Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Phần 03: Kết Luận

22 Tháng Năm 201000:00(Xem: 6464)
Phần 03: Kết Luận
KHÁI LUẬN TRIẾT LÝ KINH HOA NGHIÊM
Thích Đức Nhuận
Viện Triết Lý Việt Nam & Triết Học Thế Giới California, USA Xuất bản 2000

Phần III

Kết Luận


Đạo Phật nhìn nhận hai nguyên lý căn bản:

*.. Hiện Tượng Chuyển Biến Vô Thường

Hết thảy sự vật trên thế gian này, không một sự vật nào được coi là có tính cách bất biến, bất di dịch cả. Từ một mảy lân hư trần đến trăng sao, sông núi nói chung là, mọi pháp hữu vi đều là huyễn mộng, và phải chịu chung qui luật nhân duyên, vô thường của thiên nhiên: sinh, trụ, dị, diệt.

*.. Bản Thể Thường Trụ Bất Biến

Nếu hiện tượng giới là chuyển biếnvô thường thì cũng có nghĩa là tất cả sự vật biến đổi đó đều hiện hữu, "tính cách hiện hữu" như vậy, mặc nhiên đã nói lên cái đặc tính của bản thểvũ trụ vốn không sinh,không diệt, không thường, không đoạn, không đến, không đi…tứn TÂM CHÂN NHƯ hay Pháp thân của Như Lai.

Đứng về phương diện hiện tượng tương đối, sai biệt thì,vũ trụvô số thế giới, gọi chung là Thập phương vi trần thế giới.

Đứng về phương diện bản thể tuyệt đối thì thực tướng của vạn Pháp vốn vô tướng, Sắc chẳng khác gì Không, Không tức là Sắc. Tính tức là tướng, Tâm tức là Vật, Bản thể tức Hiện tướng, lý, Sự, và Sự sự đều vô ngại trong pháp giới bao la.

Để hóa giải mọi bất đồng và dung hợp mọi mâu thuẫn trong thế gian đầynghịch cảnh khổ đau này, đồng tử Thiện Tài đã đứng trên lập trường bốn chân lý: Khổ, Tập, Diệt, Đạo, mà Đức Phật từ bi đã nói khi Ngài khởi chuyển Pháp luân tại Lộc Uyển:

*.. Chân Lý Thứ Nhất (Khổ đế)

Con người sinh ra đời đều phải nhận chịu những nỗi khổ đau, như : sống khổ, già khổ,bệnh khổ, chết khổ,oán thù phải gần gũi là khổ, phải xa cách những ngườ�i thân yêu là khổ, những sự ham muốn mong cầu không được vừa lòng như ý là khổ,thân ngũ ấm xí thịnh là khổ. Sự khổ vốn sẳn có lại làm phát sinh cái khổ phiền não, gọi là khổ khổ. Mọi loại khổ phiền não như ốm đau, thời tiết mưa nắng, nóng lạnh bất thường làm cho mất sự quân bình trong cơ thể, gọi là hoại khổ. Mọi con người đã sinh ra trong cuộc đời đều mang theo trong mình (cái) tính vô ngã, vô thường dời đổi, hợp tan…gọi là hành khổ.Tất cả nỗi khổ não ấy là kết quả tích lũy của cái Nghiệp ( Karma) luân hồi.

*.. Chân Lý Thứ Hai ( Tập đế).

  • Nguyên nhân của mọi sự khổ là do sự mê lầm của chúng sinh "tự thân tạo tác", rồi cái này làm nhân làm duyên sinh ra cái khác nữa. Phật giáo gọi là Mười Hai Nhân Duyên (dvàdàngahpratityasamutpada):

1.. Vô Minh : chỉ cho trạng thái mê muội của chúng sinh không tự biết "vì đâu mà có rồi vì đâu mà mất".

2..Hành: bởi các hàng động tạo nghiệp lành dữ, do thân- khẩu –ý của chúng sinh gây ra mà không nghĩ đến quả báo luân hồi.

3.. Thức: nghiệp thức.

4.. Danh Sắc: Có nghiệp thức là có sự luân chuyển, nên khi Tâm Thức chuyền sự sống sang kiếp khác (con mình). Tâm (Danh) phải nương vào vật ( Sắc) là tinh huyếtcha mẹ để sự sống được nảy nở, tồn tại.

5.. Lục Nhập: một khi sự sống đã được nảy nở, tồn tại ( kết thai )thì 6 quan năng (6 căn, mắt, tai,mũi, lưỡi,thân,ý) thành hình (bào thai).

6.. Xúc: Sự tiếp xúc của 6 quan năng trong khi đối cảnh.

7.. thụ: Cảm giác, lĩnh thụ mọi sự vui, buồn, tốt, xấu, rồi nhìn nhận các món ấy đưa vào ý thức.

8.. Ái : tình yêu , do ý thức nhận được liền nảy sinh tư tưởng ưa mến (quen nết).

9.. Thủ : Khi đã ưa muốn thì sinh lòng chấp trước, giữ gìn.

10.. Hữu : là có ( hay là cõi ), có ham muốn ắt phải nhận lấy quả báo trong ba cõi, sáu đường.

11.. Sinh : đã có Ái, Thủ,Hữu thì sẽ lại truyền sinh vào kiếp khác (nhân quả về sau trong các cõi thụ sinh).

12.. Lão, tử: cuối cùng đưa đến sự già, chết.

*.. Chân Lý Thứ Ba (Diệu đế).

Như trên đã nói, sở dĩ chúng sinh vẫn mãi bị đau khổ, phiền não sinh tử là vì Vô minh mê tối nên mới tạo nghiệp vọng động (Hành, Thức) mà có thân Ngũ Uẩn (Danh, sắc)rồi sáu căn tiếp xúc với sáu trần cảnh (sắc- thanh, hương- vị-xúc- pháp ) (Lục Nhập) sinh cảm giác,lĩnh thụ (Thụ).thì nảy sinh lòng ham muốn, ưa thích (Ái), bởi tham muốn chấp giữ tạo thành thói quen (Thủ). Vì đã gây nhân tham ái ắt phải nhận lấy quả báo (hữu). Do có Ái, thủ,Hữu sẽ phải sinh ra trong đời sau (Sinh) và tiếp tục nhận chịu những cảnh khổ : già và chết (Lão tử).

Vậy muốn chấm dứt khổ đau, sinh tử luân hồi thì phải cắt đứt vòng xích 12 nhân duyên . Nghĩa là, phải diệt trừ vô minh ( hoặc), không gây nghiệp (nghiệp),tạo khổ (khổ). Mà vô minh diệt thì Hành diệt…cho đến lão tử cũng đều bị diệt. Có như thế cuộc của con người, ở đời này và đời sau, mới vơi được nguồn đau khổ, và được an lạc, tự tại, giải thoát.

*.. Chân Lý Thứ Tư (Đạo đế).

Tức trình bày Phương Pháp Diệt Trừ Nguyên Nhân Sự Khổ.

Nhưng muốn diệt trừ nguyên nhân sự khổ phải làm thế nào? Tất phải đi theo con đường (Đạo) chân chính do Đức Phật đã vạch sẵn, gồm có tám nhánh ( Bát chính đạo: Aryàstangamàrganàmani):

1.. Hiểu biết chân chính.

2.. Suy tư chân chính.

3.. Lời nói chân chính.

4.. Việc làm chân chính.

5.. Đời sống chân chính.

6.. Siêng năng chân chính.

7.. Nhớ nghĩ chân chính.

8.. Định tâm chân chính.

Tronh hai đế Khổ (quả), Tập (nhân) thuộc về nhân quả thế gian.

Hai đế Diệt (quả), Đạo (nhân) thuộc về nhân quả xuất thế gian.

Trong mười 12 nhân duyên: Vô minh: Hành là nhân thuộc về quá khứ; Thức, Danh Sắc, Lục nhập, Xúc, thụ thuộc quả hiện tại; Ái, Thủ, Hữu là nhân hiện tại. Còn sinh, Lão tử thuộc về quả vị lai.

".. đã từ lâu, chúng ta quen "sống say chết mộng" hay "sống như một kẻ đã chết rồi". Chúng ta chẳng hề bao giờ quan tâm đến con người thật, hay ông chủ nhà của chính mình, mà chỉ quen sống với vọng tưởng khách trần ảo ảnh, mải mê đuổi bắt những bóng hình vật vờ của ngoại cảnh chập chờn vô định, và cam tâm làm nô lệ cho thất tình lục dục mà thôi! Nếu chúng ta cứ mãi tiếp tục nếp sống như vậy chẳng chịu sửa đổi, thì có khác gì những bộ máy vô hồn, không ý thức được công việc mình làm, khác nào như ngọn cỏ lá cây vô tri vô giác, thực là uổng phí cả một kiếp người! (BTD, trang1220).

" Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi!"

" Hãy im lặng là rất sống, rất sáng!"

" Hãy đem lòng mình đối diện với hồn của lịch sử!"

" Mỗi sầu thảm, mỗi khổ đau đều bắt rễ bén mầm trong cái tối tăm, tham lam, ác độc, thù hận, nghi kỵ, thấp hèn, sợ sệt của con người cả. Con người đang xô đẩy nhau vào cái trọng chướng trọn vẹn để rồi phiêu lưu trong cuộc luân hồi phiền não vô thủy vô chung.

Sao không cứu lấy họ?

Sao không đưa họ đến Thắng địa?

" Không ai cứu nổi họ đâu! Chỉ có họ tự cứu lấy. Không thần thánh nào nổi nhân loại hết. Chỉ có nhân loại tự cứu lấy mình thôi. Con người là hơn cả, con ngườitối thắng ( chữ kinh hoa nghiêm). Con người làm thần thánh lấy chính mình và làm thần thánh lấy vũ trụ. Chỉ có con người mới thực hiện được mọi sự tốt đẹp của vũ trụ mà thôi.

" Con người có toàn quyền tự do định đoạt lấy cuộc sống của mình. Nhưng điều kiện tiên quyết là mỗi con người phải biết gột rửa tâm hồn cho thật trong sạch, nhóm lên ngọn lửa thương yêu, hoan lạc và vui sống, để xóa đi những áng mây mờ thù hận, chia rẽ, chiến tranh, áp bức và bất công trong cuộc đời, không còn phân biệt chủng tộc, màu da, tiếng nói , thành kiến quốc gia hùng cường hay nhược tiểu để…tất cả cùng nhau chung sức kiến tạo một xã hội người văn minh, Giác Ngộ và Giải Thoát".(1)

" Xã hội loài người tốt đẹp hay không tùy theo nghiệp báo của mỗi cá nhân trong xã hội đó tạo thành. Nghiệp chuyển biến không ngừng, nhân làm quả, quả lại làm nhân, các chủng tử thiện, ác được huân tập trong A lại gia thức, để khi gặp đủ cơ duyên thì liền phát khởi hiện hành.

" Tư tưởnghành vi của một người thiện sẽ tạo cho người đó và cho cả môi trường chung quanh y những hoàn cảnh sinh sống tốt đẹp.

" Tư tưởng và hành động của nhiều người thiện cùng trong một xã hội góp lại, sẽ gây cho cộng đồng xã hội đó một cộng nghiệp tốt lành, để tạo nên một nếp sống tươi vui, hạnh phúc.

" Trái lại, tư tưởnghành vi của một người độc ác sẽ tạo cho người ấy và xã hội của y những hoàn cảnh xấu xa bi đát, gieo rắc tai ươngđau khổ cho hàng triệu sinh linh. Và nếu lại có nhiều người hung tàn bạo ngược, cùng trong một xã hội, rải ra những luồng tư tưởng và hàng vi ác độc, sẽ gây tai ương khủng khiếp và tạo nên một cộng nghiệp nặng nề cho toàn thể, triệu triệu người trong xã hội đó cùng phải gánh chịu hậu quả thảm khốc thê lương".( BTD,trang1151- 1152).

