Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Hình Bóng Quê Hương

03 Tháng Tư 201300:00(Xem: 11595)
Hình Bóng Quê Hương


hinhbongquehuong-macgiangViệt Nam thuở khai nguyên chỉ có các tỉnh miền thượng du đổ xuống đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình chạy dài ra biển, xuôi về hướng Nam, dọc theo dãy Trường Sơn tới Thanh Nghệ Tĩnh, vươn lên phía Bắc là Quảng Đông, Quảng Tây, nhưng Trung Hoa đã chiếm ngay từ đầu Bắc thuộc cho tới ngày nay. Các triều đại vua chúa suốt hơn 4500 năm trước đều đóng đô ở Phong Châu, có khi đổi tên Cổ Loa, Đại La, Thăng Long mà nay là Thủ đô Hà Nội. Do đó mới nói miền Bắc là cái nôi dân tộc và Hà Nội là cái nôi văn vật một thời. Vì phía Bắc là sức nặng Trung Hoa khổng lồ, cha ông mình mới rút dần về tới Ải Nam Quan để trấn thủ. Rồi tiến vào phía Nam mở mang bờ cõi, tới đầu thế kỷ 17, đến tận Hà Tiên, Cà Mau là điểm cuối cùng nằm sát biển. Sài Gòn nằm ngay trung tâm chạy về các tỉnh Miền Nam, xuyên ra Miền Trung, dẫn lên Cao Nguyên, tựa cửa Bạch Đằng ra biển Thái Bình, cho nên Sài Gòn trở thành Thủ Đô của nước Việt Nam Cộng Hòa một thời, và những câu thơ : “Đây Sài Gòn đây Thủ Đô nước Việt. Trái tim chung của dân tộc anh hùng. Đời đang lên bao hứa hẹn trẻ trung. Ba trăm tuổi mới đi vào lịch sử”, phản ảnh cụ thể vai trò, vị thế và lịch sử của Sài Gòn, tên gọi thân yêu.

 

Bản đồ chữ S, theo vòng cung gồm các tỉnh phía Bắc mà Ải Nam Quan là đỉnh đầu giáp với Trung Hoa. Phía Tây là dãy Trường Sơn, từ thượng du Miền Bắc, đi vào cao nguyên Miền Trung lên Đà Lạt, lệch về Nam là núi Bà Đen Tây Ninh, nối theo là dãy Thất Sơn Châu Đốc, Ba Thê tại Hà Tiên. Bên kia Trường Sơn là Lào, Kampuchia. Phía đông từ Bắc vào Nam chạy cặp theo bờ biển tới vịnh Thái Lan, được uốn tròn thành mũi Cà Mau, điểm cuối chữ S là Rạch Giá, Hà Tiên. Việt Nam có bốn sông lớn: Hồng Hà, Thái Bình, Cửu Long, Đồng Nai. Chiều dài từ Nam Quan tới Cà Mau 1500km, bờ biển Hải Phòng - Hà Tiên 2200km, biên giới đất liền với Trung Hoa, Lào, Cam Bốt dài 2500km. Vị trí ngắn nhất là cái eo chữ S các tỉnh miền Trung: Bình-Trị-Thiên, Thanh-Nghệ-Tĩnh mà ngang Đồng Hới chỉ độ 37km.

 

Việt Nam có nhiều bờ biển rất đẹp như Đồ Sơn, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu. Nhiều thạch động nổi tiếng Hòn Chồng, Hòn Gai, Phong Nha, Thiên Thai, Hà Tiên. Nhiều hồ rất nên thơ như Hồ Gươm, Hồ Tây, hồ Than Thở. Còn nữa, nào Thác Cam Ly, Thác Prenn, suối Vàng, suối Bạc, nào Chùa Trấn Quốc, Chùa Hương, Chùa Một Cột… Các cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Cam Ranh. Nhiều nơi nghỉ mát lý tưởng như Đà Lạt, Chapa, Việt Bắc. Cái đẹp sông Hương, Cần Thơ, Gò Công. Rồi Hà Nội 36 phố phường, Sài Gòn hòn ngọc viễn đông. “Từ Nam Quan Cà Mau, từ non cao rừng sâu…, Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình…, Từ Bắc vô Nam tay liền nắm tay…”, “Mắt Mẹ Già biển Đông ngóng đợi, Mắt Cha Già núi Thái chờ trông” là vóc dáng hình hài, giang sơn gấm vóc, sông núi mỹ miều, đất Mẹ Việt Nam ơi, quê Cha Việt Nam ơi, quê hương ta đó !

 

Người Cha đầu tiên của Việt Nam là vua Lạc Long Quân, thuộc giống Rồng mang họ Hồng Bàng, sắc dân Lạc Việt, gặp Mẹ Việt Nam là bà Âu Cơ, thuộc giống Tiên. Ông Bà là Rồng Tiên nên không sinh nở con một, con hai, hay năm, bảy là nhiều của thường tình nhân loại xưa nay, mà cùng một lúc, một trăm cái trứng nằm chung trong một bọc, tựu thành một trăm hài nhi, được sinh ra một lần, đều khỏe mạnh, tuấn tú, thông minh, thương yêu nhau lắm, “anh em như thể tay chân”, nên chỉ có dân tộc Việt Nam mới gọi là đồng bào (cùng bọc), và không nên lẫn lộn hoặc có khi nói hai chữ đồng bào với các sắc tộc khác. Trăm anh em, nửa cùng Mẹ lên núi, trung du, thượng du, kiếm cây trái, mật ong và mọi lâm sản tự nhiên của núi rừng để sống, nửa theo Cha xuống trung châu, đồng bằng, vùng thấp khai khẩn, gieo trồng, rau húng, tía tô và tìm các loài thủy sản để sống. Có được gì, họ đều mang về chia cho nhau, bảo vệ lẫn nhau, và nuôi đàn con nhỏ dại.

 

Một ngày kia, đàn con khôn lớn trưởng thành, vì là Rồng Tiên nên trước khi qui ẩn, truyền ngôi lại cho người con lớn lên làm vua là Hùng Vương thứ nhất, đặt tên nước Văn Lang. Họ Hồng Bàng thay nhau làm vua trải qua 18 đời, đều mang hiệu là Hùng Vương, kéo dài từ năm 2809 đến năm 258 trước tây lịch. Một gia đình có 100 anh em, dựng vợ gả chồng, con cháu đầy đàn, chia ra nhiều nhánh, với nhiều sắc dân khác, tương ái tương thân sống trên nước Văn Lang suốt 2551 năm ấy, lúc nào cũng bảo vệ gìn giữ cho nhau, nên chữ tình ruột thịt, nghĩa đồng bào “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, keo sơn gắn bó, trở thành nếp sống truyền thống gia đình, làng xã, bà con dòng họ của người Việt Nam.

 

Hiện nay dân số Việt Nam lên tới gần 90 triệu người trong nước, khoảng 5 triệu người ở nước ngoài, và mãi mãi mai sau đều cùng da vàng máu đỏ trong tim, mang tên dân tộc VN, là con Lạc cháu Hồng của nòi giống Rồng Tiên, đều nhớ, đều thờ và Giỗ Tổ Hùng Vương, là do người anh cả đầu tiên tức Vua Hùng Vương mở nước, giữ nước và đến hôm nay là năm 2012 sau dương lịch, nên gọi VN có lịch sử gần 5000 năm văn hiến.

 

Vua Hùng Vương thứ 18 có cô công chúa Mỵ Nương đẹp lắm, Vua Thục muốn cưới mà Hùng Vương không chịu, lại gả cho Sơn Tinh. Do mang mối hận này và muốn trả thù, đến đời cháu có tên Thục Phán, mới chiếm được nước Văn Lang năm 258, đổi thành Âu Lạc, xưng An Dương Vương, xây thành Cổ Loa làm kinh đô. Đến năm 207 trước dương lịch, chuyện ly kỳ về mỹ nhân lại tái diễn, Văn Lang mất do Mỵ Nương, thì Âu Lạc của An Dương Vương lại mất về tay Triệu Đà cũng vì công chúa Mỵ Châu, đổi thành nước Nam Việt.

 

Chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh, chuyện Trọng Thủy - Mỵ Châu để lại bao niềm thương cảm sau này. Nhà Triệu truyền đến đời thứ 5 là Dương Vương, thì năm 111 trước dương lịch bị Trung Hoa xâm chiếm, kết thúc quyền tự chủ, tự trị, độc lập đất nước Việt Nam của người Việt Nam. Việt Nam bị trị đến năm 40 sau dương lịch thì giành độc lập nhưng rất tiếc chỉ có 3 năm, lại bị Tàu tiếp tục xâm lăng. Đến năm 248, mới có một cuộc khởi nghĩa nữa nhưng thất bại. Điều muốn nói ở đây là, khoảng thời gian 359 năm bị xâm lăng đằng đẵng đó, rất nhiều cuộc chống ngoại xâm diễn ra nhưng chỉ có hai lần khởi nghĩa đi đến thành công đều do bậc nữ lưu đề xướng. Năm 40 hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị xuất thân đất Mê Linh, tôn hiệu Trưng Vương nhưng vì mình thoa sức nữ, không chống nổi sự trả thù của 50 vạn hùng binh, phải trầm mình tuẫn tiết tại sông Hát Giang. Nối tiếp nữ kiệt Trắc Nhị là cô gái mang tên Triệu Thị Trinh mới 19 tuổi, chiêu mộ nghĩa sĩ, huấn luyện quân binh 4 năm trường, đánh thắng trên nhiều mặt trận làm cho quân giặc thất điên bát đảo, nhưng vì bị nội thù phản bội, nên đã hy sinh tại núi Tùng, Thanh Hóa mới vừa tròn 23 tuổi.

 

Thời gian 359 năm đó: nhà Hán Lưu Bang, tam quốc Ngụy-Thục-Ngô bên Tàu. Nữ giới xuất thân cứu nước và chết vì nước trong tuổi còn xuân. Trưng Trắc mới vừa lấy chồng, Cô Trinh mới vừa 23 năm lẻ. Nơi đây, xin nhỏ giọt nước mắt cho ba cô gái VN Trắc, Nhị, Trinh, mà các đời vua sau tôn nhiều thánh hiệu, lập đền thờ, xưng tụng Bà Trưng, Bà Triệu, dù trong lứa tuổi mới đôi mươi. Tên tuổi ba người được khắc ghi trên nhiều đường phố, khắp mọi thị thành ba miền nước Việt dấu yêu, và ngời trang sử sách để thương để nhớ.

 

Sau thời kỳ này, có vài giai đoạn khởi chống ngoại xâm giành độc lập như : Lý Nam Đế lập nước Vạn Xuân 544-602 (nhà Lương bên Tàu) ; Mai Hắc Đế - vua mặt đen, xây thành Vạn An năm 722 (nhà Đường bên Tàu, họ đổi tên nước mình thành An Nam) ; Bố Cái Đại Vương dấy nghiệp chống Tàu 41 năm 761-802 (cũng thuộc nhà Đường); Khúc Thừa Dụ lập khu kháng chiến suốt từ năm 906 đến năm 923. Bấy giờ nhà Đường mất ngôi bá chủ, nước Tàu suy vi thành năm nước nhỏ tranh nhau, cơ hội tốt nhất để Tướng tài ba Dương Đình Nghệ khởi binh từ Thanh Hóa, chiếm thành Đại La, đuổi Tàu về nước năm 931, giành độc lập, nhưng bị Kiều Công Tiễn hãm hại nắm quyền (931-938). Bình minh Việt Nam mới vừa ló dạng bị đe dọa.

 

Ngô Quyền người Ba Vì, Hà Nội, đánh dẹp Công Tiễn, chiến thắng quân Nam Hán tại Bạch Đằng, và năm 939, lên ngôi, lập triều đại Nhà Ngô 939-965, đóng đô tại Cổ Loa, bổ nhậm triều ca, kiến thiết sơn hà, chấm dứt 1000 năm nô lệ Trung Hoa. Cuối đời Ngô, anh hùng tý hon cờ lau tập trận Đinh Bộ Lĩnh, người đất Hoa Lư, Ninh Bình dẹp yên loạn 12 sứ quân, lập Nhà Đinh 968-980, tức Vua Đinh Tiên Hoàng, đổi tên nước là Đại Cồ Việt. Nhờ Thái hậu Dương Vân Nga, Vua Lê Đại Hành người Thanh Hóa kế nghiệp, lập nên nhà Tiền Lê 980-1009. Thiền sư Vạn Hạnh giúp Lý Công Uẩn người Hà Bắc dựng nên Nhà Lý 1010-1225, đổi Đại La thành Thăng Long, tên nước là Đại Việt. Công chúa làm vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng người Thái Bình, nhờ bàn tay của Trần Thủ Độ, lên ngôi tức Trần Thái Tôn, lập Nhà Trần 1225-1400. Từ nhà Ngô đến nhà Trần 461 năm này vàng son nhất, kiêu hùng nhất, oanh liệt nhất, viết lên trang sử phi thường nhất, giữ yên bờ cõi, đánh đuổi ngoại xâm, bình Nam dẹp Bắc của gần 5 thế kỷ dân tộc VN, nhất là 2 triều đại Lý - Trần. Phía Nam, mở mang đất nước. Phía Bắc, quân Tàu kinh hồn, gót giày xâm lược Nguyên Mông tung hoành các nước tới Âu Châu, Trung Đông nhưng phải ngã gục và 3 lần tan nát trước khí thế đường đường của quân dân Việt Nam

 

Hồ Quý Ly người Nghệ An đổi ngôi, lập Nhà Hồ 1400-1407, thành nước Đại Ngu. Hai cha con bị quân Minh bắt, và nhà Minh chiếm nước ta. Lê Lợi anh hùng áo vải Lam Sơn người Thanh Hóa, với sự giúp sức lỗi lạc của Nguyễn Trãi, đánh đuổi quân Minh lập Nhà Lê 100 năm (1428-1527). Mạc Đăng Dung người Hải Dương cướp ngôi Lê lập Nhà Mạc. Trịnh Kiểm, Nguyễn Kim giúp Vua Lê chống lại hơn 50 năm, lấy Nghệ An làm ranh giới, trở thành Nam - Bắc Triều 1527-1592. Nhà Mạc tàn, thì Trịnh- Nguyễn (anh rể em vợ, người Thanh Hóa) phân tranh 178 năm, lấy Sông Gianh làm ranh giới. Miền Bắc có cảnh Vua Lê Chúa Trịnh. Miền Nam, Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi tới tận Cà Mau. Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ ba anh em áo vải Tây Sơn, Bình Định xuất hiện, dẹp Bắc chinh Nam, thắng cả Nhà Thanh tại Đống Đa, lập nên Nhà Nguyễn Tây Sơn 1778-1802. Vua Quang Trung băng hà sớm, Chúa Nguyễn Ánh từ Thái Lan kéo quân về lập Triều Nguyễn Gia Long 1802-1945, đổi thành nước Việt Nam, đặt kinh đô tại Huế, và Bảo Đại là vị vua cuối cùng, kết thúc mọi triều đại vua chúa Việt Nam. Thời kỳ này dùng tiếng la tinh làm chữ quốc ngữ tức chữ Việt bây giờ, 24 chữ cái rất đơn giản nhưng vô cùng phong phú, chỉ cần học vài tuần, tối đa vài tháng, là biết đọc, biết viết bất cứ chữ nào, vấn đề chỉ còn là lỗi chính tả, hiểu sâu hay cạn mà thôi.

 

Đời Vua Tự Đức năm thứ 9, tức năm 1856, chiến thuyền Pháp bắn vào Đà Nẵng, mở đầu xâm lăng và VN rơi vào thời Pháp thuộc 100 năm, bị chia làm ba nước nhỏ : Bắc Kỳ bảo hộ, Trung Kỳ tự trị, Nam Kỳ thuộc địa, và cái chữ “KỲ” khó nghe này, đúng ra bị đã cuốn phăng theo giặc Pháp vào 1954, không dùng nữa nhưng vẫn tồn tại đến ngày hôm nay!

 

Đệ Nhị Thế Chiến 1939-1945, vào năm 1940 Nhật Bản có qua chiếm nước ta. Năm 1945 Thế Chiến kết thúc, Nhật đầu hàngđiều kiện, Pháp bị giải giới cuốn rút, nước ta tranh thủ giành độc lập, Bảo Đại tuyên bố thoái vị và là vị vua cuối cùng của nước Việt Nam.

 

Thế độc lập đất nước Việt Nam của dân tộc Việt Nam quá non trẻ sau thời gian dài đô hộ chưa kịp hồi lực hồi sức hồi sinh, chưa đủ vươn tầm vươn thế, trong khi các thế lực liệt quốc liệt cường tranh hùng tranh bá phân chia, và Thực dân Pháp quay lại tiếp tục xâu xé Việt Nam. Dân tộc mình lại tiếp tục giai đoạn 9 năm chống Pháp.

 

Năm 1954, sau trận chiến Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève ra đời, Việt Nam bị chia cắt làm đôi tại Giới tuyến 17 – Sông Bến Hải làm cột mốc, Miền Bắc được gọi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với Thủ đô Hà Nội, Miền Nam được xưng Việt Nam Cộng Hòa với Thủ đô Sài Gòn.

 

Hai Miền Nam Bắc tiếp tục lâm vào cuộc chiến kéo dài 21 năm gọi là Cuộc chiến Quốc - Cộng, và kết thúc vào ngày 30-4-1975. Tên nước đổi thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, chọn Hà Nội làm Thủ đô, Sài Gòn đổi tên Thành phố.

 

Thời Pháp thuộc, có một số ít người Việt Nam phải sống xa quê hương với tên gọi lưu vong hay lưu đày. Sau 1975, làn sóng người Việt tha phương ồ ạt hơn, đông hơn gấp bội, hàng vài triệu người với tên gọi tỵ nạn.

 

Nhớ người VN lưu đày bên Tân Đảo hay các nước Phi Châu thời trước. Nhớ người Việt lưu vong ở Thái Lan của những năm nào. Khóc thương cho gần một triệu người đã nằm yên dưới đáy biển hay giữa rừng sâu, da thịt có lẽ cũng không còn. Phi Luật Tân tiêu điềuvẫn có làng tỵ nạn. Trên khắp năm châu đâu đâu cũng có người tỵ nạn, hai chữ tỵ nạn thương đau được mang và có lẽ mang đến cuối đời.

 

Có tật dậy sớm, mùa đông, ly cà phê lạnh rất nhanh. Nơi đây, tôi vẫn nghe tiếng dế đêm trường, vẫn nghe tiếng quốc kêu sương. Trong tâm thức sâu xa và đáy vực của tâm hồn, lại vang lên tiếng em bé nghèo “bánh mì nóng giòn đây” để kiếm chút tiền sách vở đến trường, tiếng bà Mẹ già nặng gánh trĩu vai “cháo đây, xôi đây” để kiếm áo kiếm cơm. Trong mắt tôi lại thấy nhiều bà Mẹ già VN mua bán ve chai, nhiều em bé sống lây lất qua các bãi rác, cả Nam Trung Bắc từ thị thành cho đến miền quê nơi đâu cũng có. Lại thấy nhiều em bé gái Việt Nam bị đi ra nước ngoài, có em thì “làm dâu” ngoại quốc, có em thì lạc cõi phiêu bồng.

 

Bỗng dưng giọt lệ làm ấm bờ mi: “Gia tài của Mẹ để lại cho con, Mẹ khuyên con tiếng nói thật thà, Mẹ khuyên con chớ quên màu da”. Dù ở đâu, ra sao, và làm gì, hãy nhớ nghe, văn hóa còn, đạo đức còn thì Dân tộc còn, nước Việt còn. Là con Rồng, là cháu Tiên, chúng ta dễ nhận ra nhau dòng giống Lạc Hồng, và một ngày kia cùng nhau bồi đắp Văn Lang.

 

Trọng đông 2012

TNT Mặc Giang
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 19633)
Thầy là tất cả như bông hoa cỏ nội mây ngàn, núi cao biển rộng hàm tàng đại thể như nhiên...
(Xem: 15019)
Cung điện Potala bắt đầu được xây dựng vào năm 1645 dưới thời Đạt Lai Lạt Ma thứ 5, phải mất 50 năm mới hình thành quy mô như hiện nay gồm Hồng cung và Bạch cung...
(Xem: 16042)
Tỉnh! Trong thiền thất của vị sư già, tỉnh! Tỉnh như ngọn đèn dầu yên tỉnh. Sáng mà không lay. Cháy mà không chao động... Nguyên Siêu
(Xem: 13985)
Y phục của người xuất gia cũng gây nhiều sự chú ý của giới nghệ thuật, chiếc áo cà sa đã đi vào văn học dân gian, im đậm vào văn hoá và tư tưởng con người.
(Xem: 12700)
Những sự vật đều nằm trong tiến trình của sự trở thành để rồi tan rã. Như thế một vật có tính chất tạm thời thì không thể cho chúng ta hạnh phúc thật sự...
(Xem: 12788)
Cũng một mùa xuân trong sáng đẹp đẽ như hôm nay nhưng là một mùa Xuân xa xăm lắm, một vị Quốc vương có tiếng nhân từ vui vẻ, ngự giá về các làng mạc thôn xóm...
(Xem: 12479)
Chúng ta đến đây là tiếp xúc cho được với niềm vui và nỗi buồn của một triều đại, của một ông vua, để từ đó có thể tiếp xúc được với niềm vui, nỗi buồn của chính mình trong kiếp sống con người này.
(Xem: 13453)
Một hôm, Ðức Phật cùng đệ tử vào thuyết pháp trong thành La Duyệt Kỳ, lúc ra về gặp chành thanh niên đang lùa một bầy bò vừa ăn no, chúng nhảy vọt vào húc nhau...
(Xem: 13648)
Bên trời sương mù đã tan hẳn. Vầng thái dương ẩn hiện sau áng mây thua, chiếu ánh sáng huy hoàng trong khoảng không gian trong tạnh...
(Xem: 13804)
Bước đi trong chánh niệm, chúng ta sẽ tiếp xúc được những sự màu nhiệm của cuộc sống. Từng bước chân thiền hành đã cho tôi tiếp xúc được với đất trời vào Thu...
(Xem: 14230)
Ngày xưa, thuở đức Phật còn tại thế, một hôm có người mẹ ôm xác con tìm đến đức Phật để khóc lóc và xin cứu sống cho đứa con của bà vừa mới chết...
(Xem: 12633)
Sau lễ tiễn đưa Phật và các thầy Tỳ kheo trở về tịnh xá Kỳ Hoàn, vua A Xà Thế cùng với đình thần trở lại nội cung để dự buổi yến thân mật...
(Xem: 13700)
Sau khi kính cẩn chắp tay hình búp sen, tôi quyết định chụp một tấm hình bên cạnh Đức Phật Như Lai. Và cùng với đó là ước nguyện nụ cười luôn nở trên môi mình...
(Xem: 13799)
Hôm nay theo thứ lớp khất thực Ðạo sĩ A La phải đặt chân vào một chiếc cổng cổ kính, nhưng không kém phần tráng lệ và mỹ thuật của một thương gia...
(Xem: 13662)
Con người không nên đổ thừa hoàn cảnh, mà phải có cuộc cách mạng tinh thần phổ cập trong xã hội với giá trị đạo đức Phật giáo để tháo những gỡ vướng mắc trong đời sống hiện tại.
(Xem: 13319)
Ngày mùa đông chúng tôi rủ nhau ra khu rừng chồi nho nhỏ cạnh khu nhà ở mướn của chúng tôi để hái hoa, hái trái dại về cắm bình hoa nhỏ...
(Xem: 15974)
Khi còn đi học, anh nghe chuyện kể rằng: Có nhà thám hiểm đi lạc vào bộ lạc của tộc người hung dữ. Người tù trưởng muốn mượn cớ giết anh để tỏ rõ sự khôn ngoan trước bộ tộc.
(Xem: 16016)
Chùa Từ Đàm từ quốc nội đến hải ngoại - HT Thích Nguyên Siêu
(Xem: 13792)
Xây dựngcủng cố một dòng chính văn hóa để đất nước tiến lên mà không mất gốc không hỗn loạn, đẹp mà dễ thương đó cũng là trách nhiệm của trí thức đương thời.
(Xem: 16711)
Đám lá dừa bắt đầu xào xạc, mùi mưa ẩm ướt xộc vào nhà qua mấy cánh cửa đang mở toan hoang. Tiếng mưa rào rào to dần như đã đến ngay cạnh bờ mương...
(Xem: 14297)
Sự bình an trong đời sống chưa bao giờ bỏ rơi người. Nó chỉ bị che lấp bởi những điều vụn vặt tầm thường. Để tìm lại sự bình an đó, người phải lau rửa, dọn dẹp lại bên trong người.
(Xem: 13025)
Cuộc đời ba trải dài theo năm tháng với bao biến cố bởi sóng gió cuộc đời; như dòng sông quê mình quanh co, uốn lượn mà mỗi khúc sông là một dòng chảy khác nhau...
(Xem: 13445)
Tôi bước lên đồi. Choáng ngợp trước một rừng hoa đại xum xuê rộng lớn. Những gốc cây sù sì, gân guốc tua tủa như đôi tay lực sĩ mạnh mẽ vươn cao. Biển trời bao la.
(Xem: 13410)
Con mèo mù nhìn là động lòng thương tâm, trắc ẩn! Gương mặt non nớt yếu ớt với hai hốc mắt dính lại, đi đứng liêu xiêu. Mỗi lần cho ăn, mình phải bế nó để lên bàn...
(Xem: 17504)
"Cái kiếp con người: Sinh lụy tử". Đó là điều chắc chắn. Nước mắt đã nhỏ xuống quá nhiều cho cái vòng tròn khép kín này.
(Xem: 13160)
Từ những chiếc lá xanh non cho đến lúc úa tàn héo rũ, đã trở thành quy luật thay đổi mất còn của tạo hoá.
(Xem: 13930)
Nếu mai là ngày cuối của cuộc đời tôi sẽ nói với bạn hãy nhìn tôi mà chiêm nghiệm và suy ngẫm một chút về cuộc đời này nhé, bạn ơi! Hãy sống có ích cho chính bản thân mình...
(Xem: 12557)
Sư ông bảo rằng: “Tiếng chuông đại hồng ngân lên không phải chỉ có chúng ta nghe được mà chư vị Bồ tát, Hộ pháp cũng đều nghe thấy. Tiếng chuôngcông năng siêu thoát...
(Xem: 12493)
Người biết yêu điều tốt ghét điều xấu là người biết phục thiện; người biết phục thiện thì dễ tiếp thu đạo lý giác ngộ; người biết tiếp thu đạo lý giác ngộ thì dễ thực hành tự tri...
(Xem: 12679)
Cảm khái từ một bản báo cáo của Liên Hiệp Quốc, Paul và gia đình vận động mọi người ngày thứ Hai không dùng thịt, như là một phương cách làm chậm lại sự biến đổi của khí hậu.
(Xem: 12890)
Dù là một kẻ ăn mày, những kẻ hèn mạc thấp nhất trong xã hội thì họ cũng có quyền sống và khao khát được sống. Ai tước đoạt quyền ấy của họ thì cũng có ngày sẽ phải trả giá...
(Xem: 15322)
Mỗi đêm trong sự thực tập Phật Giáo của tôi, tôi cho và nhận. Tôi nhận sự nghi ngờ của người Trung Cộng. Tôi tặng lại niềm tintừ bi.
(Xem: 15122)
Hãy quán hơi thở! Hơi thở luôn ở đây cùng chúng ta. Đức Phật đã dạy chúng ta thực hành thiền định về hơi thở, điều này cũng rất hữu ích như thiền định về chánh niệm.
(Xem: 13443)
Con về ngồi bên chân mẹ ngắm nhìn đôi chân xưa nhiều năm tất bật với đôi dép nhựa quanh năm. Bàn chân nứt nẻ đau rát mà mẹ đâu quản.
(Xem: 12799)
Đức Phật vì lòng thương con người nên chỉ rõ con đường Chân thật, tìm lại tâm mình trong những sóng gió khổ đau, biến đổi, mà tìm thấy được Chân thường trong Vô thường...
(Xem: 14187)
Biết Phật pháp, ứng dụng được Phật pháp vào đời sống của mình, đó là phước báu lớn nhất mà mình nhận được trong cuộc đời này. Bởi nhờ đó, mình đi không lầm lẫn.
(Xem: 14477)
Những ai đang đi trên lộ trình tâm linh và những ai muốn sống hòa hợp với người khác thì việc phát ngôn với sự hiểu biếtthương yêu là điều rất quan trọng.
(Xem: 12894)
Đời sống không chỉ là bung ra, thổi tốc mảnh tâm, đi truy tìm tự ngã trong một chốn sơn khê nào đó, hay trong những đô thị sầm uất, trong một cõi hoang vu...
(Xem: 12210)
Cái tạo nên giá trị làm người ở trong xã hội là nhân cách. Có nhân cách lớn (nhân cách tự-do-tinh-thần) là do có trí-tuệ-nhân-văn cao, có trí-lương-tri trong sáng...
(Xem: 13709)
Giữa đô thị ồn àophồn hoa, giữa nhịp sống náo nhiệt và vội vã, ta đi tìm riêng một khoảng lặng bình yên...
(Xem: 15071)
Với Phật giáo, sự hình thành và tồn tại của mỗi sự vật hay hiện tượng đều do nhân duyên. Duyên hợp thì sự thành, duyên tán thì sự tan.
(Xem: 21402)
Là một người Phật tử, Steve Jobs đã rất tinh tế khi sống lời Đức Phật dạy bằng cách cố vượt ra khỏi sự bức bách của tám nhân duyên ám ảnh trần thế...
(Xem: 14556)
Mặc dù thiền định là kỷ luật tôn giáo chính được thực hành bởi các Phật tử gốc Mỹ, nghi thức tụng niệm là một phần quan trọng của nhiều cơ sở thiền định.
(Xem: 14839)
Cần phảisức mạnh để nhận thức rằng chính nỗi sợ hãi và sự vị kỷ mới gây ra tức giận. Và cần phải có kỷ luật để thiền định về ngọn lửa đang hừng hực cháy của lòng sân hận.
(Xem: 13835)
Đã mấy mùa Xuân đi qua, mùa Thu trở lại, dòng đời vẫn trôi chảy, mây vẫn bay, nước vẫn thì thầm với rừng núi và cỏ cây… HT Thích Như Điển
(Xem: 16715)
Đẹp đến nao lòng, khi trong tiết tháng Bảy mưa phùn giăng nhẹ, và bất chợt nở nghiêng giàn những chùm hoa mướp cong cong. Thắt the và tươi mới. Nôn nao và tha thiết.
(Xem: 12803)
Những cơn sóng lăn tăn đủ kỳ cọ những vết sương gió trên da thịt con trôi đi và còn lại đứa con của mẹ dại khờ. Con thả lỏng và nằm nổi trên mặt nước xanh...
(Xem: 12243)
Có cái gì đó nơi nụ cười, cứ như ông Phật của 40 năm trước bằng cách nào đó đã quay lại với ông. Ông thấy thích pho tượng, thích như chưa bao giờ thích đến thế.
(Xem: 11493)
Cuộc sống này quý báu vô vàn, Đức Phật dạy thế cho nên tôi không bao giờ có ý nghĩ hủy hoại cuộc sống. Tôi yêu mến cuộc sống của tôi và của mọi người.
(Xem: 13886)
Việc du hành đến Ấn Độ tu tập đã giúp cho Job chuyển sang Phật Giáo. Thầy Kobun Chino, một nhà sư đã chủ trì hôn lễ của ông với bà Laurene Powell...
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant