Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,327,269
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250

Bồ-tát Thí Vô Úy

02 Tháng Mười Một 201807:55(Xem: 327)
Bồ-tát Thí Vô Úy
BỒ-TÁT THÍ VÔ ÚY

Thích Nguyên Hùng


Bồ-tát Thí Vô Úy

Mẹ hiền Quán Thế Âm là vị Bồ-tát có hạnh nguyện đại từ, đại bi, thương yêu tất cả chúng sinh muôn loài như người mẹ thương yêu đứa con duy nhất của mình. Ngài luôn quán sát, lắng nghe âm thanh kêu cứu, cầu nguyện của chúng sinh từ những nơi đau khổ để kịp thời ứng hiện cứu giúp.

Theo kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, Bồ-tát Quán Thế Âm có 33 ứng hóa thân, từ thân Phật, Độc giác, Bồ-tát… đến thân đồng nam, đồng nữ; ứng hiện bất cứ thân hình, thân phận nào mà cứu độ được chúng sinh, khai mở được con mắt pháp cho chúng sinh, phát khởi tâm Bồ-đề cho chúng sinh, hay đơn giản là làm cho chúng sinh bớt lo, bớt khổ, bớt buồn… là Ngài đều ứng hiện thân ấy. Ngài thường vận dụng 14 năng lực vô úy để cứu vớt chúng sinh thoát khỏi khổ đau, ách nạn, hoặc đáp ứng những yêu cầu chính đáng khi chúng sinh tha thiết hành trì tu tập theo pháp môn trì niệm danh hiệu Ngài, cho nên Bồ-tát Quán Thế Âm còn được biết đến với danh hiệu Thí Vô Úy: Vị Bồ-tát cho chúng sinh sự không sợ hãi!

Thí vô úy, cho sự không sợ hãi, cho cái không sợ hãi, nghĩa là ai gần gũi, ai tiếp xúc, ai nghe đến tên của Bồ-tát đều cảm thấy bình an, an ổn, không còn lo sợ gì nữa. Nói cách khác, Bồ-tát bằng mọi phương tiện, pháp môn tu tập để lấy đi sợ hãi trong tâm của của chúng sinh. Để thực hành hạnh nguyện đó, Bồ-tát Quán Thế Âm thường sử dụng sức mạnh vi diệu của Kim cang tam-muội vô tác, tức là vận dụng sức mạnh tự nhiên, không cần tác ý (bất tác ý chi lực dụng), cùng với một thứ tình yêu duy nhất đối với hết thảy chúng sinh trong mười phương, ba đời, sáu nẻo… khiến cho hết thảy chúng sinh đều thành tựu, đạt được 14 công đức vô úy. Mười bốn đức vô úy này, Tam tạng pháp số giải thích như sau:

1. Thực tập theo hạnh của Bồ-tát Quán Thế Âm, biết lắng tai nghe là để dừng lại, không chạy theo thanh trần, không rong ruổi tìm kiếm hạnh phúc hư ảo bên ngoài, không để cho cái thấy biết của mình bị cảnh vật, thanh âm tác động, để phản quan tự kỷ, quay lại soi xét tự tính của mình. Không thấy nghe bên ngoài thì không vọng tưởng; quay lại soi xét tự tính thì mọi thứ sẽ trở nên chân thực, vắng lặng, mọi khổ não sẽ không trở lại. Cho nên, nếu chúng sinh đang bị khổ đau mà thực lòng thực tập theo phương pháp quán chiếu này thì chắc chắn sẽ được giải thoát. Đây là vô úy thứ nhất, “quán kỳ âm thanh, tức đắc giải thoát”.

