Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
16,263,166
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250Logo-Hanh-Huong-AD-2019-tron-250

Thường Và Vô Thường

Tuesday, March 26, 201918:42(View: 351)
Thường Và Vô Thường

THƯỜNG VÀ VÔ THƯỜNG

Mãn Tự


Hết Củi Thì Lửa Tắt


Giáo Pháp
Đức Thế Tôn Như Lai truyền lại có hai cấp độ là Thường và Vô Thường. Tuy nhiên từ lâu những bậc tu hành hay những luận giải của các bậc Tôn Túc chỉ nói đến Vô Thường còn Thường thì không thấy nói đến.

Nói đến Vô Thường thì có bài kệ bốn câu của vị Thiền Sư người Việt chúng ta, mà hầu hết giới tu hành hiện tại đều tâm đắc đó là:

Nguyên văn:

Thân như điện ảnh, hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch nghĩa:
Thân như ánh chớp có rồi không
Vạn vật xuân xanh thu héo tàn
Nhậm vận thịnh suy không sợ hãi
Thịnh suy như sương trên ngọn cỏ

 Với bài kệ ở trên chắc chắn vị Thiền Sư đã ngộ ra lý Vô Thường. Tu hành mà ngộ được lý Vô Thường thì thế gian không còn ràng buộc, không còn lo sợ sự Vô Thường sanh diệt đến đi, đã dứt được phiền não thế gian Tâm được nhẹ nhàng an lạc giải thoát. Đã đứng trên nhân gian, đã thấy được chân đế, được thế gian tôn trọng cúng dường.

Thật vậy, đó là cấp độ mà người tu hành mong cầu chứng ngộ, dù vậy khi đến đó mà không xả bỏ, không tiếp tục tinh tiến dũng mãnh đi lên, không được Như Lai quán đảnh, thỏa mãn với sự mong cầu và an trụ ở đó thì không thể nào thấy được, chứng được Pháp Thường Trụ, dù rằng từ Pháp Vô Thường đến chứng Pháp Thường Trụ chỉ cách nhau một đường tơ. Tuy nhiên muốn bước lên chứng Pháp Thường Trụ thì cần phát đại nguyện, phải có Tâm dũng mãnh, phải dám hi sinh,  phải có đại nhẫn, phải đầy đủ phẩm hạnh, phải nguyện độ tận chúng sinh làm cứu cánh, giống như phẩm Bồ Tát sơ Pháp Tâm trong kinh Hoa Nghiêm vậy.

Từ giác ngộ được Pháp Vô Thườngquyết Tâm tu học để chứng được Pháp Thường Trụ thì phải tu học như thế nào?  Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Thế Tôn Như Lai thuật lại tiến trình cầu Pháp Thường Trụ của Ngài. Vì ngộ ra lý Vô Thường của Vạn Pháp, không lưu luyến, từ bỏ thế gian đi vào rừng sâu núi thẳm làm một vị tiên nhân cô độc để mong tìm cầu Pháp Thường Trụ. Vì xa lánh nhân gian nên sáu căn không tiếp xúc sáu trần.  Ở trong môi trường vắng lặng như vậy Ngài dùng tất cả thời gian để thiền định trầm tư mong cầu giác ngộ Pháp thường trú. Không bằng lòng với hai câu kệ mà Ngài ngộ được là: “Chư hành Vô Thường là Pháp sinh diệt” . Với Tâm  thệ nguyện rộng lớn của Ngài là độ tận chúng sanh thì Pháp Vô Thường không đủ trí tuệ để độ được. Thiền định trầm tư như vậy qua không biết bao nhiêu thời gian, dù vậy vẫn không có một chút ánh sáng nào lóe lên. Cho đến một ngày Ngài chấp nhận xả bỏ tính mạng cho quỷ La Sát ăn để học được hai câu kệ mà từ lâu Ngài mong cầu đó là “Sinh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui”( muốn hiểu thêm đoạn kinh này hãy tìm đọc kinh Đại Bát Niết Bàn của hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch)

Đức Thế Tôn chấp nhận hy sinh Thân mạng để cầu được Pháp Thường Trụ bất sinh bất diệt rồi dạy lại cho chúng sanh. Từ chư hành Vô Thường, là Pháp sinh diệt cho đến “Sinh diệt -  diệt rồi, tịch diệt là vui”

Như vậy, từ Pháp Vô Thường đến Pháp Thường Trụ bất sanh bất diệt chỉ cách nhau một bước, khi còn đứng ở Pháp Vô Thường sinh diệt thì thấy có hai là Thường và Vô Thường. Tuy nhiên,  khi Sinh Diệt đã Diệt thì không còn Thường hay Vô Thường gì hết mà là Chân như bất sanh bất diệt vậy. Pháp gì là Pháp Thường Trụ bất sanh bất diệt? Chính là “Chư hành Vô Thường là Pháp sinh diệt”

Tu hành để chứng Pháp Thường Trụ bất sanh bất diệt thì trong Kinh Đại Bát Niết Bàn Đức Thế Tôn tu “Diệt - Sinh Diệt” mà chứng. Trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật Ngài dạy chư vị tu sĩ vô sở đắc, vô sở trụ hay trong Kinh Bát Nhã Tâm Kinh dạy Đi qua - Đi qua. Tuy từ ngữsai biệt nhưng ý nghĩa giống nhau là cùng đi tới Cứu Cánh chứng Pháp Thường Trụ bất sanh bất diệt.

Tại sao có sự sai biệt từ ngữ như vậy? Diệt - sinh diệt. Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn là Ngài thuật lại bổn sự hành trang tu hành của Ngài. Đức Thế Tôn không có thầy, những gì Ngài thấy được, giác ngộ được là do công phu tu hành tìm cầu trong vô lượng kiếp, vô lượng thời gian, xả bỏ Thân thể hình hài không thể tính đếm mới có được. Còn Kinh Bát Nhã Ba La Mậtphương tiện diệu dụng của Đức Như Lai chỉ dạy cho các bậc tu sĩ nhị thừa và sơ Pháp Tâm Bồ Tát. Tại sao Ngài không dạy thẳng là muốn chứng Pháp Thường Trụ bất sanh bất diệt thì Diệt - sinh diệt là xong, mà phải dạy sáu Ba La Mật rồi thêm bốn Ba La Mật nữa. 

Với trí tuệ không ngăn ngại, Đức Như Lai quan sát chúng sanh cùng các vị tu sĩ đang ngôi trước mặt Ngài nghe giảng Pháp, học Pháp. Ngài thấy rằng tất cả chúng sanh cùng các vị tu sĩ trước kia cùng đồng thời với Ngài mà bây giờ Ngài đã bước lên ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Còn hầu hết chúng sanh đang chìm đắm trong Vô Minh, sinh tử, chỉ có một số ít biết tu hành thì đang ngồi trước Ngài nghe Ngài giảng Pháp. Vì thấy rõ sự sai biệt về ý chí, quyết tâm, đại nguyện, căn cơ … giữa Ngài và các vị tu sĩ nên Đức Thế Tôn không thể dạy thẳng được là “Diệt - Sinh Diệt” thì liền chứng bất sanh bất diệt. Để thích hợp với trình độ căn cơ của các vị tu sĩ từ “Diệt - Sinh Diệt” Đức Như Lai chia thành sáu Ba La Mật là sáu Bát Nhã Ba La Mật cộng thêm bốn Ba La Mật phụ giúp thành mười Ba La Mật. Cứu cánh mười Ba La Mậtvô sở đắc, vô sở trụ. Tại sao phải vô sở đắc, vô sở trụ thì mới chứng được Pháp bất sinh bất diệt. Đức Như Lai thấy rằng tất cả chúng sanh đều chấp chặt vào Thân - Tâm đang có, đâu biết rằng Thân - Tâm này không thật, nó do nhân duyên hợp thành, chính cái nhân cùng cái duyên hợp thành đó Phát sinh từ ô nhiễm. Và khi nó nhận thức đối tượng thì cũng chính là từ cái ô nhiễm đó, vì vậy nó thấy thế giới này không trung thực. Thí dụ cái nghe, Cái nghe thì gồm có âm thanh văn tựlời nói, trong ba cái đó nếu có một cái vượng lên thì thế gian chấp nhận và quên hai cái khác, thí dụ có một người lời nói thô ráp, văn từ cục mịch mà âm thanh thì du dương, do âm thanh du dương nên thế gian tán tụng và bỏ qua hai cái khác, còn văn tựlời nói cũng vậy, đó là sự ô nhiễm của cái nghe, các căn khác cũng vậy.

