài viết về mùa Xuân trong nền văn hóa Phật giáo Việt Nam. Giai Phẩm Xuân Ất Mùi 2015...
(View: 14043)
Thiền Lâm Bảo Huấn đây chính là phần Ngữ lục. Nội dung của sách Bảo Huấn được chia thành 4 quyển, gồm gần 300 thiên. Mỗi thiên đều là những lời vàng ngọc để răn dạy về cách tu tâm xử thế...
(View: 11223)
Quyển Luận này về hình lượng rất bé bỏng, nhưng về phẩm chất thật quí vô giá. Một hành giả nếu thâm đạt ý chí quyển Luận này là đã thấy lối vào Đạo.
(View: 9104)
Là một sách tự lực của tác giả người Mỹ Dale Carnegie, được viết vào năm 1948. Bản Việt Ngữ do Nguyễn Hiến Lê dịch năm 1955 tại Sài Gòn và đưa vào tủ sách Học làm người.
(View: 13936)
Để góp nhặt hết tất cả những ý niệm tác thành tập sách nhỏ “Tâm Nguyên Vô Đề” này là một lời sách tấn, khuyến khích của Thiện hữu tri thức để lưu dấu một cái gì. Cái uyên nguyên của Tâm... Nguyên Siêu
(View: 10638)
“Phật pháp trong đời sống” của cư sĩ Tâm Diệu là tuyển tập về mười hai chuyên đề Phật học gắn liền với đời sống của người tại gia.
(View: 10444)
Gió không từ đâu tới; gió cũng đã chẳng đi về đâu. Gió hiện hữu, rồi gió tan biến, xa lìa. Tử sinh cũng như thế. Tuy có đó, tuy mất đó
(View: 9320)
Đa số Phật tử Việt Nam thường chỉ học hỏi Phật pháp qua truyền thống Trung Hoa; ít ai để ý đến sự sai biệt căn để giữa khởi nguyên của Phật giáo từ Ấn Độ
(View: 16879)
Trăng bồng bềnh trên ngàn thông Và thềm đêm vắng lạnh, khi âm xưa trong veo từ các ngón tay anh đến. Giai điệu cổ luôn khiến người nghe rơi nước mắt, nhưng nhạc Thiền ở bên kia tình cảm.
Quảng Cáo Bảo Trợ