Giấc mơ tuyệt mỹ của đồng tử Thiện TàiHy Vọng biến cõi trần gian khổ đau này thành cảnh Tịnh Độ đầy tình thương chân thật, đầy thiện tính cao quý. Muốn cho thế giới được thanh bình, toàn dân được tròn đầy hạnh phúc thì, theo đồng tử Thiện Tài, chỉ còn Con Đường BỒ TÁT ĐẠO thênh thang rộng mở, là nơi gặp gỡ lý tưởng của mọi tôn giáo, mọi màu da sắc tộc, mọi văn hóa bất đồng, nhưng cùng chung một Tâm Đại Bi bao la dạt dào, cùng thiết tha mong càu xây đắp hạnh phúc, hòa bình chung, cùng hướng về nẽo chân, thiện, mỹ và cùng thực hành Bồ Tát Đạo bằng pháp môn Lục độ Ba la mậtTứ vô lượng tâm.

Lý tưởng hành trì Bồ Tát Đạođồng tử Thiện Tài hằng mến yêu ấp ủ trong lòng là một lý tưởng cao xa, thiết tưởng cao xa, thiết tưởng đây cũng là lý tưởng chung của mọi tâm hồn hướng thượng, có thể là của tác giả, của các bạn, của tôi, của tất cả chúng ta, vốn sẵn mang trong mình một trái tim trong, một khối óc sáng, và cốt cách của một "Phật tính" cao cả tuyệt vời.

Đọc tác phẩm "BỒ TÁT ĐẠO hay Con Đường Lý Tưởng" của Minh Đức Thanh Lương, chúng ta nhận thấy ngay cái dụng ý của tác giả muốn đem hết tâm thành gửi gắm trong vai đồng tử Thiện Tài đi cầu Đạo Bồ Tát, để nhân đó có thể trình bày được hết mọi tông phái của Đạo Phật, Tịnh Độ tông, Mật tông, Thiền tông, Duy Thức tông, Bát Nhã tông, Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông v.v …cùng các pháp môn chính yếu, như: Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Bát Chính Đạo, 37 Phẩm Trợ Đạo, Lục Độ, Tứ Vô Lượng Tâm….và nói lên được những giáo lý cao thâm của Phật Giáo đại thừa: Vạn Vật Đồng Nhất Thể, Nhất Thiết Duy Tâm Tạo, Nhân Quả, Nghiệp Báo, Chân Như Duyên Khởi, Pháp Duyên Khởi, Nhất thiết Chúng Sinh Giai Hữu Phật Tính, Vạn Thù Qui Nhất Bản, Nhất Bản Tán Vạn Thù, Lý trung Đạo, Lý Bất Nhị, Sự Lý Viên dung, Sự Sự Vô Ngại, Một Là Tất Cả, Tất Cả Là Một v.v…Khác nào một người có khiếu thẩm mỹ đã góp nhặt những bông hoa tươi thắm muôn màu xâu kết lại thành một tràng hoa tuyệt mỹ, hay một nhạc công điêu luyện đã đem hết tâm hồn say sưa của mình phổ lên những điệu nhạc du dương huyền diệu…

Vì muốn cho các bạn tự tìm lấy để được hưởng cái thú thưởng thức những bông hoa tuyệt mỹ cả về ý lẫn lời trong tác phẩm này, tôi không muốn làm mất nhiều thì giờ quý báo của các bạn bằng cách đi sâu thêm nữa vào chi tiết của bộ sách, vì tôi tự cảm thấy viết đã quá dài, chỉ hân hoan mời bạn hãy đọc và thực thi BỒ TÁt ĐẠO hay cũng đi trên Con Đường Lý Tưởngđồng tử Thiện Tài đã vạch ra, để đáp lại tấm lòng thành của tác giả hằng tha thiết kêu gọi hết thảy chúng ta.

