Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát

13 Tháng Mười Một 201000:00(Xem: 10200)
Phẩm 24: Diệu Âm Bồ Tát



ÐẠO PHẬT NGÀY NAY 
MỘT DIỄN DỊCH MỚI VỀ BA BỘ KINH PHÁP HOA

Tác Giả: Nikkyò Niwano - Anh dịch: Kòjirò Miyasaka - Bản Dịch Anh ngữ: Buddhism For Today: A modern Interpretation Of The Threefold Lotus Sutra, Kose Publishing Co. Tokyo - Việt dịch Cư Sĩ Trần Tuấn Mẫn, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam TP. HCM ấn hành 1997

 

Phẩm 24
DIỆU ÂM BỒ-TÁT

 

Phẩm này kể lại câu chuyện về Bồ-tát Diệu Âm từ một thế giới lý tưởng đến thế giới Ta-bà. Những điểm quan trọng sẽ được giải thích. Chúng ta hãy đi vào câu chuyện.

HÀO QUANG TỪ VÒNG LÔNG TRẮNG:

Khi đức Phật Thích-ca-mâu-ni kể xong chuyện Bồ-tát Dược Vương, Ngài “phóng ra một hào quang từ nhục kế(1), tướng của một vĩ nhân, và phóng một hào quang từ tướng vòng lông trắng giữa đôi mày của Ngài, chiếu sáng khắp mọi nơi về phía Đông trăm vạn ức na-do-tha thế giới của Phật, nhiều như cát sông Hằng. Vượt qua số thế giới ấy là một thế giới có tên là Tịnh Quang Trang Nghiêm. Tại quốc độ ấy có một vị Phật hiệuTịnh Hoa Túc Vương Trí Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ; Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

Tia hào quang phát ra từ vòng lông trắng giữa đôi mày của đức Phật Thích-ca-mâu-ni chiếu suốt cảnh giới của chư Phật. Điều này có nghĩa là mặc dù đức Bổn Phật hiện hữu khắp nơi, các chúng sanh chỉ có thể biết sự hiện hữu của Ngài qua giáo lý của đức Thích-ca-mâu-ni. Hào quang từ vòng lông trắng của đức Phật Thích-ca tượng trưng cho Phật tuệ của Ngài, là Phật tuệ khai thị chânvũ trụ. Sự kiện này đã được liên tục giải thích từ phẩm 1 của kinh Pháp Hoa, nhưng việc khơi dậy lại ý nghĩa của nó trong phẩm này đặc biệt quan trọng đối với chúng ta. Đấy là lý do tại sao câu chuyện mở đầu bằng cách nêu sự việc đức Phật phóng hào quang từ vòng lông trắng chiếu khắp cảnh giới của chư Phật. Nếu chúng ta không hiểu ý nghĩa của điều này thì có thể chúng ta chỉ có một sự hiểu biết nông cạn về câu chuyện, hoặc tệ hơn, hiểu lầm toàn bộ câu chuyện.

PHÁP HOA TAM-MUỘI:

Đức Phật dạy: “Bấy giờ ở quốc độ Tịnh Quang Trang Nghiêm có một vị Bồ-tát tên là Diệu Âm, đã từ lâu vun trồng nhiều căn đức hạnh, đã cúng dường và thân cận vô lượng trăm ngàn vạn ức đức Phật và đã đạt trọn vẹn trí tuệ thâm sâu. Ngài đã đạt Diệu tràng tướng tam-muội, Pháp Hoa tam-muội, Tịnh đức tam-muội, Túc vương hý tam-muội, Vô duyên tam-muội, Trí ấn tam-muội, Giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn tam-muội, Tập nhứt thiết công đức tam-muội, Thanh tịnh tam-muội, Thần thông du hý tam-muội, Tuệ cự tam-muội, Trang nghiêm vương tam-muội, Tịnh quang minh tam-muội, Bất cộng tam-muội, Nhựt triền tam muội. Trăm ngàn vạn ức tam-muội lớn mà Ngài đã đạt được như thế nhiều như cát sông Hằng”.

Tam-muội (Định hay Thiền định), Phạn ngữ là Samàdhi, nghĩa là tập trung tâm vào một đối tượng đơn nhất, không bị thứ gì làm xao lãng. Ở đây nêu ra mười sáu loại tam-muội, mỗi loại có một ý nghĩa riêng. Diệu tràng tướng (1) tam-muội nghĩa là tin một cách vững chãi và không lay chuyển rằng kinh Pháp Hoacốt lõi của mọi giáo lý của đức Phật. Pháp Hoa(2) tam-muội nghĩa là tin thâm sâu vào các giáo lý của kinh Pháp Hoa, tự mình thực hành các giáo lý ấy và không bị bất cứ cái gì làm xao lãng. Tam-muội này đại diện cho tất cả mười sáu tam-muội; mười lăm tam-muội kia có thể được xem là phát xuất từ Pháp Hoa tam-muội. Tịnh đức(1) tam-muội nghĩa là cái trạng thái tâm của người có hạnh thanh tịnh nhưng không ý thức về đức hạnh ấy.
Một người nhập tam-muội này thì không kiêu mạn, ích kỷ, và lời nói, hành vi của người ấy tự nhiênảnh hưởng tốt đến những người chung quanh. Túc vương hý(2) tam-muội nghĩa là giữ tâm mình mong được là một vị Phật hay một vị Bồ-tát vốn đã có đức hạnh tốt đẹp từ các đời sống trước và có năng lực dẫn đạo người khác một cách tự tại nhờ vào đức hạnh của vị ấy, đồng thời cũng có một quyết định vững chãi trong sự mong cầu Phật quả của chính mình.

