Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
13,933,120
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quán "Không", và Chiếc Ghế Trống

17 Tháng Bảy 201707:35(Xem: 899)
Quán "Không", và Chiếc Ghế Trống

QUÁN “KHÔNG”, VÀ CHIẾC GHẾ TRỐNG

                     

Lời tác giả: Thế giới đang bày tỏ lòng tiếc thương Lưu Hiểu Ba, nhà tranh đấu cho Dân Chủ, Tự Do, người được trao giải Nobel Hòa Bình cao quý năm 2010 khi đang ngồi tù với bản án 11 năm.

         Xin chia sẻ một bài viết cũ trong tinh thần Bát Nhã, thay lời cảm phục và kính tiếc.

                                                                                          Huệ Trân

 

         Sau thời công phu sáng, tôi thường tự đãi mình một tách trà nóng.

         Bên khung cửa sổ nhìn ra khu vườn trước, những cây phong cao sững, lá vàng từ mùa thu, đang chuyển mầu đỏ sậm, và thỉnh thoảng, có những lá đã vui chơi, bay theo làn gió mùa đông mời gọi.

         Thường, đây là những khoảnh khắc tĩnh lặng và an lạc nhất trong ngày, khi lời kinh còn phảng phất không gian và hương trà nhắc nhở “Hãy sống giây phút hiện tại”

         Ấy thế, mà sáng nay, hương trà lại luẩn quẩn bên hiên hàng xóm. Họ làm gì mà thức sớm, mở cửa garage, rồi khá huyên náo? Hình như họ chuẩn bị đi đâu? Chắc thế, vì người lớn, trẻ nhỏ đều lăng xăng túi xách, và không lâu, họ gọi nhau lên xe; xe lăn bánh, cửa garage tự động, từ từ khép.

         Không gian trở lại yên tĩnh.

         Bây giờ, căn nhà hàng xóm hoàn toàn trống vắng sau khi mọi người cùng lên xe, cho một chuyến đi chơi đâu đó.

         Bên này, tách trà đã nguội, nhưng hậu vị thơm thơm, chát chát của lá trà thì vẫn còn nguyên.

Có thật căn nhà đã trống vắng? Có thật hương trà hãy còn nguyên, hay chỉ là cảm nhận? Vừa khởi nghĩ thế, tôi tưởng như  quanh đây, tiếng mõ ai đang gõ nhịp, trầm và đều, của có, không, còn, mất …

 

Những cánh cửa căn nhà hàng xóm đã đóng kín. Mọi người đều vừa lên xe, ra khỏi nhà. Căn nhà đó đang trống vắng. Đúng thế. Nhưng nhìn qua lăng kính Tương Tức, Tương Nhập thì căn nhà đó có thật trống vắng không? Hay nhìn vào căn nhà ấy, bằng tâm quán Không, vẫn thấy có người, có đầy đủ gia đình hàng xóm, dù thực tế, họ đã ra khỏi nhà?

Tại sao thế?

Bởi có người ở, mới có cái nhà. Ta không xây nhà để không có người ở. Vậy, “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” có phải là:

“Căn bản của KHÔNG là, cái này có thì cái kia có; và căn bản của CÓ là, cái này không, thì cái kia không”?

Rốt ráo, thì không chứng đắc mới thực là chứng đắc.

 

Khoảnh khắc tĩnh lặng buổi sáng, tưởng chỉ bị chút huyên náo của hàng xóm khiến tâm khởi xôn xao thế thôi. Ai ngờ, cái có, cái không đó lại lập tức liên tưởng đến tin tức đang chạy hàng đầu trong loạt tin tuần qua, mà dù không đọc nội dung, chỉ những cái tựa cũng đủ biết điều gì.

Đó là, giải Nobel Hòa Bình năm nay đã long trọng được đặt vào một chiếc ghế trống!

Một giải thưởng cao quý, được thế giới công nhận từ nhiều thập niên, nay trao giải cho CÁI GHẾ TRỐNG ư?

Tất nhiên là không phải!

Toàn thể quan khách dự kiến, đồng loạt đứng dậy, vỗ tay không dứt, để bầy tỏ sự ngưỡng mộ và tán thưởng khi chủ tịch Ủy Ban giải Nobel Hòa Bình đặt văn bằng và huy chương vào chiếc ghế trống.

Mọi người nhiệt liệt ngưỡng mộ và tán thưởng CÁI GHẾ TRỐNG ư?

Tất nhiên là không phải!

Vậy thì, cái ghế đó TRỐNG, nhưng KHÔNG TRỐNG.

Văn bằng KHÔNG người nhận, nhưng CÓ người đã được chọn để nhận.

Sở dĩhình ảnh chiếc ghế trống và văn bằng cùng huy chương không người nhận là vì người được chọn lãnh giải là ông Lưu Hiểu Ba, một, trong những sinh viên lãnh tụ phong trào tranh đấu cho Dân ChủNhân Quyền tại Thiên An Môn năm 1989. Người sinh viên 33 tuổi năm đó, nay đã 54 tuổi, và hiện đang ngồi tù với bản án 11 năm, bị tuyên xử năm 2009.     

 

Nhà nước Trung Quốc đã tận dụng mọi cách, để phản đối Ủy Ban tuyển chọn nhân vật đoạt giải Nobel Hòa Bình ở Na Uy, khi tên ông Lưu Hiểu Ba được công bố. Không ngăn được điều đó, họ quay sang, dùng toàn lực, thế kẻ mạnh để vận động những nước còn bị dưới áp lực của họ, không được cho đại sứ ở Na Uy tới dự lễ trao giải (trong đó có Việt Nam). Tất nhiên, là nhà nước ngăn cấm ngay, tất cả những ai được nhận diệngia đình, thân thuộc, bạn bè của ông Lưu Hiểu Ba, để không cho phép được đại diện ông, sang Na Uy lãnh giải.

 

Lịch sử luôn tái diễn những điều nghịch lý, bị phản ứng ngược, nhưng hầu như, không nhà nước độc tài nào đi ra ngoài vết xe đó được. Những gì càng bị cấm đoán, càng bùng vỡ khát khao đòi hỏi; càng bưng bít, càng gây hiếu kỳ tìm tới, phanh phui.

Vô hình chung, trước sự theo dõiquan tâm của toàn cầu, chiếc ghế trống đã hiển lộ toàn diện những gì mà nhà nước Trung Quốc muốn phủ nhận, muốn che dấu!

Đó là sự tước đoạt nhân quyền của người dân.

Lại nữa, điều cực kỳ hiển nhiên, là dưới nhãn quan toàn cầu - dù bênh hay chống, dù thuận hay nghịch - đều nhìn thấy nơi chiếc ghế không người ngồi đó, có nhân dáng kiên cường, dũng mãnh mà lại vô cùng an lạc, của khôi nguyên giải Nobel Hòa Bình năm 2010: Nhà tranh đấu cho nhân quyền, ông Lưu Hiểu Ba, đang chịu án 11 năm trong nhà tù Trung Quốc vì dám tiếp tục nói những điều mà nhà nước không cho nói!

Hầu hết, ai đọc bất cứ hình thức thông tin nào về lễ trao giải Nobel Hòa Bình năm 2010, đều NHÌN thấy ông Lưu Hiểu Ba NGỒI ở chiếc ghế trống đó! Thế mới lạ! Tưởng như, nếu nhà nước Trung Quốc cho phép ông sang lãnh giải thì hình hài bằng xương bằng thịt của ông trên chiếc ghế danh dự ấy, có thể, chưa rực rỡ, linh động, bằng TINH THẦN LƯU HIỂU BA.   Đó là sức mạnh của vô hình, vô tướng, một sức mạnh không quyền uy, không thế lực nào xâm phạm được.

Chiếc ghế trống hôm nay, có thể sẽ thành vô giá, trong bất cứ cuộc đấu giá nào!

Chuyện “khó thấy” là sao những đầu óc thường mưu lược lại làm những chuyện “dễ thấy” như thế!?

Đời sống tâm linh nó lạ lắm! Bao năm khổ công cầu đạo, quỳ dưới tuyết sương suốt ngày đêm ngoài cửa động, đến mức toàn thân sắp thành đá, rồi chặt cánh tay dâng lên cúng dường cũng vẫn chẳng thấy đạo đâu. Vậy mà, chỉ một lời khai thị đúng lúc của Tổ Đạt Ma: “Đưa cái tâm bất an ra đây, ta an cho”, thì  Ngài Huệ Khả đã ngộ đạo, thấu suốt cõi mình, cõi người.

 

Bây giờ, chẳng phải tách trà chỉ nguội, mà bình trà cũng cạn.

Không dám pha thêm trà vì biết đâu, nhâm nhi nhàn hạ, không chỉ quán “Không” mà lại dẫn tới quán “Khó”, quán “Dễ”, trong khi, nắng sớm ngoài kia đã lên, biết bao nụ-ý đang hé nở cho một ngày mới, sẽ thăng hoa!

 

Huệ Trân

                      (Trung tuần, tháng cuối 2010)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 12)
Quy kính Tam bảo là pháp hành căn bản của người con Phật. Từ lúc phát tâm hướng đạo tới khi chính thức quy y...
(Xem: 14)
Có câu " thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo", phàm làm điều thiện thì nhận lại điều thiện, làm điều ác thì nhận lại điều ác.
(Xem: 649)
Nay xin ghi lại đôi điều để nhắc nhớ một thời gian đã qua và cho những ai chưa biết. Thước đo thời gian đã làm cho thấy rõ được chí nguyện hoằng pháp, sự tu tập hành trì, và nuôi nuôi dưỡng thế hệ...
(Xem: 134)
Kinh là lời dạy của đức Phật, đó là chân lý sự thật, là những gì màđức Phật chứng ngộ, khám phá và tuyên thuyết ra, mang lại sựan lạc giải thoát cho người hành trì. K
(Xem: 130)
Bài này được viết trong ngày gần Ngày Lễ Mẹ tại Hoa Kỳ, để cúng dường Tam Bảo, và dâng tặng tất cả các bà mẹ từ vô lượng kiếp trên đời này.
(Xem: 107)
Đó là chiếc cầu bắc ngang hai bờ: Bờ dĩ vãng là thế hệ đàn anh và bờ tương lai là thế hệ đàn em. Sự "xung đột thế hệ" (generational gap) đã xảy ra từ cổ chí kim...
(Xem: 158)
Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhārtha Gautama), một con người lịch sử, một thái tử thuộc dòng họ Thích Ca(Sakya), con trai của vua Tịnh Phạn (Suddhodana),
(Xem: 246)
Nhiều người có lúc khó tin rằng sẽ có sự tái sanh khi cuộc sống hiện tại này kết thúc. Làm sao chúng ta biết được rằng sự tái sanh là có thể?
(Xem: 205)
Trong tâm trí tôi hình dung về một đất nước Nhật Bản là những dòng thơ Thiền rất mực thơ mộng và kiệm lời. Và nêu lên được cái nhìn về thực tướng vô thường, vô ngã.
(Xem: 241)
Đọc lịch sử Đức PhậtThánh chúng, ai cũng xót xa khi đến đoạn Thế Tôn sắp nhập diệt.
(Xem: 194)
Người Phật tử chân chính, nếu không biết tu thì mình sẽ đụng chạm tới rất nhiều người, bởi thế gian này luôn tranh giành, sát phạt lẫn nhau;
(Xem: 167)
Thiền là pháp môn cơ bản mà bất cứ ai cũng có thể thực hành được. Hành thiền không chỉ mang lại sự an định nội tâm, đưa đến niềm vui hỷ lạc, mà còn...
(Xem: 247)
Có nhiều câu hỏi về tái sanh thường được nêu ra đối với các Phật tử. Có tái sanh không? Nếu có, có thể nhớ chuyện kiếp trước không? Cái gì tái sanh? Có thân trung ấm hay không?
(Xem: 673)
Mỗi người trong chúng ta khi sinh ra trên cõi đời nầy đều phải trải qua nhiều giai đoạn của cuộc sống. Nếu nói theo tướng mệnh học thì người ta chia cuộc đời nầy ra làm 3 giai đoạn. Đó là tiền vận, trung vận và hậu vận.
(Xem: 167)
Nhìn vào đời sống, chúng ta nhận ra cuộc đời thay đổi biết bao, và sự sốngliên tục chuyển dịch giữa những đối cực và những điều tương phản đến thế nào.
(Xem: 190)
Nhân ác quá khứ thì đã tạo, không thay đổi được. Những điều mà chúng ta có thể làm được là tạo ra nhân mới tốt, duyên mới thiện thì chắc chắn sẽ có quả báo lành.
(Xem: 168)
Chúng ta cần biết ơn con người và cuộc sống vì chúng ta đã nhận quá nhiều, và tiết kiệm là một trong những cách thực tế nhất thể hiện sự trân trọngbiết ơn của mình vậy.
(Xem: 169)
Phật thì dạy thế này : “Ta không tán thán các vị xuất gia có sự liên hệ, với các gia chủ. Nhưng với các trú xứ ...
(Xem: 155)
Lời Phật dạy thật rõ ràng. Những bất hạnh do thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh v.v… giáng xuống một dân tộc, quốc gia do chính những con người sống trong đất nước ấy gây ra. N
(Xem: 161)
Thường thì nói ra bất cứ điều gì cũng dễ hơn làm. Nhất là trên bước đường chế ngự, chuyển hóa và làm chủ tâm thì lại càng khó hơn.
(Xem: 149)
Con đường Phật giáo nói chung, và kinh Lăng-già nói riêng, là phá trừ xua tan những vọng tưởng hư vọng, nói tổng quát là vô minh, để nhìn ra...
(Xem: 196)
Lúc mới bắt đầu đi chùa, mình thích nghe quý thầy, cô giảng pháp, thường khuyên mình nên ‘tu mau kẻo trễ’.
(Xem: 713)
Của Tăng Đoàn Âu Mỹ do Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa Viên Giác, Đức Quốc, làm trưởng đoàn Tại chùa Hương Sen Perris, California
(Xem: 184)
Khi được khen ai cũng vui tươi, Khi bị chê ai cũng buồn chán, Người khôn vượt khỏi khen chê, Thân tâm an ổn, vui tươi làm lành.
(Xem: 198)
Lá và cành khô đã gẫy đổ, giạt theo mặt hồ từ những ngày tàn xuân. Một số cành khác đã mục rữa từ dưới nước, nhưng vẫn gắng bám rễ nơi sình lầy...
(Xem: 185)
Phần lớn quý vị của thế hệ trước thì muốn một cuộc sống điềm đạm, chậm rãi, thâm trầm. Đa số những người trẻ hiện nay thì muốn sống vội, sống nhanh.
(Xem: 186)
Lẽ thường, nếu biết rằng phút giây nữa mình sẽ chết thì chắc chắn chúng ta sẽ tận tâm tu tập, cầu nguyện,tuyệt không hề xao lãng.
(Xem: 153)
Tôi sinh ra trong một gia đình có ít nhiều gắn bó với Phật giáo. Bà nội tôi lúc cuối đời đã dồn hết những đồng tiềndành dụm cả đời để
(Xem: 165)
Tranh giành, tranh đấu, tranh cãi, tranh đua là nhữngtập khí cố hữu của chúng sinh. Cội nguồn của mọi sựtranh chấp ấy là tham dục và kiến dục.
(Xem: 203)
Câu nói cửa miệng của người đời là ‘sướng như tiên’. Kỳ thực thì chư Thiên, chư tiên là những vị có phước báo lớn nhưng vẫn còn khổ.
(Xem: 141)
Giới như ngọn đèn sáng hay phá tan tối tăm, mờ mịt. Giới như sức mạnh hay dựng đứng những gì đã ngã. Giới như ánh sáng trí tuệ hay chuyển hóa các phiền muộn, khổ đau.
(Xem: 152)
Thế gian lìa sanh diệt Giống như hoa trong không Trí chẳng đắc có không Mà hưng tâm đại bi.
(Xem: 268)
Trong cái thấy biết mọi hình ảnh sự vật, chúng ta chạy theophân biệt là gốc vô minh; trong cái thấy biết, thấy chỉ là thấy không phân biệt là Niết-bàn.
(Xem: 170)
Chúng ta là những sinh thể sống. Chúng ta phải tiếp nhận tình cảm liên tục, chỉ như thế thì đời sống mới trở thành đầy đủ ý nghĩa nhiều hơn, nhiều hạnh phúc sâu xa bên trong hơn.
(Xem: 158)
Ngày xưa khi Đức Phật ngồi Thiền dưới cội bồ-đề và chứng được Túc Mạng Minh, Ngài nhớ lại vô sốkiếp trước đã làm gì, ở đâu như nhớ chuyện ngày hôm qua.
(Xem: 610)
“Hạt nắng Bồ Đề” là ghi nhận từng bước hành hương và tấm lòng mong cầu tu học mà anh Văn Công Tuấn đã thực hiện.
(Xem: 155)
Nghiệp (karma) là một hành động. Hành động ấy phát xuất từ một chủ thể nhắm đến và tác động lên một đối tượng.
(Xem: 690)
Bodhisattva (Sanscrit), Bodhisat(Pali). Viết trọn chữ theo tiếng Phạn là: Bồ Đề Tát Đỏa. Bồ Đề, Bodhi là Chánh Giác. Tát Đỏa, Sattva là chúng sanh.
(Xem: 239)
Tôi rất vui mừng hiện diện ở đây với quý vị, để chia sẻ một vài quan điểm của tôi, và có thể cũng là một số kinh nghiệm nào đó. C
(Xem: 139)
Thực tế, tôi rất vui mừngcảm thấy vinh dự lớn để đón nhận giá trị này và cũng có cơ hội để nói với những thanh thiếu niên nam nữ.
(Xem: 877)
Khi dòng sông phút trước không còn là dòng sông phút sau, thì đời người phút trước cũng không giống đời người phút sau.
(Xem: 645)
Tuyển tập Những Bài Viết Ngắn Của HT Thích Như Điển Phương Trượng Chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc
(Xem: 984)
Nguyên tác: The Power of Fogiveness, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Limerick (Ireland) 2011, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 456)
Bất luận là người tu tại gia hay xuất gia, cần phải trên kính dưới hòa, nhẫn nhục điều người khác khó nhẫn được, làm những việc mà người khác khó làm được...
(Xem: 1197)
Quên mìnhbước đầu để dẹp bỏ những hàng rào ngăn cách với người khác. Không vì mình là vì muốn làm lợi ích cho số đông.
(Xem: 767)
Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn hiện thân trong cuộc đời dưới mọi dạng mọi hình như là những quý nhân để cứu độ, hay hiện lên và hay giúp đỡ (शब्दकोश)
(Xem: 637)
Tâm ý cân bằng hay tâm ý bất bình thườngảnh hưởng rất quan trọng đến sức khỏe con người.
(Xem: 505)
Bây giờ, ở đây, khi tôi sử dụng chữ “hạnh phúc”, tôi đang nói về hạnh phúc trong một ý nghĩa chân thành, sự hài lòng sâu xa.
(Xem: 969)
Là người Phật tử, dù tu tập theo pháp môn nào chúng ta cũng thường được nghe chư tôn đức dặn dò: "Tu tập phải luôn quay vào bên trong, quay về chính mình, không nhìn ngó ra ngoài".
(Xem: 520)
Theo kinh điển Nam truyền cũng như Bắc truyền, Bồ tát Di Lặc hiện trú tại cõi trời Đâu suất (Tusita), tầng trời thứ tư trong sáu tầng trời cõi Dục, đợi đủ nhân duyên sẽ giáng sanh xuống cõi Ta bà hóa độ chúng sanh.
Quảng Cáo Bảo Trợ