Viết tại chùa Giác Minh, Việt Nam, ngày đầu xuân năm Tân Dậu- Phật lịch 2525 (tháng 3 DL 1981).

Trí Tạng- THÍCH ĐỨC NHUẬN

- Hết -

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 49764)
Khi ta phát triển định tâm, ta sẽ có thể giữ những chướng ngại tạm thời ở một bên. Khi những chướng ngại được khắc phục, tâm ta trở nên rõ ràng trong sáng.
(Xem: 34642)
Nếu kẻ nam tử người nữ nhơn thân có tai ách, trong nhà nên an trí tháp xá-lợi và hình tượng Phật, họa vẽ tượng đức Văn-thù-sư-lợi Đồng tử, thiêu các thứ hương...
(Xem: 33458)
Phật dạy A-nan: “Đời quá khứ, cõi Diêm-phù-đề này có một vị Tỳ-khưu tên là Truyền Giáo. Ngày 15 tháng chín đi du hành về phương Bắc, cách nước Chi Na không xa...
(Xem: 43941)
Lúc bấy giờ, khắp vì lợi ích tất cả chúng sanh, đức Thế tôn nói đà-ra-ni rằng: Na mồ một đà nẫm Ma đế đa na nga đa Bác ra đát dũ đát bán na nẫm...
(Xem: 57091)
Tập sách Thiền và Bát-nhã này là phần trích Luận Năm và Luận Sáu, trong bộ Thiền luận, tập hạ, của D. T. Suzuki. Tập này gồm các thiên luận về Hoa nghiêm và Bát-nhã.
(Xem: 47576)
Thật ra sanh tử là do tâm thức vô minh của chúng ta “quán tưởng” ra là có tự tánh, là có thật, như ví dụ “hư không khônghoa đốm mà thấy ra có hoa đốm”.
(Xem: 39428)
Bát Thức Quy Củ Tụng - Những bài tụng khuôn mẫu giảng về tám thức tâm vương; tác giả: Huyền Trang; người toát yếu: Khuy Cơ, người dịch giảng: HT Thích Thắng Hoan
(Xem: 38488)
Quyển "Vi Diệu Pháp Nhập Môn" ngoài tác dụng của bộ sách giáo Khoa Phật Học; còn là cuốn sách đầu giường của học giả nghiên cứu về Triết lý Ấn độ, cũng như Văn Học A Tỳ Ðàm...
(Xem: 52952)
Kinh Ðại Bát Niết bàn, vì là lời nói sau cùng của Ðức Phật, trước khi Ngài Niết Bàn, nên bao quát hầu như đủ mọi thắc mắc của chúng sinh...Nguyễn Minh Tiến; Đoàn Trung Còn
(Xem: 36613)
Như Lai là bậc A-la-hán, chánh đẳng chánh giác, dùng pháp thắng tri (tuệ tri: biết sát na hiện tiền) hay pháp chánh tri kiến để liễu tri sự vật, không dục hỷ...
(Xem: 32252)
Nếu có ai hỏi ngài Duy Ma Cật: “Bản thể của thế giới này là gì?” thì trước sự im lặng của ngài Duy Ma Cật mà lại được Văn Thù Sư Lợi hết sức tán thưởng là có ý nghĩa sâu xa của nó.
(Xem: 40491)
Như thật tôi nghe: Một thời đức Phật ở tại Pháp Giả Ðại Bồ-đề Ðạo tràng thuộc nước Ma-già-đà, vừa thành Chánh giác cùng các Bồ-tát Ma-ha-tát chúng gồm có tám vạn người...
(Xem: 43503)
"Có đà-ra-ni tên là Túc Mạng Trí. Nếu có chúng sanh nghe đà-ra-ni này mà hay chí tâm thọ trì, thì bao nhiêu nghiệp tội cực nặng trong một ngàn kiếp thảy đều tiêu diệt.
(Xem: 31475)
Nakulapita là một người chủ gia đình sinh sống trong vùng Bhagga, đã trọng tuổithường hay đau yếu. Ông rất kính mến Đức PhậtĐức Phật cũng xem ông như một người con của mình.
(Xem: 46718)
Vì lòng thương xót chúng sanh đời Mạt Pháp, đức Thế Tôn đặc biệt nói ra pháp này để rộng cứu tế, ngõ hầu chúng sanh dẫu chẳng được gặp Phật, mà nếu gặp được pháp môn này...
(Xem: 36215)
Sự kiện Đức Phật chấp nhận thành lập giáo hội Tỳ kheo ni, nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng nhất, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo...
(Xem: 28716)
"Có một lần Đấng Thế Tôn lưu ngụ với những người dân trong vùng Bhagga, gần thị trấn Sumsumaragiri, thuộc khu rừng Lộc Uyển...
(Xem: 29253)
Cách tốt nhất để mang lại sự an ổn cho bản thân là hướng về điều thiện, và quy y Tam bảo là nền tảng đầu tiên cho một cuộc sống hướng thiện.
(Xem: 31898)
Lúc bấy giờ, rừng cây Ta La ở thành Câu Thi Na, rừng ấy biến thành màu trắng giống như con hạc trắng. Ở trong hư không tự nhiên mà có tòa lầu các bảy báu với những hoa văn...
(Xem: 28846)
Phật dạy Tu-bồ-đề: “Các vị Đại Bồ Tát nên hàng phục tâm như thế này: ‘Đối với tất cả các loài chúng sinh, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc do biến hóa sinh ra...
(Xem: 33379)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Niết Bàn, Kinh số 0376, Hán dịch: Đời Đông Tấn, Sa-môn Pháp Hiển, Việt dịch: Thích Nguyên Hùng
(Xem: 29156)
Gương trí vằng vặc của Như Lai cũng như thế, là pháp giới vắng lặng không có gián đoạn không có dao động, vì muốn giúp vô lượng vô số chúng sanh thấy rõ nhiễm-tịnh...
(Xem: 60996)
Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni - một trong các pháp môn - là trí ấn của tất cả Như Lai, mầu nhiệm rộng sâu, khác chi thuyền bè trong biển ba đào, nhật nguyệt giữa trời u ám.
(Xem: 39788)
Phật dạy đại chúng: “Lúc nào cõi nước không an, tai nạn nổi lên và kẻ nam người nữ bị tai ương biến họa, chỉ thỉnh chúng Tăng như Pháp kiến lập đạo tràng...
(Xem: 26694)
Phật tử có nghĩa là tự nguyện theo Tam quy (ti-sarana), Ngũ giới (pañca-sila), tức là nương tựa vào Tam bảo (ti-ratana) và giữ gìn năm giới căn bản của đạo Phật.
(Xem: 29690)
Trong Kiến Đàn Giải Uế Nghi của Thủy Lục Chư Khoa có lời tán thán bồ tát Quán Thế Âm rằng: “Nhân tu sáu độ, quả chứng một thừa, thệ nguyện rộng sâu như biển lớn mênh mông không thể đo lường...
(Xem: 37402)
Nếu có chúng sanh muốn vãng sanh về Chín phẩm Tịnh độ như thế, hãy phụng quán 12 Viên diệu ấy, ngày đêm ba thời, xưng Chín phẩm Tịnh độ như vậy...
(Xem: 40106)
Trong thể trạng giác ngộ, chúng ta có hai thân Phật được biết như thân hình thể và thân chân thật, tức là sắc thânpháp thân. Sắc thân Phật là thân tự tại...
(Xem: 26858)
Nếu các chúng sanh ác tâm hướng nhau, hãy xưng danh hiệu Địa Tạng Bồ-tát, nhất tâm quy y, khiến chúng sanh kia nhu hòa nhẫn nhục, hổ thẹn với nhau, từ tâm sám hối...
(Xem: 42684)
Nếu trong sự thuần tưởng, lại gồm cả phước huệ và tịnh nguyện thì tự nhiên tâm trí khai mở mà được thấy mười phương chư Phật, tùy theo nguyện lực của mình mà sanh về Tịnh-độ.
(Xem: 37292)
Khi chúng ta thấy những chức năng của luật nhân quả, chúng ta có thể phân biệt hai loại chủ thể trải nghiệm mối quan hệ nhân quả này. Đây là thế giới của thân thể vật lýtâm thức.
(Xem: 28302)
Sự hiện hữa của các pháp trên mặt hiện tượng của tướng đó là một sự hiện hữu giả hợp do duyên và, mặt khác tánh của chúng là Không cũng do duyên mang lại.
(Xem: 28907)
Bàn tay cầm chiếc chìa khóa vô thườngchánh niệm. Dùng hơi thở chánh niệm ta tiếp xúc với mọi sự vật, quán chiếu và thấy được tính vô thường của mọi sự vật.
(Xem: 26403)
Này các thầy! Tánh Không thì rỗng không, không vọng tưởng, không sanh, không diệt, lìa tất cả tri kiến. Vì sao? Vì tánh Không không có nơi chốn, không thuộc sắc tướng...
(Xem: 27177)
Phật dạy: Tự tính của Không là không nằm trên bình diện có không, không nằm trong khuôn khổ các vọng tưởng, không có tướng sinh, không có tướng diệt, và vượt thoát mọi tri kiến.
(Xem: 26197)
Đức Phật thấy rõ bản chất của phiền não tham, sân, si là nguồn gốc khổ đau, Ngài chế ra ba phương thuốc Giới-Định-Tuệ để chữa tâm bệnh tham, sân, si cho chúng sinh...
(Xem: 34689)
Do tánh Không nên các duyên tập khởi cấu thành vạn pháp, nhờ nhận thức được tánh Không, hành giả sẽ thấy rõ chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, cuộc đời là khổ.
(Xem: 27823)
Tôi nghĩ nhiệm vụ quan trọng nhất của bất cứ một hành giả của một tôn giáo nào là thẩm tra chính họ trong tâm hồn của chính họ và cố gắng để chuyển hóa thân thể, lời nói
(Xem: 30490)
Bụt là bậc có Nhất Thiết Trí, bản chất của Người là đại nhân từ, vì thương xót nhân gian cho nên mới xuất hiện trên cuộc đời này để mở bày đạo nghĩa, giải cứu cho con người.
(Xem: 33304)
Nói đến tịnh độ tất phải nói đến hai khái niệm tự lựctha lực. Tự lực nói đến phương pháp chúng ta thực hành cho tự thân, dựa vào nội lực của chính tâm chúng ta.
(Xem: 28575)
Khi Phật thành đạo là do đạt được Trí Tuệ hay Giác Trí Tuệ thì các pháp giải thoát được thiết lập thực hành Giác Trí Tuệ trong các thời thiền tập.
(Xem: 30085)
Khi tuệ giác nội quán của chúng ta vào trong bản chất tối hậu của thực tạiTính Không được sâu sắc và nâng cao, chúng ta sẽ phát triển một nhận thức về thực tại...
(Xem: 25495)
Thông thường mà nói Bát Nhã có ba ý nghĩa. Thứ nhất là thực tướng, tướng là tướng trạng, thực tướng chính là hình ảnh chân thực. Nghĩa thứ hai là quán chiếu Bát Nhã, cũng chính là chỗ dụng của thực tướng.
(Xem: 21855)
Trong lời phàm lệ của quyển Tứ phần giới bổn như thích, Luật sư Hoằng Tán (1611-1685) nói: "Tam thế chư Phật câu thuyết Kinh-Luật-Luận tam tạng Thánh giáo.
(Xem: 51325)
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Lòng tin là gốc của đạo, sanh ra các công đức. Lòng tin có thể nuôi lớn các căn lành. Lòng tin có thể vượt khỏi các đường ma.
