Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,722,908
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Hoằng PhápPháp Sư

23 Tháng Mười Hai 201619:57(Xem: 2219)
Hoằng Pháp – Pháp Sư

Hoằng PhápPháp Sư


Hòa Thượng Thích Giác Viên

Sáng nay, thứ Năm ngày 22 tháng 12 năm 2016, tôi đang hoằng Pháp tại một thành phố mưa nhiều Seattle, tiểu bang Washington. Sau những bổn phận buổi sáng của nhà Sư xong, tôi vào thư phòng, thưởng thức một tách trà nóng, xem xét các email xong, thì vô tình vào trang Phật pháp Hoa Vô Ưu , đọc được một bài của Hoà Thượng Thích Như Điển “Pháp học và Pháp hành theo kinh tạng Nam và Bắc Truyền”. Trong 70 năm cuộc đời, tôi có kim chỉ Nam trong cuộc sống, không phải chuyện của mình, chuyện của người ta thì không để ý đến. Nhưng rồi chợt nhớ  Đạo từ của Ngài Trưởng Lão Đệ Tam Pháp Chủ Thích Phổ Tuệ khuyên nhủ các vị Pháp sư đời này mà tôi rất tâm đắc nên thành thử phải viết vài ba hàng cho lần đầu và cũng là lần cuối để bổ túc thêm bài của HT Thích Như Điển và phổ biến Đạo từ của Ngài.

Kỹ thuật tân tiến về thông tin điện tử hiện nay đã làm công việc hoằng Pháp được đơm hoa trổ trái rất nhiều, nhưng không biết hoa gì và trái gì đây, hoa thật hay hoa giả, trái thật hay trái giả, bề trái của cái huy chương này chúng ta cũng cần phải suy nghiệm lại. Thời Đức Thế Tôn trong kinh thường nói “binh khí của miệng lưỡi”, bây giờ theo tôi nghĩ là “binh khí của mạng lưới”. Vì có một số tự xưng là xuất gia, không biết tứ nhiếp pháp là gì, lợi dụng phương tiện này khen mình chê người dùng những ngôn từ mà người không tu còn không dám viết hay nói.

Sau đây, tôi xin kể lại một câu chuyện hoằng Pháp của tôi và sau đó kết thúc bằng Đạo từ của Đức Trưởng Lão Pháp Chủ Thích Phổ Tuệ.

Cách đây khoảng hai năm, trong một buổi Pháp đàm ngày thọ bát quan trai hằng tháng, có một nhóm nữ Phật tử khá lớn tuổi đưa tay xin thưa rằng: tháng qua chúng con có đi nghe Pháp và nghe vị Pháp sư giảng như thế này, làm tâm chúng con bị giao động và không biết con đường chúng con theo Thầy tu học Tịnh độ trên hai mươi mấy năm có đúng đường không? (Sau khi tìm hiểu, vị Pháp sư trẻ trên bốn mươi mấy tuổi này khá nổi tiếng, có đủ các loại bằng cấp của thế gian và hình như có quan hệ khá lớn với chính quyền Việt Nam hiện tại. Trên youtube hoặc trên mạng những bài thuyết giảng của vị này và các vị Pháp sư trẻ có, già có đã phá về pháp môn Tịnh độ, chê bai kinh điển Đại thừa là ngụy kinh, phỉ báng các phương tiện cúng tế, được phổ biến rất rộng rãi. Trong khi đó, dưới thời Đức Thế Tôn, Ngài chưa hề đả phá và phỉ báng một ngoại đạo nào cả).Tôi xin tóm tắt 3 lời giảng của vị Pháp sư này:

1/ Làm gì có cõi Cực lạc, Tịnh độ ngay đây và hiện tại (nói một cách khác là bây giờ và ở đây), kinh A Di Đà là ngụy kinh.

2/ Kinh Điạ Tạng là do các ông Thầy Tàu bịa ra để hù người ta cúng kiến, làm gì có cõi địa ngục.

3/ Sau khi chết là đi ngay, không cần phải cúng kiếng 49 ngày, làm gì có thân trung ấm.

Trong các buổi Pháp đàm tôi thường mời các giới tử thiện trí thức thay tôi trả lời giùm rồi đại chúng cùng thảo luận để học với nhau, thông thường tôi chứng minh tán thán hay thêm thắt và hướng dẫn cho đúng câu trả lời. Trong lúc chờ cho các giới tử chuẩn bị trả lời, cá nhân tôi lúc đó nghĩ rằng: lịch sử luôn luôn tái diễn, sự chống đối cái vụ ngụy kinh này xưa hơn cả ngàn năm rồi, từ Trung Hoa qua Việt Nam và bây giờ lại tái diễn. Âu cũng là nghiệp vận của Phật giáo “trong thời kỳ Pháp đang đi xuống này”. Tôi chưa kịp mời thì có một vị nam Phật tử lớn tuổi đưa tay xin trả lời, tôi liền mời (vị ấy là một cựu quân nhân trong quân đội miền Nam, đi học tập cải tạo trên 12 năm và định cư theo diện HO). Vị ấy đứng dậy và nói rằng:

Bạch Thầy và thưa đại chúng, theo con nghĩ vị Pháp sư này có ý gì đây:

Thầy từng dạy chúng con, tam tạng kinh điển thì rất nhiều, nhưng chư Phật ba đời thường dạy 3 câu cốt lũy để tu học: Nguyện tránh làm các điều ác, Nguyện luôn làm các việc lành, Nguyện tâm trí được trong sạch. Lời của chư Phật cũng dạy: hãy tự thắp đuốc mà đi, khi mà đã chọn một con đường đi, thì tinh tấn, sẽ có ngày ra khỏi rừng phiền não luân hồi. Đừng vội nghe đường này, đường kia rồi đi vòng vòng như con kiến bò trên miệng chén thì chừng nào mới ra khỏi rừng. Theo con nghĩ, vị Thầy này nói là không có kinh A Di Đà, không có cõi Cực lạc, như vậy chúng ta không nên làm việc thiện tạo phước để hồi hướng về cõi Tịnh độ; vị Thầy này nói là không có kinh Địa Tạng, như vậy không có địa ngục nên tha hồ làm các điều ác như thế gian không có nhà tù; vị này nói không có thân trung ấm không cúng kiếng gì cả, như vậy chết là hết. Theo con nghĩ là vị Pháp sư này dạy: không làm các việc thiện, tha hồ làm các điều ác, chết là hết, con thấy chủ nghĩa này là chủ nghĩa vô thần không tin nhân quả, giống chủ nghĩa cộng sản quá. Con cũng không biết vị Thầy này tu tới đâu mà dám phỉ báng, chê bai chư Liệt vị Tổ sư Tịnh Độgần đây nhất là Ngài Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, con nghĩ Pháp sư này là cán bộ quá. Vị này nói tới đây thì đại chúng vổ tay đồng hoan hỷ tán thán. Tôi cũng tán thán và nói đại chúng rằng: đạo hữu X đã trả lời rồi, đại chúngđồng ýhoan hỷ không. Lại một tràng pháo tay vang dội tán thán. Xin hết chuyện.

Sau đây là lời tâm huyết của một vị Đại trưởng lão Hòa Thượng vì thương hàng xuất giaân cần dạy:

Đạo Từ của

Đức Pháp Chủ Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ

đọc trong buổi lễ khai mạc khóa bồi dưỡng hoằng Pháp phía Bắc tổ chức tại thành phố Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) ngày  17/12/2010

Nam mô Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Kính bạch chư tôn Thiền đức!

Kính thưa Liệt vị cùng toàn thể Tăng Ni, Thiện Tín trong đạo tràng!

Hôm nay chúng tôi rất hân hạnh được tham dự khai giảng khóa bồi dưỡng Hoằng Pháp cho Tăng Ni, Thiện Tín, hoằng pháp viên ở miền Bắc nói chung, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.

