Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,701,688
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Sứ Giả Quán Thế Âm

01 Tháng Mười Một 201507:03(Xem: 3938)
Sứ Giả Quán Thế Âm

SỨ GIẢ QUÁN THẾ ÂM

Thiện Ý

Sứ Giả Quán Thế Âm

          Một con cú già khôn ngoan sống ở cây đa. Nó càng nhìn thấy sự đời thì càng ít nói.  Mà nó càng ít nói thì lại lắng nghe nhiều.  Tại sao mình lại không như con cú già khôn ngoan kia?

                                                                                                                     Vô Danh         
                   

quantheambotatKhi còn bé thơ, chúng ta được dạy ‘học ăn, học nói, học gói, học mở’.  Và càng nói nhiều thì đó là dấu hiệu mình phát triển bình thường Nhưng ít khi nào chúng ta được dạy phải biết lắng nghe.  Và phần nhiều, cha mẹ, thầy cô, các bậc phụ huynh, v.v… không để tâm nhiều đến chuyện dạy dỗ cách biết lắng nghe.  Tất nhiên, cha mẹ hay các thầy cô có dạy mình phải biết nghe lời.  Nhưng ít khi chúng ta được dạy cách biết lắng nghe cho đúng.

Thường khi trong một cuộc đối thoại, chúng ta muốn người đối diện nghe ý kiến của mình muốn phát biểu, hay diễn đạt hơn là mình nên lắng nghe ý tưởng của họ.  Nếu đã là vậy, rõ ràng không có sự lắng nghe xảy ra.  Mà hễ không có sự lắng nghe, hiểu và cảm thông sẽ không bao giờ được thiết lập.  Vợ chồng thường hay gặp phải tình cảnh này, nên có câu nói chọc cười: ‘Ngày xưa chồng nói vợ nghe. Bây giờ chồng nói vợ chê 'lắm mồm'.  Cho nên, biết lắng nghe là nhịp cầu nối đầu tiên cho sự hiểu biết, cảm thông.   

Quán Thế Âm có nghĩa là quán chiếu, suy xét, lắng nghe âm thanh của thế gian. Theo Phẩm Phổ môn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, sở dĩ ngài mang tên gọi như vậy là do hạnh nguyện từ bi cứu khổ cứu nạn, mỗi khi chúng sanh bị khổ ách, nguy cấp, nhất tâm niệm danh hiệu của bồ tát, ngài liền quán xét âm thanh đó, lập tức cứu họ thoát khỏi tai ách. Nhiều kinh điển nói về công hạnh của Bồ-tát, về sức uy thần diệu dụng của ngài, thường hiện thân khắp nơi cứu giúp người đang đau khổ trên trần gian.  Nhưng để tu tập theo hạnh nguyện từ bi, cứu khổ của ngài, thiết nghĩ, chúng ta nên tìm hiểu thêm một số chi tiết về những hạnh nguyện đó:

Trong kinh Pháp Hoa nói ngài thường thị hiện 33 hóa thân.  Nhưng theo thiển ý, chắc đây là con số tượng trưng.  Ngài được mô tả là một vị bồ tát luôn hóa thân cứu khổ mọi loài chúng sinh.  Ngài hóa thân là một hiện tượng đặc thù theo tinh thần ‘tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên,’ biểu lộ một tấm lòng đại từ bi, không phân biệt kẻ thân, người sơ, kẻ thâm tín, người hoài nghi, thậm chí người vô thần, ngoại đạoHiện tượng hóa thân nói lên sự thấu hiểu và cảm thông thật sâu sắc nỗi sợ hãi, mối ưu lo của chúng sinh trong thế giới đảo điên, mộng tưởng. Để được tiếp cận với một chúng sinh đang đau khổ, ngài hiểu rõ rằng một người xa lạ, dù là một bồ tát, sẽ khó có thể đến gần để chúng sinh kia được giải bày nguồn cơn nỗi khổ của mình.  Theo kinh nghiệm đời thường cho thấy, khi chúng ta đang đau khổ hoặc phiền não mình chỉ muốn chia xẻ với ai biết lắng nghe, thông cảm, và không có ý phê phán, bình phẩm về những điều mình đã làm sai, hay tâm tình mình đang giải bày, thổ lộ.  Và thường thường mình muốn chia xẻ với người mình quen biết, dễ thương, hoặc người nào tôn trọng ý tưởngtình cảnh của mình.  Nếu hiểu được điều này, chúng ta có thể đóng vai sứ giả của đức Quán Thế Âm, lắng nghe mà không phê bình, chỉ trích để giúp làm vơi nỗi khổ của người.  Thật ra, ai trong chúng ta đều có khả năng làm sứ giả Quán Âm, và muốn thành tựu vai trò này đòi hỏi mình phải biết lắng nghe. 

Nhưng biết lắng nghe là một nghệ thuật.  Nghĩa là chúng ta phải quên mình đi (vong) mà chỉ biết nghe người kia (sở) đang nói gì.  Biết lắng nghe đòi hỏi mình phải biết lắng đọng tâm tư để nghe rõ thông điệp của người mình đang đối diện. Cái bi kịch thường hay xảy ra cho chúng ta là khi mình muốn học hạnh lắng nghe nhưng cứ mỗi khi nghe xong câu chuyện mình lại diễn dịch nó qua lăng kính kinh nghiệm của bản thân, giống như mình nhìn thấy một sự kiện qua cặp kính màu của mình, nên thay vì hiểu và cảm thông, chúng ta lại chỉ trích hay phê phán người đối diện là dỡ cái này, thiếu cái nọ.  Do đó, hành động lắng nghe của mình bị thất bại.  Nếu chúng ta biết lắng nghe qua tâm hạnh từ bi như Bồ tát Quán Thế Âm; chúng ta biết tôn trọng ý tưởng của người nói và lắng nghe cho kỹ những nỗi khổ đau mà họ đang trải nghiệm, thì công sức lắng nghe của mình sẽ chắc chắn mang lại một kết quả tốt và có thể sẽ làm vơi đi nỗi khổ của người.            
       

Ngoài việc hóa hiện các thân để cứu độ, ngài còn có khả năng làm cho chúng sinh hết lo sợ (vô úy thí).  Trong kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn có nêu lên 14 hoàn cảnh, những trường hợp tượng trưng, mà ngài đã vận dụng năng lực vô úy để cứu độNăng lực vô úy là một khả năng đặc thù mà chỉ có những ai thật định tỉnh, tự tin, và từ bi vô hạn mới có thể làm được.  Như một bà mẹ thương con vô cùng mới có thể làm con mình yên tâm dù hoàn cảnh trước mặt đang xảy ra vô cùng bất lợi và nguy hiểm.  Sở dĩ, chúng ta cảm thấy an lòng, không hoảng sợ, kinh hoàng trước sự hiện diện của Bồ tát Quán thế Âm vì ngài sẵn lòng hy sinh bản thân để cứu độ mọi người.  Sự hy sinh này đã được chứng minh qua bao truyền thuyết về ngài, từ Quán Âm Thị Kính, đến công chúa Diệu Thiện…

Chúng ta cũng đã từng nghe qua năng lực vô úy này được các thiền sư thể hiện, như trong câu chuyện sau: Trong thời nội chiến ở Triều Tiên, một vị tướng soái dẫn quân đánh chiếm hết vùng này đến vùng kia, hủy diệt hết những gì cản trở bước tiến của ông ta.  Dân chúng trong thành biết đoàn quân của vị tướng đang đánh tới, và nghe tiếng tàn bạo của ông ta nên mọi người đều trốn lánh vào vùng núi cao.  Vị tướng tiến chiếm thành không người và ra lệnh quân lính tìm kiếm dân trong thành khắp nơi.  Vài người lính trở về báo cáo chỉ có một thiền sư còn ở lại.  Vị tướng quân liền vội vả đến chùa, đi thẳng vào bên trong, rút gươm ra, và nói, “Lão thầy chùa kia, ông không biết ta là ai sao? Ta là người có thể thản nhiên lấy mạng của ông không chớp mắt.”

Vị thiền sư nhìn thẳng vào mặt ông tướng soái và bình thản trả lời, “Và tôi, thưa ngài, là người có thể để ngài lấy đầu mà cũng không chớp mắt.” Vị tướng quân nghe xong, liền cúi đầu và bỏ đi.   

Sợ hãibản năng của con người, ai sinh ra cũng có.  Nhưng các bậc thánh, hay như người căn tính yếu kém như chúng ta, nếu biết tu tập tinh chuyên và có lòng từ bi vô lượng, đều có khả năng, không những vượt qua sợ hãi của bản thân, mà còn khéo giúp người khác an tâm, không lo sợ.  Tu tập hạnh từ bi có khả năng giúp mình vượt qua khổ hãi và cũng giúp được người vơi bớt khổ đau.  Vậy muốn có được năng lực vô úy thì chúng ta không thể thiếu hạnh từ bi

Tuệ giác của pháp môn lắng nghe, không chỉ nằm trong việc lắng nghe âm thanh, lời nói, ngôn ngữ của người đối diện, mà còn vận dụng hết cả thân tâm mình từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và cả ý căn, để hiểu thấu và thấy rõ từ cử chỉ, hành vi, và sắc diện của họ đang nói lên những gì, mà lời nói, ngôn ngữ chưa diễn đạt, trình bày được hết ý của câu chuyện. Chỉ cần vận dụng một phần ba (1/3) năng lượng của tuệ giác lắng nghe là chúng ta đã có thể giúp vơi đi nỗi khổ của người khác nhiều lắm rồi!  Nhưng tiếc thay, đa số chúng ta thích nói hơn là thích nghe nên năng lượng của tuệ giác lắng nghe ít khi được sử dụngSở dĩ, mình thích nói hơn lắng nghe vì bản ngã, hay cái ta, đóng vai trò lớn trong việc thể hiện tầm quan trọng của bản thân, con người mình.  Không ai muốn đóng vai trò ‘thấp cổ, bé miệng bao giờ!’   Hiểu rõ được điều này và phải vận dụng nhiều công phu tu tập mới có được chút khả năng lắng nghe vi diệu của Bồ tát Quán thế Âm.                                                                                      

                                                                  Thiện Ý

                                      (vía đức Quán Thế Âm, tháng 10, 2015)   
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 20)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 28)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 85)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 80)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 76)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 129)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 139)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 227)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 107)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 188)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 146)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 152)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 237)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 244)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 161)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
(Xem: 280)
Một trong những biệt tài thuyết pháp của Thế Tôn là dùng hình ảnh để ví dụ minh họa chothính chúng dễ hiểu, dễ cảm nhận vấn đề Ngài muốn nói.
(Xem: 272)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ.
(Xem: 154)
Bà mẹ già ngồi ở băng ghế sau chiếc xe hơi bỏ mui màu đỏ sậm đang rẽ quặt xuống xa lộ. Bà ghì chặt lấy cái giỏ đồ ...
(Xem: 164)
Đạo đức là nền tảng luân lý mà bất kỳ thời đại nào cũng cần phải xây dựng, cũng cố và phát triển.Con người nếu khôngđạo đức thì không dùng được.
(Xem: 229)
Hôm nay nhân đọc bản dịch từ Phạn văn ra Việt ngữ nầy của Giáo Sư Lê Tự Hỷ, chúng tôi vô cùng hoan hỷ vì rằng đây là những tài liệu rất bổ ích cần phải tham khảo
(Xem: 143)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết.
(Xem: 259)
Những người chưa vào đạo Phật, hoặc chưa hiểu đạo Phật, thường nghĩ rất sai lầm, tưởng rằng đạo Phật là một đạo chán đời, bi quan...
(Xem: 225)
Bạn có thể cho con cái bạn sống trong một căn nhà to lớn, ăn uống đầy đủ ngon lành, lại học chơi cả đàn dương cầm...
(Xem: 400)
Học Phật là một công cuộc bền bỉ và trường kỳ, mà đơn vị để đo đạc ấy phải tính bằng “hằng-hà-sa kiếp sống” cũng như...
(Xem: 258)
Mọi sinh vật có thật đâu Thảy đều “vô ngã”, “ta” nào là “ta” Trí người nếu hiểu rõ ra Thoát ly phiền não cho xa tức thời, Theo đường thanh tịnh tuyệt vời.
(Xem: 230)
Bà Thanh Đề là mẹ của ngài Mục Kiền Liên (cũng gọi là Mục Liên), Bà tính tình tham lam,độc ác, không tin Tam Bảo, tạo ra nhiều tội lỗi...
(Xem: 366)
Tu thiền (Bhavanã Jhãna) Phật giáo là tiến trình tu tập, hành trì miên mật một pháp môn nào đó để kinh nghiệm trực tiếp trên ...
(Xem: 216)
Trong nhiều bài kinh từ Hán tạng cho đến Pali tạng, Đức Phật tán thán hạnh hiếu dưỡng cha mẹcông ơn ...
(Xem: 218)
Bút Phật không thủ chấp Mà vẫn ngát tâm hương Trong muôn ngàn ý tưởng Toả sáng lẽ Chơn Thường .
(Xem: 255)
Viên thành đạo nghiệp Tây Âu quốc. Giác ngộ chúng sanh đạo lý truyền.
(Xem: 218)
Nhiều người biết thầy Minh Đạo là một nhà thư pháp có nét chữ phóng khoáng với những phong cách đặc thù không lẫn với ai được.
(Xem: 282)
Nguyên tác: Preparing to Die; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 278)
Người tu hành lấy Nhẫn nhục làm sức mạnh. Nhẫn nhục là nhẫn về thân, khẩu, ý.
(Xem: 316)
“Về đâu, khi giông bão?” chính là câu hỏi cho cơn bão tâm, âm thầm mà cực kỳ dữ dội!
(Xem: 365)
Chủ nhật, 27 tháng 5, vợ chồng và con chúng tôi cùng bốn người bạn đến Chùa Hương Sen dự lễ Phật Đản. Đây là lấn đầu tiên chúng tôi đến Hương Sen.
(Xem: 528)
Tu là để SốngTỉnh Thức, và sống tỉnh thứclối sống thoát ly khỏi thân phận của ếch ngồi đáy giếng, tù đó có được tự dohạnh phúc thực thụ.
(Xem: 265)
Lý do đơn thuần chỉ vì việc học; nên chư Tăng Ni kẻ đến người đi, suốt một thời gian dài như thế, nay mới là thời điểm bắt đầu cho việc hoạt động phật sự tại đây trở thành nề nếp, quy cũ.
(Xem: 331)
Từ xa xưa có câu để lại là " đức năng thắng số", vậy đức năng ở đây được hiểu như thế nào? và cái gì tạo ra số và số được thể hiện ra sao?
(Xem: 257)
Nguyên bản: Liberation from Fear; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 306)
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều người thích việc sát sinh và có rất ít người tôn trọng sự sống.
(Xem: 213)
Đệ nhất Ban Thiền Lạt Ma đã viết mười bảy thi kệ mà người Tây Tạng thường tập trung quán chiếu trong đời sống hàng ngày về sự chết. Đức Đạt Lai Lạt Ma
(Xem: 247)
Văn nghệ trong khoá tu học Phật pháp Âu Châu lần thứ 30 năm 2018
(Xem: 326)
Thật quan trọng để tỉnh thức về sự chết – để quán chiếu rằng ta sẽ không sống mãi trên cuộc đời này.
(Xem: 184)
Tôi thật sự cảm thấy vinh dự lớn để nói chuyện với quý vị. Đặc biệt tại trường đại học, vì đây là trường Đại học Bombay rất nổi tiếng.
(Xem: 267)
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận.
(Xem: 394)
Những gì không phải của mình thì nên buông hết, chẳng nên nắm giữ làm gì, buông hết mới được an vui.
(Xem: 173)
Chúng tôi rất ngạc nhiên vì trong khi nghiên cứu, đối khảo kinh điển Phật giáo từ Pāli và Hán tạng, đã phát hiện nhiều trường hợp tương đồng giữa ngôn ngữ Pāli và tiếng Việt.
(Xem: 424)
Người không hiểu đặt câu hỏi “Tại sao cá đã bắt lên rồi lại đem thả, như thế có giả tạo không?; “Sao không đem tiền cho người nghèo mà đi cứu mấy con cá?”
(Xem: 334)
Người học Phật hẳn ai cũng từng nghe biết thuật ngữ vô minh, nghĩa đensi mê, tối tăm. Ngược lại với vô minh là minh, tức tuệ giác, sáng tỏ.
(Xem: 386)
Theo như lời dạy thì trong bất cứ một hoàn cảnh nào, dù có thể là ngay giữa những khó khăn hay khổ đau, chúng ta cũng vẫn có thể tu tập được.
Quảng Cáo Bảo Trợ