(Xem: 26740)
Tận cùng tư duy của Đạo Phật quan tâm, định luật căn bản là: chúng ta muốn hạnh phúc. Quyền căn bản của chúng tađạt được hạnh phúc.
(Xem: 28636)
Khi chúng ta nói về từ bi, thật đáng khuyến khích để lưu ý rằng bản chất tự nhiên của con người, tôi tin, là từ bihiền lành.
(Xem: 27724)
Thế Tôn, nếu có người nghe được kinh này mà có lòng tin thanh tịnhđạt được cái thấy chân thật thì nên biết người ấy đã thực hiện được công đức hiếm có vào bậc nhất.
(Xem: 24366)
Tự tánh giả danh hay tùy thuộc cũng nằm trong phạm trù Tánh không. Tự tánh giả danh được thể hiện tướng sanh diệt do tác động thời gian thì có sanh có diệt...
(Xem: 27468)
Tuệ quán là tri nhận một cách sáng suốt, vô thời gian. Vì lẽ chơn thức (tri giác nguyên sơ) là một điểm nhận thức có thật trong động tác nhận thức đầu nguồn của tri giác.
(Xem: 31959)
Chết là một phần của đời sống chúng ta. Cho dù chúng ta thích hay không, nó bắt buộc phải xảy ra. Thay vì tránh nghĩ về điều đó, chúng ta tốt hơn thấu hiểu ý nghĩa của nó.
(Xem: 30193)
Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có thiện nam, thiện nữ nào muốn vì chúng sinh mà nói kinh Pháp Hoa này thời thiện nam hay thiện nữ ấy phải vào nhà Như Lai... Pháp sư Thích Thiện Trí
(Xem: 27719)
“Dược Sư Lưu Ly Quang” là tên gọi của đức Phật này; “Như Lai” là một trong mười tôn hiệu của mỗi vị Phật; “Bổn Nguyện” là các lời phát nguyện của đức Phật này khi Ngài phát tâm Bồ-đề...
(Xem: 35475)
Trong việc phát triển hành xả, chúng ta cần thấu hiểu rằng những cảm xúc tiêu cực như thù hận và dính mắc là không thích đáng và không lành mạnh...
(Xem: 27455)
Ngày nay, Kinh Chuyển Pháp Luân thuộc Tương Ưng Sự ThậtTương Ưng Bộ SN 56.11 trong kinh điển Pali được xem là lời dạy đầu tiên của Đức Phật.
(Xem: 30026)
Để tìm về tính nguyên thủy ấy, lẽ tự nhiên là ta cần khảo sát cẩn trọng bản kinh được xem là lời dạy đầu tiên của Đức Phật. Đó là Kinh Như Lai Thuyết...
(Xem: 31791)
Chúng ta chẳng thể nào mang theo bất kỳ thứ gì khi từ giã thế giới này ngoại trừ nghiệp và những giá trị tâm linh như tình yêu thương, lòng bi mẫntrí tuệ mà ta đã trưởng dưỡng...
(Xem: 23037)
Kinh Điềm Lành (Mangala Sutta) -- còn có tên là kinh Phước Đức hay kinh Hạnh Phúc -- là bài kinh số 5 trong Tiểu Tụng (Khuddakapātha), thuộc Tiểu Bộ (Khuddhaka Nikāya).
(Xem: 24194)
Cách mà chúng ta đang sống sẽ là một trong các nhân tố chính yếu có thể mang lại cho chúng ta sự thanh thảnđiềm tĩnh trong giây phút lâm chung.
(Xem: 23037)
Kinh này có tám phương pháp tu hành thành Phật, mà bậc Đại nhân gánh vác sự nghiệp lớn liễu sinh thoát tử, hóa độ chúng sinh cần phải giác ngộ, nên gọi là Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân.
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant