Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Phần 1: Mạch Sống Của Mỗi Chúng Sinh

08 Tháng Mười Hai 201000:00(Xem: 6811)
Phần 1: Mạch Sống Của Mỗi Chúng Sinh


VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT

Thích Minh Thiền
Phật Lịch 2536 - 1992

 

PHẦN THỨ NHẤT
MẠCH SỐNG CỦA MỖI CHÚNG SANH

Đã vốn không đầu không đuôi, không xưa không nay, không tên không chữ, thê là con số không chưa viết. Mà đã là con số không chưa viết thì đâu còn gì mắc kẹt trong cái có với không, mê hay ngộ! thì làm gì có Phật với chúng sinh! Và tất cả bổn lai là Phật thì lấy đâu để nói để viết là mạng mạch hay không mạng mạch! Tuy bổn lai là Phật, nhưng chỉ vì quên mình là Phật nên bị kẹt vào chúng sinh. Đã có kẹt tất phải có gỡ. Đã nói gỡ tất phải biết rõ chỗ mắc kẹt. Cho nên sự thể không thể khác hơn! Chỉ có khi gỡ bằng cách nào để khỏi kẹt vào tướng gỡ và tướng bị gỡ mới đích thực là tài tử giải thoát.
*

THÂNcon người là một động vật như bao nhiêu động vật khác, là một tác phẩm kết hợp một cách chặt chẽ của hai hệ thống thân và tâm. Cả hai đều thuộc lãnh vực tướng, nên cả hai đều tổ hợp vô thường sanh diệt bất tề trong một quy luật khẳng định của trật tự thiên nhiên. Nếu tách rời tâm ra thì thân chỉ là một thiên nhiên. Nếu tách rời tâm ra thì thân chỉ là một khối thịt vô tri như bao nhiêu vật chất khác.

Nhưng khi đã mắc liền với tâm rồi thì tất cả những ăn uống sinh hoạt, hoàn cảnh tâm tư, gia đình, xã hội, khí hậu, thời tiết thọ bẩm … đều có thể chi phối nó. Cho nên lòng buồn sanh bịnh, bịnh sanh lòng buồn, “Lòng quanh quéo sông càng quanh quéo, cảnh đìu hiu dạ lại đìu hiu”. Nếu nghiêm cách mà nói thì phần xác thân chưa hẳn là chánh phạm hay nguồn bịnh mà chỉ là một công cụ để cho tâm vọng có chỗ đam mê bám sát vào và biến thân thành một kho tàng tội lỗi làm cho những người nhìn theo kiểu cạn cợt đều lầm lạc may quy tội cho thân, cho nên có người nói: “Không biết bổn tâm học đạo vô ích”. Nói như thế đâu phải là vô cớ!
 
TÂM” thế nào là tâm của mỗi chúng sinh? Làm sao biết chắc qủa có cái gọi là tâm chứ?
 
Ta hãy chọn lúc đêm trường canh vắng, vào phòng ngủ ngồi xếp bằng tròn nhắm mắt lại, và đừng nghĩ đến bất cứ điều gì, lặng lẽ ngồi im độ 15 phút là ta sẽ thấy ngay trong ta không phải chỉ là một khối im lìm lặng hơ như ta tưởng mà là có cả sông ngòi, rừng cây xóm làng, thành ấp, trời đất, trăng sao thành phố, xe cộ, người vật, gà gáy, chó sủa … đang lao xao di động. Đó chính là tâm của chúng sinh. Tâm này còn vô số tên như là NGHIỆP THỨC, là TẬP NGHIỆP, là TÂM NHÓM CHỨA, là TÂM CUỒNG LOẠN, là TÂM VỌNG, là TÂM SANH DIỆT
 
bao gồm cả pháp sắc và pháp tâm do bao cuộc tiếp xúc chạm tương giao tận tự lũy kiếp theo đà mê muội nhóm chứa thành một kho tàng vĩ đại mà trong đó chỉ là bóng dáng của tất cả những sự việc đã qua, kết thành một khối to tát, lúc nào cũng hoạt động dồn dập, dạt dào, khi náo nhiệt, khi tiêu trầm tựa như biển khơi sóng gió, ngoài sức khống chế của trí óc thường tình làm cho thiện chí thường bị bẻ cong.

Thí dụ như khi ta bị đột ngột va chạm với sắc, tình, danh, lợi chẳng hạn. Do đó nếu nói dễ thấy, dễ biết, thì cũng rất dễ thấy dễ biết, nếu nói khó thấy khó biết thì cũng khó thấy khó biết ghê! Nay ta muốn khống chế tâm này một cách dễ dàng hầu chủ động hoàn toàn cuộc sống cho ứng hợp với trật tự thiên nhiên, cắt đứt sức hấp dẫn của luân hồi sanh tử, vượt khỏi khổ đau, thoát vòng tục lụy đem lại sự bình an ngay kiếp sống hiện tại, không còn bị lệ thuộc vào bất cứ một thành kiến nào, thì ít nhất ta phải có cách biết hết những chỗ hiểm yếu của nó. Do đó ta có thể chia vọng tâm ra làm 4 phần như sau:

1. PHẦN HIỆN TẠI:
 
Phần này ta có thể khống chế được, thí dụ bắt nó niệm Phật chẳng hạn. Nên cũng có khi người ta gọi là trí óc hay ý thức.

2. PHẦN NHÓM CHỨA
 
Vì do sự nhóm chữa của lũy kiếp muôn đời cộng lại nên gọi là “Tâm nhóm chứa”. Vì nó có khả năng tự động để thúc đẩy chúng sinh sa vào con đường ngoài ý muốn, nên gọi là NGHIỆP NHÓM CHỨA HAY NGHIỆP LỰC

3. PHẦN VỪA BIẾT CÓ THẤY BIẾT:
 
Phần này còn có tên là “Căn bản vô minh”. Vì phần này chính là phần dựng đứng cái TÔI trong khi mới vừa cục cựa nứt mắt, do sáng tối, nóng lạnh động tĩnh đánh thức ngay từ kiếp đầu tiên. Tất cả tâm lý nhị nguyên sau này đều lấy đây làm nền tảng.

4. PHẦN HỖN ĐỘN VÔ KÝ:
 
Vì là phần chưa phân rõ là khoáng, động hay thực, hãy còn nằm trong thế hôn me chưa sống động, chưa hẳn là có biết, của kiếp hóa sanh nguyên thỉ và làm nền tảng cho tánh hôn mê mờ mịt sau này, mà nhà Phật thường gọi là tánh vô ký. Chính nó là một cụm mây ở gần mặt trời nhất, mỏng nhất, mà lại che khuất nổi mặt trời. Cho nên đây cũng là cửa ải cuối cùng của tận đáy tâm hồn của chúng sinh vậy.
 
Thông qua 4 phần vọng tâm này, ta thấy phần hiện tại qúa yếu đuối, bé bỏng, ngắn ngủi, còn 3 phần đã qua lại dài lê thê vĩ đại và quá nặng nề, bảo sao phần hiện tại không đủ sức điều động nổi phần quá khứ?! Đây cũng là thế tất nhiên. Nếu giàu tưởng tượng một chút ta có thể tưởng tượng biến guồng máy vọng tâm này ra thành một tập đoàn áp tải của một đảng cướp do 3 anh em ruột điều động mà anh thứ ba là “phần hiện tại” điều khiển chiếc tàu đầu tiên.

Đó là phần thứ nhất. Và móc nối theo phần thứ hai là một đoàn ghe, chài dài giăng giẳng chở đầy nhóc khẩm ứ những tang vật đánh cướp, cộng thêm một mớ lâu la thâu phục được ở dọc đường, đang lầm lì gắng hết sức nhắm hướng biển khơi mà đi tới. Tiếp theo phần thứ ba và thứ tư là hai con tàu nhỏ hậu tập do anh thứ hai (phần vừa biết có biết thấy) và anh cả (phần hỗn độn vô ký) điều khiển.

Mới trông qua hình như quyền điều động ở đằng đầu, nhưng không ai ngờ sự thực lại không phải thế. Nếu anh ba có thế lực mạnh thì quyền lãnh đạo bị anh ba chi phối. Nhưng nếu anh ba thế lực yếu thì quyền điều động lại thuộc về anh hai và anh cả. Cho nên dù ngài là người thuộc lãnh vực tôn giáo nào, giai cấp nào, địa vị nào, quyền thế nào, tài năng nào, hay ngài có thể đi vào lửa, vào nước, lên cung trăng, lên hỏa tinh, thiên biến vạn hóa như Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký chăng nữa cũng không vì thế mà sự thể có đổi khác. Nếu ngài không giải tán được tập đoàn này thì cuộc sống của ngài dù có tột bậc đến đâu cũng không vì thế mà được yên vui bảo đảm.
 
Nếu tập đoàn này chưa được quét sạch, dù ngài có khả năng kiến thiết cả một nước cực lạc hay thiên đàng, thì nước cực lạc hay thiên đàng ấy chẳng qua cũng là thứ kiến thiết dựa lưng vào làn mây hỗn độn vô ký thuộc phần anh cả cai quản mà thôi vậy.
 
Nếu muốn kiến thiết lại con người, làm lại cuộc đời, xây dựng lại cuộc sống, đem lại hạnh phúc cho chính mình cũng như cho người khác, xây dựng lại yên vui vĩnh cửu mà bỏ qua tập đoàn này không nghĩ cách giải quyết dứt khoát, thì hình thức tôn giáo càng xây dựng đẹp đẽ bao nhiêu càng chỉ là một thứ thuốc an thần, một cơ quan đầu tư lợi dụng lẫn nhau một cách hấp dẫn, rồi cuối cùng sẽ làm giàu và tăng cường thêm sức mạnh cho tập đoàn cướp bóc này chớ không thể khác.

Hơn nữa nếu tập đoàn này vẫn còn nguyên, dù chúng ta được Phật hay Chúa … rước về cho ở chung, hay sờ đầu làm phép lạ chi chi … cũng không vì thế mà cuộc sống trở nên mới mẻ. Mà giả sử có giải tán hết tập đoàn này đi chăng nữa nhưng tất cả tàu bè ghe cộ nếu còn nguyên thì chắc chi không có kẻ khác nhảy vào lợi dụng đạo đức giả để nối tiếp! Thế là cái thuộc về TÔI đã hết nhưng cái TÔI vẫn còn nguyên, rồi sẽ đâu hoàn đấy! Đây là điều không thể xem thường.
 
TÁNH” thế nào là tánh? Làm sao biết chắc có cái gọi là TÁNH? 
 
Từ xưa đến nay, điểm này không mấy ai chịu nói trắng ra vì sợ tài bồi thêm cho sự nghiệp của những kẻ đầu tư kiến thức. Tuy nhiên không phải vì thế mà không có tiêu chuẩn ấn định để ai muốn nói sao thì nói.
 
Ngũ Tổ nói: “Bổn tánh nếu bỏ quên thì phúc nào cứu được” thế là bổn tánh là cái mà mỗi chúng sinh đều cần phải biết chớ phải đâu là cái không thể biết!
 
Khi Lục Tổ Huệ Năng trực nhận được bổn tánh này có nói: 

 “Không dè bổn tánh của mình vốn tự thanh tịnh.
 Không dè bổn tánh vốn không sanh không diệt.
 Không dè bổn tánh vốn không lay động.
 Không dè bổn tánh vốn có khả năng sinh ra vạn pháp.
 Không dè vạn pháp vốn không lìa tự tánh.”
 
Thế là Lục Tổ Huệ Năng đã nói toạc ra rằng bổn tánh là không hình tướng, là suốt khắp, là không có trong và ngoài – nên không có sanh diệt, không có chuyện không thanh tịnh hay thanh tịnh. Nhưng chính nó là nền tảng để hóa sinh ra vạn hữu. Vạn hữu không thể lìa nó mà tồn tại, con người không thể lìa nó mà có sự sống; theo đây ta có thể nói thêm nếu không có nó thì vạn hữu còn không có làm sao có con người để có thấy có nghe, có hay có biết, cho đến làm sao có phi thuyền vượt không gian, vô tuyến truyền thanh truyền hình … thậm chí những chuyện hết sức tre con nhỏ nhít như bói toán cũng không có được. 
 
Vì thế không có một mảy may nào ngoài nó và không phải nó. Giả sử có người hỏi có cách nào chỉ thẳng cho thấy ngay lập tức tánh này được không? Lục Tổ hỏi Huệ Minh: “Ngay khi chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác chính hồi đó cái gì là bổn tánh của thượng tọa?” Đấy chỉ thẳng là thế! Nếu không tiếp nhận ngay thì hãy đợi đến bao giờ quét sạch đám thảo khấusự nghiệp bất chánh dài dòng thêm là ta đã quy y theo bọn tri giải của triết học ngoại quan rồi đó!
 
Vì nó vốn đã không bớt không thêm, không dơ không sạch, không sanh không diệt, không phải có, không phải không, muôn thuở vốn thường hằng. Tất cả vạn vật đều có thể hư hoại, nó vẫn y nguyên. Như thế đâu cần chúng ta mó tay vào xoay xở sửa đổi nó chứ! Thế thì, nếu ta lỡ dại dột, dốt nát mó tay vào, không những không tốt đẹp gì hơn mà là gây nên phản ứng tạo thành sứt mẻ. Cho nên thiền sư Đạm Hư trong bài thơ chứng đạo có câu:

 “Thiên nhiên đại nghiệp tối kỵ trang hoàng,
 Hữu ý cầu toàn phản trí tổn thương”.

Như thế đủ biết tánh này hoàn toàn không chấp nhận điều kiện sửa đổi, mà chỉ cần tự chứng tự biết.
 
Có người hỏi: “Như thế bổn tánh đã là của chung của vạn loại của bao la của pháp giới, nhưng sao lại là tự tánh?”
 
Trong vạn vật, khoáng và thực thuộc loại vô tình, nhìn không thấy nó cục cựa. Còn hữu tình thì sanh ra không một lượt, chết đi cũng không một lượt, trình độ cũng không như nhau, duyên cấu tạo ra chính nó cũng khác nhau nốt. Vì thế nên bổn tánh tuy là của chung của vạn loại, kho tàng này không thiếu một mảy may gì, và chúng sanh nào cũng đều có khả năng tự động để thọ dụng bổn tánh này.

Nhưng chỉ vì duyên cấu tạo không như nhau, trình độ không như nhau, nên sự thọ dụng cũng theo đó mà khác. Nên tuy chung mà riêng, tuy riêng mà chung vậy! Nhìn qua bản đồ hệ thống mạng mạch của mỗi chúng sinh cũng như mỗi con người, ta thấy phần thân không phải là chánh phạm, phần tánh vốn vô can, phần tâm mới là thủ phạm. Đành rằng thân với tâm cũng là tánh, nhưng khi tâm mê đắm chấp tướng “thân” nên đuổi theo đà hướng ngoại, dong duỗi theo vật chất sáu trần, làm cho tuy vốn từ tánh nhưng đã biến dạng biến chất trở thành vật chất chướng ngại cho cuộc sống yên vui.

Nếu có phương pháp kỹ thuật nào xoay chiều cho tâm này trở về với bổn tánh theo chiều hướng nội, thì chúng nó đều trở lại chánh thường và thành yên vui giải thoát, chớ không có nghĩa thủ tiêu cho mất tích chúng sinh, mà tạo một ông Phật nào khác! Tuy vậy, khi tâm mê hướng ngoại không những làm cho guồng máy tâm thức mâu thuẫn lộn mèo, mà còn tạo thêm liên lụy đến xác thân, đến xã hội nữa là khác. Cho nên tất cả những bệnh tật nội thương nặng nề nguy hiểm, nan y bất trị, đều mắc liền từ tâm thức rối rắm lộn mèo mà ra cả. Kinh dịch có nói:

 “Cơ mầu dấy động, họa phúc liền sanh”.
 
Nội kinh nói: “Điềm đạm rỗng rang bịnh nào phát khởi”.
 
Người xưa nói: “Càng thông minh càng u tối, càng tính toán càng hụt hao” là một bản án kê khai tội trạng cho sự nghiệp trí thức vọng tâm hướng ngoại của chúng sanh, và để đánh giá cho tác dụng vô niệm vô ngã vậy!”.

 
Nhắm vào mục đích thiết thực dễ hiểu, ta có thể dùng ngôn ngữ tạm chia mạng mạch của mỗi con người ra làm ba phần. Nếu theo thứ tự từ dễ đến khó thấy mà nói thì THÂN rồi TÂM và TÁNH.
 
