Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Bài Mới Nhất trang Văn Học
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
20,008,453

Giải Thoát Thơ

Thursday, June 13, 201300:00(View: 8130)
Giải Thoát Thơ


Giải Thoát Thơ


Trong sinh hoạt hàng ngày của đời sống con người, không chỉ làm việc để tạo nên của cải vật chất cung ứng cho đời sống. Cũng chưa phải ăn uống nghỉ ngơi và giải trí để giúp cho cơ thể được thoải mái, tinh thần được vui tươi mới gọi là hạnh phúc. Vì có nhiều người giàu sang tột đỉnh, quyền uy cao ngất mà họ vẫn cảm thấy đang thiếu thốn một thứ gì không thể xác định được. Vẫn có những điều khiến cho họ thấy đang thiếu vắng bóng dáng hạnh phúc. Cho nên muốn có một cuộc sống an vui, cần phải giải tỏa những nghi vấn, san bằng nghịch cảnh, dung hòa những định kiến, thì cuộc đời mới có thể dung thông. Nếu không thì cuộc sống sẽ bất an và tương lai vẫn trong vòng lẫn quẩn của tư duy mâu thuẩn không cùng. Nỗi thao thức ấy, chẳng thể đem đến cho chúng ta một nguồn sống hài hòa, vì biết tìm đâu ra suối nguồn diệu giác để tắm gội thân tâm, rửa sạch tấm thân vốn đã bị bụi hồng trần lấm lem nhơ nhuốc. Những điều thấy biết của con người vẫn còn giới hạn, chưa thể nào có thể giải đáp được những ưu tư, nghi vấn mà mỗi lúc cứ chập chùng ẩn hiện như những đợt sống trên biển cả mênh mông, muôn trùng bờ bến. Khó lấp, khó hàn gắn những ray rứt khôn nguôi trong lòng nhân thế.

 Vì vậycon người muốn tìm về nẽo đạo, để tạo cho mình một cuộc sống hạnh phúc an lạc. Tìm một món ăn tinh thần để cho cuộc đời đuợc thanh lương, thoải mái. Tinh thầnchức năng dẫn đường cho cuộc đi, mong ước một chốn đến không bị ngăn ngại bởi chướng duyên. Món ăn tinh thần nầy, ngoài đạo giải thoát còn có văn thơ là một giá trị không kém đạo giáo. Vì nền văn hóaphương tiện để hướng dẫn chúng ta bước vào nẽo đạo, đi đến mục đíchcon người muốn đạt đến. Hay nói khác là văn hóa cũng là phương tiện để đưa đạo vào đời, khiến cho nhân sinh có một hướng đi tốt đẹp hơn.

 Sự tương quan giữa văn họctôn giáo là một điều tự nhiên, như là phương tiện để giúp cho những kẻ lữ hành trên con đường vạn dặm. Như trong một tài liệu về lịch sử Phật giáo, một đoạn sách diễn tả lại rằng: “Sở dĩ mà Phật giáo du nhập vào Việt Nam một cách thuận lợi, và nhanh chóng có rất nhiều ngưòi yêu thích, là vì tinh thần Phật pháp có nhiều điểm trùng hợp với tình tự văn học dân gian. Ví dụ như trong đạo Phật có ngày lễ Vu lan báo hiếu, thì ngoài dân gian cũng có: … Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho trọn chữ hiếu mới là đạo con. Hay Phật giáolòng từ bi, tính hỷ xã thì ngoài dân gian cũng có: … Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.” …

 Hay những nghi vấn mà được giải đáp thỏa đáng, đúng với những trình độ khác nhau, nhưng cùng đồng hiểu như nhau đều là những đáp ứng thực tiển. Như một câu hỏi mà xưa nay vẫn làm thao thức của nhiều thức giả:

 -Chúng ta sinh ra và sẽ đi về đâu ?

 Và cũng may mắn thay câu hỏi nầy cũng đã được một vị Thiền sư khai thị:- “Nếu biết rằng trong hiện tại chúng ta đang đi đâu, thì sẽ biết tương lai chúng ta sẽ về đâu” ? Lời khai thị thật thâm thúythực tế biết bao. Vì đường đời thì trăm hướng, nếu bây giờ chúng ta chọn hướng nào, thì mai sau sẽ đi theo hướng ấy. Như người Phật tử bây giờ siêng năng đi chùa, tinh tấn tu hành, sẵn sàng dấn thân vào việc từ thiện, thì tương lai sẽ đưa chúng ta đi theo con đường thiện lành và sẽ dẫn đến bến bờ hạnh phúc. Còn ngược lại nếu bây giờ giải đải, không chọn cho mình một hướng đi, thì dĩ nhiên sẽ nằm lì hay đi về một hướng khác, mà hướng ấy như thế nào cũng còn tùy nhân duyên của từng người.

 Trong sinh hoạt dân gian, thơ văn cũng đóng góp một vai trò rất quan trọng, được thể hiện qua ca dao, tục ngữ là con thuyền chở đời qua sông. Vì bên nầy là thực tại lối mòn, mà bên kia là chân trời mơ uớc. Như lời một bài hát nào đó: … Bên kia sông có ánh mặt trời. Bên kia đồi cỏ hoa chen lối. Bên kia suối suối reo lạnh lùng. Bên kia núi núi mơ chập chùng. Là bài thơ toàn chữ hư vô...

 Văn học của Tôn giáo , thơ văn cũng đóng một vai trò rất quan trọng để chuyên chở muôn lòng trở về nhất quán. Nơi ấy chúng ta không còn mong ước sẽ đi về đâu nữa, vì là chốn tột cùng mơ ước của con người. Nơi ấy là nơi “ngã tướng bất sanh” thì còn chổ nào để ước mơ của chúng sinh về đậu ?

***

 Nhớ một lần tu học, nghe một vị thầy kể một giai thoại văn thơ thật tuyệt vời. Giai thoại nầy đã đưa thơ ra khỏi những đối đãi thị phi, không còn một ngăn cách giữa thiện ác, không còn những hoài nghi sai khác, không còn những chấp ngã đời thường. Trái lại thơ đã thăng hoa lên trăng sao vằng vặc, cho muôn đời ánh sáng mầu nhiệm kia chiếu rọi vào vô minh, xóa tan ngã chấp, giải tỏa những nghi vấn trùng trùng. Vì thơ đã cất cánh, thơ đã tung bay như muôn vàn hoa đốm hư không kết tụ. Thơ muôn đời được kết hương hoa dâng tặng. Thơ dâng tặng cho đời để làm hành trang, dùng phương tiện nầy trong việc tìm hướng đi cho cuộc đời. Là bức thông điệp truyền đi để báo hiệu cho biết một điều vô cùng huyền nhiệm. Khuyến cáo cho đời đừng đối đãi thị phi để thong dong cùng nhau bước đi về miền chân cảnh.

 Chuyện kể:- Ngày xưa có hai thầy kết thành huynh đệ, cùng nhau tu tập rất tinh cần. Người sư huynh có một cuộc sống ung dung tự tại nhờ kinh kệ đã nhuần, tương chao đã thấm cho nếp sống thanh cao có cơ phát triển cả thể xác lẫn tinh thần. Chốn tu hành cũng được thanh tịnh trang nghiêm, nên thiên nhiên đã dung thông, tâm tình đã thuần nhất một sắc màu giải thoát. Cuộc sống thong dong tự tại của vị thầy nầy đã toát ra một vẻ đẹp tinh khiết, qua một trí tuệ uyên thâm Phật pháp nhiệm mầu. Vị thầy ấy vốn đã có đầy đủ những hành trạng cần thiết, để du hóa cứu độ chúng sinh, không còn vướng mắc một mảy may nào hệ lụy. Vì chí nguyện tu hành đã thành đạt (tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn) không còn hoài nghi, nên nhìn thế sự chẳng mảy may vướng bận. Lòng thanh thoát, ý chí kiên cường và cuộc đời vô ngã vô úy ấy đã thể hiện trên bước hoằng hóa của Người mong muốn cho chúng sinh được thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.

 Nhờ thâm nhập kinh tạng nên đã tạo cho Người một tâm hồn thơ rất phong phú. Nhờ kinh điển được chuyển dịch qua các thể văn vần, lối văn rất dễ dàng huân nhập vào lòng người. Như sương ngàn gió núi tưới tẩm cho cỏ cây hoa lá, cho bông hoa tô thắm thêm hương sắc. Thỉnh thoảng thầy cũng có làm thơ, tuy ý thơ thì thanh thoát, nhưng luật thơ còn ảnh hưởng vào thuật ngữ của kinh kệ công phu. Nên đều bị các huynh đệ chê thơ chỉ in như những bài kệ, những bài sám. Do đó mà thơ chưa thoát ra khỏi những khuôn mòn. Để thơ được bay bổng với trăng sao, thơ được thăng hoa với niềm rung cảm của thế nhân một cách tự nhiên mà không cần đến lý luận.

 Loại thơ nầy thì thú thực thầy chưa từng làm. Tuy nhiên nếu gặp một khung cảnh nào thuận duyên để cho thơ tung bay, thì lúc ấy thơ sẽ hiển hiện như bóng trăng vằng vặc, như giọt sương long lanh đang phản chiếu. Tất cả sẽ soi đến muôn trùng, tìm thấy chân nguyên.

 Nhiều lần người sư đệ thách thức sư huynh làm được một bài thơ cho nên thơ. Phải thơ mộng và quyến rũ như tình tự của thế nhân, như giấc mộng hoang đường, để làm cho nhiều người mê đắm, phải là thơ và rất thơ.

 Một hôm nhân dịp ngày lễ hội nguyên tiêu, tại chùa có rất nhiều thiện nam tín nữ đến viếng cảnh. Thật là cảnh dập dìu tài tử giai nhân, đang chập chờn như hư ảnh khiến cho cảnh chùa thanh vắng chợt lung linh một cảnh tượng lạ lùng, dưới bóng trăng như ảnh hiện lên cảnh tiên giới.

 Vị thầy liền ứng khẩu đọc:

 Long lanh như ánh trăng vàng

 Như Lai, Điều Ngự trên làn tóc em.

 Thật tuyệt vời làm sao vì chợt dưng mà thấy được bóng Như Lai, Điệu Ngự. Vì tinh thể của thơ đã được xuyên suốt qua một tâm hồn mênh mông và cái cảnh huyền diệu kia được cơ may ảo hoá, để ngẩu nhiên mà ngự, vô tình mà hiện.

 Long lanh

 Như ánh

 Trăng vàng

 Thử đọc một cách chậm rãi, ngắt quảng và xuống hàng như trên, để được nhìn lâu nhìn thấu suốt cái tính chất long lanh của hiện tượng. Một hiện tượng thật có thật không trong sự chuyển hóa của muôn trùng. Cho đầy đủ mọi yếu tố của bao la vũ trụ bát ngát hư không, trong một cuộc hội ngộ đầy những khuôn mặt hân hoan. Cho cuộc tương phùng được niêm hoa vi tiếu để lại cho đời những chuổi ngọc muôn màu ảo diệu. Một cảnh giới huy hoàng tráng lệ, mà đời thường khó bề thấu suốt, ít khi thấy được. Và đọc chậm rãi để như thấy bước thiền hành của hành giả đang cảm nhận từng nguồn an lạc, đang thấm nhuần trong từng bước tỉnh thức.

 Nhưng tiếc thay vừa mới nghe qua người sư đệ nầy đã thẳng thừng phản đối:

 -Sao huynh lại làm thơ tình? diễn tả thế giới đời thường tục lụy? Như Lai, Điệu Ngự là những bậc để cho người đời cung kính, lễ bái sao lại ở trên làn tóc em ? Thiếu nghiêm túc, không chính xác, thật không xứng đáng cho sư đệ tôn kính ! Tuy sở học của đệ chưa bằng huynh, chưa thấu đạt được lẽ sắc không, lý vô thường, nhưng khi đọc bài thơ trên của huynh chắc chắn nếu ai phân tích bài thơ, cũng sẽ tìm ra cái tinh thần thiếu trung thực, đã xem thường chư Phật của sư huynh.

 Vị sư huynh ôn tồn trả lời:

 -Trên làn tóc em ? nơi ấy là chốn giải thoát trên sự giải thoát, vì như Đức Phật cũng có dạy: Con người có khả năng thành Phật, tức là có khả năng giải thoát, và như vậy có phải là Như Lai đã giải thoát trên sự giải thoát rồi chăng ? Như hoa sen, từ trong bùn nhơ nước đọng, được vươn lên khỏi tầm ô uế ấy, nên người đời đã dùng hoa sen để tượng trưng cho sự giải thoát. Đức Phật và chư vị Bồ tát được ngồi trên hoa senbiểu tượng cho sự giải thoát. Phàm nghi người ta dùng con mắt thường để thấy, thì cái thấy ấy vẫn còn lẫn quẩn trong nhị nguyên đối đãi, và sự ấy cũng luân chuyển trong vòng sinh tử luân hồi, không bao giờ thoát ra khỏi.

 Muốn thoát thì phải học hỏi những phương pháp để có cái nhìn, suy nghĩ, lời nói cũng như việc làm đều chân chánh. Như trong Bát Chánh ĐạoĐức Thế Tôn đã dạy, được như vậy mới có thể đạt đến định và tuệ.

 Và ở đời việc gì cũng có lý sự viên dung. Có trong có ngoài, trong thì phải thanh tịnh tâm ý, để nhìn bên ngoài không bị hoàn cảnh cuốn hút theo. Như chùa chiền ngày xưa thì phong cảnh u nhã, thanh vắng nhờ vậy mà giữ được cho đạo tràng thanh tịnh. Nên đã giúp cho thiền sinh nhiều điều kiện thuận lợi để tu hành. Mặc dù thỉnh thoảng cũng có khách thập phương đến viếng chùa ngoạn cảnh, cúng dường cũng là việc thường tình. Nhưng không vì thế mà có thể cho rằng khách thập phương đến sẽ làm cho cảnh chùa mất đi vẻ trang nghiêm, hay làm vơi bớt lòng thanh tịnh của những vị tu hành đã đạt đạo.

 Cảnh thanh tịnh của đạo tràng, lòng thanh lương của vị Thiền Tăng xuyên qua những tâm hồn thành tín của khách hành hương, với những tấm lòng trong trắng, đang dâng lên Tam Bảo những lời nguyện thiết tha, như những đài hoa cúng dường. Chợt sư huynh thấy long lanh bóng Như Lai đang ngự trên tất cả và nở hào quang chiếu rọi, như ánh trăng vàng soi khắp thế gian. Sự hiện hữu nầy rồi có thường hay không, hay cũng chỉ là hình ảnh của Thiền sư Hương Hải đã diễn tả:

 Nhạn quá trường không

 Ảnh trầm hàn thủy…

 Còn lưu lại hay chỉ thoáng qua? Như bóng trăng vàng, làn mây xám, mọi thứ đều chuyển hoá khôn lường, biến dịch khôn tả.

 Hay như cảm nhận của cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương, khi trẩy hội chùa Hương:

 Suối biếc chuyển lời kinh vọng khắp

 Bụi hồng theo ngọn gió tung hê

 Bổng dưng tìm thấy con người thật

 Của chính mình xưa trót lạc đề…

 Ngoại giới thanh tịnh giúp cho nội giới sáng suốt để chợt bừng lên cái thấy, cái biết chân thật mà trong thiền môn gọi là “Bản lai diện mục” cũng là một duyên lành vậy.

 Long lanh, cái ngữ nầy cũng vô cùng ảo hóa, sự biến thiên của hiện tượng đối với con mắt trần tục làm sao mà thấy? Một giọt sương đọng trên ngọn cỏ, lung linh qua ánh trăng vàng, ngời lên muôn màu là vẻ đẹp tuyệt vời, và còn diễn tả được tính sắc không, trong dòng kinh Bát nhã. Vì vẻ đẹp ấy sẽ không thường tại, không trường tồn theo triết lý duyên khởi.

 Nhưng qua ánh sáng lấp lánh còn đọng lại, vẫn thấy như những chứng tích của sự hiện hữu bóng trăng cũng diễn tả được tính bất nhị (không bất dị sắc) vì cái thấy biết của chúng taxuất phát từ ngủ uẩn, mà ngủ uẩn thì lại giai không. Cho nên muôn sự chỉ trùng trùng, khi cái nhận biết của con người trần tục vẫn nằm trong sự đối đãi phân biệt của nhị tướng. Và ánh trăng vàng muôn thuở vẫn còn đó hay không, hay cũng chỉ là biến thiên của tạo hoá, có rồi không? Như ánh trăng vàng hay là không như…?

 Và câu kế cũng hảy đọc tiếp một cách chậm rãi như trên:

 Như Lai, Điệu Ngự…

 Trên làn

 Tóc em.

 

 Trong sự cảm xúc của tâm bình đẳng, đã bừng lên trí tuệ siêu việt để được thấy bóng Như Lai, cũng là điều bất khả tư nghị. Thì đâu thể đem ra phân tích với lý trí tầm thường. Vì hiện tượng chúng ta thấy cũng vẫn chỉ là hiện tượng của trần gian muôn trùng. Dĩ nhiên mắt thường khó bề nhìn thấy. Quan niệm cao thấp, nhơ sạch có lẽ không dính dấp chi với cái “tâm vô trụ xứ”. Hay nói như Zarathustra: “Phải là đại hải thì mới có thể đổ vào lòng mình một dòng sống nhơ bẩn mà mình không đến nỗi phải chịu phận nhơ theo”. Thật thế, lòng bao dung, tính độ lượng mới có thể dung chứa tất cả, chứ như vị kỷ hẹp hòi thì chứa đựng được những gì ?

 Hiện tượng Như Lai đứng trên tòa sen, tượng trưng cho sự giải thoát. Thì Như lai trên làn tóc em, lại không thể gọi sự giải thoát trên sự giải thoát được hay sao? Không thể gọi đó là con đường đáo bĩ ngạn để cho tín nữ thiết lập hạnh nguyện giải thoát của đấng Như Lai ?

 Vì như Ngài Quán Tự Tại, khi soi thấy năm uẩn đều không có tự tánh, Ngài liền thoát khỏi mọi tai nạn khổ ách. (Trích Bát Nhã Tâm Kinh).

 Hay lời dạy của Đức Thế Tôn bằng một bài kệ rằng:

 Nhược dĩ sắc kiến ngã

 Dĩ âm thanh cầu ngã

 Thị nhơn hành tà đạo

 Bất năng kiến Như Lai

(Dùng sắc để thấy Phật, dùng âm thanh để cầu Phật , thì đó là tà đạo, không bao giờ thấy được Như Lai).

 Hay triết lý: Không cầu mà thấy, không mong mà đạt mới là cái thấy viên dung, vô ngại.

 Hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương:

 Chữ bay từng cánh chim ngàn

 Mỗi câu là mỗi Niết bàn hóa thân.

 Chữ bay hay ý tưởng của thơ bay, hay từng cánh chim ngàn bay, để nối thành từng câu, xâu thành từng chuổi ngọc cho người đời trang sức ? Và có thể trang sức được hay không, vì thơ đã hóa thân thành mỗi Niết bàn?

 Cũng như chuổi ngọc nầy được xâu bằng những cảnh giới vi diệu, biến hiện thành hiện thực qua tuệ giác đạt thành. Làm quà tặng cho nhân gian, làm thắng duyên cho người đời vượt qua, vượt qua và thẳng tiến đến bến bờ diệu giác.

 Long lanh như ánh trăng vàng

 Như Lai, Điều Ngự trên làn tóc em

 Cảnh tuyệt vời ấy mấy ai nhìn thấy, mấy ai xuyên suốt được tư tưởng phi phàm của Thiền sư, hay của Thi nhân đã ngẫu nhiên phát hiện. Mà có lẽ không phải là ngẫu nhiên đâu, theo thiển nghĩ. Vì có đạt được một trí tuệ siêu nhiên mới thấy được cái tự nhiên, có lên trên cao, mới thấy được toàn thể vũ trụ. Chứ cứ luôn ôm hoài thành kiến của ếch ngồi đáy giếng, thì biết đến bao giờ… mới đến được với cảnh giới “Giải Thoát Thơ” ?

 Trần Đan Hà

Reader's Comment
Saturday, June 22, 201307:00
Guest
Chào anh Đan Hà. Anh viết bài này hay quá.Ý tưởng rất phong phú. Văn chương tuyệt vời.
Trần thị Nhật Hưng
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 140)
Từ xưa đến nay, nhiều người cho rằng, Đạo Phật chuyên nói về những điều cao siêu huyền bí, rất khó để một con người bình thường thực hành theo.
(View: 152)
Phật giáo Nam tông Theravāda tuy không chú trọng về lễ nghi, cúng bái hoặc sám tụng nhưng trong các nghi lễ Phật giáo thì...
(View: 209)
Xung quanh các hiện tượng mê tín dị đoan “có tổ chức” diễn ra gần đây, đã có nhiều ý kiến trái chiều về “con đường tu tập”
(View: 184)
Lắng nghe và thấu hiểu là hai chất liệu vô cùng cần thiết để hiến dâng cho đời, có khả năng xóa đi những nỗi khổ niềm đau
(View: 221)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn.
(View: 212)
Một khi Đức Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng, ngài sẽ phải đối diện với nhiệm vụ khó khăn về việc nói với thế giới những gì đã xảy ra...
(View: 258)
Có hôm nghe một trí thức Việt Nam cho rằng, Phật giáo xem cuộc đời sanh đó, tử đó, thật chẳng có ý nghĩa gì. Mọi sự mọi vật trên thế gian trong cái nhìn của đạo Phật, đều là huyển, ảo.
(View: 206)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa.
(View: 280)
Đạo Phật ra đời cách đây đã hơn 25 thế kỷ và trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, vẫn phát triển rực rỡ đến ngày nay.
(View: 366)
Theo quan điểm Phật Giáo, tâm của một người bình thường thì yếu đuối và bị lệch lạc bởi những ảo tưởng và nỗi khổ mà họ chất chứa bên trong.
(View: 307)
’Khi một ngôi sao đốt cháy hết nhiên liệu, nó có thể bắt đầu quá trình suy sụp.
(View: 332)
Trong cuộc sống, chúng ta thường mong muốn có được hạnh phúc và tránh né sự hiện hữu của khổ đau đến với mình.
(View: 365)
Phật pháp có nhiều pháp môn tu tập thích hợp cho nhiều căn cơ, hoàn cảnh khác nhau.
(View: 619)
Dưới ánh mặt trời, mọi ảo tượng, ảo ảnh đều tan biến. Mọi thứ đều hiển lộ. Không gì khuất tất. Không gì có thể gợi lên sự hoài nghi, mộng tưởng.
(View: 334)
Sau khi đạt được Giác ngộ, Đức Phật nêu lên Bốn Sự Thật và sự thật thứ nhất là "Khổ đau".
(View: 298)
Thiền sư Pháp Loa đã kế thừa và để lại di sản lớn cho thiền phái Trúc Lâm nói riêng, Phật giáo Việt Nam nói chung.
(View: 295)
Trong kỳ Đại Hội Khoáng Đại kỳ II lần nầy chúng con tôi) được phép trình bày với quý Ngài và quý vị một đề tài có liên quan đến sự tu học
(View: 320)
Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: “Phật tánh gọi là đại tín tâm. Vì do tín tâmĐại Bồ tát được đầy đủ Bố thí ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật.
(View: 499)
Thời đại bây giờ hầu như con người cứ bị xoáy vào cơn lốc của cuộc sống một cách mãnh liệt, thế nên rất nhiều người cảm thấy bức bối...
(View: 352)
Theo Kim Cang Thừa, con đường nhanh chóng để tỉnh thức là nhìn thẳng vào tâm của chính bạn và nhận ra bản tánh thật của tâm.
(View: 305)
Hiện nay, Phật giáo Việt Nam đang đẩy mạnh công tác hoằng pháp, coi đó là chiến lược mũi nhọn để phát triển Phật giáo.
(View: 351)
Sau khi đức Thế Tôn thành đạo, Ngài suy tư và tuyên bố rằng: “Xa lìa dục vọng, được sự tịch tịnhthù thắng nhất!”
(View: 441)
Tại Kinh Thành có một vị cư sĩ, có thể nói là bậc “Thiên kinh vạn quyển”, viết không biết bao nhiêu bài bình giảng về giáo lý...
(View: 426)
Khi cầu nguyện, tâm trở nên tĩnh lặng và tập trung. Đó là việc khá tốt cho đời sống nhân loại khi những cầu nguyện mang tính chân, thiện, mỹ.
(View: 389)
Thế là đến chiều tối, đức Phật và chúng tỳ-khưu mới tới được nơi dự định. Trăng vừa lên, sương mù bàng bạc, không gian như trải một màn lụa mỏng.
(View: 461)
Mưa xuân không tầm tã, không kéo dài. Chỉ một hai cơn, trong một hai ngày, vừa đủ tắm ướt những ngọn lá và...
(View: 389)
Tenzin Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng, là một nhân vật quen thuộc của công chúng.
(View: 400)
Như tất cả những vị nghiên cứu đều biết rằng Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh do cố Hòa Thượng Thích Tịnh Hạnh chủ trương, hầu hết được dịch thẳng từ bản chữ Hán của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh
(View: 371)
Vào giữa thập niên 1980, Elizabeth Harris, một Kitô hữu người Anh, cảm thấy sự thúc giục phải buông bỏ đức tin tôn giáo cố hữu của mình để...
(View: 414)
Tenzin Gyatso, người được những tín đồ và những người ngưỡng mộ ngài tôn xưng là Đức Thánh Thiện Đạt Lai Lạt Ma.
(View: 398)
Bài Pháp thoại (Dharma Talk) ngày 28 tháng 3 năm 2021 tại Chùa Beeh Low See, Singapore và Chùa Mahakaruna Buddhist Center cũng như Chùa Vihara Mahavira Graha Medan tại Indonesia.
(View: 465)
“Một thời Đức Phật ở Câu-tát-la, du hành giữa nhân gian và có đại chúng Tỳ-kheo đi theo.
(View: 767)
"Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, là gì?" Xếp Kinh lại gối nơi đầu, ngủ trong dòng suối mát của lời Kinh nhiệm mầu.
(View: 490)
Theo quan điểm của anh chị, Nhẫn nhụcAn phận khác và giống nhau chỗ nào? Quý anh chị chia sẽ kinh nghiệm Người Huynh Trưởng thực hành Hạnh Nhẫn Nhục như thế nào trong đời sống và sinh hoạt GĐPT?
(View: 480)
Mưa xuân không tầm tã, không kéo dài. Chỉ một hai cơn, trong một hai ngày, vừa đủ tắm ướt những ngọn lá và thấm một lớp mỏng
(View: 417)
Vào ngày rằm tháng 4, năm 623 trước công nguyên tại vườn Lâm Tỳ Ni gần thành Ca Tỳ La Vệ, một nơi hiện nay là...
(View: 370)
Vào giữa thập niên 1980, Elizabeth Harris, một Kitô hữu người Anh, cảm thấy sự thúc giục phải buông bỏ đức tin tôn giáo cố hữu của mình để bước vào thế giới một đức tin khác.
(View: 453)
Tenzin Gyatso, người được những tín đồ và những người ngưỡng mộ ngài tôn xưng là Đức Thánh Thiện Đạt Lai Lạt Ma, tự gọi ngài là một thầy tu giản dị
(View: 463)
Thiền sư Seigan Shōtetsu (1381-1459) là một trong vài người làm thơ nhiều nhất trong thi giới Nhật Bản.
(View: 373)
Bây giờ chúng ta đến trình độ thậm thâm nhất của từ ái và bi mẫn, trình độ này là có thể bởi kiến thức về tính không của sự tồn tại cố hữu.
(View: 538)
Huyền Trân Công Chúa, một anh thư rực sáng của nền trời nước Việt!
(View: 563)
Bốn mươi câu trích dẫn lời Đức Phật dưới đây được chọn lọc trong số 60 câu đã được đăng tải trên một trang mạng bằng tiếng Pháp
(View: 410)
Giảng luận về bài “ Bình Ngô Đại Cáo” ( 曹鶴岱平 ) ( Great Proclamation of Đại Việt Victory over Northern Invaders, translated by Prof. Nguyễn Cao Hách – University of Saigon )
(View: 376)
Tôi nhớ lại một cuộc trao đổi đầy băn khoăn vài năm trước đây mà tôi có với một người Mỹ
(View: 666)
Vào ngày 06.3.2021, Tu Viện Pháp Vương khởi sự cho một công trình "Ngày Hội Trồng Cây". Quí Phật tử vân tập về mảnh đất yêu thương của mình mà Tu Viện đã sẵn sàng cho khoảnh vườn cây ăn trái.
(View: 447)
Tôi chưa bao giờ được rèn luyện trong khoa học. Kiến thức của tôi chính yếu có từ việc đọc những tin tức bao gồm...
(View: 479)
Vấn đề Nam tôngBắc tông là một vấn đề tương đối rất cũ – cũ đến hơn một ngàn năm trăm năm kể từ ngày con người có được cái hạnh phúc biết đến giáo pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
(View: 509)
Đức Phật không phải là một vị Thượng đế, vậy thì tại sao giáo huấn của Ngài là một tôn giáo và tại sao Phật tử tôn thờ Ngài như Thượng đế?
(View: 475)
Cách nay chừng vài tuần lễ tôi nhận được một phong thư dày gửi đi từ Thầy Thanh An ở Tích Lan, trong đó có quyển sách trên. Sách do nhà xuất bản Hồng Đức ấn hành năm 2020
(View: 413)
Bây giờ chúng ta đến trình độ thậm thâm nhất của từ ái và bi mẫn, trình độ này là có thể bởi kiến thức về tính không của sự tồn tại cố hữu.
Quảng Cáo Bảo Trợ