Vô duyên(3) tam-muội nghĩa là tận tụy với tinh thần cứu độ không những chỉ những người có liên hệ với mình mà cả những người không có liên hệ với mình. Trí ấn(4) tam-muội nghĩa là tập trung tâm an trú vào một trạng thái tâm thức sao cho trí tuệ sâu xa của mình sẽ tạo ra một ảnh hưởng tốt đẹp, mạnh mẽ đến tâm của những người khác đang ở gần mình. Giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn(1) tam-muội nghĩa là ở trong cái trạng thái tâm thức biết rõ ước muốn của mọi chúng sanh, và tư duy về việc thuyết giảng giáo lý thích hợp với họ.

Tập nhứt thiết công đức(2) tam-muội nghĩa là tập trung tâm mình vào cái ý niệm rằng công đức của tất cả mọi giáo lý rốt lại là một công đức độc nhất, là cả chính mình lẫn những người khác sẽ thành Phật. Thanh tịnh(3) tam-muội nghĩa là đem dâng tâm hồn mình cho một đối tượng độc nhất, qua đó người ta gỡ bỏ mọi ảo tưởng khỏi tâm mình và giữ thân mình thanh tịnh. Thần thông du hý(4) tam-muội nghĩa là dốc lòng duy trì trạng thái tâm thức tự tại với mọi hoàn cảnh.

Tuệ cự(5) tam-muội nghĩa là miệt mài với ước mong phóng ánh sáng trí tuệ của mình vào những người chung quanh, giống như một ngọn đuốc tỏa ánh sáng ra xa. Trang nghiêm vương(6) tam-muội nghĩa là giữ tâm mình vào ước mong được là một người có đức hạnh để gây ảnh hưởng tốt cho người khác. Tịnh quang minh(1) tam-muội nghĩa là giữ tâm mình vào ước mong tâm mình được tràn đầy thanh tịnh. Bất cộng(2) tam-muội nghĩa là có lý tưởng xác quyết là đạt được trạng thái tâm như đức Phậtthực hành các giáo lý đối với lý tưởng ấy. Nhựt triền(3) tam-muội nghĩa là có cái tâm còn dao động nhưng lại muốn đạt đến trạng thái tâm khiến cho mọi sự vật sống, giống như mặt trời tạo sự sống không ngừng trên tất cả mọi sự vật.

“Ngay khi hào quang từ đức Phật Thích-ca-mâu-ni chiếu đến Bồ-tát Diệu Âm, vị Bồ-tát này nói với đức Phật Tịnh Hoa Túc Vương Trí rằng: "Bạch Thế Tôn ! Con phải đi đến thế giới Ta-bà để lễ bái, thân cận và cúng dường đức Phật cũng như Bồ-tát Văn-thù Pháp Vương Tử, Bồ-tát Dược Vương, Bồ-tát Dũng Thí, Bồ-tát Túc Vương Hoa, Bồ-tát Thượng Hạnh Ý, Bồ-tát Trang Nghiêm Vương và Bồ-tát Dược Thượng"“.

“Thế rồi đức Phật Tịnh Hoa Túc Vương Trí nói với Bồ-tát Diệu Âm: "Ông chớ xem thường hoặc mang ý nghĩ thấp kém về quốc độ ấy. Thiện nam tử ! Thế giới Ta-bà có những chỗ cao thấp, không bằng phẳng, đầy cả đất đá, núi non và uế trược; thân thể của đức Phật Thích-ca-mâu-ni thì thấp và nhỏ, hình vóc của chư Bồ-tát cũng nhỏ, thế mà thân thể của Ông thì cao bốn vạn hai ngàn do-tuần, thân thể Ta thì cao sáu trăm tám mươi vạn do-tuần. Thân thể Ông thì đoan chánh nhất, có được trăm ngàn vạn phước và có ánh sáng kỳ diệu. Do đó khi đến đấy, Ông chớ xem thường quốc độ ấy, chớ có ý nghĩ thấp kém về đức Phật, chư Bồ-tát hay quốc độ của chư vị ấy"“.

“Bồ-tát Diệu Âm bạch Phật: "Bạch Thế Tôn ! Nay con đến viếng thế giới Ta-bà là đều nhờ năng lực của Như Lai, du hý thần thông của Như Lai và sự trang nghiêm công đức, trí tuệ của Như Lai"“.

KHOẢNG CÁCH GIỮA LÝ TƯỞNGHIỆN THỰC:

Bảo rằng so với đức Phật Tịnh Hoa Túc Vương Trí và Bồ-tát Diệu Âm, thân thể của đức Phật Thích-ca thì thấp và nhỏ và tất cả chư Bồ-tát thì có hình vóc nhỏ, thân thể không có hào quang phát ra; lời tuyên bố như thế có ý nghĩa gì ? Hình ảnh đưa ra này trỏ cái khoảng cách giữa lý tưởnghiện thực. Cảnh giớiđức Phật Tịnh Hoa Túc Vương Trí ở là một cõi lý tưởng ở trên trời. Vì thế nên thân của chư Phật và chư Bồ-tát ở cõi ấy to lớn phi thường và sáng chói kỳ diệu.

Mặt khác, hiện thực là gì ? Không có gì gây ấn tượng khi so sánh thực tế với lý tưởng. Hiện thực có vẻ nhỏ bé thấp kém, thô sơ hơn lý tưởng nhiều. Một người đã thành tựu phẩm tính của mình trong thế giới hiện thực như vậy thì cao cả hơn nhiều so với một hình thái lý tưởng ở các cõi trời, dù thân thể của người ấy nhỏ bé và không có ánh sáng phát ra. Không có gì cao cả hơn là đạt được trạng thái tâm của đức Phật trong thế giới hiện thực trong đó những kẻ ác tâm thường trút ra nhiều trở ngại. Đức Phật Tịnh Hoa Túc Vương Trí sốt sắng giảng điều này cho Bồ-tát Diệu Âm.

“Bấy giờ Bồ-tát Diệu Âm không đứng dậy khỏi chỗ ngồi và không dao động thân thể, ngài nhập định. Do năng lực Thiền định của ngài, trên núi Kỳ-xà-quật, không xa Pháp tòa, hóa hiện tám vạn bốn ngàn cây hoa sen quý, thân bằng vàng diêm-phù-đàn (jambùnada), lá bằng bạc trắng, nhụy bằng kim cương, đài bằng ngọc chân-thúc-ca (kimsuka)(1).

“Bấy giờ ngài Văn-thù-sư-lợi Pháp Vương Tử thấy những hoa sen này bèn bạch Phật: "Bạch Thế Tôn ! Do đâu mà trước hết có điềm lành này hiện ra ? Có đến hàng ngàn vạn cây hoa sen thân bằng vàng diêm-phu-đàn, lá bằng bạc trắng, nhụy bằng kim cương và đài hoa bằng ngọc chân-thúc-ca".

 “Thế rồi đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói cho ngài Văn-thù-sư-lợi biết: "Chính Bồ-tát Ma-ha-tát Diệu Âm muốn từ quốc độ của đức Phật Tịnh Hoa Túc Vương Trí cùng với hội chúng tám vạn bốn ngàn Bồ-tát đến thế giới Ta-bà này để cúng dường, thân cận và lễ bái Ta và cũng muốn cúng dường, nghe kinh Pháp Hoa".

“Ngài Văn-thù-sư-lợi bạch Phật: "Bạch Thế Tôn ! Vị Bồ-tát ấy đã vun trồng gốc lành nào, đã tu tập công đức nào mà có được sức thần thông lớn như thế ? Ngài đã thực hành tam-muội gì ? Xin Thế Tôn nói cho chúng con biết tên của tam-muội ấy; chúng con cũng muốn tinh cần thực hành tam-muội ấy, vì do thực hành tam-muội ấy mà chúng con có thể thấy được vị Bồ-tát ấy - sắc tướng, tầm vóc, phẩm hạnh, cung cách của ngài. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn dùng sức thần thông cho chúng con thấy vị Bồ-tát ấy khi ngài đến".

“Đức Phật Thích-ca nói với ngài Văn-thù-sư-lợi: "Đức Như Lai Đa Bảo diệt độ đã lâu sẽ vì các Ông mà hiện tướng". Đức Phật Đa Bảo liền nói với Bồ-tát ấy: "Thiện nam tử ! Hãy đến, Văn-thù-sư-lợi Pháp Vương Tử muốn thấy Ông "!”.

“Bấy giờ Bồ-tát Diệu Âm biến mất khỏi quốc độ ấy và ra đi cùng với tám vạn bốn ngàn Bồ-tát. Các quốc độ mà chư vị đi ngang qua đều rung động theo sáu cách, hoa sen bảy báu tuôn rải khắp nơi, trăm ngàn nhạc cụ của trời tự vang lên. Mắt của vị Bồ-tát ấy như lá lớn của hoa sen xanh. Dung mạo uy nghi của ngài vượt hơn vẻ rực rỡ của hàng trăm ngàn vạn mặt trăng. Thân thể ngài bằng vàng ròng, được trang nghiêm bằng vô lượng trăm ngàn tướng công đức, ngài oai đức xí thạnh, sáng sủa rực rỡ, có đủ tướng đẹp và có thân thể mạnh mẽ như thân Na-la-diên(1). Ngài vào đài bảy báu, lên trên hư không, cách mặt đất bảy cây ta-la, được chúng Bồ-tát cung kính vây quanh; ngài đến núi Kỳ-xà-quật của thế giới Ta-bà. Sau khi đến, ngài bước xuống khỏi tháp bảy báu, cầm một chuỗi anh lạc giá trị hàng trăm ngàn đến chỗ đức Phật cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Phật, dâng chuỗi anh lạc và bạch: "Bạch Thế Tôn ! Đức Phật Tịnh Hoa Túc Vương Trí hỏi thăm Thế Tôn: 'Ngài có ít bệnh, ít ưu tư chăng ? Ngài có cảm thấy thoải mái, tiện lợi chăng ? Tứ đại(2) của Ngài có được điều hòa chăng ? Ngài có kham nhẫn thế sự chăng ? Chúng sanh của Ngài có dễ dàng được cứu vớt chăng ? Phải chăng họ không tham dục, sân nhuế, si ám, đố kỡ, kiêu mạn, không bất hiếu với cha mẹ, không bất kính Sa-môn, không có tà kiến, không có ác tâm, không phóng túng trong ngũ dục ? Bạch Thế Tôn ! Chúng sanh của Ngài có hàng phục được các Ma oán chăng ? Đức Như Lai Đa Bảo nhập diệt đã lâu có còn trú tại tháp bảy báu và đến nghe Pháp chăng ?' Đức Phật Tịnh Hoa Túc Vương Trí cũng hỏi thăm đức Phật Đa Bảo: 'Ngài có được an ổn và ít ưu tư chăng ? Ngài có kham nhẫn để trụ lâu chăng ?' Bạch Thế Tôn, nay chúng con muốn nhìn thấy thân của đức Phật Đa Bảo. Bạch Thế Tôn ! Xin Ngài cho chúng con được nhìn thấy đức Phật ấy".

“Thế rồi đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói với đức Phật Đa Bảo: "Bồ-tát Diệu Âm này muốn được gặp Ngài". Liền đó, đức Phật Đa Bảo nói với Bồ-tát Diệu Âm: "Hay lắm, hay lắm ! Ông đã có thể đến đây cúng dường đức Phật Thích-ca-mâu-ni, nghe kinh Pháp Hoa và gặp Văn-thù-sư-lợi và những vị khác"“.

Lời nói của đức Phật Đa Bảo bao hàm một ý nghĩa quan trọng. Là một nhân chứng của chân lý, đức Phật Đa Bảo tuyên bố rõ ràng khi ca ngợi Bồ-tát Diệu Âm rằng điều kiện tiên quyết đối với mọi người là luôn luôn thực hành ba điều sau đây: cúng dường đức Phật Thích-ca-mâu-ni là vị đã thuyết giảng chân lý, nghe giáo lý về chân lý, tức là kinh Pháp Hoa, và noi gương chư Bồ-tát đức hạnh là những vị thực hành giáo lý.

“Thế rồi Bồ-tát Hoa Đức bạch đức Phật: "Bạch Thế Tôn ! Bồ-tát Diệu Âm này đã vun trồng thiện căn nào, đã tu tập công đức nào mà có được những thần lực như thế ?" Đức Phật trả lời Bồ-tát Hoa Đức: "Trong thời quá khứ, có vị Phật tên là Vân Lôi Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, quốc độ của Ngài tên là Hiện Nhứt Thiết Thế Gian, kiếp của ngài tên là Hỷ Kiến. Bồ-tát Diệu Âm suốt một vạn hai ngàn năm cúng dường đức Phật Vân Lôi Âm Vương mười vạn loại âm nhạc và dâng cúng tám vạn bốn ngàn bát bảy báu. Do quả báo, nay Bồ-tát được sanh trong cõi của đức Phật Tịnh Hoa Túc Vương Trí và có được những thần lực như thế. Hoa Đức ! Ý Ông thế nào ? Bồ-tát Diệu Âm thời ấy cúng dường đức Phật Vân Lôi Âm Vương âm nhạc và dâng bát quý là người nào khác chăng ? Chính đó là Bồ-tát Ma-ha-tát Diệu Âm đây vậy. Hoa Đức ! Bồ-tát Diệu Âm này trước đây đã từng cúng dường, thân cận vô lượng chư Phật, đã vun trồng gốc đức lâu đời và đã gặp trăm ngàn vạn ức na-do-tha đức Phật, số lượng như cát sông Hằng"“.

Cúng dường đức Phật bằng âm nhạc có nghĩa là ca ngợi công đức của Ngài. Điều này cần được hiểu là tán thán đức Phật bằng lời hơn là bằng sự tấu nhạc thực sự.

NĂNG LỰC CỦA NGÔN NGỮ:

Phật giáo xem lời nói có tầm quan trọng lớn lao. Những nụ cười và những lời nhu hòa được xem là một cách dẫn người ta đến giải thoát. Trong Phật giáo Mật tông, những lời bí diệu được xem là có năng lực chống lại mọi ác độctai họa. Trong phẩm 26 của kinh Pháp Hoa, “Đà-la-ni”, những định thức về các mật âm duy trì đời sống tu hành của người tụng được xem như hàm chứa một năng lực kỳ bí.

Trong Thiên chúa giáo cũng có điều như thế. Phúc âm của Thánh John mở đầu rằng: “Lúc khởi đầu là Lời và Lời là cùng với Chúa, và Lời là Chúa”. Khoa học hiện đại trỏ rõ rằng tư tưởng phát sinh từ lời nói. Khi ta nghĩ đến điều gì, ta diễn đạt điều ấy bằng ngôn ngữ trong trí óc ta. Ta không thể nghĩ đến điều gì mà không dùng ngôn ngữ.

Khi ta suy nghĩ sâu xa về lý do tại sao Bồ-tát Diệu Âm được gọi bằng cái tên ấy thì ta nhận ra rằng tên của vị Bồ-tát này hẳn phát xuất từ một biểu ngữ có nghĩa là “ngôn ngữ của sự thực”. Đức Phật không những chỉ hoan hỷ vì người ta lấy âm nhạc cúng dường Ngài, dù âm nhạc ấy có thể là hay. Tâm Ngài thực sự được thỏa mãn do người ta ca ngợi Ngài bằng ngôn ngữ của sự thực.

Xét như thế, chúng ta có thể hiểu được cú ngữ “cúng dường đức Phật Vân Lôi Âm Vương và dâng tám vạn bốn ngàn bát bảy báu”. Dâng lên đức Phật nhiều bát đẹp tự nó không phải là làm Ngài hoan hỷ. Trong Phật giáo, thuật ngữ “tám vạn bốn ngàn” được dùng để trỏ con số vô hạn của các kinh. Cú ngữ “dâng tám vạn bốn ngàn bát bảy báu” do đó có nghĩa là Bồ-tát Diệu Âm giảng giáo lý của đức Phật cho nhiều người để đáp lại ân đức của đức Phật mà Bồ-tát đã thọ nhận.

Đức Phật giảng tiếp với ý nghĩa sau: “Hoa Đức! Ở đây Ông chỉ nhìn thấy một thân của Bồ-tát Diệu Âm. Nhưng Bồ-tát này xuất hiện trong nhiều thân ở khắp nơi mà giảng kinh này cho chúng sanh. Có khi Bồ-tát hiện thân làm Phạm thiên, hoặc hiện thân làm Đế Thích, hoặc hiện thân làm Tự Tại Thiên, hoặc hiện thân làm Đại Tự Tại Thiên, hoặc hiện thân làm một vị Đại tướng, hoặc hiện thân là Tỳ-sa-môn Thiên vương, hoặc hiện thân làm Chuyển luân Thánh vương, hoặc hiện thân làm các vị vua bình thường, hoặc hiện thân làm một trưởng giả, hoặc hiện thân làm một cư sĩ, hoặc hiện thân làm một Tể tướng, hoặc hiện thân làm một Bà-la-môn, hoặc hiện thân làm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, hoặc hiện thân làm vợ một trưởng giả hay một cư sĩ, hoặc hiện thân làm vợ một Tể tướng, hoặc hiện thân làm vợ một Bà-la-môn, hoặc hiện thân làm một cậu trai hay một cô gái, hoặc hiện thân làm một vị Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thác-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già. Người, Không phải người, v.v... mà giảng kinh này”.

Ở đây đức Phật nêu ra ba mươi bốn loại thân mà Bồ-tát Diệu Âm hóa hiện. Điều này có nghĩa là Bồ-tát hóa thânhiện ra bằng nhiều cách khác nhau tùy theo lúc và theo hoàn cảnh chứ không giới hạn vào ba mươi bốn loại thân này. Trong cõi Ta-bà và trong mọi cõi khác, ngài dẫn dắt mọi chúng sanh bằng các phương tiện thiện xảo của ngài tùy theo bản tínhnăng lực của nhiều chúng sanh khác nhau.

“Thế rồi Bồ-tát Hoa Đức bạch Phật: "Bạch Thế Tôn ! Bồ-tát Diệu Âm này thực ra đã trồng sâu thiện căn. Bạch Thế Tôn ! Bồ-tát này đã an trú trong tam-muội nào mà có thể biến hiện như thế theo hoàn cảnh để cứu độ chúng sanh ?". Đức Phật trả lời Bồ-tát Hoa Đức:

"Thiện nam tử ! Tam-muội ấy tên là Hiện Nhứt thiết Sắc thân(1). Bồ-tát Diệu Âm an trú trong tam-muội này mà có thể gây lợi lạc cho vô lượng chúng sanh như thế".

“Trong khi phẩm Diệu Âm Bồ-tát này được thuyết giảng cả tám vạn bốn ngàn vị cùng đến với Bồ-tát Diệu Âm đều đạt tam-muội Hiện Nhứt thiết Sắc thânvô lượng Bồ-tát trong thế giới Ta-bà này cũng đều đạt tam-muội Đà-la-ni.

“Bấy giờ Bồ-tát Ma-ha-tát Diệu Âm sau khi đã cúng dường đức Phật Thích-ca-mâu-ni và tháp của đức Phật Đa Bảo, quay về quốc độ riêng của ngài. Các quốc độ mà ngài đi qua đều rung động theo sáu cách, tuôn rải hoa sen quý và tấu lên trăm ngàn vạn ức loại âm nhạc. Khi đã đến quốc độ riêng của mình, Bồ-tát cùng với tám vạn bốn ngàn Bồ-tát quanh ngài đến chỗ đức Phật Tịnh Hoa Túc Vương Trí mà bạch Phật: "Bạch Thế Tôn ! Con đã đến thế giới Ta-ba, làm lợi lạc cho các chúng sanh ở đấy, đã tham kiến đức Phật Thích-ca-mâu-ni, đã thấy được tháp của đức Phật Đa Bảo và đã lễ bái, cúng dường đức Phật ấy và tháp; con cũng đã gặp Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi Pháp Vương Tử cũng như Bồ-tát Dược Vương, Bồ-tát Đắc Cần Tinh Tấn Lực, Bồ-tát Dũng Thí và chư vị khác, và khiến cho tám vạn bốn ngàn Bồ-tát kia đạt được Tam-muội Hiện Nhứt thiết Sắc thân”.

Phẩm kinh kết luận: “Trong khi phẩm nói về sự đi và đến của Bồ-tát Diệu Âm này được giảng xong, bốn vạn hai ngàn Thiên tử đạt được pháp nhẫn Vô sanh, Bồ-tát Hoa Đức đạt được Tam-muội Pháp Hoa”.

Khi chúng ta đọc phần kết của phẩm này, có thể chúng ta thắc mắc không biết Bồ-tát Diệu Âm có phải chính là đức Bổn Phật Vĩnh hằng hay không.
Ở đây có bảo rằng Bồ-tát Diệu Âm có thể biến hóa, hiện thân theo nhiều hình tướng ở khắp nơi. Đây cũng viết rằng: “Đối với những người Bồ-tát cần cứu độ với hình tướng của một vị Phật, Bồ-tát bèn hiện thân làm hình tướng của một vị Phật mà thuyết pháp”.

Tuy nhiên, Bồ-tát Diệu Âm không phải là đức Bổn Phật Vĩnh hằng mà chỉ là một vị Bồ-tát hành động như một sứ giả của Ngài. Vị Bồ-tát này thấp hơn nhiều so với đức Như Lai Thích-ca-mâu-ni là đức Tích Phậtnăng lực giác ngộ hết thảy chúng sanh của Ngài.

Như đã nói trước đây, Bồ-tát Diệu Âmbiểu tượng của một lý tưởng; ngài là một vị Bồ-tát dùng nhiều cách để dạy cho người ta một trạng thái lý tưởng của tâm. Ngài dạy cái đức hạnh tối cao mà mỗi người phải nhắm tới - cái trạng thái lý tưởng của tâm cho các chính khách, doanh nhân, học giả và các nữ gia chủ. Giáo lý về một trạng thái lý tưởng của tâm quả thực là cao cả, nhưng nó không tỏ lộ được giá trị của nó khi nó vẫn nằm không ở trong tâm trí người ta. Giá trị thực sự của giáo lý lý tưởng chỉ được cảm nhận vào lúc và tại nơi mà người ta thể hiện nó từng chút một trong đời sống hàng ngày.

Điều này được biểu lộ rõ qua những hành động của Bồ-tát Diệu Âm: Bồ-tát (hay lý tưởng) này với cái thân vàng sáng chói cao lớn vô cùng, đến với đức Phật Thích-ca-mâu-ni là vị có ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đặc biệtthân thể của một vị Phật nhưng đã mang sắc tướng của một người bình thường; và Bồ-tát đảnh lễ dưới chân đức Phật và dâng lên Ngài một chuỗi anh lạc quý. Bồ-tát Diệu Âm, biểu tượng của một lý tưởng, ca ngợi đức Phật Thích-ca, vị đã xuất hiện trên đời này như một con người toàn hảo: “Ngài quả thực là vị đã thể hiện lý tưởng của chúng con”. Bồ-tát Diệu Âm đã đến với thế giới hiện thực từ một cảnh giới lý tưởng nhằm mục đích ca ngợithúc đẩy một điều vô cùng lớn lao và cao cả đối với con ngườinỗ lực kiến lập Chánh phápxây dựng một xã hội lý tưởng trong cõi Ta-bà này vốn đầy ô trọc và xấu ác.

Tinh thần thực sự của phẩm 24 là một lý tưởng sẽ không thực sự là cao cả nếu nó không được người ta thể hiện dần dần. Dù chư Phật an trú trong các thế giới lý tưởng như đức Như Lai Đại Tỳ-lô-giá-na (Mahàvairocana) và đức Như Lai A-di-đà (Amita, Amitàbha), hiển nhiên là rất cao cả, đức Bổn Phật Vĩnh hằng mà người ta có thể tôn kính qua đức Như Lai Thích-ca-mâu-ni như là một lý tưởng được nhân cách hóa, cần phải là một đối tượng tôn thờ của chúng sanh ở trên cõi đời này.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 49717)
Khi ta phát triển định tâm, ta sẽ có thể giữ những chướng ngại tạm thời ở một bên. Khi những chướng ngại được khắc phục, tâm ta trở nên rõ ràng trong sáng.
(Xem: 34612)
Nếu kẻ nam tử người nữ nhơn thân có tai ách, trong nhà nên an trí tháp xá-lợi và hình tượng Phật, họa vẽ tượng đức Văn-thù-sư-lợi Đồng tử, thiêu các thứ hương...
(Xem: 33433)
Phật dạy A-nan: “Đời quá khứ, cõi Diêm-phù-đề này có một vị Tỳ-khưu tên là Truyền Giáo. Ngày 15 tháng chín đi du hành về phương Bắc, cách nước Chi Na không xa...
(Xem: 43904)
Lúc bấy giờ, khắp vì lợi ích tất cả chúng sanh, đức Thế tôn nói đà-ra-ni rằng: Na mồ một đà nẫm Ma đế đa na nga đa Bác ra đát dũ đát bán na nẫm...
(Xem: 57032)
Tập sách Thiền và Bát-nhã này là phần trích Luận Năm và Luận Sáu, trong bộ Thiền luận, tập hạ, của D. T. Suzuki. Tập này gồm các thiên luận về Hoa nghiêm và Bát-nhã.
(Xem: 47541)
Thật ra sanh tử là do tâm thức vô minh của chúng ta “quán tưởng” ra là có tự tánh, là có thật, như ví dụ “hư không khônghoa đốm mà thấy ra có hoa đốm”.
(Xem: 39414)
Bát Thức Quy Củ Tụng - Những bài tụng khuôn mẫu giảng về tám thức tâm vương; tác giả: Huyền Trang; người toát yếu: Khuy Cơ, người dịch giảng: HT Thích Thắng Hoan
(Xem: 38457)
Quyển "Vi Diệu Pháp Nhập Môn" ngoài tác dụng của bộ sách giáo Khoa Phật Học; còn là cuốn sách đầu giường của học giả nghiên cứu về Triết lý Ấn độ, cũng như Văn Học A Tỳ Ðàm...
(Xem: 52919)
Kinh Ðại Bát Niết bàn, vì là lời nói sau cùng của Ðức Phật, trước khi Ngài Niết Bàn, nên bao quát hầu như đủ mọi thắc mắc của chúng sinh...Nguyễn Minh Tiến; Đoàn Trung Còn
(Xem: 36588)
Như Lai là bậc A-la-hán, chánh đẳng chánh giác, dùng pháp thắng tri (tuệ tri: biết sát na hiện tiền) hay pháp chánh tri kiến để liễu tri sự vật, không dục hỷ...
(Xem: 32230)
Nếu có ai hỏi ngài Duy Ma Cật: “Bản thể của thế giới này là gì?” thì trước sự im lặng của ngài Duy Ma Cật mà lại được Văn Thù Sư Lợi hết sức tán thưởng là có ý nghĩa sâu xa của nó.
(Xem: 40438)
Như thật tôi nghe: Một thời đức Phật ở tại Pháp Giả Ðại Bồ-đề Ðạo tràng thuộc nước Ma-già-đà, vừa thành Chánh giác cùng các Bồ-tát Ma-ha-tát chúng gồm có tám vạn người...
(Xem: 43463)
"Có đà-ra-ni tên là Túc Mạng Trí. Nếu có chúng sanh nghe đà-ra-ni này mà hay chí tâm thọ trì, thì bao nhiêu nghiệp tội cực nặng trong một ngàn kiếp thảy đều tiêu diệt.
(Xem: 31439)
Nakulapita là một người chủ gia đình sinh sống trong vùng Bhagga, đã trọng tuổithường hay đau yếu. Ông rất kính mến Đức PhậtĐức Phật cũng xem ông như một người con của mình.
(Xem: 46697)
Vì lòng thương xót chúng sanh đời Mạt Pháp, đức Thế Tôn đặc biệt nói ra pháp này để rộng cứu tế, ngõ hầu chúng sanh dẫu chẳng được gặp Phật, mà nếu gặp được pháp môn này...
(Xem: 36170)
Sự kiện Đức Phật chấp nhận thành lập giáo hội Tỳ kheo ni, nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng nhất, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo...
(Xem: 28683)
"Có một lần Đấng Thế Tôn lưu ngụ với những người dân trong vùng Bhagga, gần thị trấn Sumsumaragiri, thuộc khu rừng Lộc Uyển...
(Xem: 29215)
Cách tốt nhất để mang lại sự an ổn cho bản thân là hướng về điều thiện, và quy y Tam bảo là nền tảng đầu tiên cho một cuộc sống hướng thiện.
(Xem: 31876)
Lúc bấy giờ, rừng cây Ta La ở thành Câu Thi Na, rừng ấy biến thành màu trắng giống như con hạc trắng. Ở trong hư không tự nhiên mà có tòa lầu các bảy báu với những hoa văn...
(Xem: 28796)
Phật dạy Tu-bồ-đề: “Các vị Đại Bồ Tát nên hàng phục tâm như thế này: ‘Đối với tất cả các loài chúng sinh, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc do biến hóa sinh ra...
(Xem: 33346)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Niết Bàn, Kinh số 0376, Hán dịch: Đời Đông Tấn, Sa-môn Pháp Hiển, Việt dịch: Thích Nguyên Hùng
(Xem: 29114)
Gương trí vằng vặc của Như Lai cũng như thế, là pháp giới vắng lặng không có gián đoạn không có dao động, vì muốn giúp vô lượng vô số chúng sanh thấy rõ nhiễm-tịnh...
(Xem: 60967)
Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni - một trong các pháp môn - là trí ấn của tất cả Như Lai, mầu nhiệm rộng sâu, khác chi thuyền bè trong biển ba đào, nhật nguyệt giữa trời u ám.
(Xem: 39722)
Phật dạy đại chúng: “Lúc nào cõi nước không an, tai nạn nổi lên và kẻ nam người nữ bị tai ương biến họa, chỉ thỉnh chúng Tăng như Pháp kiến lập đạo tràng...
(Xem: 26647)
Phật tử có nghĩa là tự nguyện theo Tam quy (ti-sarana), Ngũ giới (pañca-sila), tức là nương tựa vào Tam bảo (ti-ratana) và giữ gìn năm giới căn bản của đạo Phật.
(Xem: 29640)
Trong Kiến Đàn Giải Uế Nghi của Thủy Lục Chư Khoa có lời tán thán bồ tát Quán Thế Âm rằng: “Nhân tu sáu độ, quả chứng một thừa, thệ nguyện rộng sâu như biển lớn mênh mông không thể đo lường...
(Xem: 37346)
Nếu có chúng sanh muốn vãng sanh về Chín phẩm Tịnh độ như thế, hãy phụng quán 12 Viên diệu ấy, ngày đêm ba thời, xưng Chín phẩm Tịnh độ như vậy...
(Xem: 40073)
Trong thể trạng giác ngộ, chúng ta có hai thân Phật được biết như thân hình thể và thân chân thật, tức là sắc thânpháp thân. Sắc thân Phật là thân tự tại...
(Xem: 26824)
Nếu các chúng sanh ác tâm hướng nhau, hãy xưng danh hiệu Địa Tạng Bồ-tát, nhất tâm quy y, khiến chúng sanh kia nhu hòa nhẫn nhục, hổ thẹn với nhau, từ tâm sám hối...
(Xem: 42633)
Nếu trong sự thuần tưởng, lại gồm cả phước huệ và tịnh nguyện thì tự nhiên tâm trí khai mở mà được thấy mười phương chư Phật, tùy theo nguyện lực của mình mà sanh về Tịnh-độ.
(Xem: 37270)
Khi chúng ta thấy những chức năng của luật nhân quả, chúng ta có thể phân biệt hai loại chủ thể trải nghiệm mối quan hệ nhân quả này. Đây là thế giới của thân thể vật lýtâm thức.
(Xem: 28275)
Sự hiện hữa của các pháp trên mặt hiện tượng của tướng đó là một sự hiện hữu giả hợp do duyên và, mặt khác tánh của chúng là Không cũng do duyên mang lại.
(Xem: 28888)
Bàn tay cầm chiếc chìa khóa vô thườngchánh niệm. Dùng hơi thở chánh niệm ta tiếp xúc với mọi sự vật, quán chiếu và thấy được tính vô thường của mọi sự vật.
(Xem: 26388)
Này các thầy! Tánh Không thì rỗng không, không vọng tưởng, không sanh, không diệt, lìa tất cả tri kiến. Vì sao? Vì tánh Không không có nơi chốn, không thuộc sắc tướng...
(Xem: 27155)
Phật dạy: Tự tính của Không là không nằm trên bình diện có không, không nằm trong khuôn khổ các vọng tưởng, không có tướng sinh, không có tướng diệt, và vượt thoát mọi tri kiến.
(Xem: 26178)
Đức Phật thấy rõ bản chất của phiền não tham, sân, si là nguồn gốc khổ đau, Ngài chế ra ba phương thuốc Giới-Định-Tuệ để chữa tâm bệnh tham, sân, si cho chúng sinh...
(Xem: 34606)
Do tánh Không nên các duyên tập khởi cấu thành vạn pháp, nhờ nhận thức được tánh Không, hành giả sẽ thấy rõ chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, cuộc đời là khổ.
(Xem: 27794)
Tôi nghĩ nhiệm vụ quan trọng nhất của bất cứ một hành giả của một tôn giáo nào là thẩm tra chính họ trong tâm hồn của chính họ và cố gắng để chuyển hóa thân thể, lời nói
(Xem: 30454)
Bụt là bậc có Nhất Thiết Trí, bản chất của Người là đại nhân từ, vì thương xót nhân gian cho nên mới xuất hiện trên cuộc đời này để mở bày đạo nghĩa, giải cứu cho con người.
(Xem: 33266)
Nói đến tịnh độ tất phải nói đến hai khái niệm tự lựctha lực. Tự lực nói đến phương pháp chúng ta thực hành cho tự thân, dựa vào nội lực của chính tâm chúng ta.
(Xem: 28548)
Khi Phật thành đạo là do đạt được Trí Tuệ hay Giác Trí Tuệ thì các pháp giải thoát được thiết lập thực hành Giác Trí Tuệ trong các thời thiền tập.
(Xem: 30058)
Khi tuệ giác nội quán của chúng ta vào trong bản chất tối hậu của thực tạiTính Không được sâu sắc và nâng cao, chúng ta sẽ phát triển một nhận thức về thực tại...
(Xem: 25475)
Thông thường mà nói Bát Nhã có ba ý nghĩa. Thứ nhất là thực tướng, tướng là tướng trạng, thực tướng chính là hình ảnh chân thực. Nghĩa thứ hai là quán chiếu Bát Nhã, cũng chính là chỗ dụng của thực tướng.
(Xem: 21835)
Trong lời phàm lệ của quyển Tứ phần giới bổn như thích, Luật sư Hoằng Tán (1611-1685) nói: "Tam thế chư Phật câu thuyết Kinh-Luật-Luận tam tạng Thánh giáo.
(Xem: 51272)
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Lòng tin là gốc của đạo, sanh ra các công đức. Lòng tin có thể nuôi lớn các căn lành. Lòng tin có thể vượt khỏi các đường ma.
(Xem: 26710)
Tận cùng tư duy của Đạo Phật quan tâm, định luật căn bản là: chúng ta muốn hạnh phúc. Quyền căn bản của chúng tađạt được hạnh phúc.
(Xem: 28603)
Khi chúng ta nói về từ bi, thật đáng khuyến khích để lưu ý rằng bản chất tự nhiên của con người, tôi tin, là từ bihiền lành.
(Xem: 27687)
Thế Tôn, nếu có người nghe được kinh này mà có lòng tin thanh tịnhđạt được cái thấy chân thật thì nên biết người ấy đã thực hiện được công đức hiếm có vào bậc nhất.
(Xem: 24343)
Tự tánh giả danh hay tùy thuộc cũng nằm trong phạm trù Tánh không. Tự tánh giả danh được thể hiện tướng sanh diệt do tác động thời gian thì có sanh có diệt...
(Xem: 27450)
Tuệ quán là tri nhận một cách sáng suốt, vô thời gian. Vì lẽ chơn thức (tri giác nguyên sơ) là một điểm nhận thức có thật trong động tác nhận thức đầu nguồn của tri giác.
(Xem: 31914)
Chết là một phần của đời sống chúng ta. Cho dù chúng ta thích hay không, nó bắt buộc phải xảy ra. Thay vì tránh nghĩ về điều đó, chúng ta tốt hơn thấu hiểu ý nghĩa của nó.
(Xem: 30172)
Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có thiện nam, thiện nữ nào muốn vì chúng sinh mà nói kinh Pháp Hoa này thời thiện nam hay thiện nữ ấy phải vào nhà Như Lai... Pháp sư Thích Thiện Trí
(Xem: 27680)
“Dược Sư Lưu Ly Quang” là tên gọi của đức Phật này; “Như Lai” là một trong mười tôn hiệu của mỗi vị Phật; “Bổn Nguyện” là các lời phát nguyện của đức Phật này khi Ngài phát tâm Bồ-đề...
(Xem: 35415)
Trong việc phát triển hành xả, chúng ta cần thấu hiểu rằng những cảm xúc tiêu cực như thù hận và dính mắc là không thích đáng và không lành mạnh...
(Xem: 27431)
Ngày nay, Kinh Chuyển Pháp Luân thuộc Tương Ưng Sự ThậtTương Ưng Bộ SN 56.11 trong kinh điển Pali được xem là lời dạy đầu tiên của Đức Phật.
(Xem: 29996)
Để tìm về tính nguyên thủy ấy, lẽ tự nhiên là ta cần khảo sát cẩn trọng bản kinh được xem là lời dạy đầu tiên của Đức Phật. Đó là Kinh Như Lai Thuyết...
(Xem: 31754)
Chúng ta chẳng thể nào mang theo bất kỳ thứ gì khi từ giã thế giới này ngoại trừ nghiệp và những giá trị tâm linh như tình yêu thương, lòng bi mẫntrí tuệ mà ta đã trưởng dưỡng...
(Xem: 23000)
Kinh Điềm Lành (Mangala Sutta) -- còn có tên là kinh Phước Đức hay kinh Hạnh Phúc -- là bài kinh số 5 trong Tiểu Tụng (Khuddakapātha), thuộc Tiểu Bộ (Khuddhaka Nikāya).
(Xem: 24168)
Cách mà chúng ta đang sống sẽ là một trong các nhân tố chính yếu có thể mang lại cho chúng ta sự thanh thảnđiềm tĩnh trong giây phút lâm chung.
(Xem: 23008)
Kinh này có tám phương pháp tu hành thành Phật, mà bậc Đại nhân gánh vác sự nghiệp lớn liễu sinh thoát tử, hóa độ chúng sinh cần phải giác ngộ, nên gọi là Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân.
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant