Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,020,998
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Tản Mạn Vu Lan

25 Tháng Chín 201708:00(Xem: 1170)
Tản Mạn Vu Lan
TẢN MẠN VU LAN

Diệu Liên Lý Thu Linh

Tản Mạn Vu Lan

 

   Mỗi mùa Vu Lan đến tôi đều trải qua cảm giác ăn năn, hối hận vì đã không phải là đứa con có hiếu khi cha mẹ còn ở trên cõi đời.

   Trong Kinh Tăng Chi Bộ (Chương 2, Phẩm IV, câu 2), chúng ta biết rằng không dễ gì trả được ơn cha mẹ đối với những gì họ đã làm cho ta:

   Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; . . . nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, dạy dỗ chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này.

 Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với các bậc cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn các vị ấy an trú vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cha.

   (Hòa Thượng Thích Minh Châu, Việt dịch)

      Mỗi lần đọc đoạn kinh này là tôi buồn nẫu ruột.  Buồn vì nhận thấy mình thật là một đứa con bất hiếu nhất trên đời.  Biết đến bao giờ tôi mới làm được một phần ức, một phần tỉ của lời Đức Phật khuyên dạy.

   Mồ côi cha, tôi chỉ biết về cha qua những lời kể của mẹ.  Dĩ nhiên những chuyện mẹ kể, đều bằng giọng vui vẻ, không trách hờn, dầu đó là chuyện ba tôi thường xuyên vắng nhà.  Có khi còn về kể cho mẹ tôi nghe rằng ông đã đi những đâu, gặp cô đào này, ả thanh nữ kia.  Vậy mà mẹ tôi không ghen hờn mới là lạ.  Mẹ thường nói một cách an phận: “Đàn ông mà, miễn là cuối cùng rồi họ cũng trở về với gia đình”.  Đúng là ba tôi có trở về, nhưng khi người đã không còn đủ sức để “tung hoành” nữa.

  Dĩ nhiênchúng tôi không thể rộng lượng được như mẹ.  Những khi bị cha dượng đối xử không tử tế, thì chúng tôi lại than trách, “Phải chi ba đừng phung phí sức khỏe thì đâu phải chết sớm, để con cái phải lâm vào cảnh cha ghẻ, con vợ…”  Cả khi đã trưởng thành, khi đã ra đời có thua anh, kém em, chúng tôi cũng than, “Tại ba phá hết gia tài của nội, nên con cái không được đi học đàng hoàng, phải sống thiếu thốn, nghèo nàn…”  Than trách mãi, đến nỗi có lúc mẹ tôi phải kêu lên, “Thôi, tụi con hãy tha cho người chết, dầu gì ổng cũng không còn.  Trước khi mất ông cũng đã hối hận vì sống thiếu bổn phận làm cha rồi...” 

   Đã trách cha, thì chúng tôi cũng không thể tha cho mẹ.  Dĩ nhiênchúng tôi không bao giờ dám nói trước mặt mẹ, nhưng sau lưng bà, chúng tôi cũng trách cứ, “Phải chi má đừng đi thêm bước nữa…”  “Phải chi má gửi anh chị em mình vào cô nhi viện có lẽ còn tốt hơn...” 

   Và mỗi người chúng tôi đã bắt mẹ phải trả giá bằng cách riêng của mình.  Anh Hai tôi khi nhỏ ngoan hiền bao nhiêu thì khi lớn lên, lập gia đình rồi, anh lại trở tính.  Mẹ tôi có rầy la, thì anh cười, trả treo rằng:  “Ủa, con theo gương của ba mà má.  Con hơn cha nhà có phước mà”.  Chị Ba tôi hiền như cục bột, vậy mà có lúc cũng không kiềm chế được để nói những câu làm đau lòng người, “Má nghĩ sao mà giữ năm đứa trẻ bên mình khi không tiền, không bạc.  Tụi con vào cô nhi viện, chắc còn tốt hơn…”  Chị Tư không lập gia đình vì không muốn rơi vào hoàn cảnh giống mẹ tôi.  Anh Năm thì luôn “đối xử với mấy đứa em sau bằng nửa trái tim…”  Tôi thì luôn giữ một khoảng cách nào đó với mẹ. Và khi có dịp thì cũng trả treo để mẹ tôi phải nhớ đến ‘lỗi lầm’ của mình.  Như khi tôi quyết định bỏ việc, bỏ gia đình, bỏ tất cả để về Việt Nam, mẹ tôi đã ngăn cản bằng những giọt nước mắt, những lời thắm thiết, “Má và anh chị em đều ở đây, mà con trở về đó làm gì?”.  Nếu là đứa con hiếu để khác, thì chắc phải đau lòng, xót dạ lắm.  Đằng này tôi cảm thấy hả hê khi thấy giờ Mẹ tôi mới biết đến sự ‘quan trọng’ của mình.  Tôi đã không bỏ lỡ cơ hội để sát muối thêm vào vết thương của người, “Hồi nhỏ, con cần má thì không thấy má đâu, giờ con ở bên Má thì ích lợi gì…”.  Trước sự tàn nhẫn của tôi, bà đành lặng thinh. 

   Rồi khi mẹ tôi già hơn nữa, đôi khi chúng tôi không khỏi thấy bà là gánh nặng của mình.  Tôi đã nhiều lần vờ bận công việc gì đó, để vào phòng riêng đóng cửa lại, để không phải nghe mẹ tôi kể lể những câu chuyện đời xưachúng tôi đã nghe “cả trăm lần”.  Chúng tôi không có thì giờ, không có kiên nhẫn với người già.  Chúng tôi than thở, “Tôi nghiệp chi Ba, phải trông coi Má không được đi đâu hết”. Chúng tôi sợ mình hết thời gian đi đây đi đó mà không nghĩ đển việc thời gian mẹ còn ở bên chúng tôi còn ngăn ngủi hơn rất nhiều.

   Tôi không con, nên không hiểu nỗi khó nhọc của cha mẹ nuôi con như thế nào.  Mãi đến những năm gần đây, khi ở gần cháu, tôi mới thấm thía sự khó nhọc đó.  Cái gì mà cả nhà đang vui vẻ như vậy, chỉ cần nó té một cái, khóc ré lên là mọi hoạt động, mọi nghĩ suy đều dừng lại và hướng đến nó.  Nó đau, chúng tôi còn đau gấp bội.  Rồi chỉ có chuyện nó mấy ngày không chịu đi “ị” thì gia đình là một đám giặc.  Mẹ thì đòi đánh, cha bức đầu bức cổ than, ‘Sao con làm khổ cha mẹ dữ vậy’.  Còn bà thì nhất quyết phải dỗ ngọt đến cùng.  Ba phương pháp xung đột nhau, nên trước khi con làm được điều gì thì phiền não, hờn trách đã trùm lên đầu những người lớn.  Vậy mà buổi chiều, khi con đã làm xong ‘nhiệm vụ’, thì ba ra cười tỏn tẻn, làm lành với bà.  Mặt mẹ cũng hết căng, và bà thì dĩ nhiên là thở một hơi thở dài.  Hình như cái gì liên quan đến con đều là cả một vấn đề.  Chuyện ăn uống:  Sao cho nó ăn cơm hoài vậy?  Không đổi món cho con?  Sao ăn mỡ nhiều quá vậy? Vân vânvân vân.  Chuyện coi truyền hình:  Sao cho nó coi phim bạo lực dữ vậy?  Sao coi nhiều giờ quá vậy?...  Chuyện tắm rửa:  Không được ngâm con trong nước lâu vậy.   Coi chừng xà phòng vào mắt em.  Lạnh rồi, pha nước nóng cho em tắm…  Chuyện chơi đùa:  Mỗi tối phải đọc sách cho con trước khi đi ngủ chứ.  Sao không dẫn con đi chơi ra ngoài công viên cho nó thoáng…  Chuyện học hành:  Thôi đừng ép nó đi học sớm, nó còn nhỏ quá mà.  Trường đó hình như mấy cô giáo đánh trẻ dữ lắm đó…

   Hình như có cả trăm ngàn vấn đề phải để tâm đến để có thể giáo dục một đứa trẻ thành một người tốt, một người có ích cho xã hội như cha mẹ, ông bà mong muốn.  Đứa con lớn lên không hư hỏng, họ thở phào nhẹ nhỏm.  Đứa con hư hay cá tính thì suốt cuộc đời cha mẹ, ông bà là những ưu tư phiền muộn.

   Những người bạn trẻ ơi!  Hãy thử vào một nhà trẻ nào đó, ở đó đôi, ba giờ.  Không ở đó cả ngày, cả tuần, cả tháng, thì chắc rằng bạn cũng sẽ trở về nhà, lặng lẽ nhìn cha mẹmỉm cười, mà muốn đến cầm tay, ôm hôn lên má để nói:  Cha mẹ nuôi con thật là cực khổ trăm bề.  Con mang ơn cha mẹ nhiều!

Diệu Liên Lý Thu Linh

Vu Lan 2017

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 9)
Thiền chỉ (samantha) và Thiền quán (vipassana) là hai nội dung lớn trong vấn đề “phát triển của tâm” được đề cập trong Kinh tạng Nikāya.
(Xem: 45)
Ngài Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?” Ngài Nam Tuyền đáp “Tâm bình thường là đạo”, nói theo chữ Hán là “bình thường tâm thị đạo”.
(Xem: 98)
Tuệ quán vô thường sẽ giúp thấy rõ tính chất duyên sinh, vô ngã của vạn pháp. Không có bất cứ cái gì trường cửu, bất biến mà...
(Xem: 154)
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: Này Thiên tử! Nếu có Bồ-tát biết tất cả các sanh mà cũng chẳng sanh, cũng biết tất cả sanh tử của chúng sanh.
(Xem: 156)
Bố thí, cúng dường là hành động làm phước thiện, theo luật nhân quả, nó là điều kiện thiết yếu để ta tiêu trừ đau khổ...
(Xem: 242)
Sau 25 năm, tôi đến lại nước Nga để thăm viếng lần nầy là lần thứ 6. Lần đầu vào năm 1994, nghĩa là mới chỉ sau 3 năm khi Liên bang các nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết bị sụp đổ...
(Xem: 133)
Theo kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, Bồ-tát Quán Thế Âm có 33 ứng hóa thân, từ thân Phật, Độc giác, Bồ-tát…
(Xem: 152)
Đức Phật cũng đã dạy người Kalama qua Kinh Kalama Sutta (AN 3.65), bản dịch của HT Thích Minh Châu viết, trích...
(Xem: 220)
Từ sinh hoạt quốc gia, chính trị đảng phái, cho đến cả tôn giáo (với nhiều tai tiếng chấn động niềm tin của tín đồ), người ta càng nhìn rõ mặt trái của lòng tham, của bản ngã.
(Xem: 136)
Con đường hoằng pháp thành công của Đức Phật kéo dài bốn mươi lăm năm theo quan điểm Nam truyền.
(Xem: 119)
Súc vật, nhất là những vật nuôi để trợ giúp cho con người trong lao động sản xuất như trâu bò vốn được nông dân thương quý, xem như thành viên của gia đình.
(Xem: 124)
Từ thời Đức Phật, gọi là y ca sa, người sau gọi là “áo giải thoát, còn gọi là Phước điền y”.
(Xem: 231)
Những ai có lòng từ mẫn chân thành chia sẻ tịnh tài hay tịnh vật dù ít dù nhiều tùy khả năng, thì việc bố thí nầy được xem nhưQuảng Đại Tài Thí...
(Xem: 147)
Hơi thở là sự tiếp nối chuỗi cuộc sống trong luân hồi sinh tử của nghiệp báo. Hơi thở tượng trưng cho sự sống. Hơi thở tạo nên...
(Xem: 126)
Trong khi thực hành thiền định, hành giả bắt đầu điều phục thân và điều phục tâm
(Xem: 170)
Trước thời Thế Tôn, nhân loại đã biết và nói đến vô thường của các sự vật hiện tượng. Tuy vậy, cái thấy biết về vô thường này chưa toàn triệt,
(Xem: 121)
Kinh MN 1 (Mulapariyaya Sutta) là Kinh khởi đầu Trung Bộ, được Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Pháp Môn Căn Bản.
(Xem: 208)
Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, Có chi phải ưu phiền.
(Xem: 129)
Đạo Phật chủ trương hòa bình, lấy từ bi hóa giải hận thù, lấy sự xả buông để khắc chế tham ái. Chiến tranh, xung đột, bạo động là biểu hiện rõ ràng của tham lam, sân hậnsi mê.
(Xem: 127)
Đối với đạo Phật, ba ngôi Tam bảo rất quý báu, hiếm có khó gặp ở thế gian nên người con Phật (chư Tăng, Ni, Phật tử nói chung) phải kính lễ, tôn thờ.
(Xem: 191)
Chúng ta được dạy, nếu khéo lắng nghe, ta sẽ được trí tuệ. Nếu không biết lắng nghe, ta sẽ không được gì cả.
(Xem: 771)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 226)
Mắt ở đây phải hiểu là cách nhìn, cái mà mình cảm thấy, cái mà mình cho rằng, cái mà mình biết do nhìn thấy
(Xem: 167)
Hai từ " buông bỏ " thời buổi bây giờ là một thành ngữ nghe vô cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age).
(Xem: 397)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 205)
Các nhà hiền triết Ấn Độ giáotu sĩ Phật giáo đã nhận diện tầm quan trọng và lợi ích sức khỏe khi một hành giả thực tập thiền đều đặn trong mỗi ngày.
(Xem: 241)
Theo tuệ giác của Thế Tôn, nếu các căn gặp cảnh trần vừa ý, thọ lạc rồi sinh tâm yêu thích, đắm nhiễm thì đó là cội nguồn của mọi khổ đau.
(Xem: 174)
Kiếp sống này biến mất rất nhanh chóng Giống như thứ gì đó được viết trên mặt nước với một que cây -ĐỨC PHẬT-
(Xem: 202)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 202)
Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời.
(Xem: 243)
Trong công việc khó có thể tránh khỏi hoàn cảnh bất lợi, nhiều người sợ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, cảm thấy nghịch cảnh là một cú sốc lớn.
(Xem: 188)
Đối với hàng Phật tử tại gia, năm giới là năm điều học căn bản để tạo dựng nên một nếp sống đạo đức, tốt đẹplành mạnh.
(Xem: 450)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 254)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 234)
Duyên khởiđạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 262)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 173)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 404)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 217)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 263)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 274)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 248)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 344)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 278)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 366)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 280)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 214)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 358)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 269)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
Quảng Cáo Bảo Trợ