Mở đầu, chúng tôi xin thành thực cảm ơn Đạo tràng và Ban tổ chức đã nhiệt tình đón tiếp, cũng xin nguyện cầu Phật, Tổ gia hộ, chứng minh công đức chư vị đã tổ chức Phật sự này.

Đến đây, chúng tôi nhận thấytrách nhiệm phải đóng góp cùng Ban tổ chức hoàn thành tốt chương trình khóa học đã đề ra.

Chúng tôi xin tham gia mấy điểm về việc bồi dưỡng quý vị Tăng Ni nghệ thuật trụ trì và kỹ năng thuyết giảng.

Nói đến trau giồi kỹ năng thuyết giảng là nói đến chuyện phải “học ăn, học nói” như thế nào để người ta nghe được; nói là nói điều gì cho đúng với Phật pháp chứ không phải sa đà vào các chuyện thế tục.

Phật pháp vào đời là để ban vui cứu khổ cho nhân sinh, lấy loài người là đối tượng chủ yếu để giảng dạy.

Đức Phật tuyên thuyết về sự tu hành, nhấn mạnh sa đọa hay tiến hóa cũng ở con người, được quyết định bởi chính mình. Bản thân Đức Phật giáng sinh, tu hành, thành đạo, thuyết pháptịch diệt đều ở cõi người, tuân theo lý vô thường của thế gian.

Đức Phật từ cõi chân tịnhthị hiệnthế gian, cho thấy thế gian này có đủ điều kiện để loài người tu hànhtiến hóa lên như Phật đã làm chứng.

Tăng Ni, ai nấy đều phải tự tín mà xác định mục đích cứu cánh của việc tu hành theo Phật là phấn đấu lên bốn cõi Thánh: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật, chứ đến cõi Trời tuy sung sướng đầy đủ cũng chỉ thuộc về các cõi phàm, vì ở đó khi hết phúc rồi thì cũng bị sa đọa.

Tăng Ni, chúng ta tu học, tu hành theo Đức bản sư của chúng ta, noi theo tấm gương của Thầy, nương vào Tăng chúng, nỗ lực tự thân tiến hóa, hoàn thiện mình. Trước hết là trau giồi 3 nghiệp thân, khẩu, ý cho chuyên, cho thanh tịnh.

Phương pháp của Đức Phật để lại cho chúng ta rất giản dị, rất rõ ràng, ai cũng có thể làm được. Chỉ có điều chúng ta có làm, làm triệt để hay không mà thôi. Ở miền Bắc, nhất là ở đồng bằng đã có nhiều chùa. Lớn nhỏ, mỗi làng thường có ít nhất một ngọn chùa. Mỗi ngọn thường có 1 vị sư. Nhiều vị có đủ phẩm chất, xứng ở ngôi trụ trì, nhưng cũng còn nhiều vị phải được bồi dưỡng thêm.

Sư là khuôn mẫu, mô phạm của loài người, chí ít là trong một cộng đồng người, nếu khôngđạo hạnh, không có trí tuệ thì lấy gì mà dạy người? Lấy gì làm gương tốt để mọi người noi theo?

Nhà chùa phải phấn đấu theo hướng, không chỉ là nơi thờ Phật, Tổ, sinh hoạt tín ngưỡngcăn bản còn phải là trường học để giáo hóa thập phương đồng bào bỏ ác theo thiện, thấm nhuần giáo lý nhân quả. Từ đó thúc đẩy sự tiến hóa của xã hộinhân sinh. Trụ trì là người trực tiếp, trực diện làm điều đó.

Tăng Ni, vị nào cũng đã từng được biết về ý nghĩa của trụ trì, “trụ Pháp vương gia, trì Như lai tạng” và đều từng biết ý nghĩa của xuất gia “xuất thế tục gia, xuất phiền não gia, xuất tam giới gia”… Nói thì dễ, nhưng để làm, làm đến nơi đến chốn thì không phải là dễ.

Nếu nói rất hay mà không làm, làm ngược lại, làm dở thì vô dụng, không thể giúp đỡ đồng đạo, đồng bào tu họctiến hóa được, đó là nguyên do để  cuộc đời tu hành của chúng ta không hoàn thành trách nhiệm, có tội với Đạo, với Đời.

đệ tử Phật, theo Phật, chúng ta phải học và hành theo Phật, ăn cơm, mặc áo của thập phương thiện tín, chúng ta phải cống hiến trả lại cho đời. Đó là lẽ tự nhiên, là luật nhân quả, chúng ta phải thường tự vấn, tự tỉnh về điều đó.

Trong thực tế, tùy theo mức độ phát nguyện, đệ tử Phật phải giữ gìn, thực hành giới luật: tam quy ngũ giới, bát quan trai, thập thiện, v.v… Lấy những điều đơn giản nhưng rất căn cốt ấy mà nhìn nhận vào 3 nghiệp thân khẩu ý: việc làm, lời nói, ý nghĩ của mỗi người (có sát sinh, có trộm cắp, có tà dâm, có nói dối, có nói thêu dệt, nói đôi đường, nói ác độc, có tham lam, giận dữ, si mê không?) thì thấy  Phật giáo, công việc và trách nhiệm của Tăng Ni, của trụ trì, của Thiện tín đối với bản thân, với đệ tử, với đời sống xã hội là rất nặng nề, song rất có ý nghĩa đối với sự tiến hóa của loài người.

Ngày càng có nhiều điều chân lý, giới cấm của Phật giáo được xã hội, được nhân loại tiếp nhậnthực hành. Đơn cử như việc Liên hiệp quốc ban hành sách đỏ cấm sát hại các loài động vật quý hiếm, bảo tồn môi trường, thực hành giới sát của Đạo Phật vì sự sống có ý nghĩa của nhân sinh.

Căn bản và đầu tiên của nghệ thuật trụ trì là phải gương mẫu. Gương mẫu trong lời nói, việc làm, nhất là việc làm: ban vui cứu khổ, tha thứ, bao dung, chịu thương chịu khó, cần cù, giản dị, tiết kiệm, trường trai giữ giới, thanh tịnh là những điều không bao giờ cũ. Có vậy thì khi mang chân lý nhà Phật ra thuyết giảng người ta mới nghe, mới theo.

Khi thuyết giảng thì nên tùy căn cơ, trình độ của thiện tínphương tiện. Nhà Phật có vô lượng pháp môn đối trị với vô lượng bệnh tật phiền não của chúng sinh. Rốt cuộc lại chỉ còn có hai là Sắc phápTâm pháp. Tới nay, chúng sinh căn bản nghiệp nặng, phúc bạc, muốn theo Phật hòng tiến hóa khỏi sa đọa thì cần tin cho thật sâu, tu hành thiết thực theo pháp môn niệm Phật. Được đâu chắc đó.

Phải luôn tự tỉnh rằng, chân lý mà Phật nói ra cũng chỉ là ảnh tượng, là ngón tay chỉ mặt trăng. Nghe món ăn là ngon thì phải tự được ăn mới biết, còn không thì chỉ là hàm hồ tư biện mà thôi.

Huống hồ thời đại Phật thuyết giáo đã xa xưa, ngôn từ trở ngại, tam sao thất bản, đến nay cái gọi là chân lý đó chỉ còn là cái bã nhả ra của biết bao người, bao thế hệ nhai đi nhai lại. Cho nên, nếu không tu hành tinh tấn, chân thật thì rồi đạo Phật và đội ngũ Tăng Ni chỉ còn là hình thức sa đọa.

Điều cuối cùngchúng tôi  bất đắc dĩ phải nói, cũng chỉ là nhắc lại, với đại chúng và với Ban tổ chức khóa học, Đạo Phậtđạo chân thực, thành thực, lão thực. Hoằng Pháp cũng chỉ là “nguyện giải Như lai chân thực nghĩa” với mọi người, với chúng sinh mà thôi.

Với việc thế gian, sao cho lý với sự, nội dung với hình thức hài hòa. Với việc Đạo cũng vậy, chạy theo sự tướng, hình thức thì khó tránh khỏi sai lạc, đánh mất bản tâm.

Hôm nay, tại hội trường mênh mông này mà thiết lập đạo tràng, âm thanh, ảnh tướng nó cứ oang oang, người tới người lui, phải chăng chỉ là một cuộc phô trương biểu diễn, tâm ý mọi người trong cảnh ấy khó thu, khó nhiếp thì việc hoằng pháp khó hiệu quả được.

Chúng tôi đề nghị, khóa bồi dưỡng, nhất là chuyên cho Tăng Ni, nên chọn một không gian hợp lý, êm ấm, giản dị, tránh tốn kém để lập đạo trànghoằng pháp độ sinh. Đạo tràng Phật sự thiết tưởng nên thanh tịnh, hòa hợp thì mới hợp Pháp, mới đắc Pháp được.

Trước khi dừng lời, chúng tôi xin thành thực chúc chư Tôn đức, chư vị đại biểu khách quý, Tăng Ni, Thiện Tín mạnh khỏe, tinh cần tu học, an lạc, thành tựu. Chúc khóa học thành tựu hiệu quả.

Những lời nói trên đây của tôi có điều gì thiếu xót, thành thực mong quý vị lượng thứ.

Nam mô A Di Đà Phật!”

 

Đây là lời tâm nguyện tha thiết của Đức Pháp Chủ dạy cho hàng hậu học. Ngài tự xưng là Lão nông tăng, năm nay Ngài đã trên 100 tuổi, trên 80 tuổi Hạ. Sau khi tìm hiểu cuộc đời tu hành cũng như những lời dạy của Ngài qua các Đạo từ hàng năm về Phật Đản hay Vu Lan, tôi tự thầm hướng về chốn Tổ Viên Minh, Chùa Ráng Hà Tây, Bắc Việt, nguyện “Y giáo phụng hành”.

Viết xong tại thành phố Seattle lúc 11:00 sáng ngày 22 tháng 12 năm 2016

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 72)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 117)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 66)
Duyên khởi là đạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 111)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 49)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 200)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 93)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 88)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 140)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 151)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 247)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 134)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 210)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 164)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 153)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 257)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 250)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 169)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
(Xem: 290)
Một trong những biệt tài thuyết pháp của Thế Tôn là dùng hình ảnh để ví dụ minh họa chothính chúng dễ hiểu, dễ cảm nhận vấn đề Ngài muốn nói.
(Xem: 282)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ.
(Xem: 162)
Bà mẹ già ngồi ở băng ghế sau chiếc xe hơi bỏ mui màu đỏ sậm đang rẽ quặt xuống xa lộ. Bà ghì chặt lấy cái giỏ đồ ...
(Xem: 180)
Đạo đức là nền tảng luân lý mà bất kỳ thời đại nào cũng cần phải xây dựng, cũng cố và phát triển.Con người nếu khôngđạo đức thì không dùng được.
(Xem: 240)
Hôm nay nhân đọc bản dịch từ Phạn văn ra Việt ngữ nầy của Giáo Sư Lê Tự Hỷ, chúng tôi vô cùng hoan hỷ vì rằng đây là những tài liệu rất bổ ích cần phải tham khảo
(Xem: 149)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết.
(Xem: 271)
Những người chưa vào đạo Phật, hoặc chưa hiểu đạo Phật, thường nghĩ rất sai lầm, tưởng rằng đạo Phật là một đạo chán đời, bi quan...
(Xem: 231)
Bạn có thể cho con cái bạn sống trong một căn nhà to lớn, ăn uống đầy đủ ngon lành, lại học chơi cả đàn dương cầm...
(Xem: 406)
Học Phật là một công cuộc bền bỉ và trường kỳ, mà đơn vị để đo đạc ấy phải tính bằng “hằng-hà-sa kiếp sống” cũng như...
(Xem: 262)
Mọi sinh vật có thật đâu Thảy đều “vô ngã”, “ta” nào là “ta” Trí người nếu hiểu rõ ra Thoát ly phiền não cho xa tức thời, Theo đường thanh tịnh tuyệt vời.
(Xem: 238)
Bà Thanh Đề là mẹ của ngài Mục Kiền Liên (cũng gọi là Mục Liên), Bà tính tình tham lam,độc ác, không tin Tam Bảo, tạo ra nhiều tội lỗi...
(Xem: 406)
Tu thiền (Bhavanã Jhãna) Phật giáo là tiến trình tu tập, hành trì miên mật một pháp môn nào đó để kinh nghiệm trực tiếp trên ...
(Xem: 220)
Trong nhiều bài kinh từ Hán tạng cho đến Pali tạng, Đức Phật tán thán hạnh hiếu dưỡng cha mẹcông ơn ...
(Xem: 228)
Bút Phật không thủ chấp Mà vẫn ngát tâm hương Trong muôn ngàn ý tưởng Toả sáng lẽ Chơn Thường .
(Xem: 257)
Viên thành đạo nghiệp Tây Âu quốc. Giác ngộ chúng sanh đạo lý truyền.
(Xem: 221)
Nhiều người biết thầy Minh Đạo là một nhà thư pháp có nét chữ phóng khoáng với những phong cách đặc thù không lẫn với ai được.
(Xem: 285)
Nguyên tác: Preparing to Die; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 282)
Người tu hành lấy Nhẫn nhục làm sức mạnh. Nhẫn nhục là nhẫn về thân, khẩu, ý.
(Xem: 320)
“Về đâu, khi giông bão?” chính là câu hỏi cho cơn bão tâm, âm thầm mà cực kỳ dữ dội!
(Xem: 370)
Chủ nhật, 27 tháng 5, vợ chồng và con chúng tôi cùng bốn người bạn đến Chùa Hương Sen dự lễ Phật Đản. Đây là lấn đầu tiên chúng tôi đến Hương Sen.
(Xem: 532)
Tu là để SốngTỉnh Thức, và sống tỉnh thứclối sống thoát ly khỏi thân phận của ếch ngồi đáy giếng, tù đó có được tự dohạnh phúc thực thụ.
(Xem: 267)
Lý do đơn thuần chỉ vì việc học; nên chư Tăng Ni kẻ đến người đi, suốt một thời gian dài như thế, nay mới là thời điểm bắt đầu cho việc hoạt động phật sự tại đây trở thành nề nếp, quy cũ.
(Xem: 338)
Từ xa xưa có câu để lại là " đức năng thắng số", vậy đức năng ở đây được hiểu như thế nào? và cái gì tạo ra số và số được thể hiện ra sao?
(Xem: 263)
Nguyên bản: Liberation from Fear; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 311)
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều người thích việc sát sinh và có rất ít người tôn trọng sự sống.
(Xem: 218)
Đệ nhất Ban Thiền Lạt Ma đã viết mười bảy thi kệ mà người Tây Tạng thường tập trung quán chiếu trong đời sống hàng ngày về sự chết. Đức Đạt Lai Lạt Ma
(Xem: 252)
Văn nghệ trong khoá tu học Phật pháp Âu Châu lần thứ 30 năm 2018
(Xem: 334)
Thật quan trọng để tỉnh thức về sự chết – để quán chiếu rằng ta sẽ không sống mãi trên cuộc đời này.
(Xem: 188)
Tôi thật sự cảm thấy vinh dự lớn để nói chuyện với quý vị. Đặc biệt tại trường đại học, vì đây là trường Đại học Bombay rất nổi tiếng.
(Xem: 272)
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận.
(Xem: 410)
Những gì không phải của mình thì nên buông hết, chẳng nên nắm giữ làm gì, buông hết mới được an vui.
(Xem: 174)
Chúng tôi rất ngạc nhiên vì trong khi nghiên cứu, đối khảo kinh điển Phật giáo từ Pāli và Hán tạng, đã phát hiện nhiều trường hợp tương đồng giữa ngôn ngữ Pāli và tiếng Việt.
Quảng Cáo Bảo Trợ