Vì sao mà nói là tạm chia? Vì trông qua hình như ba, nhưng nhìn kỹ kỳ thực không phải ba, cũng không phải một. Vì không thân và tâm thì không lấy đâu để biết tánh, không tánh không lấy đâu có thân và tâm. Vì Tánh là thể, Thân là tướng, còn Tâm là phần biểu hiện diệu dụng linh tri của tánh mà thôi. Giờ đây ta hãy xét qua đại khái từng phần để biết rõ chỗ nào là căn cội bịnh tâm của chúng sinh
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 13399)
Phật là hoa sen, hoa sen là Phật. Khi Ngài sinh ra bước đi trên bảy đóa hoa senhình ảnh biểu đạt con đường đi đến thăng chứng qua bảy giai trình tu tập...
(Xem: 11709)
Cái biết sáng ngời hay Phật tánh, Chân tâm, Tánh giác… thật ra không có tên gọi, không thể dùng lời diễn tả, không thể tưởng tượng suy lường.
(Xem: 11206)
Ngài chào đời như ánh bình minh rực rỡ, như đoá đàm ưu bừng nở, gió nhạc êm đềm, chim hót líu lo, núi Tu di cúi đầu đón mừng bậc Thầy nhân thiên ba cõi.
(Xem: 11934)
Ngày Phật Đản hay ngày Giáng sanh của Đức Phật, tiếng Pali gọi là Vesak. Vesak là tên của một tháng, thường trùng vào tháng năm dương lịch.
(Xem: 10244)
Ngày Phật Ðản tin về mùa kỷ niệm Rộn ràng lên người con Phật năm châu Nghe niềm vui mang sắc thái nhiệm màu
(Xem: 29240)
Phật Đản người ơi Phật Đản về Cho lòng nhân loại bớt tái tê Chiến tranh thù hận mau chấm dứt Từ bi tỏa sáng khắp lối về.
(Xem: 11955)
giờ phút linh thiêng gió lặng chim ngừng trái đất rung động bảy lần khi bất diệt đi ngang dòng sinh diệt...
(Xem: 11939)
Ngài từ bi quán sát thương tưởng đến tất cả chúng sanh, bằng mọi phương tiện không phân biệt giai cấp, đem giáo pháp giải thoát tưới tẩm cho bất cứ ai cần đến.
(Xem: 10952)
Phật nói: “Hạnh phúc thay chánh pháp cao minh” tức là sau khi sinh ra ngài đã tìm được con đường tận diệt khổ đau trong cuộc đời này...
(Xem: 19620)
Hãy nói về những việc khác thường phải hiểu đối với Giáo Pháp Thời Luân. Thiết lập nó như một mạn đà la Vô Thượng Du Già, trình bày những đặc trưng đặc biệt của nó.
(Xem: 7331)
Thiết lập nó như một mạn đà la Vô Thượng Du Già, trình bày những đặc trưng đặc biệt của nó. Rồi thì, hãy giải thích cách thức mà Giáo Pháp Thời Luân hoạt động.
(Xem: 11369)
Tục lệ Lễ hội Liên hoa đăng (Lotus Lantern Festival) ở Hàn quốc có nguồn gốc rất lâu đời, có lẽ từ thời vương quốc Silla thống nhất Triều tiên ở thế kỷ thứ 7.
(Xem: 35309)
Cuốn sách này giới thiệu với độc giả cách thọ trì đúng đắn thiền Samatha-Vipassanā (Định-Tuệ) như đã được Đức Phật giảng dạy, tu tập chánh định và thấu suốt vào các pháp chân đế...
(Xem: 12862)
Trời cuối đông xao xác lá me rơi Đôi mắt biếc đong đầy nỗi nhớ Bờ mi lạnh...
(Xem: 12214)
Hoa cải vàng trước ngõ Lóng lánh giọt sương đêm Nắng mai lùa trong gió Rung rinh những đọt mềm.
(Xem: 17344)
Chắc chắn Đức Phật đã thiết lập nhiều quy luật đạo đứcthiền quán. Những điều này hỗ trợ cho ân cần tử tế, từ bi, bao dung, yêu thương, tế nhị cũng như tuệ trí, tập trung, và can đảm.
(Xem: 11476)
Đạo Phật khơi mở để giúp con người thấy được “Đạo” đang có sẵn trong chính lòng mình. Trần Kiêm Đoàn
(Xem: 22106)
Trong một số phương diện quan trọng, tiểu sử của Milarepa giống cuộc đời của đức Phật, mười hai biến cố chính của đời đức Phật tương đương với mười hai chương của cuộc đời Milarepa.
(Xem: 11826)
Mái tranh nghèo của mẹ vẫn còn khói bếp. Mái bếp qua bao mùa mưa nắng vẫn tần tảo một mầu buồn in hằn năm tháng.
(Xem: 15919)
Hàng năm, cứ tháng Tư về là mỗi độ sen hồng lung linh sắc màu được tích tụ sâu trong lòng đất Việt. Một loài hoa có hương thơm nhẹ nhàng tinh khiết...
(Xem: 12126)
Mít đã học thuộc làu làu câu ca dao từ thuở lên năm, nhưng phải đợi đến hơn bốn mươi tuổi, thực sự nuôi con, thực sự lo lắng đau khổ vì con...
(Xem: 14108)
Đối với người Việt Nam chúng ta, bà mẹ nào cũng là suối nguồn của tình thương, bao dung chở che con cháu như trời cao biển rộng...
(Xem: 12606)
Sự tích Phật đản sanh có một chi tiết rất bình thường mà cũng rất khác thường. Đó là đức Phật đã giáng sinh dưới gốc cây vô ưu.
(Xem: 13223)
Kinh Phổ diệu là một bộ kinh có nội dung đồ sộ, mô tả cuộc đời đức Phật với những thần thông biến hóa, là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của kinh điển Đại thừa...
(Xem: 13655)
Vu Lan không những là lễ hội của đạo hiếu mà còn là cơ hội để Phật tử tôn vinh trái tim của người Mẹ, từ đó tưới tẩm cho hạt giống tình thương nẩy mầm...
(Xem: 19995)
Cuộc sống vốn là sự hỗ tương giữa con người với thiên nhiên. Từ ngàn xưa, con người đã cảm nhận được sự cần thiết của cỏ, cây, hoa, lá theo thời gian.
(Xem: 14411)
Mùa xuân thế gian thì đến rồi đi, nở rồi tàn, còn mùa xuân tâm linh không dễ dàng chảy trôi theo định luật tự nhiên của vạn hữu.
(Xem: 13546)
Rước một cành lộc xuân Bao niềm vui hớn hở Theo mẹ đi lễ chùa Một bài thơ vừa nở
(Xem: 12344)
Hàng năm cứ vào mỗi độ tháng tư âm lịchhoa sen bắt đầu nở. Hoa sen nở báo hiệu mùa Phật Ðản trở về như để đón mừng Ðức Thế Tôn ra đời.
(Xem: 11902)
Từ ngàn năm trước cho đến tận ngàn sau, sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật vẫn vang dội mãi trong tâm thức đi về của Đạo Phật Việt, như một năng lực cứu độ nhiệm mầu cho chúng sanh...
(Xem: 34727)
Ðức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tônthương xót tất cả chúng-sanh mà hiện ra nơi đời ác-trược, với bốn mươi chín năm thuyết pháp, mục đích mở bày và chỉ rõ Tri-Kiến Phật...
(Xem: 13410)
Trở về quê có nghĩa là quay về với khung cảnh chứa đựng nhiều hình ảnh thuộc về kỷ niệm, những kỷ niệm ấu thơ, hồn nhiên, vô tư và vô lo.
(Xem: 13732)
Có lẽ tuổi ấu thơ vô tư vô lự, là độ tuổi đẹp nhất đời người. Vì thế, người xưa đã ưu ái dành tên gọi mùa xuân để chỉ thị độ tuổi ấy.
(Xem: 31980)
Những phương pháp và lời hướng dẫn mà Đức Phật đã đề ra giúp chúng ta có thể từng bước tiến đến một sự giác ngộ sâu xa và vượt bậc, và đó cũng là kinh nghiệm tự chúng Giác Ngộ của Đức Phật.
(Xem: 13208)
Càng xa cách càng nhớ nhung, càng cần thiết một khung cảnh quen thuộc để an ủi tâm hồn. Một ngôi chùa, một tinh xá, thiền viện để ngày cuối tuần trở về.
(Xem: 13069)
Một thiền sư Ni đời Đường bút hiệu Mai Hoa Ni viết một bài thơ. Sư nói mình đi tìm xuân, lội khắp đầu non, giày cỏ vương mây khắp chốn.
(Xem: 13427)
Dàn trải nét hân hoan tươi mới khắp tận núi khe sông hồ, đâu đâu cũng thấy một màu xuân. Nếu để lòng buồn vui theo cảnh, đó gọi là khách của mùa Xuân...
(Xem: 13313)
Mỗi người hái một lộc xuân Vô tình vùi dập bao mầm cây xanh Người ơi sao nỡ đoạn đành Bẻ đi một nhánh tươi xanh cuộc đời
(Xem: 18045)
Trong đạo Phật, hiếu hạnh được xem là đứng đầu trong tất cả các đức hạnh. Điều này đã được đức Phật chỉ dạy trong rất nhiều kinh điển.
(Xem: 14930)
Tôi gặp cành mai ấy lần đầu, khi trời Tây còn ủ dột trong sương mù và mưa tuyết. Thời ấy nói tiếng Đức chưa rành, còn lớ ngớ chưa biết đâu là đâu, chỉ biết lạnh.
(Xem: 15733)
Mùa xuân, hơi lạnh cứ se se khiến không gian ở đâu cũng trở nên dễ chịu, thoáng đãng. Có lẽ vậy mà lòng người bỗng nhẹ nhàng thư thái hơn chăng?
(Xem: 14872)
Với tôi, hình như mùa xuân ở mỗi nơi thì mỗi khác. Và, mùa xuân ở nơi cổng chùa dường như thanh giản, nhẹ nhàng, đáng quý và đáng sống hơn...
(Xem: 15850)
Lòng tốt gõ cửa trái tim Lòng ta ngập tràn an lạc Lòng tốt gõ cửa mùa xuân...
(Xem: 20780)
Vườn thiền trầm lặng xuyết hoa vân Mây nước thanh thanh vẽ tuyệt ngần Hương thoảng lối thơ, vờn thủy mặc...
(Xem: 21307)
mẹ bồng con bên sông đăm đăm nhìn nước bạc thương con cá lạc dòng quảy lộn bến bờ xa...
(Xem: 35133)
Thiền học Trung Hoa khởi đầu từ Bồ-đề Đạt-ma, vị tổ sư đã khai mở pháp môn “truyền riêng ngoài giáo điển, chẳng lập thành văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”.
(Xem: 27535)
Tám mươi tư vị đại sư trong tác phẩm này là những vị tổ sư của phái Đại thủ ấn truyền thống, sống trong thời kỳ từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 12.
(Xem: 43931)
Đại Sư tên Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sanh ra Sư nhằm giờ Tý, ngày mùng tám, tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12.
(Xem: 37905)
Đối với người chết, không có gì quý báu hơn là tình cảm chân thật thành kính dành cho họ, và những lời nhắn nhủ khi họ đã trở nên bơ vơ một mình.
(Xem: 15137)
Một tia sáng bừng lên như ngôi sao năm cánh trong tim anh, tim chị, tim em và trong cả tim tôi...
(Xem: 15075)
Một thân Thái tử… vào đời, Rời Đâu-suất hóa hiện người trần gian Mượn cung điện ngọc huy hoàng...
(Xem: 12974)
Mặt trời sắp lặn sau núi, chỉ còn sót lại ánh sáng hanh vàng cuối ngày nhợt nhạt, bà Sâm vẫn còn ngồi trên manh chiếu được trải ở góc hè của một ngôi nhà hoang vắng chủ.
(Xem: 12645)
Suốt cả hai ngày nay, lão xích lô không chạy được cuốc nào. Lão nằm tréo chân trên chiếc xích lô, miệng phì phèo điếu thuốc, lòng buồn bã vô cùng.
(Xem: 15615)
Trong kinh Tăng Chi I, đức Phật dạy rằng: “Đối với bậc chân nhân, thiện nhân, hai đặc tính này sẽ được biết đến, đó là biết ơnđền ơn đúng pháp.”
(Xem: 27699)
Mặc dù đã có không ít những lời khuyên dạy về lòng hiếu thảo từ các bậc thánh hiền xưa nay, nhưng những nội dung này có vẻ như chẳng bao giờ là thừa cả.
(Xem: 14962)
Nắng ấm lên rồi xuân đã sang Đất trời lồng lộng gió thênh thang Em vui xuân mới lòng như hội...
(Xem: 11413)
Buổi sáng, khi những đứa trẻ lên xe bus đến trường, người mẹ cũng vội vàng ra xe đến sở làm. Sau đó không lâu, có ba người khách tuần tự đến dù không bao giờ hẹn.
(Xem: 53182)
Thiền như một dòng suối mát, mà mỗi chúng ta đều là những người đang mang trong mình cơn khát cháy bỏng tự ngàn đời.
(Xem: 16523)
chẳng phải là bài thơ hẹn ước chẳng phải là ý tưởng vẽ vờimùa xuân năm nay lại như cánh gió hân hoan đi về...
(Xem: 13167)
con tìm thấy… một loài hoa chợt nở trong sương đặt tên cho mẹ là hoa nhân ái
(Xem: 20696)
Phật giáo luôn xem vấn đề sống chết là điều quan trọng nhất cần phải được nhận hiểu một cách thấu đáo. Đây là điểm tương đồng giữa tất cả các tông phái khác nhau trong Phật giáo.
(Xem: 12613)
Cứ mỗi độ Xuân sắp về, anh em huynh đệ chúng tôi phần đông đi học xa hay làm việc khắp nơi đều trở về thăm chùa tổ, chúc thọ Hòa thượng Bổn sư.
(Xem: 15585)
Bóng ai thả bước qua cầu Long lanh tà áo một màu chứa chan...
(Xem: 15496)
Áo bạc trăng vàng soi mênh mông Hoa bay gió thoảng chở ý xuân Thiền nhân lững thững con đường dốc...
(Xem: 14758)
Vòng xe xuống phố với người Em trôi trong nắng rạng ngời mong manh Nụ cười mây trắng trời xanh...
(Xem: 15614)
Nhẹ nhàng buông thả tứ thiền thi Mai nở vàng sân đúng hẹn kỳ Chim hót trời xanh lừng nhã nhạc...
(Xem: 13037)
Về mặt lý thuyết, khi tổ chức ngày lễ, thì phải tìm cách cho nó càng khác với ngày thường càng hay, tranh ảnh, màu sắc đóng góp vào điều đó.
(Xem: 11764)
Gọi nắng xuân về là thắp lên ngọn đèn trí tuệ trong mỗi chúng ta để tự mình thấy được những nguyên nhân đích thực của khổ đau và hạnh phúc.
(Xem: 12300)
Hằng năm, trong khoảng tháng 5 Dương lịch, người con Phật trên khắp hành tinh, hân hoan và trang trọng kính tưởng ngày đức Thích Tôn đản sanh nơi thế giới Ta-bà.
(Xem: 12584)
Năm hết Tết tới, xin kính mời quí vị và các bạn theo dõi cuộc hội thoại của các huynh trưởng trẻ quen thuộc A,B,C xoay quanh vấn đề mùa Xuân.
(Xem: 13483)
“Ô hay xuân đến bao giờ nhỉ Nghe tiếng hoa khai bỗng giật mình Sáng nay thức dậy choàng thêm áo Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh”
(Xem: 12471)
Mùa xuân, mùa của những chồi xanh thay lá, mùa của ngàn cánh hoa khoe sắc, mùa của hạnh phúc vui tươi luôn trỗi dậy trong lòng mỗi người khi gặp nhau...
(Xem: 24978)
Thuở xưa, khi Đức Phật thuyết giảng cho một vị nào đó, một cư sĩ hay một bậc xuất gia, chỉ với một thời pháp rất ngắn, thậm chí đôi khi chỉ vài câu kệ, mà vị đó, hoặc là đắc pháp nhãn...
(Xem: 11969)
Mùa xuân tuy không có pháo như truyền thống, nhưng bù lại tiếng vỗ tay của hội chúng cũng gây ấn tượng phần nào chào đón xuân sang.
(Xem: 12740)
Xuân về, rồi Xuân đi. Hôm nay Xuân lại về nữa. Nói đến Xuân, chúng ta liền nghĩ ngay đến mùa đổi mới, hay mùa cuối hoặc mùa đầu tiên của năm.
(Xem: 11620)
Trồng tre vào đầu năm mới để thể hiện tinh thần của người Việt. Và trồng tre trước cửa nhà trong những ngày đầu năm còn để đánh dấu những ngày vui, ngày hạnh phúc...
(Xem: 13736)
Khói nhang ngày Tết là nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu trong các dịp lễ của Phật giáo, hoặc các dịp chạp giỗ, lễ Tết. Nén nhang như chiếc cầu nối thiêng liêng...
(Xem: 14101)
Trên thế giới có tất cả 24 loài mai thuộc họ mai, tức là chi họ Ochna (Ochnaceae) khác với loài mai mơ gần giống như hoa đào.
(Xem: 12916)
Mùa xuân là tặng phẩm của đất trời, bởi khi mùa xuân tới cây cỏ đơm hoa, mọi loài sinh sôi nẩy nở. Và mùa xuân cũng là tặng phẩm của lòng người...
(Xem: 12745)
Muốn giải thoát sanh tử, chúng ta cần phải biết gốc của sanh tử là gì? Theo pháp Mười hai nhân duyên, Phật dạy gốc của sanh tửVô minh.
(Xem: 13011)
Bốn mùa đã không thì làm gì có mùa Xuân, mùa Hạ. Thế mà nói ngày Xuân, tháng Xuân, mùa Xuân là nhằm trong cửa phương tiện tương đối luận bàn.
(Xem: 13912)
Đỉnh núi Thái sơn cao Mơ hồ con tưởng tượng Hay biết tình cha đâu Người đi, con lên bốn!
(Xem: 12991)
Xuân là sức sống trong ta, Bình an thuở trước mượt mà thuở sau. Mặc cho đời có bể dâu...
(Xem: 13611)
Trao nhau lời chúc thân thương Nghe niềm xuân trải xanh đường cỏ non Tình thương hơi thở thon von Nối vòng tay giáp vòng tròn từ tâm.
(Xem: 12445)
Theo tư tưởng Phật giáo phát triển, đức Phật Di Lặc xuất hiện ra đời vào ngày mới đầu năm – ngày Mùng Một Tết, đặc biệt là giờ phút giao thừa an lạc, linh thiêngvui vẻ.
(Xem: 14432)
Nắng đi từng bước thắm hồng Tình xuân lai láng đầy long cỏ cây Dịu dàng những cánh hoa may...
(Xem: 13293)
Mùa xuân ta có mặt nhau dù nhìn nhau kỹ trước sau đã từng; Bụi đời mòn mỏi đôi chân...
(Xem: 13760)
Nồi bánh cuộn long sùng sục Lửa đun lâu lâu lại cười Tuổi già lòng như ngày trẻ Cời than ngồi chờ đêm vơi
(Xem: 14628)
Ngày tháng qua nhanh Như điếu thuốc cháy nóng ngón tay Nhìn xuống Hoàng hôn...
(Xem: 11859)
Sau mùa tuyết lạnh ở xứ sở Phù tang, người ta bảo mùa đẹp nhất của Nhật bản là mùa này, khi cái nắng nhè nhẹ đưa hơi xuân về...
(Xem: 12725)
Dù đi đâu, ở phương trời nào hay bản lai thế giới nào thì chất xuân vẫn một màu uyên nguyên tròn đầy. Vì bản chất của xuân là trong ngần...
(Xem: 28286)
Sớm mai dậy nâng chén trà tỉnh thức Ngắm bình minh thắp nắng đẹp trong vườn Chim tung cánh hót vang lời hạnh phúc...
(Xem: 11782)
Tôi có quan niệm, dịch không phải để cho mình đọc mà để cho mọi người đọc. Vì vậy nên khi dịch, tránh dùng văn tự cầu kỳ, bóng bẩy làm người đọc tụng khó hiểu.
(Xem: 12644)
Ngữ tình vương vấn. Tâm cảnh xao động. Mối tương dữ sâu sắc giữa thiên nhân trong lần Kim Trọng trở lại vườn Thúy tìm Kiều.
(Xem: 15059)
Thiền sư Linh Vân thấy hình tượng kiếm khách để ký thác bản tâm giác ngộ rất hấp dẫnnổi bật, dễ gây cảm xúc hùng mạnh. Bản tâm giác ngộ cũng oai hùng cao cả...
(Xem: 12007)
Mai là một loài hoa đặc biệt chỉ khoe sắc thắm khi tiết trời quang đãng và ấm áp. Vì thế, nó được dân tộc Việt nam yêu quí như một người bạn thân thiết...
(Xem: 11770)
Bài thơ xuân trong cửa thiền được nhiều người biết đến nhất, có thể nói là bài "Cáo tật thị chúng" của Mãn Giác, một thiền sư Việt Nam thế kỷ thứ XI...
(Xem: 12860)
Vua Trần Nhân Tông là một minh quân đời thứ 3 triều Trần. Từ lúc còn là Thái Tử, Ngài đã được vua cha cho học Thiền cùng Tuệ Trung Thượng Sĩ...
(Xem: 11985)
Nhân nói về mùa Xuân Di-lặc và vị Phật tương lai – Ngài Bồ-tát Di-lặc, có lẽ cũng cần tìm hiểu thêm về một vị Di-lặc khác: Luận sư Di-lặc, thầy của Luận sư Vô Trước.
(Xem: 11521)
Mùa xuân tự tínmùa xuân tự tin rằng, chính bản thân mình có khả năng tiếp nhận những cái không phải là mình, để tinh lọc và tạo ra được sức sống cho chính mình...
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant