Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận

01 Tháng Mười Hai 201000:00(Xem: 20955)
Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận

ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO TƯ TƯỞNG LUẬN
Tác Giả: Kimura Taiken

Hán Dịch: Thích Diễn Bồi - Việt Dịch: Thích Quảng Độ
Xuất Bản: Viện Đại Học Vạn Hạnh 1969 - Phật Học Viện Quốc Tế, USA 1986

MỤC LỤC

Vài Nét Về Tác Giả
THIÊN THỨ NHẤT: ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO TƯ TƯỞNG SỬ
CHƯƠNG THỨ NHẤT
TỔNG LUẬN
Tiết thứ nhất: Địa vị Phật Giáo trong tư trào Ấn Độ.
Tiết thứ hai: Điểm tương đồng giữa tưởng Ấn Độtư tưởng Phật Giáo.
Tiết thứ ba: Đặc tính của tư tưởng Phật Giáo.
CHƯƠNG THỨ HAI
TƯ TRÀO CỦA CÁC BỘ PHÁI TRƯỚC NGÀY ĐẠI THỪA HƯNG KHỞI
Tiết thứ nhất: Nguyên ủy của các Bộ phái.
Tiết thứ hai: Sự bất đồng về lập trường chủ yếu giữa Nguyên thủy Phật giáoBộ phái Phật giáo.
Tiết thứ ba: Phật Đà Quan.
Tiết thứ tư: Hữu tình quan.
Tiết thứ năm: Tu chứng luận.
CHƯƠNG THỨ BA
ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO ĐẾN THỜI ĐẠI LONG THỤ
Tiết thứ nhất: Nguồn gốc và đặc chất của tư tưởng Đại Thừa.
Tiết thư hai: Những kinh điểntư tưởng chủ yếu của Đại Thừa trước thời Long Thụ.
Tiết thứ ba: Phật giáo quan của Long Thụ.
CHƯƠNG THỨ TƯ
ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO TỪ SAU THỜI ĐẠI LONG THỤ ĐẾN THỜI ĐẠI VÔ TRƯỚCTHẾ THÂN
Tiết thứ nhất:Ý nghĩa sự kết tập những kinh điển chủ yếu của Đại Thừa đương thời.
Tiết thứ hai: Các loại kinh mới và lịch trình thành lập.
Tiết thứ ba: Đặc chất tư tưởng của các kinh điển.
Tiết thứ tư: Các kinh điển kể trên với Tiểu Thừa Giáo.
CHƯƠNG THỨ NĂM
PHẬT GIÁOTHỜI ĐẠI VÔ TRƯỚCTHẾ THÂN
Tiết thứ nhất: Tổng luận.
Tiết thứ hai: Phật giáo thuộc Vô Trước, Thế Thân (Du Già Phật Giáo).
Tiết thứ ba: Như Lai Tạng_Phật giáo của Thế Thân.
CHƯƠNG THỨ SÁU
PHẬT GIÁOTHỜI ĐẠI VÔ TRƯỚCTHẾ THÂN (THẾ KỶ VI-VIII)
THIÊN THỨ HAI: ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO LÝ LUẬN
CHƯƠNG THỨ NHẤT
BẢN CHẤT CỦA TÔN GIÁO VỚI PHẬT GIÁO
Tiết thứ nhất: Sự quan hệ giữa lý luậnthực tiễn trong Phật Giáo.
Tiết thứ hai: Phật Giáo có phải là tôn giáo không.
Tiết thứ ba: Phật Giáo với sự thực tôn giáo.
Tiết thứ tư: Bản chất của những đòi hỏi tôn giáo.
Tiết thứ năm: Sự mong muốn một sự sống vô hạn và yêu cầu giải thoát.
Tiết thứ sáu: Sự thỏa mãn yêu cầu tôn giáo với nhất tâm.
CHƯƠNG THỨ HAI
GIẢI THOÁT LUẬN
Tiết thứ nhất: Gợi ý.
Tiết thứ hai: Ý nghĩa và các giải thoát quan Ấn Độ.
Tiết thứ ba: Đặc chất của giải thoát quan Phật Giáo.
CHƯƠNG THỨ BA
ĐẶC CHẤT PHẬT GIÁO TẠI BA QUỐC GIA
Tiết thứ nhất: Nguyên thủy Phật giáoBộ phái Phật giáo.
Tiết thứ hai: Đặc chất của Đại Thừa Phật Giáo.
Tiết thứ ba: Đặc chất của Phật Giáo Trung QuốcPhật Giáo Nhật Bản.
CHƯƠNG THỨ TƯ
TINH THẦN CỦA ĐẠI THỪA
Tiết thứ nhất: Tiểu Thừa là gì?
Tiết thứ hai: Chủ nghĩa tinh thần của Đại Thừa.
Tiết thứ ba: Đứng trên lập trường hình thức để quan sát Tiểu ThừaĐại Thừa.
Tiết thứ tư: Sự bất đồng về nội dung.
Tiết thứ năm: Chân không diệu hữu với lập trường của các kinh điển Đại Thừa.
Tiết thứ sáu: Thực hiện tinh thần Đại Thừa.
CHƯƠNG THỨ NĂM
CHÂN NHƯ QUAN CỦA PHẬT GIÁO
(Đặc biệt lấy Bát Nhã làm trung tâm)
Tiết thứ nhất: Lời tựa.
Tiết thứ hai: Sự triển khai của tư tưởng Chân Như đến thời kỳ Bát Nhã.
Tiết thứ ba: Lập trường toàn bộ của Bát Nhã.
Tiết thứ tư: Chân như quan của Bát Nhã.
CHƯƠNG THỨ SÁU
THIỀN VÀ Ý NGHĨA TRIẾT HỌC
Tiết thứ nhất: Ý nghĩa của Thiền.
Tiết thứ hai: Các loại Thiền.
Tiết thứ ba: Tự ngã là gì?
Tiết thứ tư: Cái ta tuyệt đối.
Tiết thứ năm: Phương pháp thực hiện Đại-ngã và Thiền.
Tiết thứ sáu: Đặc sắc của Đạt Ma Thiền.
CHƯƠNG THỨ BẢY
SỰ KHAI TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO VÀ SỰ KHẢO SÁT VỀ THIỀN
Tiết thứ nhất: Địa vị của Thiền trong Phật Giáo.
Tiết thứ hai: Thiền quán: Mẫu thai của giáo lý.
Tiết thứ ba: Nội dung của Thiền.
Tiết thứ tư: Sự phổ biến hóa nội dung Thiền quán.
Tiết thứ năm: Thiền quánphương pháp nhận thức.
CHƯƠNG THỨ TÁM
TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO VỚI VĂN HÓA SỬ
Tiết thứ nhất: Đức Phật với tư trào thời đại.
Tiết thứ hai: Kinh điển Đại Thừa với bối cảnh văn hóa sử.
Tiết thứ ba: Kinh điển Đại Thừa với sự biểu hiện nghệ thuật.
CHƯƠNG THỨ CHÍN
KINH PHÁP HOA
(Đại biểu cho đạo Bồ Tát)
Tiết thứ nhất: Ý nghĩa sự xuất hiện kinh Pháp-Hoa.
Tiết thứ hai: Sự tổ chức của kinh Pháp-Hoa.
Tiết thứ ba: Quan niệm chủ yếu của kinh Pháp-Hoa.
Tiết thứ tư: Quyển Hội Tam Quy Nhất, Thụ Ký Thành Phật (quan niệm chủ yếu của Tích Môn).
Tiết thứ năm: Phật Pháp vĩnh viễn (tư tưởng trung tâm của Bản Môn)
Tiết thứ sáu: Đạo Bồ Tát: Pháp thân hoạt động cụ thể (lấy kinh Quan Âm làm trrung tâm).
THIÊN THỨ BA: ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO THỰC TIỄN LUẬN
CHƯƠNG THỨ NHẤT
Ý NGHĨA ĐẠO ĐỨC
Tiết thứ nhất: Gợi đề.