2. Cái biết là từ nơi tâm; cái thấy là từ nơi mắt. Tri kiến hay thấy biết của chúng sinh thường sai lầm, vì thường thấy biết bằng bản ngã, suy luận theo tập khí, mà thực tướng của các pháp là vô ngã. Cho nên Bồ-tát Quán Thế Âm tìm đủ phương tiện xoay chuyển cái thấy biết của chúng sinh luôn hướng về chân không. Chân khôngvô ngã. Đã vô ngã rồi thì có vào lửa lớn cũng không bị cháy được. Lửa đó chính là ngọn lửa tri kiến sai lầm, lửa dục vọng, lửa tham muốn. Đây là vô úy thứ hai, không còn lo sợ ngọn lửa tham dục đốt cháy, “thiết nhập đại hỏa, hỏa bất năng thiêu”.

3. Tai luôn thích nghe những lời mật đường, dua nịnh, bởi vì thế mà biết bao chúng sinh bị cuốn trôi vào dòng sông sinh tử vô tận chỉ bởi ‘ưa nghe’ lời ngon ngọt. Bồ-tát Quán Thế Âm bằng mọi phương tiện giúp chúng sinh xoay chuyển cái tính ‘ưa nghe’ lời nói bên ngoài, ưa nắm bắt âm thanh bên ngoài, trở lại quán chiếu bên trong, trở về với chân không vô ngã để không bị cuốn trôi hay nhấn chìm trong bể ái. Đây là vô úy thứ ba, “thủy bất năng phiêu”.

4. Do điên đảo vọng tưởngkhởi tâm sát hại chúng sinh. Do đó, đoạn diệt vọng tưởng thì tâm sát hại không còn. Bồ-tát Quán Thế Âm đã chứng ngộ thật tính, đoạn diệt hết vọng tưởng, phát khởi tâm từ bi rộng lớn, tuyệt đối không còn ý niệm sát hại. Chúng sinh tu tập theo hạnh của Bồ-tát Quán Thế Âm cũng thế, nếu ý niệm sát hại không còn thì giả sử có vào cõi nước của quỷ dữ La-sát, quỷ không hại được. Đây là vô úy thứ tư, “nhập chư quỷ quốc, quỷ bất năng hại”.

5. Thực tập hạnh lắng nghe, lúc đầu chỉ dùng tai mà nghe âm thanh, nhưng sau đó cả sáu căn đều có thể lắng nghe được hết. Nghe rồi suy ngẫm sẽ thấy không gì có thể nắm bắt được, như âm thanh gió thổi chuông ngân làm sao nắm bắt, ấy gọi là thật sự lắng nghe. Khi chúng sinh mê muội thì sáu căn đều có thể hại người, không khác gì binh đao. Người đời chẳng đã nói ‘miệng lưỡi như gươm dao’ đó sao! Bồ-tát tu tập, sáu căn đã diệt, đã trở thành chân không, hết thảy mọi thứ trần cảnh đều giống nghe các thứ âm thanh, không thể nắm bắt, nên có thể cứu giúp chúng sinh thoát khỏi nạn bị gươm đao gia hại. Đó là đức vô úy thứ năm, “lâm đương bị hại, đao đoạn đoạn hoại”.

6. Lắng nghe lâu ngày, cũng giống như theo dõi hơi thở hay niệm Phật lâu ngày, ắt sẽ có định. Có định thì tuệ sẽ phát sinh. Một khi tuệ giác đã phát sinh, chiếu sáng mười phương, soi khắp pháp giới, tối tăm u ám tất tự tiêu diệt. Chúng sinh sở dĩ bị ma quỷ, Dạ-xoa bức hại do bởi vô minh, mê tín; nay tu tập phát tuệ, cho dù quỷ Dạ-xoa có tới gần chúng cũng không dám nhìn, nói chi đến gia hại. Đây là đức vô úy thứ sáu, “chư ác quỷ, thượng bất năng dĩ ác nhãn thị chi, huống phục gia hại”.

7. Chúng sinh bị thanh sắc hư vọng trói buộc còn bền chặt hơn xiềng xích, gông cùm. Bồ-tát tu tập đã diệt hết cả hai tính động và tĩnh, cho nên có thể quán chiếuchuyển hóa những âm thanh hư vọng đưa về chánh chân, nhờ vậy thoát khỏi mọi trói buộc của thanh sắc giả dối. Chúng sinh nhờ thực tập theo phương pháp này mà không bị thanh sắc trói buộc thân tâm, đây là đức vô úy thứ bảy, “cấm hệ già tỏa, sở bất năng trước”.

8. Thực tập hạnh lắng nghe không những thoát được sự trói buộc của thanh sắc hư vọng mà còn làm cho lòng từ bi ngày lớn mạnh. Lòng từ ban rải rộng khắp khiến cho ai nấy gặp được đều vui, thấy được đều mừng, cho nên dù có đi qua đường hiểm, gặp quân giặc cướp cũng không có gì lo sợ. Đây là đức vô úy thứ tám, “kinh quá hiểm lộ, tặc bất năng kiếp”.

9. Huân tập hạnh lắng nghe lâu ngày thành tánh, tức là từ văn tuệ thành tư tuệ, sẽ lìa xa mọi vọng tưởng dục trần, khiến cho sắc trần không lay động. Pháp môn này có thể giúp cho người có nhiều tâm tham đắm nhục dục không còn tham dục. Đó là đức vô úy thứ chín, “đa ư dâm dục, tiện đắc ly dục”.

10. Tánh nghe một khi đã thuần tịnh, xa lìa mọi vọng trần thì căn cảnh tương nhập, viên dung vô ngại, đó là lúc tâm sân hận bị tiêu diệt. Đây là đức vô úy thứ mười, “nhược đa sân nhuế, tiện đắc ly sân”.

11. Thực hành hạnh lắng nghe có thể diệt trừ mọi si ám, đưa tâm trở lại tánh minh, nên có thể khiến cho người tâm trí ám độn, bất thiện trở nên thông minh sáng suốt. Đó là sự không sợ hãi thứ mười một, “nhược đa ngu si, tiện đắc ly si”.

12. Dung hình phục văn. Dung hình tức là đã diệt trừ hết sự chướng ngại của hình tướng. Phục văn là trở lại tánh chơn. Từ đó, người tu đi vào cuộc đời mà không làm hỏng pháp thế gian, có thể đi khắp mười phương,

cúng dường vô số chư Phật nhiều như cát bụi, thừa tự gia tài pháp bảo, khiến cho chúng sinh đều thành pháp tử. Đã là pháp tử, tức là đứa con chân thật của Như Lai thì còn gì sợ hãi? Lấy sự không sợ hãi này mà bố thí cho hết thảy chúng sinh không có con trai, thì chúng sinh cầu con trai được con trai vậy!

13. Lục căn viên thông, minh chiếu vô nhị. Lục căn của Bồ-tát đã viên dung, thông đạt vô ngại, bao trùm pháp giới, giống như tấm gương lớn, phản chiếu và sáng soi cùng lúc, do đó mà có thể tùy thuận pháp môn, thọ lãnh không sót, nên không còn sợ hãi. Lấy sự không sợ hãi này mà bố thí cho chúng sinh không có con gái, thì chúng sinh cầu con gái được con gái vậy!

14. Hiệu Viên Thông. Danh hiệu của Bồ-tát Quán Âm cũng là danh hiệu của chư Bồ-tát trong mười phương, vì Ngài đã chứng đắc quả vị chân thật viên thông, cho nên có thể làm nơi nương tựa cho chúng sinh cầu phước. Chỉ cần niệm danh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm là niệm danh hiệu của hằng hà sa số chư Bồ-tát trong mười phương, có hằng hà sa số chư Bồ-tát cùng linh cảm, nên không còn gì sợ hãi.

Như vậy, Bồ-tát Quán Thế Âm đã vận dụng năng lực tam-muội Kim cương vô táclòng từ bi rộng lớn để hóa độ, cứu giúp chúng sinh, ban cho chúng sinh pháp môn phương tiện quán và niệm danh hiệu Ngài, hay quán và nghe âm thanh, thực hành hạnh lắng nghe để thoát khỏi sự sợ hãi. Rõ ràng, những ai đã từng trì niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, những ai dù chỉ một lần tập hạnh lắng nghe khi đối diện với khó khăn, khổ não, bức bách, dồn nén… sẽ cảm nhận rõ ràng nhất những đức tính vô uý vừa nêu trên. Thật đúng như lời nguyện của Bồ-tát Quán Âm khi xưa: “Nguyện khi con hành Bồ-tát đạo, nếu có chúng sinh nào bị các khổ não, sợ hãi… có nguy cơ thối thất Chánh pháp, đọa vào đường dữ, ưu sầu, một mình côi cút, không người cứu hộ, không áo, không nhà, bần cùng cơ cực… nếu chúng sinh ấy có thể nhớ nghĩ đến con, niệm danh hiệu của con, vì chúng sinh ấy biết thiên nhĩ của con có thể nghe thấy, thiên nhãn của con có thể nhìn thấy, thì nếu chúng sinh ấy không thoát khỏi những khổ đau, ách nạn, con thề trọn không thành tựu Phật quả” (kinh Bi hoa).
Thích Nguyên Hùng
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 3)
Khi chúng ta lần đầu tiên tiếp cận những giáo lý của Đức Phật, chúng ta phải bắt đầu ngay từ đầu, tức là các thực hành sơ khởi (Ngondro).
(Xem: 188)
Với khám phá rất quan trọng, Einstein nhận thấy rằng hai sự vật không có thể được quan niệm như là riêng biệt. Nhị nguyên không phải là nhị nguyên mà là hai diện mục của một bản lai tương tự như hai mặt của một đồng tìền.
(Xem: 251)
Việc sám hối đúng pháp như trong bài Kinh Tàm và Quý Đức Phật đã dạy rất rõ. ... ý nghĩa Tàm Quý là thấy rõ lỗi lầm, xấu hổ ăn năn quay đầu sám hối và nguyện từ bỏ việc xấu ác không bao giờ tái phạm vào nữa.
(Xem: 193)
Nói thoát khổ như thế, nghĩa là thoát ra khỏi sinh tử luân hồi. Nghĩa là thoát ra khỏi những buộc ràng, những phiền trược của tất cả các kinh nghiệm của chúng ta luân hồi trong ba cõi
(Xem: 98)
Tosui là một thiền sư nổi danh vào thời của ông. Ông đã sống trong nhiều thiền viện và giảng dạy tại các tỉnh khác nhau.
(Xem: 85)
“Nhạc sĩ 50 năm Phật giáo” Hằng Vang - Phía Bên Kia Triền Dốc Của Cuộc Đời
(Xem: 265)
Nhưng nếu hiểu “ma” là chúa tể của dục vọng hay ham muốn của chính chúng ta….thì ma đó vô cùng đáng sợ, hãm hại chúng ta đã đành, mà còn hủy diệt luôn cả trái đất này.
(Xem: 124)
Văn Nhân là văn sĩ nổi tiếng đã có vài chục tác phẩm xuất bản. Nếu như sinh ra ở Hoa Kỳ hay Tây Phương thì chàng ta đã trở thành triệu phú, đời sống đế vương.
(Xem: 163)
Kiếp sống con người quả là phù du, vì thế chúng ta hãy nên dùng khoảng thời gian ngắn ngủi đó của mình trên địa cầu này để mang lại một chút lợi ích cho mình và kẻ khác.
(Xem: 145)
Có năm lực phải được thực hành khi gần kề cái chết. Chúng rất quan trọng. Hiện nay, đó là điều chúng ta cần phải tu tập.
(Xem: 411)
Tôi xin niệm ân tất cả chư Tôn Đức Tăng Ni, người gần cũng như kẻ ở xa, người thân cũng như sơ, Phật tử cũng như không Phật tử, quý vị đã vì sự tồn tại văn hóa của quê hương tại xứ người mà nhiệt tình cộng tác cho báo Viên Giác suốt trong hơn 40 năm qua.
(Xem: 179)
Giống như dòng thác đổ mạnh mẽ Không thể chảy ngược lại Cũng vậy chuyển dịch của một đời sống con người Cũng không thể đảo ngược được.
(Xem: 179)
Việc nối kết kiếp sống tới khi ở trong thể trạng trung ấm là một tiến trình của sức hút và sức đẩy.
(Xem: 201)
Những người nào xác định “tôi sẽ chết” sẽ không lo sợ nữa Làm thế nào họ kinh hãi ngay cả những viễn tượng của sự chết!
(Xem: 165)
Theo Tantra Yoga Tối Thượng, thì không có tâm nào vi tế hơn tâm linh quang; nó phục vụ như căn bản của tất cả mọi hiện tướng của luân hồiniết bàn.
(Xem: 334)
Tây Ban Nha là nơi rất vắng Phật Tử, vì là quốc gia truyền thốngđại đa số dân theo Thiên Chúa Giáo. Trong hơn 500 năm, từ trước khi Tây Ban Nha thống nhất năm 1492, Công giáo đã đóng vai hình thành căn cước quốc gia Tây Ban Nha
(Xem: 200)
Chúng ta cứ nghĩ rằng mình thương mình nhưng thật ra là đang hại mình, làm cho mình đau khổ (hoặc hạnh phúc giả) trong hiện tại và sẽ đọa lạc trong tương lai.
(Xem: 185)
Cuộc đời vốn đục trong, đen trắng, Thánh phàm, vàng thau lẫn lộn, nói chung các cung bậc đều đủ.
(Xem: 708)
"Ngoảnh nhìn lại cuộc đời như giấc mộng. Được mất bại thành bỗng chốc hóa hư không", hai câu thơ của vị thiền sư nào đó đã ngấm sâu vào huyết mạch của tôi
(Xem: 189)
Sự buông xả là ngoài không sở cầu trong không sở đắc. Buông là không bám chấp vào sự bên ngoài, xả là ý niệm tâm tư bên trong.
(Xem: 234)
Người sống mà ôm tâm hận thù thì đó là thuốc độc mạnh gây hại rất lớn. Vì vô minh chấp ngã nên người đời không thấy sự độc hại của tâm thù hận,
(Xem: 161)
Sáu tùy niệm hay còn gọi là ‘lục niệm’ là sáu đối tượng để hành giả hồi tưởng, tưởng niệm, suy nghĩ.
(Xem: 192)
Phật Thích Ca Mâu Nilòng bi mẫn vô biên dành cho mỗi chúng sinh. Người ta nói rằng chính lòng bi mẫn vô biên này đã...
(Xem: 503)
“Con chim họa mi hót bên bờ vai đức Phật”, đó là cố danh ca Hà Thanh (1930 – 2014), người đệ tử của đức Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, được ngài ban pháp danh Tâm Tú.
(Xem: 334)
Nói đến xuân là nói đến cái đẹp, cái tươi mát, trong lành, cái sinh lực của con người; cho nên rất phong phú trong văn chương Việt Nam dù là bình dân hay bác học.
(Xem: 200)
Tứ Ân hay là Tứ Trọng Ân, bốn ơn nặng mà người Phật tử phải cố gắng đền đáp, cho vuông tròn.
(Xem: 208)
Bạn chỉ cần học từ buddho để hành thiền. Trong khi việc học ở thế gian không bao giờ hết, và chúng cũng không giúp bạn vượt thoát khổ đau.
(Xem: 201)
Cốt lõi của kinh kim cangtâm bình đẵng. Bình đẵng giữa con người với con người, bình đẵng giữa con ngườichúng sinh khác...
(Xem: 174)
Khi nghiên cứu về thiền định, nhiều học giả thừa nhận rằng: thiền có nhiều thứ có thể cung cấp liệu pháp tâm lý, và cho thấy rằng hiệu quả...
(Xem: 199)
Các hiện tượng tự nhiênxã hội cứ thiên biến vạn hóa liên tục xảy ra xung quanh ta mọi nơi mọi lúc tạo ra muôn màu muôn vẻ của cuộc sống.
(Xem: 402)
Người học đạo, hành đạo, không để bị rơi vào tâm cảnh hối tiếc quá khứ hay vọng tưởng tương lai. Hạnh phúc chỉ có thể hiển hiện ngay nơi thực tại hiện tiền.
(Xem: 242)
Nhiều người cho rằng tăng sĩ không làm gì cả, nhưng thực ra công việc buông bỏ các uế nhiễm là công việc khó khăn nhất trên đời
(Xem: 282)
Trong pháp thoại Thế Tôn đã khẳng định, “người nào tu tập được tưởng vô thường, thì có thể tu tập được tưởng vô ngã”.
(Xem: 384)
Thống Đốc David Ige — một trong những chính khách Phật tử nổi bật nhất của Hoa Kỳ - nói về di trú, biến đổi khí hậu, và từ bi trong khi cầm quyền.
(Xem: 203)
Những vị tu sĩ Phật giáo đầu tiên đã đến Việt Nam để quảng bá Phật pháp vào khoảng đầu thế kỷ thứ II sau Tây lịch,
(Xem: 275)
Đức Phật nói rằng thế giớivô sở hữu, chúng ta không ai sở hữu được gì ở cuộc đời này, có chăng cũng chỉ là sự nắm giữ tạm thời,
(Xem: 224)
Suối Tào-Khê chảy ngang Nam Hoa Thiền Tự, tọa lạc tại tỉnh Tào Khê, bên núi Song Phong, huyện Khúc Giang, thuộc Quảng Đông, Trung Quốc.
(Xem: 232)
“Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng;
(Xem: 206)
Những năm cuối của thế kỷ 20, “Bến Xe Ngựa” ngay trước nhà tôi đã di dời vào “Bến Xe Lam” gần chợ từ lâu, trả lại một con đường...
(Xem: 162)
Từ ngàn xưa đến nay, chánh ngữ vẫn là giới luật để khẳng định tính Người trong xã hội vì nó xuất phát từ chánh niệmchánh tư duy.
(Xem: 472)
Hạt Bụi vừa trở mình mở mắt ra và cảm thấy quá đỗi ngỡ ngàng, tò mò với vạn vật xung quanh.
(Xem: 318)
Như thường lệ, sau giờ điểm tâm sáng, tiểu Ngọc đều ra khoảng sân rộng trước đài Quan Âm đọc truyện tranh Phật Giáo.
(Xem: 304)
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng đừng cầu nguyện sau những cuộc thảm sát mà cần ngồi lại với nhau để tìm phương thức giải quyết trong tinh thầnPhật Giáo gọi là Kiến Hòa Đồng Giải để rồi đi đến Giới Hòa Đồng Trụ tức cùng chung sống hòa bình trên hành tinh duy nhất này.
(Xem: 323)
Chỉ có buông bỏ, không bị chi phối bởi ham muốn hay thù hận bạn mới nắm bắt được niềm vui, niềm hạnh phúc thực sự cho mình!
(Xem: 302)
Trong đời sống thường nhật, những người cùng ý tưởng, chung sở thích thì hay kết duyên tụ lại với nhau.
(Xem: 266)
Thiền chỉ (samantha) và Thiền quán (vipassana) là hai nội dung lớn trong vấn đề “phát triển của tâm” được đề cập trong Kinh tạng Nikāya.
(Xem: 288)
Ngài Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?” Ngài Nam Tuyền đáp “Tâm bình thường là đạo”, nói theo chữ Hán là “bình thường tâm thị đạo”.
(Xem: 380)
Tuệ quán vô thường sẽ giúp thấy rõ tính chất duyên sinh, vô ngã của vạn pháp. Không có bất cứ cái gì trường cửu, bất biến mà...
(Xem: 604)
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: Này Thiên tử! Nếu có Bồ-tát biết tất cả các sanh mà cũng chẳng sanh, cũng biết tất cả sanh tử của chúng sanh.
(Xem: 354)
Bố thí, cúng dường là hành động làm phước thiện, theo luật nhân quả, nó là điều kiện thiết yếu để ta tiêu trừ đau khổ...
Quảng Cáo Bảo Trợ