 Do ô nhiễm như vậy nên không thể “Diệt - Sinh Diệt” để chứng “Bất Sinh Bất Diệt” mà phải là mười “Ba La Mật” và vô sở đắc, vô sở trụ. Tại sao phải vô sở đắc, vô sở trụ? Vì nếu chứng đắc rồi trụ ở Ba La Mật nào thì không thể tiến lên Ba La Mật kế tiếp. Thí dụ bố thí là một trong sáu Ba La Mật đầu tiên, nếu có vị tu hành đúng theo Ba La Mật có nghĩa là “Bố Thí Bất Trụ Tướng” như Kinh Kim Cang giảng dạy. Tu hành bố thí đúng như Pháp thì vừa có phước đức và công đức, Phước đức chuyển hóa một phần Thân ô nhiễm, còn công đức chuyển hóa một phần Tâm tham.  Do chuyển hóa một phần ô nhiễm của Thân nên Thân được khinh an nhẹ nhàng, do chuyển hóa một phần Tâm tham nên Tâm được an lạc, trí tuệ phát sinh. Vị tu hành trải nghiệm qua thành quả đó thì  rất dễ bị chứng đắc an trụ, vì nó vượt qua tất cả những gì thế gian có, nên nó rất là thù thắng. Tại sao nó thù thắng vượt lên trên thế gian? Vì tự nó có, nó không vay mượn, không lệ thuộc ngoại cảnh, nên người thế gian không làm sao biết được. Dù nó thù thắng siêu việt như vậy, tuy nhiên nếu không lấy đó làm sở đắc rồi an trú ở đó thì không thể nào bước lên được Ba La Mật thứ hai là Giới. Mỗi Ba La Mật tiếp theo thì càng siêu việt thù thắng hơn lên nên phải vô sở đắc, vô sở trụ là vậy.  Do Thân - Tâm chúng sanh nhiều tầng  ô nhiễmvô lượng kiếp luân hồi, nên công dụng mười tầng Ba La Mật để chuyển hóa sự ô nhiễm từ thô đến tế, đến vì tế, cho đến cùng cực vì tế của cái Thân nặng nề, còn Tâm cũng vậy, được giải phóng tất cả sự trói buộc từ thô đến tế cho đến cùng cực vì tế. Cho đến không còn gì để trụ để đắc nữa, tức là “Sinh Diệt Đã Diệt”. Ngay lúc “Sinh Diệt Đã Diệt” thì Pháp Thường Trụ “bất sanh bất diệt” hiện tiền. Vậy Pháp gì là Pháp bất sanh bất diệt Thường Trụ? Chính là Pháp Sinh Diệt, vì Sinh Diệt đã Diệt thì không còn hai Pháp nữa.

Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đức Thế Tôn thuyết giảng có hai phần một là Thuyết Thông một là Tông Thông. Thuyết ThôngThế tục đế là giảng dạy cho hàng sơ cơ, còn Tông Thông là giảng cho hàng có trí tuệ đã thấy Pháp hay là Đệ Nhất Nghĩa Đế, hay thần chú Tâm Kinh câu đầu là “Sắc bất dị không, không bất dị sắc” là Thuyết Thông để phân tích giảng giải cho các vị sơ cơ. Còn câu thứ hai là “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” là Đệ Nhất Nghĩa Đế, là chỉ thẳng vào Tâm không qua trung gian giải thích hãy phân tích. Về Tông Thông thì phải là những vị Bồ Tát tu hành đã có trí tuệ đã thấy Pháp thì mới nhận ra được. Vì sao Đức Như Lai dùng cả Tông Thông và Thuyết Thông để thuyết giảng  Kinh Bát Nhã Ba La Mật? Thật ra các vị tu sĩ nhị thừa đã theo Đức Thế Tôn hơn hai mươi năm, đã tu hành đã chứng đắc giáo Pháp Tứ Thánh Đế, có nhiều vị chứng đắc Niết Bàn tịch tịnh hay Tứ Thánh Quả. Tuy nhiên, khi theo học với Thế Tôn thì các vị đó đều là giáo chủ một phương, hay là thông minh tuyệt đỉnh, hay là có những hạnh tu hành khó có người thực hành được, hay là Thần thông siêu việt v.v. Trước khi theo học với Thế Tôn thì các vị tu sĩ đó đều là Bà La Môn, thông thuộc giáo Pháp Bà La Môn, từng là đạo sư giảng dạy giáo lý Bà La Môn, nên cho dù các vị đó có chứng đắc Tứ Thánh Quả thì nơi sâu xa ký ức lưu trữ giáo lý Bà La Môn vẫn còn chưa được xả ly. Vì vậy, bộ Kinh Bát Nhã Ba La Mật Thế Tôn để các vị đó trình bày diễn giải toàn bộ giáo lý  Bà La Môn mà từ nơi sâu xa các vị đó chưa xả ly được.

Mãn Tự
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 50)
Từ Bi là căn bản của đạo, căn bản của tất cả pháp lành, như đã được Đức Phật thuyết trong kinh Đại Bát Niết Bàn:
(View: 65)
Buông lung là lối sống buông thả, phóng túng, chạy theo ham muốn dục vọng, thỏa mãn sở thích mà không màng đến hậu quả tổn mình và hại người.
(View: 200)
Nguyên bản: Overview of the Path to Enlightenment. Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma. Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 183)
Nguyên bản: Deity Yoga. Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma. Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 83)
Tác phẩm Bodhicharyavatara có đề cập rằng “Trong quá khứ, tôi đã hãm hại những chúng sanh khác như thế, vì vậy nên việc chúng sanh hại tôi là xứng đáng.
(View: 162)
Mọi chuyện lâu dần cũng chóng qua, Băn khoăn chi lắm khổ thân mà! Khi khen lòng mát đâu còn lạ, Lúc giận trí mờ hẳn cách xa.
(View: 155)
Đức Phật đã dạy: “Trưởng dưỡng động cơ tâm Bồ đề thanh tịnh là con đường chân chính chứng ngộ Phật quả.
(View: 169)
Con người sống và làm việc để mưu cầu cho bản thân cùng gia đình được an vui, hạnh phúc.
(View: 118)
Nhận thức (tiếng Anh: cognition) là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ...
(View: 167)
Con đường Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đi qua và chỉ dạy lại cho chúng ta, hàng hậu học hãy kiên trì bền chí đi theo con đường đó là chuyển hóa thân tâm...
(View: 223)
Tắm Phật là một lễ hội văn hóa tâm linh của tất cả mọi người con Phật trên khắp thế giới. Nghi lễ này rất quan trọng trong hầu hết các truyền thống Phật giáo.
(View: 127)
Einstein đã nói khoa học mang trong mình nó một tính tôn giáo, tính tín ngưỡng vũ trụ:
(View: 194)
Một khi tâm đã trụ vững chãi vào hơi thở, ta mới cố gắng để tách biệt tâm ra khỏi đối tượng của nó -khỏi chính hơi thở đó.
(View: 178)
Tâm từ được phát huy trong mọi ứng xử thuận nghịch của Phật sự để bốn chúng luôn lợi ích, đạo pháp mãi hưng long.
(View: 240)
Nguyên bản: Examining How Being and Things Exist; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 231)
Kho tàng kinh điển, thi kệ của Đạo Phật truyền lại cho nhân gian biết bao châu ngọc để suy ngẫm, tu tập, thưởng thức, mài giũa …
(View: 292)
Sanh tử là chu kỳ chuyển hóa Sống-Chết và Chết-Sống của chúng sanh xảy ra liên tục trong vòng Luân Hồi, tùy theo luật nghiệp báo hay nhân quả.
(View: 258)
Một trong những phẩm chất đáng khen ngợi đối với một bệnh nhân theo bản kinh trong Tăng nhất A-hàm là lòng Từ (mettā), là một trong bốn tâm vô lượng hay bốn phạm trú (brahmavihāra) thường được đề cập trong kinh điển Phật giáo: Từ, bi, hỷ, xả.
(View: 245)
Một lần, tại ngoại ô thành Tỳ-Xa-Ly, nơi có một vườn soài rộng lớn mà kỹ-nữ Ambapali đã cúng dường để tăng-đoàn của Đức Thế Tôn làm chỗ an cư tu học, y-sỹ Kỳ-Bà
(View: 354)
Bình bát cơm ngàn nhà, thân chơi muôn dặm xa, mắt xanh trông người thế, mây trắng hỏi đường qua.
(View: 271)
Bi mẫn là chìa khóa để thành tựu một trình độ sâu xa hơn của đạo đức, tuy thế chúng ta có giúp đở người thế nào khi chính chúng ta bị bao vây bởi những thái độ sai lầm?
(View: 229)
Nguyên bản: Focusing the Mind. Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma. Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 196)
Tha thứ là phương thức giáo dục, cho người phạm lỗi cơ hội cơ hội sửa sai, phục thiện. Làm người ai mà không lỗi, nên tha thứ cho người cũng là tha thứ cho mình.
(View: 171)
Có rất nhiều lợi ích của thiền định ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ cả về thể xác lẫn tâm thần. Một số ảnh hưởng có thể bị xem làập luyện như thiền
(View: 197)
Đức Phật dạy rằng, bất cứ một người nào dù tầm thường đến đâu cũng có thể giải thoát được, vì chánh niệm, nguyên liệu căn bản của giải thoát, bao giờ cũng có sẵn trong mỗi chúng ta.
(View: 150)
Theo Đạo Phật, Giáo Pháp tinh khiếtkỳ diệu là loại y dược toàn hảo nhất cho một tâm trí suy nhược, cũng như một cơ thể đau yếu.
(View: 221)
Làm sao có thể sống hạnh phúc trong thế giời đầy ngã chấp như hiện nay? Để được như vậy, chúng ta bớt chấp. Khi chúng ta bớt chấp, chúng ta bớt phiền muộn, bớt đau khổ.
(View: 205)
Quan niệm tái sinh, luân hồi (saṃsāra) của sinh mạng không phải chỉ riêng có trong tư tưởng Phệ-đà, trong Phật giáo hay Ấn Độ giáo,
(View: 225)
Người ta hay nói đến chữ tu tâm. Điều này rất đúng. Con người hay xã hội có tốt hay xấu đều là do cái tâm có tốt hay xấu mà ra.
(View: 588)
Thế mới biết trăm sông rồi cũng đổ về biển, dung hòa một vị mặn của đại dương; muôn pháp cùng đổ vào biển tuệ, thuần một vị giải thoát.
(View: 222)
Trong pháp hội Hoa Nghiêm, ngài Phổ Hiền Bồ Tát sau khi khen ngợi công đức thù thắng của Phật đã nói với đại chúng rằng muốn trọn nên công đức như Phật thì ...
(View: 244)
Một ngày như mọi ngày, không có gì thay đổi, giống hệt như ngày hôm qua, không có gì vui, không có gì mới, là nỗi kinh hoàng của con người.
(View: 196)
Trên con đường tu tập giải thoát, ta phát triển một khả năng sống an lạc và tĩnh lặng. Chúng ta sẵn sàng phơi bày những khổ đau của mình và học chấp nhận, thương yêu.
(View: 225)
Đừng chấp chùa to hay chùa nhỏ vì chùa to hay chùa nhỏ còn tùy thuộc vào nguyện lực của các vị tăng và đại chúng nơi đó, tùy thuận theo nhân duyên quả của các vị và chúng từ nhiều đời kiếp.
(View: 399)
Tọa lạc dưới chân ngọn núi tuyết, khu vườn xinh đẹp với những thảm cỏ xanh non trải dài trở nên nổi tiếng hơn khi câu chuyện hạ sanh của Thái tử Siddhartha Gautama được lan truyền khắp xứ.
(View: 213)
Đức Phật biết rằng sự chạy đuổi không mỏi mệt theo hạnh phúc trong dục lạc thế gian khiến chúng ta bị trói buộc vào cái vòng tận cùng của nhân và quả của yêu và ghét.
(View: 331)
Nguyên bản: Extending Help; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma. Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 159)
Tất cả mọi người trong xã hội đều kiếm tìm hạnh phúc. Hòa bình, an lạc, thanh tịnh, thư giãn, tự tạihạnh phúc là những điều chúng ta muốn nói đến ở đây.
(View: 190)
Mặc dù người ta thường cho rằng Phật giáotôn giáo khổ hạnh, thực ra sự khổ hạnh đã được Đức Phật thực hành rồi từ bỏ trước khi Ngài đạt tới giác ngộ.
(View: 567)
Pháp vận hành theo pháp, chẳng vì ta. Chẳng vì ta mà hoa nở hoa tàn. Nếu không can thiệp thì nó vậy là nó vậy. Sự phân biệt chính là can thiệp, dính mắc.
(View: 254)
Ở đây, Bây giờ, Tỉnh giác. Đó là căn bản của con đường thiền định và chìa khóa để chuyển hóa cuộc sống của mỗi người. Trong cuốn sách Một Trái Tim Bình An.
(View: 379)
Này Tỷ-kheo, một bậc hiền trí với đại trí tuệ không có ý định làm tổn hại chính mình, hoặc làm tổn hại kẻ khác, hoặc làm tổn hại cả hai.
(View: 507)
Sinh và tử, tái sinhtrung ấm, cách nào để cúng vong… đó là các quan tâm lớn của nhiều Phật tử. Bài viết này sẽ dựa vào Kinh để khảo sát những vấn đề đang được Phật tử quan tâmthảo luận.
(View: 254)
Khó giữ được tâm an khi con ngườithế giới chung quanh thường xuyên chuyển động, loạn động…
(View: 410)
Nguyên bản: Refraining from Harm. Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 236)
Người Sri Lanka không muốn nghe về những lầm lỗi hay thiếu sót của người tu. Trong mối liên hệ tâm linh giữa người tu và hàng cư sĩ Phật giáo Á châu...
(View: 440)
Nếu bạn sẵn lòng làm bất cứ điều gì để tìm được con đường thoát khỏi khổ đau -và điều đó có nghĩa là phải đối mặt với...
(View: 289)
Cuộc đời con người bị giới hạn giữa hai đầu sanh và chết. Cuộc đời giới hạn bởi sanh và chết ấy có ý nghĩa gì?
(View: 176)
Nguyên bản: Discovering how trouble starts and stops. Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma. Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 362)
Khó giữ được tâm an khi con ngườithế giới chung quanh thường xuyên chuyển động, loạn động…
Quảng Cáo Bảo Trợ