Tiết thứ hai: Ý nghĩa đạo đức trong Phật Giáo Nguyên Thủy.
Tiết thứ ba: Đại Thừa giáo tổng hợp.
Tiết thứ tư: Chân Không Diệu Hữu.
Tiết thứ năm: Bất trụ Niết Bàn.
Tiết thứ sáu: Kết luận.
CHƯƠNG THỨ HAI
QUAN NIỆM VỀ NGHIỆP CỦA PHẬT GIÁO VỚI TỰ DO Ý CHÍ
Tiết thứ nhất: Phạm vi của vấn đề.
Tiết thứ hai: Căn cứ của tính cáchý chí tự do.
Tiết thứ ba: Tư tưởng Đại Thừa với những quan niệm trên.
CHƯƠNG THỨ BA
CHỦ NGHĨA TỰ LỰCCHỦ NGHĨA THA LỰC
Tiết thứ nhất: Tự lựcTha lực của ngoại giáo.
Tiết thứ hai: Sự triển khai của thuyết Tự lựcTha lực trong Phật Giáo.
Tiết thứ ba: Bản chất hoạt động của sinh mệnh.
Tiết thứ tư: Yêu cầu vô hạn của sinh mệnh với ý thức tôn giáo.
Tiết thứ năm: Sự thực hiện sinh mệnh vô hạn với thuyết tự lựctha lực.
Tiết thứ sáu: Sự quan hệ giữa tự lựctha lực.
Tiết thứ bảy: Phương pháp điều hòa giữa tự lựctha lực.
CHƯƠNG THỨ TƯ
Ý NGHĨ CUỘC ĐỜI
Tiết thứ nhất: Yêu cầu xác lập nhân sinh quan.
Tiết thứ hai: Tiêu chuẩn phê phán giá trị cuộc đời.
Tiết thứ ba: Chủ nghĩa khoái lạc và chủ nghĩa yếm thế.
Tiết thứ tư: Hai phương diện mâu thuẫn của cuộc đời.
Tiết thứ năm: Sự mâu thuẫn của cuộc đời với quan niệm khổ.
Tiết thứ sáu: Giá trị cuộc đời theo quan niệm Phật Giáo.
Tiết thứ bảy: Ý nghĩa cuộc sinh hoạt với quan niệm khổ.
Tiết thứ tám: Văn hóa dùng phương pháp tiêu cực để khắc phục khổ.
Tiết thứ chín: Xét về ý nghĩa văn hóa theo quan niệm Phật Giáo
Tiết thứ mười: Sự cải tạo tâm với bạt khổ dữ lạc.
Tiết mười một: Sự ức chế những cảm giác tham cầu với sự diệt khổ.
Tiết mười hai: Đạo Bồ Tát: phương pháp diệt khổ.
Tiết mười ba: Tinh thần căn bản của đạo Bồ Tát.
Tiết mười bốn: Bồ Tát đạo với Tịnh Độ
Tiết mười lăm: Thế giới lý tưởngTịnh Độ.
Tiết mười sáu: Sự kiến thiết Tịnh Độluân hồi.
Tiết mười bảy: Kết luận.
CHƯƠNG THỨ NĂM
SỰ TRIỂN KHAI CỦA TƯ TƯỞNG BẢN NGUYỆNÝ NGHĨA ĐẠO ĐỨCVĂN HÓA CỦA NÓ
Tiết thứ nhất: Lời mở đầu.
Tiết thứ hai: Sự khai triển của tư tưởng bản nguyện (Lấy số nguyện làm tiêu chuẩn).
Tiết thứ ba: Ý nghĩa đạo đức, văn hóatôn giáo trong tư tưởng bản nguyện.
CHƯƠNG THỨ SÁU
TỊNH ĐỘ QUAN NIỆM, TỊNH ĐỘ THỰC TẠITỊNH ĐỘ SINH THÀNH
Tiết thứ nhất: Thiền ĐịnhTịnh Độ.
Tiết thứ hai: Điểm lợi, hại của thuyết quan niệm và thuyết thực tại.
Tiết thứ ba: Thuyết sinh thành thống hợp hai thuyết trên.
CHƯƠNG THỨ BẢY
HIỆN THỰCTỊNH ĐỘ
Tiết thứ nhất: Hai sứ mệnh của Phật Giáo.
Tiết thứ hai: Lý tưởng Tịnh Độ kết hợp hai sứ mệnh lớn.
Tiết thứ ba: Quán chiếu Tịnh Độ.
Tiết thứ tư: Tha phương Tịnh Độ.
Tiết thứ năm: Tịnh Độ tương lai trên cõi này.
Tiết thứ sáu: Kết luận.
CHƯƠNG THỨ TÁM
Ý NGHĨA CHÍNH TRỊ
Tiết thứ nhất: Căn cứ chính trị quan của Phật Giáo.
Tiết thứ hai: Nguồn gốc Quốc Gia.
Tiết thứ ba: Chính trị đối với các quốc gia đối lập
Tiết thứ tư: Quốc gia lý tưởngchính đạo.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 49698)
Khi ta phát triển định tâm, ta sẽ có thể giữ những chướng ngại tạm thời ở một bên. Khi những chướng ngại được khắc phục, tâm ta trở nên rõ ràng trong sáng.
(Xem: 34606)
Nếu kẻ nam tử người nữ nhơn thân có tai ách, trong nhà nên an trí tháp xá-lợi và hình tượng Phật, họa vẽ tượng đức Văn-thù-sư-lợi Đồng tử, thiêu các thứ hương...
(Xem: 33426)
Phật dạy A-nan: “Đời quá khứ, cõi Diêm-phù-đề này có một vị Tỳ-khưu tên là Truyền Giáo. Ngày 15 tháng chín đi du hành về phương Bắc, cách nước Chi Na không xa...
(Xem: 43896)
Lúc bấy giờ, khắp vì lợi ích tất cả chúng sanh, đức Thế tôn nói đà-ra-ni rằng: Na mồ một đà nẫm Ma đế đa na nga đa Bác ra đát dũ đát bán na nẫm...
(Xem: 57017)
Tập sách Thiền và Bát-nhã này là phần trích Luận Năm và Luận Sáu, trong bộ Thiền luận, tập hạ, của D. T. Suzuki. Tập này gồm các thiên luận về Hoa nghiêm và Bát-nhã.
(Xem: 47528)
Thật ra sanh tử là do tâm thức vô minh của chúng ta “quán tưởng” ra là có tự tánh, là có thật, như ví dụ “hư không khônghoa đốm mà thấy ra có hoa đốm”.
(Xem: 39406)
Bát Thức Quy Củ Tụng - Những bài tụng khuôn mẫu giảng về tám thức tâm vương; tác giả: Huyền Trang; người toát yếu: Khuy Cơ, người dịch giảng: HT Thích Thắng Hoan
(Xem: 38450)
Quyển "Vi Diệu Pháp Nhập Môn" ngoài tác dụng của bộ sách giáo Khoa Phật Học; còn là cuốn sách đầu giường của học giả nghiên cứu về Triết lý Ấn độ, cũng như Văn Học A Tỳ Ðàm...
(Xem: 52905)
Kinh Ðại Bát Niết bàn, vì là lời nói sau cùng của Ðức Phật, trước khi Ngài Niết Bàn, nên bao quát hầu như đủ mọi thắc mắc của chúng sinh...Nguyễn Minh Tiến; Đoàn Trung Còn
(Xem: 36581)
Như Lai là bậc A-la-hán, chánh đẳng chánh giác, dùng pháp thắng tri (tuệ tri: biết sát na hiện tiền) hay pháp chánh tri kiến để liễu tri sự vật, không dục hỷ...
(Xem: 32221)
Nếu có ai hỏi ngài Duy Ma Cật: “Bản thể của thế giới này là gì?” thì trước sự im lặng của ngài Duy Ma Cật mà lại được Văn Thù Sư Lợi hết sức tán thưởng là có ý nghĩa sâu xa của nó.
(Xem: 40426)
Như thật tôi nghe: Một thời đức Phật ở tại Pháp Giả Ðại Bồ-đề Ðạo tràng thuộc nước Ma-già-đà, vừa thành Chánh giác cùng các Bồ-tát Ma-ha-tát chúng gồm có tám vạn người...
(Xem: 43454)
"Có đà-ra-ni tên là Túc Mạng Trí. Nếu có chúng sanh nghe đà-ra-ni này mà hay chí tâm thọ trì, thì bao nhiêu nghiệp tội cực nặng trong một ngàn kiếp thảy đều tiêu diệt.
(Xem: 31429)
Nakulapita là một người chủ gia đình sinh sống trong vùng Bhagga, đã trọng tuổithường hay đau yếu. Ông rất kính mến Đức PhậtĐức Phật cũng xem ông như một người con của mình.
(Xem: 46689)
Vì lòng thương xót chúng sanh đời Mạt Pháp, đức Thế Tôn đặc biệt nói ra pháp này để rộng cứu tế, ngõ hầu chúng sanh dẫu chẳng được gặp Phật, mà nếu gặp được pháp môn này...
(Xem: 36154)
Sự kiện Đức Phật chấp nhận thành lập giáo hội Tỳ kheo ni, nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng nhất, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo...
(Xem: 28674)
"Có một lần Đấng Thế Tôn lưu ngụ với những người dân trong vùng Bhagga, gần thị trấn Sumsumaragiri, thuộc khu rừng Lộc Uyển...
(Xem: 29205)
Cách tốt nhất để mang lại sự an ổn cho bản thân là hướng về điều thiện, và quy y Tam bảo là nền tảng đầu tiên cho một cuộc sống hướng thiện.
(Xem: 31855)
Lúc bấy giờ, rừng cây Ta La ở thành Câu Thi Na, rừng ấy biến thành màu trắng giống như con hạc trắng. Ở trong hư không tự nhiên mà có tòa lầu các bảy báu với những hoa văn...
(Xem: 28783)
Phật dạy Tu-bồ-đề: “Các vị Đại Bồ Tát nên hàng phục tâm như thế này: ‘Đối với tất cả các loài chúng sinh, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc do biến hóa sinh ra...
(Xem: 33338)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Niết Bàn, Kinh số 0376, Hán dịch: Đời Đông Tấn, Sa-môn Pháp Hiển, Việt dịch: Thích Nguyên Hùng
(Xem: 29102)
Gương trí vằng vặc của Như Lai cũng như thế, là pháp giới vắng lặng không có gián đoạn không có dao động, vì muốn giúp vô lượng vô số chúng sanh thấy rõ nhiễm-tịnh...
(Xem: 60964)
Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni - một trong các pháp môn - là trí ấn của tất cả Như Lai, mầu nhiệm rộng sâu, khác chi thuyền bè trong biển ba đào, nhật nguyệt giữa trời u ám.
(Xem: 39710)
Phật dạy đại chúng: “Lúc nào cõi nước không an, tai nạn nổi lên và kẻ nam người nữ bị tai ương biến họa, chỉ thỉnh chúng Tăng như Pháp kiến lập đạo tràng...
(Xem: 26633)
Phật tử có nghĩa là tự nguyện theo Tam quy (ti-sarana), Ngũ giới (pañca-sila), tức là nương tựa vào Tam bảo (ti-ratana) và giữ gìn năm giới căn bản của đạo Phật.
(Xem: 29637)
Trong Kiến Đàn Giải Uế Nghi của Thủy Lục Chư Khoa có lời tán thán bồ tát Quán Thế Âm rằng: “Nhân tu sáu độ, quả chứng một thừa, thệ nguyện rộng sâu như biển lớn mênh mông không thể đo lường...
(Xem: 37328)
Nếu có chúng sanh muốn vãng sanh về Chín phẩm Tịnh độ như thế, hãy phụng quán 12 Viên diệu ấy, ngày đêm ba thời, xưng Chín phẩm Tịnh độ như vậy...
(Xem: 40059)
Trong thể trạng giác ngộ, chúng ta có hai thân Phật được biết như thân hình thể và thân chân thật, tức là sắc thânpháp thân. Sắc thân Phật là thân tự tại...
(Xem: 26821)
Nếu các chúng sanh ác tâm hướng nhau, hãy xưng danh hiệu Địa Tạng Bồ-tát, nhất tâm quy y, khiến chúng sanh kia nhu hòa nhẫn nhục, hổ thẹn với nhau, từ tâm sám hối...
(Xem: 42621)
Nếu trong sự thuần tưởng, lại gồm cả phước huệ và tịnh nguyện thì tự nhiên tâm trí khai mở mà được thấy mười phương chư Phật, tùy theo nguyện lực của mình mà sanh về Tịnh-độ.
(Xem: 37258)
Khi chúng ta thấy những chức năng của luật nhân quả, chúng ta có thể phân biệt hai loại chủ thể trải nghiệm mối quan hệ nhân quả này. Đây là thế giới của thân thể vật lýtâm thức.
(Xem: 28271)
Sự hiện hữa của các pháp trên mặt hiện tượng của tướng đó là một sự hiện hữu giả hợp do duyên và, mặt khác tánh của chúng là Không cũng do duyên mang lại.
(Xem: 28878)
Bàn tay cầm chiếc chìa khóa vô thườngchánh niệm. Dùng hơi thở chánh niệm ta tiếp xúc với mọi sự vật, quán chiếu và thấy được tính vô thường của mọi sự vật.
(Xem: 26377)
Này các thầy! Tánh Không thì rỗng không, không vọng tưởng, không sanh, không diệt, lìa tất cả tri kiến. Vì sao? Vì tánh Không không có nơi chốn, không thuộc sắc tướng...
(Xem: 27140)
Phật dạy: Tự tính của Không là không nằm trên bình diện có không, không nằm trong khuôn khổ các vọng tưởng, không có tướng sinh, không có tướng diệt, và vượt thoát mọi tri kiến.
(Xem: 26173)
Đức Phật thấy rõ bản chất của phiền não tham, sân, si là nguồn gốc khổ đau, Ngài chế ra ba phương thuốc Giới-Định-Tuệ để chữa tâm bệnh tham, sân, si cho chúng sinh...
(Xem: 34584)
Do tánh Không nên các duyên tập khởi cấu thành vạn pháp, nhờ nhận thức được tánh Không, hành giả sẽ thấy rõ chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, cuộc đời là khổ.
(Xem: 27788)
Tôi nghĩ nhiệm vụ quan trọng nhất của bất cứ một hành giả của một tôn giáo nào là thẩm tra chính họ trong tâm hồn của chính họ và cố gắng để chuyển hóa thân thể, lời nói
(Xem: 30445)
Bụt là bậc có Nhất Thiết Trí, bản chất của Người là đại nhân từ, vì thương xót nhân gian cho nên mới xuất hiện trên cuộc đời này để mở bày đạo nghĩa, giải cứu cho con người.
(Xem: 33243)
Nói đến tịnh độ tất phải nói đến hai khái niệm tự lựctha lực. Tự lực nói đến phương pháp chúng ta thực hành cho tự thân, dựa vào nội lực của chính tâm chúng ta.
(Xem: 28535)
Khi Phật thành đạo là do đạt được Trí Tuệ hay Giác Trí Tuệ thì các pháp giải thoát được thiết lập thực hành Giác Trí Tuệ trong các thời thiền tập.
(Xem: 30047)
Khi tuệ giác nội quán của chúng ta vào trong bản chất tối hậu của thực tạiTính Không được sâu sắc và nâng cao, chúng ta sẽ phát triển một nhận thức về thực tại...
(Xem: 25468)
Thông thường mà nói Bát Nhã có ba ý nghĩa. Thứ nhất là thực tướng, tướng là tướng trạng, thực tướng chính là hình ảnh chân thực. Nghĩa thứ hai là quán chiếu Bát Nhã, cũng chính là chỗ dụng của thực tướng.
(Xem: 21826)
Trong lời phàm lệ của quyển Tứ phần giới bổn như thích, Luật sư Hoằng Tán (1611-1685) nói: "Tam thế chư Phật câu thuyết Kinh-Luật-Luận tam tạng Thánh giáo.
(Xem: 51259)
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Lòng tin là gốc của đạo, sanh ra các công đức. Lòng tin có thể nuôi lớn các căn lành. Lòng tin có thể vượt khỏi các đường ma.
(Xem: 26698)
Tận cùng tư duy của Đạo Phật quan tâm, định luật căn bản là: chúng ta muốn hạnh phúc. Quyền căn bản của chúng tađạt được hạnh phúc.
(Xem: 28594)
Khi chúng ta nói về từ bi, thật đáng khuyến khích để lưu ý rằng bản chất tự nhiên của con người, tôi tin, là từ bihiền lành.
(Xem: 27683)
Thế Tôn, nếu có người nghe được kinh này mà có lòng tin thanh tịnhđạt được cái thấy chân thật thì nên biết người ấy đã thực hiện được công đức hiếm có vào bậc nhất.
(Xem: 24336)
Tự tánh giả danh hay tùy thuộc cũng nằm trong phạm trù Tánh không. Tự tánh giả danh được thể hiện tướng sanh diệt do tác động thời gian thì có sanh có diệt...
(Xem: 27447)
Tuệ quán là tri nhận một cách sáng suốt, vô thời gian. Vì lẽ chơn thức (tri giác nguyên sơ) là một điểm nhận thức có thật trong động tác nhận thức đầu nguồn của tri giác.
(Xem: 31898)
Chết là một phần của đời sống chúng ta. Cho dù chúng ta thích hay không, nó bắt buộc phải xảy ra. Thay vì tránh nghĩ về điều đó, chúng ta tốt hơn thấu hiểu ý nghĩa của nó.
(Xem: 30164)
Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có thiện nam, thiện nữ nào muốn vì chúng sinh mà nói kinh Pháp Hoa này thời thiện nam hay thiện nữ ấy phải vào nhà Như Lai... Pháp sư Thích Thiện Trí
(Xem: 27665)
“Dược Sư Lưu Ly Quang” là tên gọi của đức Phật này; “Như Lai” là một trong mười tôn hiệu của mỗi vị Phật; “Bổn Nguyện” là các lời phát nguyện của đức Phật này khi Ngài phát tâm Bồ-đề...
(Xem: 35399)
Trong việc phát triển hành xả, chúng ta cần thấu hiểu rằng những cảm xúc tiêu cực như thù hận và dính mắc là không thích đáng và không lành mạnh...
(Xem: 27416)
Ngày nay, Kinh Chuyển Pháp Luân thuộc Tương Ưng Sự ThậtTương Ưng Bộ SN 56.11 trong kinh điển Pali được xem là lời dạy đầu tiên của Đức Phật.
(Xem: 29981)
Để tìm về tính nguyên thủy ấy, lẽ tự nhiên là ta cần khảo sát cẩn trọng bản kinh được xem là lời dạy đầu tiên của Đức Phật. Đó là Kinh Như Lai Thuyết...
(Xem: 31729)
Chúng ta chẳng thể nào mang theo bất kỳ thứ gì khi từ giã thế giới này ngoại trừ nghiệp và những giá trị tâm linh như tình yêu thương, lòng bi mẫntrí tuệ mà ta đã trưởng dưỡng...
(Xem: 22985)
Kinh Điềm Lành (Mangala Sutta) -- còn có tên là kinh Phước Đức hay kinh Hạnh Phúc -- là bài kinh số 5 trong Tiểu Tụng (Khuddakapātha), thuộc Tiểu Bộ (Khuddhaka Nikāya).
(Xem: 24162)
Cách mà chúng ta đang sống sẽ là một trong các nhân tố chính yếu có thể mang lại cho chúng ta sự thanh thảnđiềm tĩnh trong giây phút lâm chung.
(Xem: 23003)
Kinh này có tám phương pháp tu hành thành Phật, mà bậc Đại nhân gánh vác sự nghiệp lớn liễu sinh thoát tử, hóa độ chúng sinh cần phải giác ngộ, nên gọi là Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân.
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant