Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,848,933
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Thong Dong Trước Tám Ngọn Gió Đời

13 Tháng Mười 201706:28(Xem: 1528)
Thong Dong Trước Tám Ngọn Gió Đời

THONG DONG TRƯỚC TÁM NGỌN GIÓ ĐỜI

Thích Nữ Tịnh Quang

Thong Dong Trước Tám Ngọn Gió Đời


Chúng ta thường bị nhiều thứ ràng buộc từ đời sống, chịu sự chi phối không những đối với cảm thụ vật chất mà còn những quan hệ về nhận thức, tư tưởng khởi nguồn tác động từ bên ngoài và cả bên trong chúng ta. Sự va chạm và phát sinh cảm giác khổ/lạc hay những tư duy đối lập không ngoài sự truy cầu hướng ngoại của tâm; khi tâm thụ động đối với ngoại cảnh là lúc tám ngọn gió đời (bát phong) thổi tâm chúng ta lung lay với những: được/mất, nhục/vinh, khen/chê, khổ/vui (lợi/suy, hủy/dự, xưng/cơ, và khổ/lạc) không lúc nào ngơi.

Có ai trong đờikhông vui vì đuợc, đau vì mất. Ước mơ để được một điều gì đó là bản chất của thế nhân; “sống là tranh đấu”, tranh đấu để sinh tồn là một điều tích cực, bên trong ý nghĩa tích cực lại hàm chứa những tiêu cực. Không phải dễ, khi ta tranh đấu cho ta, cho những người thân của ta, rồi mới nghĩ đến những người khác. Ngoài sự sinh tồn như một con người, chúng ta cũng cần có được một điều gì đó như (với) xã hội loài người cũng không phải đơn thuần, hẳn nhiên là những trở ngại, rồi những nỗ lực để vượt qua; trên con đường vượt qua chúng ta phải đối diện với những nỗi đau để ‘được’, và khi được rồi, chúng ta lại phát sinh tâm lý sợ mất, mất cái mà chúng ta đã dày công tạo dựng, hoặc có thể chưa hài lòng với cái mà chúng ta ‘được’, rồi tiếp tục tranh đấu để ‘đươc’ những cái khác như người …Như thế, đời sống đã trở thành những tháng ngày hoài vọng, tranh đấu và lo sợ với hai chữ: được và mất.

Đối với sự vinh/nhục và khen/chê cũng thế, “chết vinh hơn sống nhục” đã trở thành châm ngôn cho những ai được gọi là ‘quân tử’. Tuy nhiên, vinh và nhục cũng có thể đối với bên này mà không đối với bên khác; và chết để được vinh danh lại trở thành một vấn đề sau khi chết (?) Nguyễn Công Trứ có câu: “Làm trai đứng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông.” Chữ ‘danh’ ở đây, có lẽ nhà thơ muốn nói đến việc ‘làm lợi gì cho đất nước, cho nhân sinh’; có thể, không mang nghĩa là cầu danh hay đánh bóng tên tuổi như những nhà chính trị đã tạo ra những cuộc chiến tranh lịch sử (?). Ngoài nghĩa như trên, vinh/nhục còn mang ý nghĩa về sự thành tựu của một con người trên phương diện xã hội trong những khía cạnh riêng; thành tựu về con đường học vấn, trong kinh doanh làm ăn, trong quan trường chính trị, gặp được một người phối ngẫu có danh vọng v.v… Như thế, sự thành tựu trên khái niệm vinh/nhục hay khen/chê không ngoài nghĩa cầu danh, cầu được tiếng khen, vui với tiếng khen, buồn với nỗi nhục, với những lời chỉ trích, chê bai, hay không được ca ngợi. Và cũng trên phương diện xã hội, khái niệm vinh, nhục, khen, chê vẫn là đạo đức căn bản của thanh danh; chọn cái tốt để lưu danh luôn được cổ xúy.

Ngọn gió vinh/nhục, khen/chê vốn vô hình nhưng công sức của chúng khôn lường đối với tư duy nhận thức chung của con người, chúng theo ta trong suốt cuộc hành trình làm người. Không ai không ưu ái đối với danh-lợi, không ai không đau với những mất mát, tủi nhục…Những cơn gió vinh/nhục/khen/chê cứ thổi lui thổi tới trong thân phận chúng ta như làn gió bốn mùa thay nhau. Chúng ta thường ao ức ở đỉnh cao của vinh quang như người khác và quên rằng tiến trình mà nó đi qua và sẽ tới, Charles Spurgeon nói: “Đừng tưởng rằng đường đến Thiên đàng là lên đỉnh vinh quang, nó thổi bạn xuống thung lũng của sự ê chề.” (“do not dream that the path to heaven is up the hill of honor, it winds down into the valley of humiliation.’) Trên/dưới, vinh/nhục, khen/chê, sướng/khổ là những cặp phạm trù mâu thuẫn cùng đứng với nhau trong thì hiện tại, nhưng tri tưởng khiến ta nghĩ chúng có sự khoảng cách, ngỡ rằng ta đạt được một cái gì đó, hay ta mất một điều gì đó. Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói rằng: “Người ham muốn danh tiếng như đốt hương, khi người ta ngửi được mùi thơm thì cây hương đã tàn rồi.” Như thế, bản chất của danh tiếng hay danh lợi vốn chóng vánh, vô thường, tốt xấu đều chóng vánh vô thường; tuy nhiên, trên mặt hiện tượng chúng vẫn song song tồn tạivận hành trong thế sáng/tối. Vui và khổ cũng bất chợt, chúng đi từ bên ngoài mà chúng ta ngỡ bên trong. Chỉ là những làn gió, “phướng chẳng động mà tâm động”; sự điên rồ của ý thức là chấp ngoại tại như bản ngã thực hữu, và ‘khổ’ vô hình dung xuất hiện.

Trong kinh Lokavipatti Sutta (Kinh Những Bất Thành của Thế Gian), Đức Phật nói về tám Pháp thế gian trong thế giới con người;  một người thực sự có năng lực tu tập, có trí tuệ quán sát sẽ nhận ra được tám pháp kia là tụ tán và thường, và nhân đó không khởi tâm yêu và ghét chúng:

“Đuợc,mất và nhục, vinh

Chê,khen và vui, khổ

Trong thế giới loài người

Là những pháp tùy thuộc

Sinh diệtvô thường

Chúng không ngừng thay đổi.

Biết thế, người trí tuệ

Chánh niệm, quán sát chúng

Là duyên hợp đổi thay

Pháp ưu ái, không động

Không ưu ái, chẳng sầu.

Với thuận cảnh, nghịch cảnh

Đã tiêu mất, không còn

Tuệ giác không trần cấu

Tâm không còn phiền não

Vị ấy hiểu biết đúng

Đã đạt đến siêu việt

Bước tới được Bờ Kia.” (TNTQ dịch Việt)*

Như thế, Trí tuệĐức Phật muốn đề cập đến là sự hiểu biết đúng, đồng nghĩa với tâm không còn bị chi phối bởi trần cấu, phiền não, hay còn bị khuynh đảo bởi tám ngọn gió đời. Người không còn tùy thuộc bởi ‘được, mất, vinh, nhục,khen, chê’ là người không còn vui buồn theo thế gian. Trong cuộc sống có những điều như  ý khiến cho chúng ta vui, những điều bất như ý khiến chúng ta đau buồn;  đối với tài sản, sự nghiệp, gia đình, thanh danh…một đời chúng ta có được, và ngỡ rằng đó phúc báo của ta; nếu chúng thực sự là phúc, là của ta tại sao chúng ta không hưởng thụ mãi được (?), chúng ta có vui tiếp tục khi phải lìa khỏi chúng lúc chúng ta đau yếu, khi cô đơn trên giường bệnh (?). Sự hỉ hả về ‘được’ luôn hàm chứa những niềm khắc khoải về ‘mất’. Bạn đến gần, bạn trong tay tôi rồi đấy, ai có biết rằng bạn sẽ không thay đổi, khi tôi sẽ không phải là tôi bây giờ. 

Nhận thức thực tính hai mặt của một vấn đề, người tu tập sẽ không bị động trước tám ngọn gió mỉa mai của thế gian, ngọn gió thổi rát lòng người và cuối cùng ai cũng đau vì chúng. Khi quán chiếu thâm sâu, chúng ta sẽ đạt được cái nhìn siêu việt, không còn bị chúng thổi tới tấp vào tâm, và khi tâm không còn rung động vì chúng, thực sự chúng ta mới bước tới được Bờ Kia, bờ Niết bàn an tĩnh.                                                                                                                                                                                         Thích nữ Tịnh Quang

 

----------------------------

*Bản dịch Anh ngữ của Ngài Thanissaro Bhikkhu

The Failings of the World

“ Gain/loss,

 status/disgrace,

 censure/praise,

 pleasure/pain:

these conditions among human beings

are  inconstant, impermanent, subject to change.

Knowing this, the wise person, mindful,

ponders these changing conditions.

Desirable things don't charm the mind,

undesirable ones bring no resistance.

His welcoming

& rebelling  are scattered, gone to their end, do not exist.

Knowing the dustless, sorrowless state,

he  discerns rightly,

 has gone, beyond becoming,

 to the Further Shore.”

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 12)
Trong khi thực hành thiền định, hành giả bắt đầu điều phục thân và điều phục tâm
(Xem: 61)
Trước thời Thế Tôn, nhân loại đã biết và nói đến vô thường của các sự vật hiện tượng. Tuy vậy, cái thấy biết về vô thường này chưa toàn triệt,
(Xem: 60)
Kinh MN 1 (Mulapariyaya Sutta) là Kinh khởi đầu Trung Bộ, được Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Pháp Môn Căn Bản.
(Xem: 83)
Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, Có chi phải ưu phiền.
(Xem: 49)
Đạo Phật chủ trương hòa bình, lấy từ bi hóa giải hận thù, lấy sự xả buông để khắc chế tham ái. Chiến tranh, xung đột, bạo động là biểu hiện rõ ràng của tham lam, sân hận và si mê.
(Xem: 69)
Đối với đạo Phật, ba ngôi Tam bảo rất quý báu, hiếm có khó gặp ở thế gian nên người con Phật (chư Tăng, Ni, Phật tử nói chung) phải kính lễ, tôn thờ.
(Xem: 94)
Chúng ta được dạy, nếu khéo lắng nghe, ta sẽ được trí tuệ. Nếu không biết lắng nghe, ta sẽ không được gì cả.
(Xem: 525)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 192)
Mắt ở đây phải hiểu là cách nhìn, cái mà mình cảm thấy, cái mà mình cho rằng, cái mà mình biết do nhìn thấy
(Xem: 103)
Hai từ " buông bỏ " thời buổi bây giờ là một thành ngữ nghe vô cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age).
(Xem: 285)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 124)
Các nhà hiền triết Ấn Độ giáo và tu sĩ Phật giáo đã nhận diện tầm quan trọng và lợi ích sức khỏe khi một hành giả thực tập thiền đều đặn trong mỗi ngày.
(Xem: 207)
Theo tuệ giác của Thế Tôn, nếu các căn gặp cảnh trần vừa ý, thọ lạc rồi sinh tâm yêu thích, đắm nhiễm thì đó là cội nguồn của mọi khổ đau.
(Xem: 122)
Kiếp sống này biến mất rất nhanh chóng Giống như thứ gì đó được viết trên mặt nước với một que cây -ĐỨC PHẬT-
(Xem: 145)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 130)
Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời.
(Xem: 158)
Trong công việc khó có thể tránh khỏi hoàn cảnh bất lợi, nhiều người sợ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, cảm thấy nghịch cảnh là một cú sốc lớn.
(Xem: 128)
Đối với hàng Phật tử tại gia, năm giới là năm điều học căn bản để tạo dựng nên một nếp sống đạo đức, tốt đẹplành mạnh.
(Xem: 340)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 218)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 167)
Duyên khởiđạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 210)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 99)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 344)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 152)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 179)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 206)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 195)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 294)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 202)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 289)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 209)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 180)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 319)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 206)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
(Xem: 381)
Một trong những biệt tài thuyết pháp của Thế Tôn là dùng hình ảnh để ví dụ minh họa chothính chúng dễ hiểu, dễ cảm nhận vấn đề Ngài muốn nói.
(Xem: 311)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ.
(Xem: 215)
Bà mẹ già ngồi ở băng ghế sau chiếc xe hơi bỏ mui màu đỏ sậm đang rẽ quặt xuống xa lộ. Bà ghì chặt lấy cái giỏ đồ ...
(Xem: 301)
Đạo đức là nền tảng luân lý mà bất kỳ thời đại nào cũng cần phải xây dựng, cũng cố và phát triển.Con người nếu khôngđạo đức thì không dùng được.
(Xem: 293)
Hôm nay nhân đọc bản dịch từ Phạn văn ra Việt ngữ nầy của Giáo Sư Lê Tự Hỷ, chúng tôi vô cùng hoan hỷ vì rằng đây là những tài liệu rất bổ ích cần phải tham khảo
(Xem: 181)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết.
(Xem: 335)
Những người chưa vào đạo Phật, hoặc chưa hiểu đạo Phật, thường nghĩ rất sai lầm, tưởng rằng đạo Phật là một đạo chán đời, bi quan...
(Xem: 289)
Bạn có thể cho con cái bạn sống trong một căn nhà to lớn, ăn uống đầy đủ ngon lành, lại học chơi cả đàn dương cầm...
(Xem: 471)
Học Phật là một công cuộc bền bỉ và trường kỳ, mà đơn vị để đo đạc ấy phải tính bằng “hằng-hà-sa kiếp sống” cũng như...
(Xem: 305)
Mọi sinh vật có thật đâu Thảy đều “vô ngã”, “ta” nào là “ta” Trí người nếu hiểu rõ ra Thoát ly phiền não cho xa tức thời, Theo đường thanh tịnh tuyệt vời.
(Xem: 312)
Bà Thanh Đề là mẹ của ngài Mục Kiền Liên (cũng gọi là Mục Liên), Bà tính tình tham lam,độc ác, không tin Tam Bảo, tạo ra nhiều tội lỗi...
(Xem: 555)
Tu thiền (Bhavanã Jhãna) Phật giáo là tiến trình tu tập, hành trì miên mật một pháp môn nào đó để kinh nghiệm trực tiếp trên ...
(Xem: 261)
Trong nhiều bài kinh từ Hán tạng cho đến Pali tạng, Đức Phật tán thán hạnh hiếu dưỡng cha mẹcông ơn ...
(Xem: 274)
Bút Phật không thủ chấp Mà vẫn ngát tâm hương Trong muôn ngàn ý tưởng Toả sáng lẽ Chơn Thường .
Quảng Cáo Bảo Trợ