Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Đọc “Chú Lăng Nghiêm-Kệ và giảng giải“

30 Tháng Mười Hai 201705:47(Xem: 7664)
Đọc “Chú Lăng Nghiêm-Kệ và giảng giải“
Đọc “Chú Lăng Nghiêm-Kệ và giảng giải“
Của Hòa Thượng Tuyên Hóa, do TT Thích Minh Định dịch từ Hoa ngữ sang Việt ngữ

Thích Như Điển

 

Ngày nay Internet phát triển một cách nhanh chóng và phổ cập khắp nơi trên hoàn vũ, hầu như không có ai là không nghe hay không biết đến phương tiện truyền thông nầy. Rất nhanh và tiện lợi muôn phần. Muốn tra cứu cái gì cũng có, muốn học cái gì cũng không thiếu. Vấn đề là ai đó có đủ can đảm để ngồi suốt ngày bên máy vi tính để đọc chữ trên màn ảnh không? Đó là vấn đề chính. Cứ ngỡ rằng khi máy vi tính phát triển nhanh thì những tổ hợp ấn loát kinh, sách, báo chí sẽ ế ẩm, nhưng đa phần những người lớn tuổi thì thích cầm quyển kinh hay quyển sách bằng giấy trên hai tay, đọc một cách trang trọng, thoải mái hơn và muốn đọc lúc nào cũng được, muốn nghỉ cũng không bị lệ thuộc vào bất cứ điều kiện gì cả. Trong đó có tôi là người chọn lựa cách thứ hai nầy.

Được một nhân duyên lớn là Thượng Tọa Thích Minh Định, Trụ Trì chùa Kim Quang tại Pháp trong 10 năm nay, trước đây Thầy đã tu học tại Vạn Phật Thánh Thành của cố Hòa Thượng Tuyên Hóa, nên tiếng Phổ Thông Thầy rất lão luyện; những kinh sách của Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng như: Nhân sinh yếu nghĩa (1 tập), Chú Đại Bi giảng giải (1 tập), Chú Lăng Nghiêm giảng giải (tập 1 và tập cuối), Kinh Pháp Hoa (1 quyển trọn bộ), Kinh Hoa Nghiêm (8 quyển trọn bộ), Kinh Hoa Nghiêm giảng giải (từ tập 1 cho đến tập thứ 25 trọn bộ). Cứ xem như mỗi tập là một tác phẩm đi, thì Thượng Tọa Minh Định đã dịch sang Việt ngữ tất cả là 44 quyển; có quyển dày đến gần cả 1.000 trang. Thầy đã gửi biếu đến các chùa sau khi đã in ấn, nên tôi mới có cơ hội làm quen với những dịch phẩm nầy của Thượng Tọa. Công đức nầy thật không nhỏ chút nào đối với những người học Phật, mong muốn được rõ biết hoàn toàn qua ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, thì những kinh sách nầy sẽ giúp cho các độc giả xa gần lãnh hội một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn.

Quyển “Nhân sinh yếu nghĩa “tôi đã đọc xong, nhưng không điểm sách, vì lẽ đó là những lời giáo huấn đơn thuần của Ngài Tuyên Hóa cho các đệ tử xuất gia cũng như tại gia trong công việc tu tập hằng ngày tại Vạn Phật Thánh Thành. Đến quyển “Chú Đại Bi giảng giải” thì tôi đã đọc một cách say mê và cũng đã có điểm sách rồi, nhiều trang nhà trên thế giới đã đăng tải bài nầy. Nay sau khi đọc xong hai tập “Chú Lăng Nghiêm giảng giải tập I và tập cuối” trong nhiều ngày, tôi xin cung tuyên lại những gì đã thẩm thấu qua lời giảng giải của Ngài Tuyên Hóa trong suốt 192 trang của tập I (không kể phần được dịch ra tiếng Pháp của Sư Cô Thích Nữ Đàm Như) và tập cuối gồm 572 trang do nhà xuất bản Hồng Đức ở Việt Nam in ấn. Đây là những lời giải thích đầu tiên về Chú Lăng Nghiêm mà tôi biết được kể từ khi xuất gia năm 1964 đến nay 2017 cũng đã hơn 53 năm như thế. Quả là một điều vi diệu vô cùng và cũng trong hơn 53 năm ấy, tôi hành trì Chú Lăng Nghiêm vào mỗi buổi sáng tại chùa hay bất cứ nơi đâu khi tôi đi Phật sự, chưa bao giờ chểnh mảng trong gang tấc. Nghĩa là hầu như ngày nào tôi cũng có hành trì, đọc tụng Thần Chú nầy.

Về Kinh Lăng Nghiêm thì Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (1966-1973) đã biên soạngiảng giải trong bộ Phật Học Phổ Thông khóa 6 và khóa 7 với tiêu đề là: Triết lý Đạo Phật hay là Đại cương Kinh Lăng Nghiêm gồm 264 trang thì tôi đã học, đã giảng suốt 6 tháng trường cho các Phật tử tại gia trong những Đạo Tràng Tu Bát Quan Trai giới tại Đức cũng như ở Âu Châu trong những năm 2015-2016, nhưng chỉ giảng chủ yếu của Kinh Lăng Nghiêm là Phật gạn hỏi về Tâm với Ngài A Nan, nhân việc Ngài A Nan bị nạn của Ma Đăng Già, chứ không giải thích từng câu từng chữ như trong Chú Lăng Nghiêm giảng giải của Ngài Tuyên Hóa. Ngài Tuyên Hóa chia ra 5 đệ, từ đệ nhất đến hết đệ ngũ gồm có 554 câu tất cả, bao gồm 2.620 chữ được phiên âm từ Phạn ngữ ra Hoa ngữ và Thượng Tọa Minh Định đã chuyển dịch ra Việt ngữ một cách lưu loát, thông suốt hoàn toàn. Cứ mỗi một câu Thần Chú, Ngài Tuyên Hóa soạn ra 4 câu kệ để tả những công năngsức lực của Chú, nói ra sự diệu dụng chân thật của Chú. Ngài đã nói: “Tôi tả những bài kệ, đều có quan điểm và sự thấy pháp của tôi, tôi chân thật tả ra, từ trong tự tánh của tôi lưu xuất ra, cũng là sự kinh nghiệmnhận thức tâm thần lãnh hội đối với Chú”. Đọc qua đoạn nầy ở trang 522 của tập cuối, chúng ta thấy rõ được rằng Ngài Tuyên Hóa đã chứng nhập vào Lăng Nghiêm Tam Muội nên Ngài mới thấy được Pháp của chư Phật và từ tự tánh của Ngài đã lưu xuất ra. Thì đây chính là do pháp hành mà có, chứ không phải do pháp học, vì Ngài Tuyên Hóa hoàn toàn không biết Phạn ngữ. Giảng giải Thần Chú Lăng Nghiêm được như thế nầy, thì trên thế gian chỉ có một vị như thế chứ chưa có người thứ hai.

Về công năng của sự hành trì Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm nầy thì Ngài Tuyên Hóa quyết đoán nơi trang 539 rằng: “Mỗi ngày bạn tụng niệm Chú Lăng Nghiêm, thì ít nhất bảy đời làm viên ngoại, trưởng giả giàu có, quần áo, thức ăn uống không thiếu, tất cả hết thảy đều có đủ. Nếu nói về quả vị bậc Thánh hiền, bạn tiếp tục tụng Chú Lăng Nghiêm, tức là phát tâm đại Bồ Đề, không cần phải trải qua ba đại A Tăng Kỳ kiếp mới đắc được pháp thân, cho nên nói: Diệu Trạm tổng trì Bất Động, Chú Thủ Lăng Nghiêm hiếm có trong đời”. Nhưng theo Ngài Tuyên Hóa, muốn được thành tựu như vậy thì ngoài việc trì tụng Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm hằng ngày, hành giả phải thực hành lục đại tông chỉ như ở Vạn Phật Thánh Thành thì mới mong có kết quả như ý. Đó là: Không cầu, không tham, không tranh, không lợi mình, không ích kỷ và không nói dối. Tất cả cũng từ lời Phật dạy mà ra, nhưng mỗi vị chủ trương thực hành giáo pháp của Đức Phật một cách miên mật khác nhau, tựu chung vẫn dẫn ta đến con đường chứng nhập Thánh quả. Trong Kinh Phật Bản Hạnh (tập 12 của Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh) Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng cho chúng ta biết rằng: Ngài Di Lặc tu trước Ngài, nhưng thành Phật sau 5 kiếp, vì lẽ sự phát Bồ Đề tâm và hành Bồ Tát hạnh của Đức Bổn Sư miên mật, liên lục hơn Ngài Di Lặc, nên Bồ Tát Di lặc trong hiện đời Ngài mới chỉ làm Nhứt Sanh Bổ Xứ ở cõi Nội Viên Đẩu Suất mà thôi. Chỉ ngần ấy việc, chúng ta cũng đủ thấy rằng, sự dụng công trong khi tu hành và việc phát Bồ đề tâm sẽ quyết định quả vị của chúng ta cho bây giờ và mai hậu.

Chú Lăng Nghiêm nầy Cố Hòa Thượng Tuyên Hóa đã giảng cho những đệ tử xuất giatại giaVạn Phật Thánh Thành tại Hoa Kỳ hằng tuần từ năm 1979 đến năm 1987. Tổng cộng hơn 8 năm và có hơn 554 lần giảng. Cũng có vài câu Thần Chú Ngài không giảng vì giống nhau như trong đệ tam hội và một vài nơi trong đệ ngũ; đồng thời có lẽ vì thời gian không có hay bận những Phật sự khác cần Ngài giải quyết nên có một số các bài kệ của những câu chú không được Ngài giải thích. Tựu chung, theo Ngài 554 câu Thần Chú nầy đều là những Pháp Hội của Chư Phật và chư vị Bồ Tát cũng như những quỷ vương. Ví dụ như đệ nhất hội, Ngài gọi là “Tỳ Lô Chân Pháp Hội”, nhưng Hội nầy Ngài mới giảng đến câu thứ 54 là Nam Mô Già Xà Câu La Gia, phần tiếp theo cho hết đệ nhất cũng như đệ nhị hội không thấy Ngài giảng; hoặc giả còn một tập giữa nữa mà Thượng Tọa Minh Định chưa dịch? Bắt đầu hội thứ ba Ngài gọi là: Hội Quán Âm hợp đồng; hội thứ tư là Hội Kim Cang Tạng Triết Nhiếp và hội thứ năm là Hội Văn Thù Hoằng Truyền. Riêng phần Thập Chú thì Ngài Tuyên Hóa đã giảng chung với Chú Đại Bi giảng giải rồi. Ngài cũng khẳng định rằng: “Nếu còn một người trì tụng Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm nầy thì thế giới không bị ma chướng quấy nhiễu và quả đất nầy vẫn còn tồn tại. Cho đến khi nào ở trên thế gian nầy không còn một người nào hành trì Chú Lăng Nghiêm nầy thì ma quái sẽ hiện hình và phá tan sự sống trên quả địa cầu nầy”

Giáo Sư Lê Tự Hỷ, người biết rành Phạn ngữ cũng đã lập luận rằng:“Sở dĩ một số bản kinh văn bằng tiếng Phạn được truyền vào Trung Quốc, sau đó được dịch sang Hán Văn và cuối cùng bản chánh bị thất lạc, có lẽ do bị thủ tiêu. Vì lẽ văn học Trung Quốc, người Trung Hoa luôn tự hào là giá trị cao sâu nhất thế giới, còn những văn học khác, kể cả Phạn ngữ, thuở ấy người Hán gọi là rợ Hồ ở phương Bắc, nên không được lưu truyền”. Lập luận nầy có thể khả dĩ được tin tưởng hơn những lập luận khác xưa nay đã từng có. Ví dụ những học giả Phật Giáo của Nhật Bản, khi nghiên cứu chỉ thấy hai văn bản bằng Phạn văn được dịch sang tiếng Hoa, Nhật và Hàn như Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh A Di Đà, nhưng riêng bản Kinh Quán Vô Lượng Thọ thì không còn nguyên bản Phạn văn nữa, nên họ nghĩ rằng Kinh nầy không phải do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói ra. Nhưng nếu lập luận như Giáo Sư Lê Tự Hỷ, thì chúng ta có cơ hội để truy nguyên lại từ nguyên ngữ là Phạn ngữ, đã được chính Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng, vì lẽ nhân duyên để nói Kinh Quán Vô Lượng Thọ nầy là Đức Phật hiển thị các thế giới cho Hoàng Hậu Vi Đề Hy, vợ Vua Tần Bà Sa La phát tâm sau khi mạng chung sẽ sanh về một trong những thế giới khác của Đức Phật A Di Đà, mà nơi đó con người không còn luân hồi đau khổ nữa, như việc A Xà Thế đã giam cha mình vào ngục thất để cướp ngôi. Hy vọng một ngày nào đó các học giả sẽ tìm ra được những manh mối nầy để cho người đời sau không còn thắc mắc nữa.

Ở trang 561 Ngài Tuyên Hóa phán rằng: “Nhưng hiện tại vì sao có những vị học giả tào lao (chữ dịch của Thầy Minh Định) và những vị giáo thọ bụi bặm không thừa nhận Chú Lăng Nghiêm là do Đức Phật nói? Vì họ sợ Chú Lăng Nghiêm. Nếu họ thừa nhận là Phật nói, thì họ đứng không vững. Vì họ đều không giữ giới luật, kêu họ thừa nhận thì họ không thừa nhận. Tại sao họ không thừa nhận? Vì họ biết họ làm không được, cho nên họ nói đó là giả, như vậy họ mới có thể tồn tại, có thể nhận lầm mắt cá tưởng là hạt châu. Ở đây bịt tai ăn cắp chuông, làm những việc giả. Con mắt của các vị tức là cái nầy, không kia. Đâu phải Chú Lăng Nghiêm có gì đắc tội với họ, mà họ nói Chú Lăng Nghiêm là giả, họ làm người rồi chẳng tính gì nữa, người khác đã là giả, đã ở đó mặc quần áo của con người, ăn cơm của con người, nhưng làm quyến thuộc của ma vương. Những vị học giảgiáo thọ bụi bặm đó, nếu có bản lãnh thì kêu họ đến đàm luận với tôi (Ngài Tuyên Hóa), nhưng họ lại không dám đến”.

Trên đây là đoạn văn ở phần kết, khi Ngài Tuyên Hóa giảng Chú Lăng Nghiêm sắp xong và Ngài đã cho ta biết học giả là gì và hành giả là gì. Vậy chúng ta tin vào Đức PhậtChư Pháp Sư để từ đó chúng ta hành trì một cách miên mật hơn. Riêng phần tôi sau hơn 53 năm hành trì Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm miên mật như thế, thì tôi nhận định như thế nầy: Thần Chú là để cho Đức Phật và chư Phật hiểu biết lẫn nhau, ngay cả những vị Bồ Tát nghe còn không hiểu, thì làm sao chúng ta có khả năng hiểu được. Nó cũng ví như khi chúng ta dò tầng số của một đài nào đó trong Radio mà chúng ta muốn nghe, nhưng nếu tầng số ấy chưa bắt gặp được thì âm thanh, tiếng nói sẽ chẳng được phát ra và chúng ta chỉ nghe tiếng rè rè của máy mà thôi. Như vậy giữa tâm thức của chúng sanh và tâm của chư Phật, chư Vị Bồ Tát chúng ta chưa hòa nhịp được, nghĩa là chưa bắt đúng được tầng số của nhau thì làm sao chúng ta hiểu được lời của Phật. Nhưng chắc chắn một điều là sẽ có một ngày nào đó, chúng ta sẽ dò đúng tầng số kia để có thể hiểu được những mật ngữ của chư Phật và chư vị Bồ Tát như Hòa Thượng Tuyên Hóa đã hiểu và đã giảng giải cho chúng ta về Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm nầy.

Ngoài ra tôi cũng thường cho những ví dụ khác để dễ hiểu như sau: Kể từ khi chúng ta sinh ra được Mẹ cho uống sữa, sú cơm, ăn cháo, bánh mì v.v…từ khi mới lọt lòng cho đến khi trưởng thành, rồi già, rồi bịnh và chết. Mỗi ngày chúng ta ăn ba bữa chính, ngoài ra còn ăn dặm thêm vào lúc xế chiều. Có cả hằng trăm, hằng ngàn, hằng vạn vạn lần ngồi vào bàn ăn như thế mà có khi nào chúng ta định nghĩa cơm hay bánh mì là gì đâu? Thế mà chúng ta cứ ăn, cứ lớn lên, cứ sống trên đời nầy, nhưng nào ai có quan tâm đến nó làm gì. Nó cũng giống như hơi thở trong từng nhịp đập của con tim; nó như không khí ở trong bầu khí quyển, ngày đêm chúng ta hít thở không biết bao nhiêu lần, nhưng đâu có ai đếm thử chúng ta hít thở bao nhiêu lần trong một ngày, một tháng, một năm đâu? Thế mà chúng ta vẫn sống, vẫn làm việc và vẫn nhận không biết bao nhiêu niềm vui cũng như nỗi buồn của nhân thế nầy.

Tôi cũng thường hay ví dụ trong phần Tam Tự Quy về Tự Quy Y Pháp là: Đương nguyện chúng sanh, thâm nhập Kinh Tạng, trí tuệ như hải. Nghĩa là khi tụng kinh không phải để hiểu mà để thấm vào tâm mình những lời dạy của Đức Phật; còn để hiểu lời kinh khi tụng thì chỉ có những vị đã thâm nhập rồi, còn chúng ta muốn hiểu kinh, cần phải nghe chư vị Pháp Sư giảng giải trước, lúc ấy chúng ta sẽ hiểu rõ và khi tụng kinh, sẽ dễ thâm nhập hơn. Trong 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, lời nguyện thứ 29 nói rằng: Tụng Kinh đắc tuệ. Nghĩa là người nào trì kinh, niệm chú thật miên mật thì trí tuệ sẽ phát sanh. Điều nầy rất dễ hiểu, nhưng ngày nay người ta chọn pháp học nhiều hơn pháp hành, nên kẻ chứng Đạo ít, người phân tích chủ quan thì nhiều. Nhìn lại lịch sử truyền bá Phật Giáo của Trung Hoa sau cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 cho đến nay ở Đài Loan cũng như Hồng Kông, Việt Nam, Singapore, Hoa Kỳ thì rõ. Các Ngài Giác Quang (Hồng Kông) Ấn Thuận, Bạch Thánh, Ngộ Minh, Tinh Vân, Thánh Nghiêm (Đài Loan), Ngài Diễn Bồi (Việt Nam, Mã Lai); Ngài Tuyên Hóa (Hoa Kỳ) v.v… tất cả các Ngài đều qua công năng hành trì mà tạo nên được những vị thế vững chãi cho Phật Giáo Trung Hoa ở ngoài lục địa kể từ hơn 100 năm nay, hầu như chưa có Ngài nào không qua pháp hànhthành tựu được những sở tu và sở chứng của mình cả.

Riêng tôi chủ trương thì cả Pháp Học và Pháp Hành đều quan trọng như nhau, nên tôi hay nói rằng: “Sự học nó không làm cho người ta giải thoát được, nhưng nếu muốn mở cánh cửa giải thoát kia, không thể thiếu sự tu và sự học được” Đây cũng là tư tưởng của mình và suốt cuộc đời hành đạo của tôi gần 50 năm ở Nhật Bản cũng như tại Đức Quốc đều dựa theo phương châm nầy để tiến tu đạo nghiệp. Tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam trong nước hiện tại có nhiều phân khoa khác nhau để các sinh viên Tăng Ni chọn môn để học trong đó có môn Phật Giáo Việt Nam tại Âu Châu. Khi học như vậy, chắc chắn quý Thầy, Cô sẽ được học về hai khuynh hướng Phật Giáo tại đây. Đó là Phật Giáo truyền thốngPhật Giáo cải cách. Phật Giáo truyền thống luôn lấy hai thời công phu sáng chiều của chư vị Tổ Sư nhiều đời làm căn bản hành trì, đồng thời những quyển Luật Tiểu hay Đại Luật cũng là những giới thể căn bản mà người xuất gia không được phép xao lãng. Khuynh hướng cải cách là khuynh hướng nhập thế, mang Đạo vào Đời và biến đổi kinh văn cũng như giới luật hiện đại hơn để cho người Tây phương dễ hội nhập vào với nền văn hóa của Phật Giáo Việt Nam. Riêng tôi, gần 50 năm nay ở ngoại quốc, tôi vẫn chọn phương pháp truyền thống, bảo thủ cái hay, thu nhập cái tốt để hành trì và hướng dẫn chư Tăng Ni cũng như Phật tử tại Âu Châu nầy, người Việt cũng như người ngoại quốc tu theo Phật Giáo Việt Nam phải trải qua việc học và đọc tụng thuộc lòng Thần Chú Lăng Nghiêm trước khi thế phát xuất gia. Do vậy mà ngày nay chúng ta cũng không lạ gì, tại Âu Châu nầy có rất nhiều người Phật tử tại gia ăn chay trường, thọ Bồ Tát Giới tại giahành trì Chú Lăng Nghiêm miên mật hằng ngày, mặc dầu đang sống đời sống tại gia, nhưng tâm đã hướng đến một đời sống thoát tục.

Mãi cho đến bao giờ truyền thống vẫn là cái gì mà nên khắc ghi, nhắc nhở giống như Ngài Tuyên Hóa. Ngài giảng Chú Lăng Nghiêm bằng tiếng Phổ Thông, người Mỹ, người Việt, người Hoa, người Nhật v.v…muốn hiểu Thần Chú nầy phải  học và nói tiếng Phổ Thông. Nhờ vậy mà quý Thầy người Mỹ đã có thể dịch thẳng Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho  Shinshu Daizokyo) từ chữ Hán sang tiếng Anh, để từ đó những thế hệ đi sau hay sanh ra tại ngoại quốc có cơ hội tiếp xúc với Kinh văn nầy một cách dễ dàng tiện lợi hơn. Riêng Bản Kinh Thiền Môn Nhật Tụng chúng tôi đã cho dịch ra được 8 ngôn ngữ tất cả như: Hán Việt, Hán Cổ, Việt Nam, Đức, Anh, Ý, Nga và tiếng Phạn. Hy vọng trong tương lai sẽ có thêm nhiều ngôn ngữ Tây phương khác nữa được phiên dịch ra, trong đó thêm cả Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm thì thế giới nầy sẽ an ổn biết bao, khi những vị Càn Thát Bà, Dược Xoa, La Sát, các vị Quỷ Vương luôn luôn hộ trì chúng tathế giới nầy sẽ được yên bình thịnh trị. Mong rằng mỗi hành giả hành trì Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm sẽ là những viên gạch vững chắc bằng tâm linh để ngăn chặn cái ác và xiển dương cái thiện trên quả địa cầu nầy.

Viết xong vào lúc 12 giờ ngày 22 tháng 12 năm 2017 tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, Đức Quốc.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 15518)
Đối với vũ trụ học Phật Giáo, vòng lưu chuyển của đời sống của một vũ trụtuần hoàn. Có một thời điểm hình thành (thành), một thời điểm trải qua (trụ), một thời điểm suy tàn...
(Xem: 13207)
Với trí tuệ của bậc toàn giác, Đức Phật đã chỉ ra chân lí của sự sống, rằng mọi loài sống trên trái đất này đều có quan hệ hữu cơ, gắn bó khăng khít với nhau...
(Xem: 19361)
Nghiệp là một trong các giáo lý căn bản của Phật giáo. Mọi việc khổ vui, ngọt bùi trong hiện tại của chúng ta đều do nghiệp của quá khứhiện tại chi phối.
(Xem: 24623)
Làm sao cái Biết nhận thức được tự tính không của đối tượng? Đối tượng mà ta nhận thấy (nhận biết của tâm) thật ra chỉ là thấy hình ảnh không của đối tượng mà thôi.
(Xem: 15741)
Chú Đại bi còn có những tên gọi sau: Thiên thủ thiên nhãn quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni, Quảng đại viên mãn đà-la-ni...
(Xem: 37829)
Có thể nói nguyên nhân sâu xathen chốt nhất của sự biến mất truyền thống Tăng bảo trong Phật giáo Nhật Bản hiện tạibản thể giới luật của Tăng không được coi trọng.
(Xem: 13479)
Theo truyền thuyết, không lâu trước khi nhập niết bàn, Đức Phật đã trả lời Ananda, thị giả theo hầu cận Phật nhiều năm, khi vị này xin Phật chỉ dẫn cách đối xử cho các vị tỳ kheo...
(Xem: 13097)
Tu hành Duy thứcđạt đến hai vô ngã bằng cách biết ngã và pháp không là gì ngoài sự biến hiện của tâm thức. Nói cách khác, ngã và pháp chỉvọng tưởng không thật.
(Xem: 17181)
Ý thức là cái hoạt động mạnh nhất ở nơi con người; cho nên, cái gì tốt đẹp nhất cũng như cái gì xấu xa nhất của con người đều do ý thức tạo ra. Cũng ý thức là cái thức biến đổi...
(Xem: 13205)
Đức Phật đến với cuộc đời không gì khác ngoài việc chỉ bày cho con người một nếp sống hạnh phúc an lạc. Những lời dạy của Ngài thật giản dị nhưng lại hết sức thiết thực...
(Xem: 17388)
Chữ Phật không phải là một danh từ riêng, mà là một danh hiệu. Trong truyền thống Phật giáo, có nhiều vị Phật trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai.
(Xem: 21638)
Đối với đạo Phật, học thuyết âm dương chỉ là tưởng tri của các học giả, không thể là chân lý. Vậy chân lý của đạo Phật là gì? Có thể gói gọn trong một chữ “Khổ”.
(Xem: 13219)
Ở trong Tứ thánh đế, Diệt thánh đếchân lý cứu cánh, là chân lý tuyệt đối, là chân lý duy nhất, là chân lý tối hậu được chứng nhập bằng Đệ nhất nghĩa trí.
(Xem: 14405)
Phật Giáo, nhấn mạnh vào tầm quan trọng của kinh nghiệm trực tiếp trong vấn đề nghiên cứu tâm lý học. Nếu chỉ chú trọng duy nhất vào lý thuyết thì sẽ đánh mất đi những điều căn bản.
(Xem: 12815)
Nhiều người muốn tạo sinh vì nhiều lý do khác nhau. Hoặc là họ muốn làm sống lại một người thân yêu đã chết. Hoặc là họ muốn mình trường sanh bất tử.
(Xem: 13657)
Phật giáo cho rằng sự li hợp thành bại của hết thảy việc người trên thế gian này, đều không tách rời nguyên tắc “Nhân duyên quả báo”, kệ nhân quả ba đời nói rằng...
(Xem: 28617)
Tác phẩm này là công trình nghiên cứu mang tính khoa học, nhưng nó có thể giúp cho các nhà nghiên cứu về Phật giáo tìm hiểu thêm về lịch sử Phật giáo...
(Xem: 23399)
Thế giớichúng ta đang sống luôn bất an, bất toàn và tạm bợ mà trong kinh A Di Đà gọi là trược thế... Thích Viên Giác
(Xem: 34382)
Thiếu CHÁNH KIẾN trong sự tu hành chẳng khác gì một kẻ đi đường không có BẢN ĐỒ, không có ÁNH SÁNG rất dễ bị dẫn dụ đi theo đom đóm, ma trơi.
(Xem: 28884)
Nguyễn Du cho chúng ta thấy rằng Cụ không những là một người am hiểu sâu xa về Phật giáo mà còn là một hành giả tu tập Thiền tông qua Kinh Kim Cương... Đại Lãn
(Xem: 32186)
Đức Phật khi còn tại thế đã luôn luôn từ chối việc dùng giáo lý để thỏa mãn khao khát kiến thức con người... Nguyễn Điều
(Xem: 11329)
Chỗ ấy chính là Niết Bàn Diệu Tâm Thật Tướng, Vô Tướng, là Như Lai tạng, là Chơn Như, tịch diệt... HT Thích Như Điển
(Xem: 12003)
Trong kinh A Hàm, Đức Phật đã chỉ dạy các đệ tử không nên để tâm rong ruổi đến những cảnh giới viễn vông xa rời thực tế. Phật pháp là những gì thân thiết...
(Xem: 26290)
‘Sự quyến rũ của Đạo Phật Trong Thế Giới Mới’ được tuyển dịch từ những bài viết và pháp thoại của nhiều bậc Tôn túc và các học giả Phật Giáo nổi tiếng thế giới...
(Xem: 17375)
Phật Giáo khuyên chúng ta phải luôn giữ sự chính xác và phải chú tâm đến từng cảm nhận của mình trong cuộc sống, trong mỗi tư duy, trong từng xúc cảm, và mỗi hành động của mình.
(Xem: 14524)
Ta có thể tìm thấy thông tin về bức hình trên của Phật Thích-ca trong hai tài liệu sau đây. Một là, trong tác phẩm Vrai Zen của thiền sư Taisen Deshimaru (1914-1982).
(Xem: 34479)
Không thể có một bậc Giác Ngộ chứng nhập Niết Bàn mà chưa hiểu về mình và chưa thấy rõ gốc cội khổ đau của mình.
(Xem: 13112)
Chuyển ngữ kinh không chỉ sẽ thuận lợi trong việc hoằng pháp, mà còn dễ dàng đưa giáo pháp Đức Phật vào nền văn hóa dân gian qua các dạng khác như chuyện cổ tích, ca dao...
(Xem: 12279)
Tóm lại Phật Giáo Nguyên ThủyPhật Giáo Đại Thừa không phải là hai "học phái" hay "tông phái" khác nhau, mà đúng ra chỉ là hai thái độ hay hai chủ trương tu tập khác nhau, và cùng tiến bước trên một Con Đường chung.
(Xem: 13412)
Sự tái sinh có đúng là một sự tiếp nối liên tục của nhiều kiếp sống sinh học khác nhau hay là trái lại đấy chỉ là các thể dạng tâm thần khác nhau có thể (hay không có thể)...
(Xem: 40514)
Đa số dân chúng là Phật tử thuần thành và số lượng tu sĩ khá đông đảo nên Miến Điện mệnh danh xứ quốc giáo với hai đường lối rõ rệt cho chư Tăng Ni: PHÁP HỌC (Pariyattidhamma) và PHÁP HÀNH (Patipattidhamma).
(Xem: 26941)
Tập sách nhỏ này, là một tập tài liệu vô cùng quí giá, do sự tham khảo các kinh sách của Đức Thế Tôn để lại với các tài liệu tác giả đã sưu tầm và tham quan tại một số địa phương...
(Xem: 14461)
Nếu chúng ta là người Phật tử thì ngày 23 tháng chạp không nên theo tập tục văn hóa mê tín dị đoan mua cá chép vàng về để giết hại cúng Ông Táo, việc làm ấy sai trái đạo lý...
(Xem: 13255)
Phật Giáo là một trong những tôn giáo đầu tiên có giáo đoàn cho ni giới (đại khái là nữ tu sĩ). Giáo đoàn này được thành lập năm năm sau khi Đức Phật thành đạo.
(Xem: 13462)
Phật giáo nhận thấy rằng tất cả mọi người và mọi chúng sanh đều phụ thuộc lẫn nhau. Mặc dù thân và tâm của mọi người khác nhau nhưng mọi người vẫn tương quan với nhau.
(Xem: 12538)
Phật giáo nhận thấy rằng tất cả mọi người và mọi chúng sanh đều phụ thuộc lẫn nhau. Mặc dù thân và tâm của mọi người khác nhau nhưng mọi người vẫn tương quan với nhau.
(Xem: 13151)
Với Duy thức học, mắt, tai… là các căn. Căn có hai phần, là “phù trần căn” và “thắng nghĩa căn”. “Phù trần căn” là năm giác quan mắt, tai… mà ta có thể nhận biết.
(Xem: 12314)
Phật giáo nói về sự khác nhau giữa cái “tôi’ quy ước (tục đế) và "cái tôi" không thật. "Cái tôi" quy ước là "cái tôi" có thể quy cho sự tương tục không ngừng của mỗi cá nhân...
(Xem: 11791)
Đạo Phật đã tồn tại và phát triển 2600 năm kể từ khi Đức Phật giác ngộ lúc 35 tuổi. Giáo lý của Ngài được đặc trên nền tảng Từ biTrí tuệ qua sự chứng nghiệm của Ngài.
(Xem: 12574)
Con người và loài thú đều giống nhau: đói thì kiếm ăn, khát thì kiếm nước uống, cũng đều duy trì bản năng sinh tồn như nhau... Thích Trí Giải
(Xem: 17663)
Những lời Phật dạy trong kinh chỉ giúp chúng sinh phá bỏ những hiểu biết tương đối, phá bỏ những kiến chấp sai lầm cố hữu, những vướng mắc lâu đời...
(Xem: 12207)
Cứu cánh của Phật giáo là sự Giác Ngộ, phương tiện giúp đạt được Giác NgộTrí Tuệ, và đối nghịch với Trí TuệVô Minh. Vậy muốn đạt được Giác Ngộ thì phải loại trừ Vô Minh.
(Xem: 12754)
Từ nhiều thông tin, cách thờ phượng và sự phát triển khác nhau, hiện nay đạo Phật dường như đang dần dần thâm nhập vào nền văn hóa của toàn thế giới.
(Xem: 18437)
An cư nghĩa là khoảng thời gian người xuất gia chuyên tâm tu trì lời Phật dạy hay còn gọi là thúc liễm thân tâm theo giáo phápgiới luật do Đức Phật tuyên thuyết.
(Xem: 14290)
Ý nghĩa tôn giáo của giáo lý Duyên khởi nhấn mạnh giáo lý về học thuyết của nghiệp (karma)- giải thích căn bản của sự đau khổ trong sự tồn tại của con ngườithế giới.
(Xem: 12995)
Dù có ánh nắng vàng rực rỡ hay không, sắc diện của Đức Thế Tôn vẫn như vầng trăng rằm. Đôi mắt dịu hiền từ bi tỏa rộng... Nguyên Siêu
(Xem: 11323)
Dựa theo tinh thần Phật giáo, do nhân duyên hòa hợp tất cả những nghiệp duyên từ trong những đời quá khứkiến tạo ra con người trong kiếp này.
(Xem: 12151)
Tâm ý không mang bản chất thương hay ghét, thích hay không thích. Tâm ý (mind) có nghĩa là “khả năng hiểu biết” (knowing faculty), “khả năng tri nhận” (cognizing faculty).
(Xem: 13467)
Một khi chánh trí kiến (right understanding) đã phân biệt được cái ảo giác về tự ngã (self created ego) rồi thì mối quan hệ sẽ trở nên thân hữuhuynh đệ hơn.
(Xem: 10836)
Chúng ta phóng sanh loài khác chính là phóng sanh cho chính chúng ta, chúng ta cứu giúp sự sống của người khác chính là cứu giúp sự sống của chính chúng ta.
(Xem: 11074)
Tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên xuất bản năm 1933 là cuốn tiểu thuyết mở đầu cho sự nghiệp sáng tác của nhà văn Khái Hưng... Hoàng Như Mai
(Xem: 10289)
Câu chuyện về các tôn giáo lớn của Ấn Độ bắt đầu tại vùng thung lũng Ấn Hà vào khoảng 2,500 năm trước công nguyên. Ở đó thổ dân Dravidian đã thiết lập nền văn minh Harappa cực thịnh...
(Xem: 28899)
Nền giáo học của Phật giáo có nội dung rộng lớn tận hư không pháp giới. Phật dạy cho chúng ta có một trí tuệ đối với vũ trụ nhân sinh, giúp chúng ta nhận thức một cách chính xác...
(Xem: 25283)
Mọi người đều biết là Đức Phật không hề bắt ai phải tin vào giáo lý của Ngài và Ngài khuyên các đệ tử hãy sử dụng lý trí của mình dựa vào các phương pháp tu tập...
(Xem: 26851)
Giáo lý đạo đức của Đại thừa được đề ra trong học thuyết về các ‘Ba-la-mật’ (pāramitā), khởi đầu là sáu, gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền địnhtrí tuệ ba-la-mật.
(Xem: 25769)
Thật vậy, trên bất cứ một khía cạnh nào, Đức Phật đều giữ cho tôn giáo của Ngài không bị vướng mắc vào những thứ cành lá chết khô của quá khứ.
(Xem: 18675)
Để thực hành lòng từ, trước nhất là bạn nên trực tiếp giúp đỡ họ nhu cầu về thức ăn, chỗ ở, thuốc men v.v… Nhưng điều đó chưa đủ, mà bạn cần phải ngăn chặn nguyên nhân...
(Xem: 23038)
Khi tại thế, Ðức Phật đi hoằng hóa nhiều nước trong xứ Ấn Ðộ, đệ tử xuất gia của ngài có đến 1250 vị, trong đó có Bà Ma Ha Ba Xà Ba Ðề...
(Xem: 34545)
Do tánh Không nên các duyên tập khởi cấu thành vạn pháp, nhờ nhận thức được tánh Không, hành giả sẽ thấy rõ chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, cuộc đời là khổ.
(Xem: 32185)
Tất nhiên không ai trong chúng ta muốn khổ, điều quan trọng nhất là chúng ta nhận ra điều gì tạo ra khổ, tìm ra nguyên nhân tạo khổ và cố gắng loại trừ những nhân tố này.
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant