Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Quan Niệm Thế Giới Địa Ngục

19 Tháng Mười Hai 202017:52(Xem: 2840)
Quan Niệm Thế Giới Địa Ngục
QUAN NIỆM THẾ GIỚI ĐỊA NGỤC
Tác giảThích Thắng Hoan

 

Quan Niem Ve The Gioi Dia Nguc

Vấn đề thế giới địa ngụcvấn đề rất nhiều nghi vấn, những người theo đạo Phật thì tin có thế giới địa ngục, những người không theo đạo Phật thì không tin có thế giới địa ngục và có một hạng người thì nửa tin nửa ngờ. Một nhà truyền giáo đạo Phật mà không tin có thế giới địa ngục thì người đó phản bội lại với Phật Giáo và muốn đưa vấn đề này lên trên bình diện thực tại là một vấn đề khó khăn nhưng không phải là không được. Hôm nay,chúng ta xét nghiệm qua các tư liệu của Phật giáo:

 

1.-Bắt đầu chúng ta xét nghiệm qua các Kinh Luận: Các Kinh Luận đại khái như, Kinh Địa Tạng, KinhVu Lan Bồn, Kinh Trường Bộ, Luận Thuận Chánh Lý..v..v.....Muốn xét nghiệm những Kinh Luận này, trước hết chúng ta phải duyệt qua quá trình lịch sử của thời đại; thời đại thứ nhất, kể từ thời kỳ Đức Phật Thích Ca ra đời trở về trước được gọi là thời đại Thần Thông độc tôn, thời đại thứ hai, kể từ thời kỳ vào khoảng 2000 năm sau Phật nhập diệtthời đại Võ Lâm độc tôn, thời đại thứ ba là thời kỳ hiện đại được gọi là thời đại Khoa Học độc tôn.Chúng ta đang ở thờ đại khoa học độc tôn, nếu nhìn lại trở về trước vào thời đại thần thông và võ lâm độc tôn thì chỉ nhìn vào với đôi mắt huyền thoại, nhưng không nhìn vào với đôi mắt thực tế. Điển hình như gần đây hơn, vào năm 1963, đối với sự kiện“Trái Tim Bất Diệt”của Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn ở miền namViệt Nam, các vị sanh sau năm1975 đều cho đó là huyền thoại, không kiểm chứng được, nhưng còn những người sống vào thời kỳ đó, đã chứng kiến sự kiện đây đều xác nhận cho là thực tại; sự kiện Trái Tim Bất Diệt nếu là huyền thoại thì chánh phủ Hoa Kỳ không bỏ rơi chánh phủ Ngô Đình Diệm. Còn thời đại Võ Lâm Độc Tônthời đại người học võ phải thực hiện ba giai đoạn là đánh nhanh, nhảy cao và phi hành. Ba giai đoạn này của võ lâm, người học võ ai cũng đều biết, ở đây không cần bàn kỹ, vì nó không phải là chủ đề chính trong đề tài muốn nói. Chủ đề chính trong đề tài là những dữ kiện để chứng minhthế giới địa ngục hay không có. Để làm sáng tỏ thế giới địa ngục, chúng ta phải khảo sát qua những dữ kiện thần thông.

 

*- Một sự kiện thứ nhất là thời kỳ đức Phật Thích Ca ra đời vào thời đại thần thông độc tôn; theo sử liệu, người nào không có thần thông là người đó không có khả năng lãnh đạo, như bên Bà La Môn Giáo, hai vị lãnh tụ hai giáo phái là A La Lam (Alàrà-Kàlama) và Uất Đa Ma Tử (Uddaka-Ràmaputta), hai vị này đều chứng Ngũ Thông; còn bên Phật Giáo được kể đến nhiều nhất là hai vị Xá Lợi Phất (Sariputta) và Mục Kiền Liên (Moggallàna), hai vị này trước khi theo Phật Giáo là hai lãnh tụ thuộc hai giáo phái đạo thờ thần lửa, dưới trướng của hai vị này mỗi vị gồm có 500 đệ tử, hai vị này cũng đều chứng Ngũ Thông. Ngũ Thông gồm có: Thiên Nhãn Thông, Thiên Nhĩ Thông, Thần Túc Thông, Túc Mạng ThôngTha Tâm Thông, riêng đức Phật Thích Ca chỉ hơn họ một thông là Lậu Tận Thông, ở đây chỉ nói đến dữ kiện mà không cần phải giải nghĩa.Theo lịch sử PhậtGiáo, đức Phật Thích Ca muốn độ ông em một cha khác mẹ là Nan Đà, vì ông này đam mê vợ quá mức, đầu tiên Phật dùng Thần Thông Lậu Tận dẫn ông lên Trời Đao Lợi vừa thăm mẹ là Hoàng Hậu Ma Da (Maya), vừa cho ông thấy mấycô tiên nữ ở đây đẹp hơn vợ của ông, kế đến Phật dẫn ông xuống cõi địa ngục để chứng kiến cảnh hành hạ của người dân ở dưới, sau khi thấy hai cảnh tượng này, ông Nan Đà mới chịu xuất gia theo Phật.

 

*-Một sự kiện thứ hai là đức Phật dùng thần thông để độ ông bà vua Tần Bà Sa La (Bimbisara) nước Ma Kiệt Đà (Magadha) ở trong ngục; sự kiện này như thế nào, đức Phật Thích Ca sau khi thành đạo, ngài muốn chọn một nơi an toàn nhất để làm trung tâm phát huy tư tưởng của mình, ai cũng đều biết tư tưởng của ngài là đả phá giai cấpnô lệ, Ngài được vua Tần Bà Sa La, nước Ma Kiệt Đà hết mình ủng hộ, đức Phật chọn Tịnh Xá Trúc Lâm làm trung tâm phát huy tư tưởng của Ngài và được hai ông bà vua Tần Bà Sa La đứng ra bảo trợ, cho nên trong thời gian đức Phật trụ tại nước này rất bình an không bị ai đến đánh phá chống đối; Thái tử A Xà Thế (Ajàtasattu) con của Vua Tần Bà Sa La, khi lớn lên liền cướp ngôi của vua cha và bắt hai ông bà bỏ tù cho chết đói, trong khi đó, đức Phật Thích Ca nghĩ tình công ơn của vua bảo trợ trong thời gian Ngài trụ ở nước Ma Kiệt Đà, đức Phật liền phái đức Mục Kiền Liên lén bay vào trong ngục không cho ai biết để hướng dẫn ông bà niệm Phật A Di Đà tu gieo duyên, đồng thời đức Phật sử dụng Thần Thông Lậu Tận dùng hào quang thâu nhỏ lại thế giới Cực Lạc và Phật A Di Đà đang thuyết pháp đem hiện rõ trong ngục để hai ông bà đặt trọn niềm tin hướng về tu tập.

 

Hơn nữa, đây còn là một sự kiện đặc biệt chuyển biến lạ, bà hoàng hậuVi Đề Hy (Videhi), mẹ của thái tử A Xà Thế, được con nghịch tử thả ra, lẽ dĩ nhiên vua Tần Bà Sa La nhất định phải chết trong ngục. Khi bà hoàng hậu Vi Đề Hy được thả tự do, bà liền đến yết kiến đức Phật Thích Ca cầu xin Phật trình bày rõ về cõi Tây Phương Cực Lạc của đức Phật A Di Đà đang làm giáo chủ, đức Phật liền giảng Kinh Tiểu Bổn A Di Đà để cho bà và đại chúng cùng nghe, tiếp theo ở các đạo tràng khác, đức Phật cũng giảng Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, cùng các kinh quan hệ với Tịnh Độ cho bà và đại chúng cùng nghe.Từ đó tư tưởng Tịnh Độ được nằm trong kho tàng Kinh Tạng của Phật Giáo.

 

      Sau khi đức Phật giảng kinh A Di Đà xong, bà hoàng hậu Vi Đề Hy căn cứ theo tinh thần của Kinh A Di Đà đứng ra vận động thành lập phong trào tu tịnh độ niệm Phật A Di Đà do bà lãnh đạo qua sự bảo trợ của đức Phật Thích Ca, phong trào này được rất đông dân chún hưởng ứng tham dự, trong đó bao gồm cả giai cấp Phệ Xá, Thủ Đà Lanô lệ, vì phong trào lớn mạnh quá đông, để có tổ chức, bà hoàng hậu Vi Đề Hy ra lệnh tất cả các thành viên trong tổ chức phải mặc y màu trắngđể biểu tượng, cũng như các vị tỳ kheo xuất gia đều mặc y màu vàng để biểu tượng; y màu trắng của tổ chức là bà hoàng hậu Vi Đề Hy căn cứ theo ý nghĩa câu chuyện của bà hoàng hậu Ma Da nằm mộng thấy Bồ Tát Hộ Minh cởi con voi trắng sáu ngà từ trên trời bay xuống khai hông bên hữu của bà chun vào, và từ đó bà hoàng hậu Ma Da sanh ra thái tử Tất Đạt Đa, câu chuyện màu trắng ở đây của con voi trắng sáu ngà là tượng trưng cho thanh tịnhgiải thoát của Bồ Tát, còn y màu trắng của bà hoàng hậu Vi Đề Hy chủ trương là tượng trưng cho sự trong sạchgiải thoát nô lệ. Phong trào này về sau được đức Phật chuyển thành phong trào Ưu Bà TắcƯu Bà Di nhằm để hộ trì Phật Pháp. Có thể khẳng định tông phái Tịnh Độ không phải có từ Trung Hoa do ngài Tuệ Viễn chủ trương mà tông phái này đã có từ Ấn Độ vào thời kỳ đức Phật Thích Ca còn tại thế do bà hoàng hậu Vi Đề Hy lãnh đạo.

 

      *- Một sự kiện thứ ba là đức Phật sử dụng thần thông tạo dựng năm đàn Lăng Nghiêm để hỗ trợ và sai Bồ Tát Văn Thù đem chú Lăng Nghiêm đến hoá giải thần chú Ta Tỳ La Phạm Thiên của dâm nữ Ma Đăng Già để cứu ông A Nan; từ câu chuyện dâm nữ Ma Đăng Già đó mới có Kinh Lăng Nghiêm nằm trong kho tàng Kinh Tạng của Phật Giáo.

 

Nhìn  qua  ba sự kiện của đức Phật Thích Ca sử dụng Thần Thông để hoá độ chúng sanh trong thời đó cũng đủ chứng minh đức Phật đã chứng Thần Thông, nhưng vì đức Phật không cho các đệ tử sử dụng thần thông để truyền giáo (điều này được thấy trong truyện Tăng Đồ Nhà Phật), cho nên cũng từ đó kỷ năng đào luyện thần thông đã mất chân truyền trong dân gian và đã chìm sâu quên lãng lâu đời trong xã hội. Nhờ chứng đắc thần thông, đức Phật đã sử dụng kỷ thuật truyền giáo vô cùng độc đáo ở chỗ là Ngài sử dụng mà không ai biết. Đức Phật sử dụng kỷ thuật thuyết pháp có hai cách: Đạo Tràng Thuyết PhápThiền Định Thuyết Pháp.

 

Đạo Tràng Thuyết Phápđức Phật thuyết pháp nơi đạo tràng bằng tiếng Ấn Độ gồm có hội chúng khoảng 1250 đệ tử và các vua chúa, các quần thần, các dân chúng đều tham dự; đồng thời ngài cũng dùngThiền Định Thuyết Phápsử dụng Thần Thông Lậu Tận để chuyển ngữ cho các cõi khác đều cùng nghe. Thí dụ như chúng ta thuyết pháp tại chùa cho các Phật tử của chùa nghe, đó gọi là Đạo Tràng Thuyết Pháp, đồng thời chúng ta cũng dùng On Line để phổ biến cho người Việt Nam khắp nơi trên thế giới đều cùng được nghe, đó thí dụThiền Định Thuyết Pháp; Điều đặc biệt hơn, đức Phật chẳng những dùng thiền định thuyết pháp mà còn sử dụngThần Thông Lậu Tận để chuyển ngữ, thí dụ như nơi Trung Tâm Liên Hiệp Quốc, các quốc gia trên thế giới đến tham dự, trong đó có mặt người Việt Nam,n gười Việt Nam phát biểu bằng tiếngViệt Nam, nhưng người các quốc gia khác đều nghe được qua tiếng của họ, đấy thí dụchuyển ngữ bằng Thần Thông Lậu Tận. Vấn đề này được thấy nơi Phẩm Đại Hội số 19 trong Trường Bộ Kinh.

 

2.- Giờ đây bước sang lãnh vực thế giới Địa Ngục. Muốn rõ thế giới Địa Ngục như thế nào, chúng ta phải đọc lại Kinh Địa Tạng. Kinh Địa Tạngkinh điển nhằm diễn tả toàn bộ thế giới Địa Ngục, đồng thời giới thiệu Bồ Tát Địa Tạng, người làm giáo chủ cõi U Minh mà tất cả Phật tử ai cũng đều biết nội dung của Kinh Địa Tạng này. Ngoài ra còn cóKinh Vu Lan cũng nói về thế giới Địa Ngục là nơi mà ngài Mục Kiền Liên xuống nơi đó để cứu mẹ.Ở đâychúng ta chỉ cần tìm hiểu về xuất xứ của bộ kinh này và xác nhận bộ kinh này chính là của đức Phật Thích Ca thuyết pháp thì từ đó chúng ta mới tin tưởng thế giới Địa Ngục là có thật.

 

      Qua những dữ kiện vừa trình bày ở trên chứng tỏ đức Phật Thích Ca là người đã chứngThần Thông và cũng là người thường sử dụng hai cách thuyết pháp: thiền địnhđạo tràng. Thế giới Đao Lợi là một trong những thế giới trong nội tâm A Lại Dađức Phật Thích Ca xuất thần lên thế giới đó bằng Đại Định Kiên Cố mà người đời thường gọi là xuất hồn, Ngài bay lên đó trong ba tháng để thuyết kinh Địa Tạng cho mẹ và các vua trời cùng nghe; trường hợp này cũng giống như chúng ta ngủ mê một giấc mơ dài thấy mình bay về Việt Nam thăm bà con ( xuất hồn) và cùng họ đi tham quan các nơi, các cảnh đâyđã có đầy đủ trong nội tâm A Lại Da của chúng ta, chúng ta khi thức giấc (tỉnh giấc) vẫn nhớ lại rành mạch không thiếu sót; hiện tượng này cũng giống như đức Phật Thích Ca sau khi ngài giảng Kinh Địa Tạng xong, trở về thế giới thực tại nơi Ấn Độ, ngài giảng lại cho các đệ tử  trong đạo tràng cùng nghe và đại chúng ghi lại những điều đức Phật giảng trên Cung Trời Đao Lợi, về sau được kết thành bộ kinh gọi là Kinh Địa Tạng và cũng được nằm trong danh bộ Tạng Kinh. Sự kiện trên thực sự cũng đủ chứng minh là có thế giới Địa Ngục và cũng nói lên được là có Bồ Tát Địa Tạng đang làm giáo chủ cõi U Minh, cũng giống như đức Phật A Di Đà hiện đang làm giáo chủ nơi thế giới Cực Lạc phương Tây.

 

3.- Tiếp theo chúng ta nhìn qua lăng kính khác để tìm hiểu thế giới Địa Ngục. Cổ đức thường nói ‘Dương gian âm phủ đồng nhất lý,’ nghĩa là cõi dương và cõi âm, nguyên lý đều giống nhau (đồng nhất). Dương gian là chỉ cho thế gian cõi dương (thế gian chịu ảnh hưởng mặt trời) và âm phủ là chỉ cho thế giới cõi âm (thế giới không chịu ảnh hưởng mặttrăng). Theo DuyThứcHọc, thế giới cõi dương là chỉ cho thế giới ngoại cảnh (cảnh giới hiện ra bên ngoài), thế giới cõi âm là chỉ cho thế giới trong nội tâm A Lại Da (Tạng Thức). Dương gian âm phủ đồng nhất lý, chính là ám chỉ cho thế gian này có những cảnh giới nào mà chúng ta đã tham quan qua đều có mặt đầy đủ trong nội tâm A Lại Da của chúng ta, thí dụ chúng ta tham quan thành phố Hà Nội, thành phố Huế, thành phố Sài Gòn, thành phố Nam Hàn, thành phố San Jose ở nước Hoa Kỳ..v..v..... tất cả những thành phố đó đều có mặt trong nội tâm A lại Da của chúng ta, đây là nói lên ý nghĩa dương gian âm phủ đồng nhất lý.

 

Cũng từ ý nghĩa này, chúng taý niệm rằng, thế gian có những trại tù để nhốt những kẻ phạm tội thì nơi thế giới cõi âm cũng có những địa ngục để đối trị những kẻ tội ác; thế gian này có những kẻ du đãng cõi dương thì thế giới cõi âm cũng có ngạ quỷ du đãng cô hồn; thế gian này có những loại súc sanh thì thế giới cõi âm cũng có những loại súc sanh giống như thế.

 

4.- Trở lại vấn đề thế giới Địa Ngục, thế giới Địa Ngục là nơi để đối trị tánh tội của chúng sanh, còn trại tù ở thế gian là nơi chỉ đối trị tướng tội của chúng sanh; tướng tội là những tội lỗi do lời nói và hành động gây tạo, còn gọi là tội lỗi của thân nghiệpkhẩu nghiệp; riêng tánh tội là những tội lỗi do tâm ý chủ mưu xúi dục, còn gọi là tội lỗi của ý nghiệp. Con người có thể thoát khỏi trại tù nơi thế gian về tướng tội của thân nghiệpkhẩu nghiệp, nhưng không thể toát khỏi trại tù của Địa Ngục nơi nội tâm về tánh tội của ý nghiệp.

 

a/- Cơ sở của thế giới Địa Ngục. Thế giới Địa Ngụcthế giới của nội tâm không phải là thế giới của ngoại cảnh và cũng không ảnh hưởng chút gì nơi thế giới ngoại cảnh, trường hợp này cũng giống như chúng ta đang nằm mơ, tâm chúng ta chun vào thế giới mộng mơ đi du ngoạn, chúng ta lái xe chở bạn đi khắp thành phố trong mơ, trong lúc đó, chúng ta lái xe không đụng giường của chúng ta đang ngủ, không đụng nhà của chúng ta ở, không đụng thành phố của chúng ta đang sống, khi tỉnh lại chúng ta mới biết mình đang nằm mơ.

 

Cũng trong tinh thần dương gian âm phủ đồng nhất lý, ngược lại âm phủ có những hiện tượng gì thì trên dương gian cũng có những hiện tượng đó, như có những chúng sanh chịu ảnh hưởng mặt trời, nghĩa là họ sống nhờ ánh sáng mặt trời thì mới thấy đường, mới sinh hoạt và khi về đêm thì họ không thấy đường, họ không sinh hoạt và họ đi ngủ, cụ thể như con người..v..v....chỉ sinh hoạt ban ngày, không sinh hoạt ban đêm, đây chính là nguyên lý; có những loại chúng sanh chỉ sinh hoạt về ban đêm và có ảnh hưởng với mặt trăng, như về loài súc vật gồm có: loài dơi, loài chim quốc, loài cú mèo..v..v....; 

 

b/- Còn như về loài ngạ quỷ, những loại này do nghiệp báo tham lam, ích kỷ, bỏn xẻn, keo kiết cực thịnh tạo nên, họ cũng sống về ban đêm và cũng ảnh hưởng mặt trăng giống như các loài súc vật nói trên. Theo Thuận Chánh Lý Luận, quyển 21 giải thích: vị trí cảnh giới của họ rất rộng lớn trải khắp nhân gian, chúng sanh ngạ quỷ có nhiều loại như:

-        Quỷ Vô Tài, là những loại quỹ và miệng của chúng nó có đầy lửa, có loại miệng của chúng nó nhỏ như kim, có loại miệng của chúng nó bay mùi hôi thúi.

-        Quỷ Thiển Tài, là những loài quỷ có long nhọn như kim, cól ông bay mùi hôi, có long làm cho chúng nó bị bệnh hoạn.

-        Quỷ Đa Tài, là những loài quỷ chuyên môn đi góp nhặt, tích lủy tài vật bằng mọi hình thức. Quỷ Đa Tài là danh từ chung, trong đó gồm có ba loại:

      + Khí Quỷ, là những loại quỷ chuyên môn đi nhận tài vật cúng bái của

người đời. Những loài quỷ này, người đời thường gọi là Ma, nhất là

chúng nó thường thân cận với bà con để kiếm ăn.

      + Thất Quỷ, là những loại quỷ chuyên môn đi lấy những tài vật bị thất

lạc của loài người bỏ quên và khiến loài người không thể tìm lại được.

      + Đại Khí Quỷ: là những loại quỷ vô cùng hung bạo chuyên môn giết

người để hút máu, để cướp đoạt tài vật..v..v..., nhất là giết người bắt

làm nô lệphục dịch cho chúng. Những loại quỷ này gồm có: Quỷ

Dạ Xoa, Quỷ La Sát, Quỷ Tỳ Xá..v..v...

Để chứng minh, hiện nay, nơi thành phố Orange County và thành phố San Jose, có hai nhà sang trọng, trong nhà có ba bốn phòng bỏ trống từ lâu không ai dám mướn, vì trong hai nhà đó có ma, ban đêm thường hiện hình đe doạ chủ mướn nhà, khiến họ phải bỏ nhà đi mướn nơi khác.

c/- Nhìn lại lần nữa về vấn đề thế giới Địa Ngục.Vị trí của những thế giới này, theo như Kinh Địa Tạng ở rải rác khắp trong lòng núi Thiết Vi nơi Nam Thiệm Bộ Châu, cũng gọi là Nam Diêm Phù Đề, những người sống trong đó không biết gì về ánh sáng mặt trờimặt trăng, cũng giống như loài cá sống sâu dưới đáy biển và chỗ đó không có chút nào ánh sáng mặt trời mặt trăng, chúng nó nếu lên tới mặt biển là không thấy đường và bong bóng của nó liền bị bể mà chết, khác hơn loài rùa..v..v...chúng nó sống giao thoa với thế giới loài ngườithế giới loài cá, nghĩa là chúng nó lên bờ sống cũng được và xuống dưới nước sống cũng được, cũng có chỗ gọi thế giới của loài rùa là Trung Giới. Cho nên thế giới Địa Ngục cũng được gọi là thế giới U MinhBồ Tát làm giáo chủ thế giới đó gọi là: U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát.

5.-Tóm lại, Kinh Địa Tạngbộ kinh có thật của chính đức Phật Thích Ca thuyết pháp tại cung trời Đao Lợi để giới thiệu cho mẹ và các vị vua trời nói trên. Bộ Kinh này được đức Phật giảng lại cho đại chúng lúc bấy giờ nghe và từ đó được kết tập thành một trong những Kinh Tạng. Tiếp theo có thể khẳng định thế giới Địa Ngụcthế giới có thật qua sự chứng minh của Kinh Địa Tạng, của Kinh Vu Lan và cũng có thật qua những dữ kiện vừa trình bày trên; thế giới Địa Ngục nhất định phải có, chính là trại tù khổng lồ của tâm linh nhằm để đối trị những tội lỗi về ý nghiệp của chúng sanh; chúng sanh tù tội mặc dù thoát khỏi trại tù của thế gian, nhưng không thể thoát khỏi trại tù Địa Ngục của tâm linh.

 

Sáng tác xong, ngày 24.09. 2019

Chùa Phật Quang

Trung Tâm phiên dịchsáng tác.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 6123)
Một thời Thế Tôn ngự tại tịnh xá Kỳ Viên. Bấy giờ Thiên tử Rohitassa, biệt danh Xích Mã, dung sắc tuyệt diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Ngài rồi kể rằng:
(Xem: 9989)
Khi nói một tâm thức trống không, thì nó trống không về cái gì? Tánh Không (Emptiness /Vacuité/sự Trống Không) phải chăng có nghĩa là...
(Xem: 7101)
Kinh điển của Ta nói nhiều vô lượng nghìn muôn ức, đã nói, hiện nói, sẽ nói… mà ở trong đó Pháp Hoa rất là khó tin, khó hiểu. Xa kín nhiệm sâu.
(Xem: 7334)
"Có bốn loại an lạc, nầy gia chủ, người gia chủ thọ hưởng các dục thâu hoạch được, tùy thời gian, tùy thời cơ khởi lên cho vị ấy. Thế nào là bốn ?
(Xem: 6995)
Trong bài viết này sẽ giới thiệu bảy loại vợ khác theo tinh thần Abidharma và các văn bản hệ Luật tạng hiện có trong Đại Tạng Kinh, đối chiếu với mười loại vợ theo Luật Tạng Bí-sô của văn điển Pāli và...
(Xem: 9364)
Ngài Huệ Năng (638-713) là một bậc cao Tăng của thiền lâm Đông Độ. Cuộc đời cũng như tư tưởng của ngài là nguồn chất liệu và xúc cảm thiêng liêng để hình thành nên...
(Xem: 5846)
Cái thái dương hệ, tinh hà vũ trụ kia, hợp rồi tan, tan rồi hợp. Tất cả cái này tạo thành quy luật của tồn tại, ảnh hưởng đến đời sống và địa cầu này.
(Xem: 7109)
Nói đến tái sinh, thường chúng ta nghĩ đến một thọ sinh mới. Một con người vừa chết và được tái sinh lại dưới các hình thức Trời, Ngườ,i Atula hay Súc sinhNgạ quỷ.
(Xem: 6532)
Mặc mũ giáp là tu hành Ba Thân: Pháp thân tánh Không, Báo thân ánh sáng các pháp, và Hóa thân như huyễn. Tu hành là dùng Chỉ Quán để...
(Xem: 6113)
Bát Chánh Đạo chính là con đường giúp ta thanh lọc tư tưởng, chuyển hóa tâm phiền muộn, khổ đau thành an lạc, hạnh phúc.
(Xem: 7172)
Trong cuộc sống, con người luôn chuẩn bị tâm thế để đối mặt với khổ đau. Khi khổ đau đến, hoặc chúng ta phải chịu đựng và quỵ ngã, hoặc...
(Xem: 14396)
TĂNG GIÀ THỜI ĐỨC PHẬT Thích Chơn Thiện Nhà xuất bản Phương Đông
(Xem: 20459)
Người học Phật có được một tài liệu đầy đủ, chính xác, đáng tin cậy, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ tra cứu khi cần...
(Xem: 9477)
Ngày nay nếu chúng ta có dịp đọc lại trong kinh tạng, sẽ thấy có rất nhiều tư liệu nói về Bồ-tát Quán Thế Âm.
(Xem: 7885)
Luận Hiển dương Thánh giáo 顯揚聖教論, tiếng Phạn là Ārya-śāsana-prakaraṇa-śāstra hay Prakaranaryavaca-sastra (Acclamation of the Scriptural Teaching/ Treatise of Acclamation of the Sagely Teaching),,,
(Xem: 8195)
Bát chánh đạo’ hay Tám con đường cao quý (八正道 - āryāstāngika-mārga/còn được gọi là "Trung Đạo") là một trong những nền tảng của toàn bộ lời dạy của Đức Phật.
(Xem: 7457)
Pháp ấn, tiếng Phạn dharma-mudrā, trong đó dharma là pháp, là những lời dạy của Đức Phật, và mudrā là dấu ấn, là khuôn dấu, là đặc chất, là tiêu chuẩn.
(Xem: 9380)
Khái niệm về Niết bàn (Nirvana) đã xuất hiện hơn 2500 năm. Xuyên qua nhiều thế kỷ, biết bao học giảtriết gia đã cố gắng để...
(Xem: 7467)
Nếu mỗi sự-vật là chẳng có tự tính, không cái gì có thể sinh hoặc diệt, vậy thì từ hoàn toàn đoạn trừ hoặc diệt tận cái gì mà kết quả là niết bàn?
(Xem: 7489)
Hai pháp có thể hiểu biết phải được thông suốt: danh và sắc; hai pháp có thể hiểu biết phải được tận diệt: vô minhái dục; hai pháp có thể ...
(Xem: 7675)
Giải thoát hay tánh Không thì không chỗ nào không có, nên bất cứ ở đâu chúng ta cũng có thể gặp nó.
(Xem: 9483)
Đức Phật dạy: “Tất cả đều do “tâm” tạo”, “Trong các pháp, “tâm” dẫn đầu, “tâm” làm chủ, “tâm” tạo tác tất cả,,,
(Xem: 8792)
Hôm nay chúng tôi nói "vào cửa Không" tức là đi sâu vào phần nội tâm. Trong nhà Phật, chúng ta thường nghe nói: "Kẻ phàm phu thì chấp thân, đạo sĩ thì chấp tâm".
(Xem: 7394)
Niết bàn được Đức Thế Tôn miêu tả là hai phương diện cho những người sống một đời sống đức hạnh trong sáng, thực hành giới hạnh dẫn tới ...
(Xem: 7966)
Đức Phật xuất hiện ở đời vì hạnh phúc chư thiênloài người. Sau 49 năm thuyết pháp, độ sinh, ngài đã để lại cho chúng ta vô số pháp môn tu tập
(Xem: 7037)
Tất cả chúng ta đều biết rằng lời Phật dạy trong 45 năm, sau khi Ngài đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề tại Gaya ở Ấn Độ, đã để lại cho chúng ta một gia tài tâm linh đồ sộ...
(Xem: 7684)
Đạo Phật từ Ấn Độ du nhập vào Việt Namhiện hữu với dòng lịch sử dân tộc gần 2000 năm.
(Xem: 9870)
Một trong những nhà lãnh đạo chính của phong trào Phật giáo Đại thừa tại Ấn Độ là đạo sư- tăng sĩ Long Thọ.
(Xem: 8291)
Trong tín niệm vãng sanh của một số truyền thống Phật giáo Bắc truyền, ở quá khứ cũng như hiện tại, đã căn cứ vào tình trạng nóng, lạnh từ thân thể...
(Xem: 8840)
Khi một người sắp chết, người ấy bắt đầu đánh mất sự kiểm soát ý thức của tiến trình tinh thần. Rồi đến lúc hành động và thói quen của người ấy bị ngăn trở với ký ức xảy ra.
(Xem: 7692)
Đức Phật là bậc đạo sư đầu tiên nhận thức được bản chất thực của bản ngã, rằng bản ngã không phải là một thực thể cụ thểtrường tồn,...
(Xem: 8845)
Muốn tâm an vui và có chánh kiến thì bình thường, ngoài việc làm phước chúng ta cần có thời gian học hỏi tu tập để có trí tuệ nhìn thấu lẻ vô thường và định tĩnh trước những cảnh bất như ý.
(Xem: 8665)
Thái độ tâm linh của đạo Phật không phải nằm trên bình diện siêu việt tính (plan transcendantal), nghĩa là không dính líu gì với đời sống này.
(Xem: 8009)
Lăng-già, Thập Nhị Môn Luận cũng như trong luận Thành Duy Thức có đề cập đến bốn loại duyên, từ đó có các pháp. Nhân duyên. Thứ đệ duyên. Duyên duyên.
(Xem: 9024)
Dược Sư, là danh hiệu đọc theo tiếng Hán, nguyên ngữ Sanskrit gọi là Bhaiṣajya-guru-vaiḍūrya-prabhā-rāja, hay ngắn gọn hơn: Bhaiṣajyaguru,
(Xem: 9437)
Đọc lịch sử Đức Phật ta vẫn còn nhớ, sau 49 ngày tham thiền nhập định dưới gốc cây Bồ đề bên dòng sông Ni Liên Thiền, khi sao Mai vừa mọc thì ...
(Xem: 8759)
Nếu chúng ta bước vào Hoa nghiêm (Gaṇḍavyūha) [1] sau khi qua Lăng già (Laṅkāvatāra) Kim cang (Vajracchedika), Niết-bàn (Parinirvāṇa), hay ...
(Xem: 8891)
Tôn giả Angulimala[1] trước khi gặp Phật, là một kẻ sát nhân. Sau khi xuất gia, tôn giả tinh tấn tu tập, lấy phép quán từ bi làm tâm điểm trong việc tu tập của mình.
(Xem: 7231)
Mỗi khi đọc Lại-Tra-Hòa-La trong kinh Trung A Hàm 1 thì lúc nào tôi cũng liên tưởng đến nhân vật Siddharta trong tác phẩm Câu Chuyện Dòng Sông...
(Xem: 9194)
Giáo lýđức Phật giác ngộ dưới cội cây Bồ đềduyên khởiduyên khởi là nguyên tắc vận hành của cuộc đời, không phải do...
(Xem: 8609)
Khi một Bồ tát tu tập một đạo lộ với các mantras, phát bồ đề tâm theo phương diện tương đốibản chất của đại nguyện, Bồ tát phải ...
(Xem: 7899)
“Nói kinh Đại thừa vô lượng nghĩa xong, Đức Phật ngồi kiết già nhập trong định ‘Vô lượng nghĩa xứ’, thân tâm chẳng động.
(Xem: 9635)
“Sắc tức thị không, không tức thị sắc (Sắc tức là không, không tức là sắc) là câu kinh đơn giảnnổi tiếng nhất trong hệ Bát-nhã Ba-la-mật của Phật pháp.
(Xem: 10183)
Nguyên đề của sách là The Essentials of Buddhist Philosophy dịch theo tiếng Việt là Tinh hoa Triết học Phật giáo. Nguyên tác: Junjiro Takakusu, Tuệ Sỹ dịch
(Xem: 8773)
Nếu muốn hiểu đúng về nghiệp và tái sinh, ta phải quán sát chúng trong ánh sáng của vô ngã. Chúng phản ánh vô ngã khá sống động, tuy nhiên...
(Xem: 8387)
Con đường đưa đến giác ngộ, giải thoátNiết Bàn chính là Bát Thánh Đạo, Tứ Diệu Đế; và phần quan trọng nhất trong con đường này là Thiền định.
(Xem: 7641)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là...
(Xem: 9340)
Thật ra Phật đã đau yếu từ ba tháng trước và đã khởi sự dặn dò người đệ tử thân cận nhất là A-nan-đà. Phật bảo A-nan-đà tập họp các đệ tử để...
(Xem: 7490)
Thế giới Pháp Hoa hay nhà cha vốn như vậy (Mười Như thị, phẩm Phương tiện, thứ 2), nghĩa là vốn có sẵn, cho nên sự trở về nhà nhanh hay chậm là tùy nơi chúng ta.
(Xem: 15365)
Hơn hai ngàn năm trăm năm đã trôi qua kể từ khi bậc Đạo Sư từ bi của chúng ta, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, giảng dạy ở Ấn độ.
(Xem: 7308)
Từ nơi bản thể tịch tĩnh của Đại Niết-bàn mà đức Thế-Tôn thiết định Sīla: học xứ, học giới,.. nên học xứ ấy là nghiệp dụng của bản thể...
(Xem: 8490)
Ngày nay, người ta tìm thấy bản Bát-nhã tâm kinh xưa nhất được chép bằng thủ pháp Siddham[1] (Tất-đàn) trên lá bối...
(Xem: 12246)
Đối với người tu tập thuần thành thì cái CHẾT thực sự không phải là chết Mà là con đường dẫn đến sự giác ngộ viên mãn.
(Xem: 7315)
Thiền sư Bạch Ẩn ngày còn nhỏ rất sợ địa ngục. Một lần, Nichigon Shonin, cao tăng thuộc phái Nhật Liên, đã đến giảng tại ...
(Xem: 11501)
Ở bài này, chỉ dựa trên cơ sở Kinh Nikaya để xác minh ý nghĩa lễ cúng thí thực vốn có nguồn gốc trong hai truyền thống Phật Giáo.
(Xem: 8321)
Thời Thế Tôn tại thế, các đệ tử tại gia cũng như xuất gia đa phần đều tu tập tinh tấn, dễ dàng chứng đắc các Thánh vị.
(Xem: 8046)
Đức Phật nói rằng khi Ngài nhìn ra thế giới ngay sau khi Giác ngộ, Ngài thấy rằng chúng sanh cũng giống như...
(Xem: 7916)
Thuở quá khứ xa xưa, có Bồ-tát Tỳ-kheo tên là Thường Bất Khinh. “Vì nhân duyên gì có tên là Thường Bất Khinh?
(Xem: 8949)
một lần, Ma Vương hóa trang thành một người đàn ông, rồi đến thưa hỏi Đức Phật...
(Xem: 7438)
Trời mưa, trời nắng là chuyện bình thường. Thời tiết phải có lúc nắng, lúc mưa, không thể nào bầu trời không mưa hay...
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant