Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,021,171
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Nhật Bản: Những Ngôi Chùa Cổ Tích

03 Tháng Năm 201815:15(Xem: 536)
Nhật Bản: Những Ngôi Chùa Cổ Tích

Nhật Bản: Những Ngôi Chùa Cổ Tích

Nguyên Giác

Đất nước Nhật Bản đẹp hơn những gì chúng ta có thể nghĩ tới, nhớ tới, hình dung tới. Đó là những gì tôi cảm nhận trong chuyến đi 10 ngày -- nơi đó được hướng dẫn đi thăm sáu ngôi chùa Phật giáo nổi tiếng và bốn ngôi đền Thần đạo, hầu hết đã vào danh sách Di Sản Văn Hóa Thế Giới UNESCO. Những kiểng chùa đẹp như cổ tích, như phim ảnh, với rất nhiều màu sắc của một mùa hoa anh đào nở. Cảnh vườn đẹp, hồ đẹp, kiểng chùa đẹp, hoa và vườn tre trồng đều rất nghệ thuật.

Ký ức của tôi về Nhật Bản thời thơ ấu tới giờ là những trang thơ Thiền, nơi đó tôi làm quen với quý ngài Dogen, Basho qua ngôn ngữ thi ca. Điểm kỳ lạ: Thiền Tông và thi  ca rất là gần nhau. Cũng như Đức Phật trong những năm đầu thuyết pháp, trong những bản kinh xưa cổ nhất, khi kinh chưa có nhóm chữ khởi đầu “Như vầy tôi nghe” của Ngài Anan, gần như hoàn toàn là thơ, như Kinh Tập, như Kinh Pháp Cú. Có vẻ như, về sau, khi phải nói dài dòng, và khi đã có Ngài Anan vào, Đức Phật mới ít dùng thi ca. Tôi không hiểu vì sao tất cả những chuyện như thế. 

Trong tâm trí tôi hình dung về một đất nước Nhật Bản là những dòng thơ Thiền rất mực thơ mộng và kiệm lời. Và nêu lên được cái nhìn về thực tướng vô thường, vô ngã.

Thí dụ, thơ của Ryokan (1758-1831):

Gió đã lặng, hoa đã rơi;

Chim hót, núi sẫm màu rồi 

Đây là sức mạnh tuyệt vời của Đạo Phật.

 

Hay thơ của Basho (1644-1694):

Không có gì trong tiếng kêu 

của ve sầu cho thấy

chúng sắp từ trần.

 

Hay thơ của Ikkyu (1394–1481):

Có một chút ngưng khoảnh khắc

Nếu trời mưa, hãy mặc trời mưa

Nếu gió thổi, hãy để gió thổi.

 

Tuy nhiên, vào chùa, muốn tới gần chánh điện là phải mua vé, và không được gặp một nhà sư Nhật Bản nào. Bởi vì, tu viện không đặt ở nơi đông du khách. Vấn đề là, đẹp thì có đẹp, nhưng cái đẹp đầy màu sắc được nhìn thấy không giống như những gì người học Phật thường nghĩ về một Phật giáo Nhật Bản, nơi có nhiều dòng Thiền nổi tiếng đã truyền sang phương Tây và Hoa Kỳ.

 

Một điểm nhận ra rằng, các ngôi chùa nổi tiếng của Nhật Bản đã trở thành những trung tâm du lịch, thu hút du khách tới đông tới chen chúc, và chung quanh chùa, những con đường ven núi đầy các hàng quán, xe cộ -- nghĩa là, một ngôi chùa như thế sẽ nuôi sống được cả một thị trấn dưới chân núi. Cái đẹp này không còn là cái đẹp trên những dòng thi ca.

Ngay cả khi tôi tới thăm Chùa Thiên Long Tự, tổ đình Lâm Tế Tông Nhật Bản, ấn tượng lưu giữ trong ký ức là một tấm bảng giải thích nơi cổng vào, một tấm tranh khổng lồ hình Ngài Bồ Đề Đạt Ma, những vườn hoa phía sau chùa, nơi ven núi và một lối đi trong rừng tre phía sau. Nơi đây, hễ vào chánh điện là phải mua vé. Không có hình ảnh một nhà sư chống gậy nhìn tuyết hay ngó trăng… như trong thơ. 

Chuyện không thơ tí nào: Rất nhiều nhà sư Nhật Bản hiện nay được phép lấy vợ, uống rượu. Tuy vẫn còn một số tu viện và các tăng ni tu theo truyền thống nghiêm ngặt, nhưng không có thống kê nào có thể dựa vào chính xác về số lượng tu sĩ truyền thống. Những gì chúng ta đọc ngày xưa, không còn chính xác về Phật giáo Nhật Bản, chỉ trừ hình ảnh các ngôi chùa đẹp y hệt cổ tích.

Một lý luận nêu ra từ các vị sư Nhật Bản sống như kiểu – không gọi được là tu sĩ, không gọi được là cư sĩ – vì đó là hạnh tu Bồ Tát.

Một bài thơ nổi tiếng của một nhà sư Nhật Bản làm khoảng năm 1980 được in lại trong hai tác phẩm:

--- “Religion in Japan: Unity and Diversity” của tác giả H. Byron Earhart, nơi trang 269, và sách

--- “Japanese Temple Buddhism: Worldliness in a Religion of Renunciation” của tác giả Stephen Grover Covell, nơi trang 62-63, trích dịch như sau:

Tôi là một tăng sĩ

Mặc pháp phục, tay trái tôi cầm xâu chuỗi, tôi đi xe đạp

Tôi đi từ từng nhà Phật tử trong khu vực và tụng kinh.

Tôi là một tăng sĩ

Tôi có một vợ, tôi có một con

Tôi uống rượu sake, tôi ăn thịt

Tôi ăn cá, tôi nói dối

Dù vậy, tôi là tăng sĩ…

… Tôi đi trên đường của Bồ tát.

Nghĩa là, hoàn toàn không giống gì với thơ Thiền ngày xưa của Nhật Bản. Không phải các sư không biết kinh điển. Nên nhớ rằng, Nhật Bản có nền văn minh kỹ thuật đã phát triển hơn Việt Nam tới một thế kỷ rưỡi. Và cái giá bây giờ là: Phật Giáo suy tàn. Hay là,  thay đổi trong một cách khó hình dung được. 

Theo báo The Guardian ngày 5 tháng 11/2015, bài viết của phóng viên Justin McCurry từ Chikuma, cho biết rằng chùa Nhật Bản đang đóng cửa hàng loạt: hơn 1/3 ngôi chùa toàn quốc sẽ đóng cửa trong 25 năm tới (cả nước Nhật đang có 77,000 ngôi chùa, 25 năm tới sẽ có 27,000 ngôi chùa đóng cửa). (1)

Cũng nên suy nghĩ rằng, như tại Nhật Bản, các đại học trong hơn 150 năm nay đã cấp cho sinh viên tốt nghiệp các văn bằng Tiến sĩ Phật họcThạc sĩ Phật học đếm không xuể, nhiều như cây rừng. Nhật Bản có khoảng 800 đại học (86 đại học quốc gia, 95 đại học công lập không ở tầm quốc gia, và 597 đại học tư thục), trong đó hơn 30 đại học là của các tông phái Phật giáo(2)

Riêng Dòng Tào Động có 3 đại học: Aichi Gakuin University ở tỉnh Aichi, Komazawa University ở Tokyo và Tohoku Fukushi University ở tỉnh Sendai. Đa số đại học Nhật thành lập từ giữa thế kỷ 19, trong lúc Việt Nam còn đang bị Pháp cai trị tàn bạo. Nghĩa là, kiến thức về Kinh Phật của trí thức Nhật Bản không ngăn nổi làn sóng đóng cửa chùa; có khi kiến thức không chuyển thành sức sống. Nói như thế, để Việt Nam mình học kinh nghiệm: phải đưa Đạo Phật vào đời, phải làm sao cho mọi người có thể sống Chánh Pháp, có thể hít thở Chánh Pháp trong mọi thời.

Nói như thế, không có nghĩa là không có bậc đạo sưNhật Bản. Bởi vì, Trần Nguyên Thắng, Giám đốc ATNT Travels & Tours, người bạn từ thời thơ ấu của tôi và cũng là người giúp tôi đi chuyến Nhật Bản để tìm hiểu về đất nước này (như bạn Thắng nói: “Mình muốn Hải đi, để xem người dân Việt Nam mình phải học một số đức tính và văn hóa nào của người Nhật, vì sao người ta văn minh tiến bộ mà mình không tiến nổi.”), kể rằng Thắng đi du học Nhật Bản từ năm 1970, quen với rất nhiều vị sư Việt Nam sang Nhật du học, trong đó có nhà sư  Trí Hiền rất mực kiên tâm tu trì, nơi một Thiền viện nghiêm khắc nổi tiếng có khi đưa ra các lệnh nghe như vô lý: Thầy Viện Trưởng (người Nhật) có lần bảo vị học tăng từ Việt Nam lấy chổi ra quét tuyết ngoài sân đang khi trời tuyết. Thực tế, làm sao quét cho hết tuyết được, khi mưa tuyết vẫn đang bay? Về sau, Thầy Trí Hiền sang Dallas (Texas), xây ngôi chùa  gần cộng đồng Việt Nam, và bây giờ đã viên tịch (chúng ta sẽ nói thêm chuyện Thầy Trí Hiền và Thiền sau, có lẽ đề tài khác).  

Nhưng, Phật giáo Nhật Bản về số lượng không hưng thịnh nổi được. Không phải vì tôn giáo khác vào lấn áp. Thực tế, Đạo Thiên Chúa chỉ khoảng từ 1% tới 2.5% dân số Nhật Bản, nghĩa là rất ít.

 

Nhiều bản thống kê về tôn giáo Nhật Bản dị biệt nhau. Hai thống kê của chính phủ Mỹ cũng chênh lệch nhau.

Theo thống kê của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ năm 2016, dân số Nhật khoảng 126.7 triệu người (ước tính vào tháng 7/2016). Sở Văn Hóa Nhật Bản ACA nói rằng số lượng thành viên trong các tôn giáo tổng cộng 190 triệu người, tính vào ngày 31/12/2014; có nghĩa là, một số người ghi danh trong nhiều tôn giáo. Thường thường, Phật tử cũng ghi danh là thành viên Thần Đạo. ACA ghi rằng, Nhật Bản có 92 triệu người theo Thần Đạo (48.5%), 87 triệu người theo Phật  Giáo (45.8%) và 1.9 triệu giáo dân Ky Tô (1%) và 8.9% (4.7%) theo các tôn giáo khác (tức là, bao gồm : Hồi Giáo, Bahai, Ấn Độ Giáo, Do Thái Giáo).

Theo Thống Kê của CIA Fact Book, dân số Nhật là 126,451,398 (tính vào tháng 7/2017), trong đó theo Thần Đạo 79.2%, theo Phật Giáo 66.8%, theo Thiên Chúa Giáo 1.5%, các đạo khác là 7.1%.

Có một điểm lạ là, tuy Thiên Chúa Giáo chỉ có 1% dân số Nhật, nhưng giới trẻ kết hôn lại ưa làm lễ trong nhà thờ Thiên Chúa, theo bản tin Kyodo đăng trên báo Japan Times ngày 23/6/2017. (3)

Bản tin có ghi một châm ngôn mới tại Nhật Bản: Sinh ra theo Thần Đạo, sống đời vô thần, cưới nhau theo nghi thức Thiên Chúa Giáo, và chết theo nghi thức Phật Giáo

Nói như thế, không có nghĩa là dân Nhật sống kiểu vô thần. Có thể là giới trẻ bận rộn việc học và đi làm, ít quan tâm về tôn giáo. Tuy nhiên, các ngôi chùa nổi tiếng vẫn đông Phật tử Nhật tới để cầu xin, mỗi mùa thi, hay xin duyên lành tình ái, hay xin cho có  con học giỏi thông minh, hay để xin tai qua nạn khỏi. Đó là lý do, nhang khói vẫn nghi ngút ở nhiều chùa, xin xăm vẫn thường có tại rất nhiều chùa. Nhưng người Nhật xin xăm, gặp xăm may mắn, là đem về nhà; khi gặp lá xăm xui xẻo, là buộc giấy xăm lại chùa, để xin Đức Phật và các vị Bồ Tát gánh chịu giùm các xui xẻo… Cũng lạ, nhưng tín ngưỡng Phật Giáo kết thân với Thần Đạo tại Nhật Bản rất chặt chẽ. Đây là một điểm nên nghiên cứu, và có thể sẽ là đề tài bài sau.

Nơi đây, xin ghi lời cảm ơn bạn Trần Nguyên Thắng (https://www.atnttour.com) đã giúp người viết có một chuyến đi tìm hiểu Nhật Bản tuyệt vời, cho kinh nghiệm sâu sắc và rất nhiều suy nghĩ về những đối chiếu văn hóa giữa hai nước.

Một trong những ngôi chùa người viết quan tâm là các tổ đình Tào ĐộngLâm Tế. Không biết tại sao, nhưng mơ hồ cứ nghĩ là cần tới thăm. Trong tâm còn nghĩ rằng thế nào cũng sẽ có vài bài thơ trấn môn nơi cổng các chùa này, và mình sẽ nhờ anh bạn từng đi d học kia dịch ra tiếng việt để hiểu. Không thuần túy vì mê thơ, nhưng mơ hồ là thế.

Chỉ có cơ duyên tới tổ đình Lâm Tế, ngôi chùa có tên là Tenryū-ji, dịch ra tiếng  Việt là Thiên Long Tự, là ngôi chùa chính yếu của dòng Thiên Long thuộc Lâm Tế Nhật Bản, nằm ở Kyoto. Chùa này do sư Ashikaga Takauji thành lập năm 1339, xây hoàn tất năm 1345. Ngôi chùa này thuộc nhóm Ngũ Đại Danh Sơn của Kyoto. Năm 1994, chùa này được phong là Di Sản Văn Hóa Thế Giới UNESCO.

Một ngôi chùa nổi tiếng khác cũng tại Kyoto là Kinkaku-ji (Kim Các Tự, tức chùa Gác Vàng), khởi lập năm 1397, thuộc Lâm Tế, nhưng phái Shōkoku-ji.

Kiến trúc nguyên thủy xây năm 1397 vốn dùng làm nơi an trí cho vị Shogun có tên Ashikaga Yoshimitsu. Chữ Shogun có nghĩa là một vị Tướng chỉ huy nhiều sứ quân, nắm quyền quân sự thực sự. Con ông cho đổi hành cung làm chùa và thiền viện cho tín đồ Phật giáo phái Lâm Tế. Trong cuộc chiến Onin (1467-1477), chùa bị đốt cháy rụi nhưng rồi được xây lại.

Kinkaku (Gác Vàng) trong khuôn viên chùa chỉ là một trong nhiều công trình kiến trúc ở chùa. Ngôi gác có ba tầng soi bóng xuống ao Kyoko-chi. Vách gác hai tầng trên đều dát vàng lá, ánh lên rực rỡ nên gác mới có tên là Gác Vàng. Cảnh trí gác, ao, vườn và lối đi có tiếng là hài hòa mỹ thuật. 

Nhưng khi tới Kim Các Tự, chỉ được đứng nhìn qua ao. Bởi vì nhiều năm nay, du khách đông quá, chính quyền để bảo tồn đã không cho ai vào ngôi chùa dát vàng này. Bạn Thắng nói rằng, bốn thập niên trước, khi bạn là du học sinh đã được vào đây vì lúc đó du khách được cho vào xem trong chùa.

GHI CHÚ:

(1) The Guardian: https://www.theguardian.com/world/2015/nov/06/zen-no-more-japan-shuns-its-buddhist-traditions-as-temples-close

(2) Danh sách Đại học Phật Giáo Nhật Bản: https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Buddhist_universities_and_colleges

chưa kể Soka University, có chi nhánh ở Quận Cam.

(3) Japan Times: https://www.japantimes.co.jp/news/2017/06/23/national/christian-style-weddings-grow-popular-japan-allure-optics-religion/#.Wul1UojwY2w

 

PHOTO:

 1 xe keo_toi thien Long Tu

H1: Xe kéo cho các du khách đi dọc Độ Giang Kiều tới Thiên Long Tự ở vùng núi Arashiyama, Kyoto.

2 Thien Long TuH2: Nơi vào cổng Thiên Long Tự, bản doanh Lâm Tế Tông.
3 Thien Long Tu

H3: Nhìn vào Thiên Long Tự là tấm tranh Bồ Đề Đạt Ma khổng lồ, muốn vào xem phải mua vé.
4 Kim Cac Tu

H4: Kim Các Tự ở Kyoto.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 12)
Thiền chỉ (samantha) và Thiền quán (vipassana) là hai nội dung lớn trong vấn đề “phát triển của tâm” được đề cập trong Kinh tạng Nikāya.
(Xem: 45)
Ngài Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?” Ngài Nam Tuyền đáp “Tâm bình thường là đạo”, nói theo chữ Hán là “bình thường tâm thị đạo”.
(Xem: 100)
Tuệ quán vô thường sẽ giúp thấy rõ tính chất duyên sinh, vô ngã của vạn pháp. Không có bất cứ cái gì trường cửu, bất biến mà...
(Xem: 154)
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: Này Thiên tử! Nếu có Bồ-tát biết tất cả các sanh mà cũng chẳng sanh, cũng biết tất cả sanh tử của chúng sanh.
(Xem: 156)
Bố thí, cúng dường là hành động làm phước thiện, theo luật nhân quả, nó là điều kiện thiết yếu để ta tiêu trừ đau khổ...
(Xem: 242)
Sau 25 năm, tôi đến lại nước Nga để thăm viếng lần nầy là lần thứ 6. Lần đầu vào năm 1994, nghĩa là mới chỉ sau 3 năm khi Liên bang các nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết bị sụp đổ...
(Xem: 133)
Theo kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, Bồ-tát Quán Thế Âm có 33 ứng hóa thân, từ thân Phật, Độc giác, Bồ-tát…
(Xem: 152)
Đức Phật cũng đã dạy người Kalama qua Kinh Kalama Sutta (AN 3.65), bản dịch của HT Thích Minh Châu viết, trích...
(Xem: 220)
Từ sinh hoạt quốc gia, chính trị đảng phái, cho đến cả tôn giáo (với nhiều tai tiếng chấn động niềm tin của tín đồ), người ta càng nhìn rõ mặt trái của lòng tham, của bản ngã.
(Xem: 136)
Con đường hoằng pháp thành công của Đức Phật kéo dài bốn mươi lăm năm theo quan điểm Nam truyền.
(Xem: 119)
Súc vật, nhất là những vật nuôi để trợ giúp cho con người trong lao động sản xuất như trâu bò vốn được nông dân thương quý, xem như thành viên của gia đình.
(Xem: 124)
Từ thời Đức Phật, gọi là y ca sa, người sau gọi là “áo giải thoát, còn gọi là Phước điền y”.
(Xem: 231)
Những ai có lòng từ mẫn chân thành chia sẻ tịnh tài hay tịnh vật dù ít dù nhiều tùy khả năng, thì việc bố thí nầy được xem nhưQuảng Đại Tài Thí...
(Xem: 147)
Hơi thở là sự tiếp nối chuỗi cuộc sống trong luân hồi sinh tử của nghiệp báo. Hơi thở tượng trưng cho sự sống. Hơi thở tạo nên...
(Xem: 126)
Trong khi thực hành thiền định, hành giả bắt đầu điều phục thân và điều phục tâm
(Xem: 170)
Trước thời Thế Tôn, nhân loại đã biết và nói đến vô thường của các sự vật hiện tượng. Tuy vậy, cái thấy biết về vô thường này chưa toàn triệt,
(Xem: 121)
Kinh MN 1 (Mulapariyaya Sutta) là Kinh khởi đầu Trung Bộ, được Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Pháp Môn Căn Bản.
(Xem: 209)
Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, Có chi phải ưu phiền.
(Xem: 130)
Đạo Phật chủ trương hòa bình, lấy từ bi hóa giải hận thù, lấy sự xả buông để khắc chế tham ái. Chiến tranh, xung đột, bạo động là biểu hiện rõ ràng của tham lam, sân hậnsi mê.
(Xem: 127)
Đối với đạo Phật, ba ngôi Tam bảo rất quý báu, hiếm có khó gặp ở thế gian nên người con Phật (chư Tăng, Ni, Phật tử nói chung) phải kính lễ, tôn thờ.
(Xem: 191)
Chúng ta được dạy, nếu khéo lắng nghe, ta sẽ được trí tuệ. Nếu không biết lắng nghe, ta sẽ không được gì cả.
(Xem: 773)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 226)
Mắt ở đây phải hiểu là cách nhìn, cái mà mình cảm thấy, cái mà mình cho rằng, cái mà mình biết do nhìn thấy
(Xem: 167)
Hai từ " buông bỏ " thời buổi bây giờ là một thành ngữ nghe vô cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age).
(Xem: 398)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 205)
Các nhà hiền triết Ấn Độ giáotu sĩ Phật giáo đã nhận diện tầm quan trọng và lợi ích sức khỏe khi một hành giả thực tập thiền đều đặn trong mỗi ngày.
(Xem: 241)
Theo tuệ giác của Thế Tôn, nếu các căn gặp cảnh trần vừa ý, thọ lạc rồi sinh tâm yêu thích, đắm nhiễm thì đó là cội nguồn của mọi khổ đau.
(Xem: 174)
Kiếp sống này biến mất rất nhanh chóng Giống như thứ gì đó được viết trên mặt nước với một que cây -ĐỨC PHẬT-
(Xem: 203)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 203)
Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời.
(Xem: 243)
Trong công việc khó có thể tránh khỏi hoàn cảnh bất lợi, nhiều người sợ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, cảm thấy nghịch cảnh là một cú sốc lớn.
(Xem: 188)
Đối với hàng Phật tử tại gia, năm giới là năm điều học căn bản để tạo dựng nên một nếp sống đạo đức, tốt đẹplành mạnh.
(Xem: 450)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 255)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 234)
Duyên khởiđạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 262)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 173)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 404)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 217)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 263)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 274)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 248)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 344)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 278)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 366)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 280)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 214)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 358)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 269)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
Quảng Cáo Bảo Trợ