Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
19,022,331

Ngày Về Nguồn - Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Bài Đọc Ba

Thursday, July 19, 201200:00(View: 15943)
Ngày Về Nguồn - Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Bài Đọc Ba

NGÀY VỀ NGUỒN - HIỆP KỴ LỊCH ĐẠI TỔ SƯ

Bài Đọc Ba

{Xem bản PDF}

Trong thế gian, con người ai cũng có Cha, có Mẹ, có Ông Bà Tổ Tiên, người còn sống thì lo phụng dưỡng sớm hôm, người quá vãng thì lo hương hoa, giỗ cúng. Ấy là cái nhân, cái nghĩa, muôn đời trong cuộc sống con người. Nền văn hóa dân tộc Việt Nam không quên cái nhân, cái nghĩa ấy. Hằng năm, cộng đồng người Việt tị nạn khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ tưởng niệm đức Quốc Tổ Hùng Vương, đức Thánh Tổ Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng... Những ngày lễ đó làm sống lại tánh đức, hùng khí của chư vị anh hùng, liệt nữ dân tộc Việt, để cho lớp người hôm nay được chiêm nghiệm lại cái hùng, cái dũng, cái tấm lòng vì nước quên mình, cái tính đức hy sinh cao cả bảo vệ giang sơn Tổ quốc. Đồng thời lễ tưởng niệm để cho đàn con cháu nhớ cái ân, cái đức của Tiền nhân mà mong đền đáp đúng nghĩa của đạo làm người, mà nhất là làm người Việt Nam, luôn tưởng nhớ về cội nguồn Tổ tiên, nòi giống. Đây là một nền văn hóa tâm linh, một nếp sống tinh thần cao quý mà suốt một dòng lịch sử mấy ngàn năm qua luôn sáng chói và tồn tục sâu xa trong mỗi tâm thức của người con dân Việt Nam.

Cũng vậy, trong chốn nhà chùa, Thầy Tổ Bổn Sư là Người đã từng dày công xây dựng, kiến tạo nếp sống đạo hạnh nơi chốn Thiền môn, Tự viện, cho hàng đệ tử. Thầy Tổ đã nuôi dưỡng giới thân huệ mạng thành bậc tai mắt của trời người, công đức ấy của Thầy Tổ, Bổn Sư lẽ nào hàng đệ tử, hậu học lại không tưởng nhớ.

Phật Giáo Việt Nam, kể từ khi mới du nhập đến nay, có nhiều Tông phái, Hệ phái. Do vậy, quý Thầy thuộc hệ phái nào thì có Tổ Sư, người khai sáng ra hệ phái ấy, dòng Kệ ấy mà luôn tưởng niệm, Hiệp Kỵ vào thời gian vị Tổ Sư viên tịch. Thí dụ như, pháp phái Liễu Quán, Lâm Tế Tào Động, Chúc Thánh, Thảo Đường...

Tổ Liễu Quán là đời thứ 35 dòng Lâm Tế Chánh Tôn, Ngài khai sơn chùa Thiên Thai Thiền Tôn, Huế. Bài Kệ pháp phái của Ngài như sau:

Thiệt Tế đại đạo, tánh hải thanh trừng

Tâm nguyên quảng nhuận, đức bổn từ phòng

Giới định phước huệ, thể dụng viên thông

Vĩnh siêu trí quả, mật khế thành công

Truyền trì diệu lý, diễn xướng chánh tôn

Hạnh giải tương ứng, đạt ngộ chơn không.

Đây là bài Kệ truyền thừa từ Thầy xuống đệ tử. Tổ Liễu Quán húy là Thiệt Diệu, chữ đầu của bài Kệ, rồi Tổ truyền xuống đệ tử là Tế..., và cứ như vậy cho hết bài Kệ. Ngày nay, phần đông Phật tử miền Trung có pháp danh là chữ Tâm, chữ Nguyên, chữ Quảng...

Hành trạng tu tập sự chứng đắc của Tổ, như chúng ta thấy, Thầy của Tổ là Tử Dung Hòa thượng dạy Tổ tham cứu câu: “Vạn pháp quy nhứt, nhứt quy hà xứ?” Vạn pháp dồn về một, vậy một dồn về chỗ nào ? Tổ mất cả thời gian 8-9 năm để tham cứu nhưng chưa tỏ ngộ. Về sau, nhân đọc truyện Truyền Đăng Lục đến câu: “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất nội xứ”, nhân đấy mà tỏ ngộ. Đến năm 1708, Tổ gặp lại Tử Dung Hòa thượng và trình Hòa thượng ấn chứng. Hòa thượng nói:

“Huyền nhai tán thủ, tự khẳng thừa đương. Tuyệt hậu tái tô, khi quân bất đắc.”

Người bước ra trên đỉnh vực thẳm mà buông thả tay ra, sự chết sống tự mình phải nhận lấy, chết đi sống lại mới không bị người ta lừa đảo.

Hành trạng tu chứng của Tổ còn nhiều, đây chỉ là một vài dẫn chứng tiêu biểu để chúng ta cùng chiêm nghiệm. Về sau, trước khi Tổ thị tịch, Ngài để lại bài Kệ:

“Thất thập dư niên thế giới trung

Không không sắc sắc diệc dung thông

Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý

Hà tất bôn man vấn Tổ tông.”

Dịch:

Ngoài bảy mươi năm trong thế giới

Không không sắc sắc thảy dung thông

Ngày nay nguyện mãn về nơi cũ

Nào phải ân cần hỏi Tổ tông.”

(Sđd - tr 205-206)

Được tin Tổ thị tịch, vua sắc phong bia ký và Từ hiệu: Đạo Hạnh Thụy Chánh Giác Viên Ngộ Hòa thượng.

Hàng năm môn đồ pháp phái đều tổ chức lễ tưởng niệm Tổ.

Tổ Minh Hải Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh, Quảng Nam. Bài Kệ truyền thừa như sau:

Minh thiệt pháp toàn chương

Ấn chơn như thị đồng

Chúc Thánh thọ thiên cửu

Kỳ quốc tộ địa trường

Đắc chánh luật vi tuyên

Tổ đạo hạnh giải thông

Giác hoa bồ đề thọ

Sung mãn nhơn thiên trung

Tổ Nghĩa Huyền Lâm Tế với Kệ truyền thừa:

Tổ đạo giới định tôn

Phương quảng chứng viên thông

Hạnh siêu minh thực tế

Liễu đạt ngộ chơn không

Như nhựt quang thường chiếu

Phổ châu lợi ích đồng

Tín hương sanh phước huệ

Tương kế chấn từ phong.

Trên đây chỉ là đôi dòng pháp phái và ít Kệ truyền thừa mà thôi. Tuy nhiên, chừng ấy cũng đủ cho chúng ta thấy mà đem tâm thành, ý chánh mà giỗ, mà cúng vào những ngày húy, năm kỵ để đền đáp ân sâu nghĩa trọng của chư vị Lịch Đại Tổ Sư.

Sự cúng kính, Hiệp Kỵ là một lễ nghi nhắn nhủ đàn hậu duệ luôn tưởng nhớ công đức của Tổ Sư, cũng như quý Ngài trong môn phái có dịp gặp lại nhau hàn huyên, thăm hỏi; đó là cái tình của người sống và cái ân với người đã khuất, chính việc làm này là nét văn hóa truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam, là nếp sống hài hòa, tương thuận, tôn ti trật tự của xã hội con người, giữ gìn giềng mối Tông phong gia tộc. Cứ mỗi lần Từ Đường của dòng họ A, dòng họ B... có lễ Hiệp Kỵ của dòng tộc ấy thì tất cả các hàng con, cháu, chắt... bà con xa, bà con gần từ bên nội đến bên ngoại thảy đều kéo nhau về mà tham dự lễ Hiệp Kỵ Tổ Tiên dòng họ. Kẻ lớn người nhỏ, tay bắt mặt mừng, trò chuyện, hỏi han. Trên bàn thờ Tổ tiên thì đèn chưng rực rỡ, hương trầm nghi ngút, bông hoa trà quả đủ màu. Giữa thế giới người sống như hòa quyện vào thế giới tâm linh của người đã khuất. Tâm tình của người sống dường như cảm thông được nỗi niềm của người đã ra đi, bàn thờ trên cao là bài vị của Cao Huyền Tổ Khảo, bên phải là di ảnh của ông Nội bà Nội, bên trái là di ảnh của ông Ngoại bà Ngoại, lần lượt di ảnh những người quá cố được tôn thờ theo thứ tự trên án cao của nhà Từ Đường. Trong dịp này, mối thâm tình trong dòng họ được thắt chặt, gần gũi hơn, dù biết rằng sau lễ Hiệp Kỵ mỗi người đi mỗi ngả để lo cho đời sống gia đình. Đây chính là cái ân, cái đức mà hàng con cháu có dịp để tưởng nhớ.

Khoa nghi của buổi lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư vô cùng trang nghiêmxúc động. Lời văn thắm thiết, siêu phàm để nói lên cái lẽ vô thường, diệt sinh, sinh diệt, giữa chốn hồng trần, phù vân ảo ảnh. Sự đến, sự đi, cái còn, cái mất như mộng, như huyễn, phù hư chẳng thật, để từ đó thấy lẽ đạo uyên thâm, sự thị hiện, hóa thân của chư Tổ Đức là huyền vi, mầu nhiệm bất khả tư nghì. Chúng ta hãy nghe cung bậc siêu nhiên, ý văn thoát tục để xướng cúng chư Tổ mà thấy lòng thanh thản giải thoát.

“Cái văn: Vô thường thị thường, Thế Tôn thượng song lâm diệt độ. Tịch diệt phi diệt, Đạt Ma tằng chích lý Tây quy. Sanh tự hà lai, tử tùng hà khứ ?”

Từng nghe, cái vô thường chính là thường, đức Thế Tôn diệt độ nơi chốn song lâm. Tịch diệt nhưng chẳng phải diệt, Tổ Đạt Ma đã từng quảy dép về Tây, sinh từ đâu lại, chết đi về đâu?

Sự hóa thân của chư vị Tổ đức không lưu hình ảnh, chẳng nệ cố tình, cũng không hữu ý, tự tại như nhiên, như bài thơ của Hương Hải Thiền Sư:

“Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm”

Dịch:

“Nhạn liệng giữa không

Bóng chìm dưới nước

Nhạn không để dấu ở lại

Nước chẳng lưu bóng làm chi.”

(Việt Nam Sử Lược - T.T. Mật Thể, tr 181)

Để nói lên tấm lòng thành kính, tán thán giác linh an nhiên tự tại qua bài Cung Bạch:

“Cung duy: Giác linh nhất tánh trạm nhiên, vạn duyên không tịch. Thác ngũ ấm chi hữu, liễu tứ đại chi bổn không. Thuận thế vô thường yểm quy chơn giới. Thâu Đàm hoa ư thử độ. Thục thiện quả ư Kỳ viên. Nguyện bằng nhất lụ chi hương vân. Dụng trở Tam thừa chi giác ngộ. Đốn minh huyễn mộng, đổng hiển chơn nguyên, quyết sinh tửgiai không, liễu khứ lai nhi tự tại.”

Thành kính, giác linh nhất tánh lặng trong, vạn duyên rỗng suốt. Thọ lấy năm ấm chẳng phải là có, hiểu rõ tứ đại chẳng phải vốn không. Thuận lẽ vô thường không về chơn giới. Hoa Đàm không nở nơi đây. Thiện quả chín mùi tinh xá. Nguyện cho một nén hương thơm, giúp nên Tam thừa đường giác. Liền rõ mộng huyễn, hiểu rộng gốc chơn, sanh tử chắc chắc vốn không, rõ ràng đến đi tự tại.

Hiệp Kỵ chư Lịch Đại Tổ Sư để tưởng niệm công hạnh của chư Tổ, qua một thân một bóng dằng dặc chân mây, chích ảnh cô thân vạn dặm. Công ơn là đó, nhân nghĩa là đó.

Nhất bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Kỳ vị sanh tử sự

Giáo hóa độ xuân thu

Dịch:

Một bát cơm ngàn nhà

Thân đi muôn dặm xa

Chỉ vì việc sinh tử

Giáo hóa chóng ngày qua

Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư để thấy cái hạnh, cái nguyện, cái tu, cái chứng, cái đến, cái đi không lưu vết tích của chư Tổ. Cái mà kẻ phàm tình chưa làm được, để từ đó mà phải học thêm, tu thêm, noi gương Tổ đức, qua bài Kệ:

Thiền thất đăng quang lãnh

Kinh song nguyệt ảnh không

Nhất triêu hề chích lý

Thiên tải mích vô tung

Dịch:

Thiền thất bóng đèn lạnh

Kinh song ánh trăng không

Một sớm mai quảy dép

Nghìn trùng chẳng vết trông

Dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam thời cận đại, đã ghi lại những bậc Kỳ Túc Thiền gia, mà hàng hậu học chúng ta phần lớn đều biết, ấy là Đức Đệ Nhất Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Đức Đệ Nhị Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, Đức Đệ Tam Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, Đức Phó Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Hòa... cứ đến ngày mồng 5 Tết, các Tòng Lâm, Tự Viện, Tổ Đình của Sơn Môn Huế đều cử hành lễ Hiệp Kỵ để tưởng nhớ những hình bóng thân yêu, quý kính của chúng Tăng, của Đạo pháp, mà một thời công hạnh của quý Ngài đã tỏa sáng nơi chốn rừng Thiền âm u, tĩnh mịch. Từ Tổ Đình Thiền Tôn đến Tường Vân, Linh Mụ... tất cả đều lưu giữ hình bóng quý Ngài như một Pháp bảo trân quý vô giá. Hình ảnh ấy là bài học tinh cần, là ngôn từ sách tấn hằng ngày cho chúng tăng trên tinh thần tu tập, hoằng pháp.

Để ôn lại công hạnh của chư Tổ, Tôn Sư, một thời đã giáo huấn mà cứ mỗi lần Hiệp Kỵ, chư Sơn Thiền Đức đều trùng tuyên lại những lời sách tấn, giáo dục Tăng Ni. Đức Đệ Nhị Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên dạy:

“Đạo Pháp tồn tại, không chỉ ở những hình thức Chùa Tháp, lễ nghi, Kinh điển. Mặc dù Kinh điển là kim chỉ nam hướng dẫn ta đến đạo quả vô thượng Bồ Đề. Nhưng sự tồn tại đích thực chính là ở sự thể hiện Đạo phong. Những nếp sống gương mẫu của các bậc Tăng già nghiêm trì giới luật và biết tận lực phục vụ Chánh pháp, để Chánh pháp mãi mãi tồn tại với thế gian và làm điều lợi ích chúng sanh...” (Thư Gởi Tăng Ni, nhân mùa An Cư 1976. Kỷ Yếu Tang Lễ. Tr. 13)

Trong bài Minh Khắc nơi tháp của Tổ đã nói lên đức hạnh hoằng hóa một thời lưu danh cho hậu thế noi gương:

“Từ Phiếm Xuân Phong

Bi Triêm Hạ Vũ

Thu Nguyệt Cô Viên

Đông Tùng Độc Tú...”

Dịch:

- “Từ phong là gió xuân về

Bi lòng mưa thắm bốn bề hạ rang

Trăng thu rọi ánh tâm quang

Tùng đông xanh thẳm giữa ngàn tuyết sương...”

“Phi Y Trì Bát

Lợi Phổ Nhân Thiên

Phú Kệ Đàm Kinh

Đạo Thông Tri Tố

Tăng Cang Nhĩ Nhật

Hải Chúng Hàm Y...”

Dịch:

- “Ca sa bình bát ân cần

Lợi người lợi vật thiên nhân cúi đầu

Đàm Kinh thuyết Kệ thâm sâu

Người Tăng kẻ tục đạo mầu cảm thông.

Tăng cang thuở ấy vua phong

Đạo đời thất chúng một lòng quy y...”

Thi sĩ Trụ Vũ đã cảm niệm Tổ bằng những vần thơ chí thành. Sự thành tâm được cô đọng lại như những hạt ngọc xâu thành chuỗi để cảm thành lời thơ:

“Một trăm lẻ hai tuổi

Hơn thế kỷ làm người

Thanh tịnh, thanh tịnh giới

Trang nghiêm, trang nghiêm đời

Thiền định, đại thiền định

Du hý nước mây chơi

Giới, quét sạch tâm kỉnh

Huệ, mở toang mặt trời

Mặt trời huệ minh chiếu

Quạt vàng phất phất vui

Trong cánh quạt chiếu diệu

Mười phương hoa tuyệt vời...

Một ánh đạo đông phương

Thêm một lần vụt tắt

Đại Hòa Thượng Thuyền Tôn

Thiền tịnh Ba La Mật.

Tuy tướng mạo thoảng mất

Thể đạo vẫn trường tồn

Thường trụ giữa quê hương

Đạo tràng Tam Thế Phật.”

(10 tháng Giêng Kỳ Mùi - Phật tử Trụ Vũ - Kỷ Yếu Tang Lễ, Tr. 41-42)

Giờ đây đang mùa An Cư Kiết Hạ, chúng Tăng các Tự Viện hầu hết đều An Cư để trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm giới đức, cũng như thể hiện tình thương nuôi lớn muôn loài. Đây chính là đức tánh Từ Bi được ban bố cho đến tất cả.

Trong Chánh điện vang rền tiếng chuông trống Bát Nhã thỉnh Phật thượng đường, thỉnh chư đại Tăng bước vào cửa Ba La Mật để triển khai đàn tràng pháp hội. Tiếng chuông mõ, hòa âm cùng tiếng niệm Nam Mô A Di Đà Phật của đại chúng đều đặn, nhịp nhàng, âm ba thanh thoát, làm lắng đọng bao lớp bụi trần đã phủ mờ tâm thức từ bao vạn kiếp. Tôn tượng Đức Thế Tôn ngự tọa trên đài sen, đang mỉm miệng cười từ ái, hiền hòa. Ánh mắt Từ Bi của Ngài đang nhìn xuống chúng sanh như xoa dịu bao nỗi đau thương, trong cảnh đời nhiều nỗi mưa sa bão táp, mà vỗ vềan ủi cho lòng được lắng đọng thanh lương. Chúng con xin chắp tay, cúi đầu, cám ơn Phật đến vô lượng hằng hà sa. Lời kinh chấm dứt, chuông mõ kết thúc, tang linh dừng lại, không gian trầm mặc, yên lặng, hòa tan vào vô lượng cảnh giới Phật tâm.

Nguyên Siêu

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 38)
Đạo Phật vốn là tôn giáo vô ngã, phá chấp, không có tín điều, và tuyệt đối tôn trọng sự thực;
(View: 73)
Sự khác biệt giữa "Trời" và "Thượng đế" dường như là một điều thắc mắc trong tâm trí của nhiều người.
(View: 91)
Có lần khi nói về tám thức tâm vương trong Duy thức học, một người hỏi rằng “con người lo sợ là do thức nào?”.
(View: 278)
Lửa. Lửa lại bùng cháy trên những cánh rừng bạt ngàn miền tây. Khói cuồn cuộn, lan xa hàng nghìn dặm, kéo qua tận miền đông.
(View: 105)
Một trong những đặc trưng khu biệt của văn học Phật giáo với những dòng văn học khác chính là ở cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật.
(View: 137)
Con đường xưa…! và con đường nay bây giờ có khác gì không nhỉ? Có những lúc mình đi trên con đường sỏi đá chông gai
(View: 133)
Khi loài người chúng ta bắt đầu giải quyết mọi vấn đề, chúng ta không quan tâm theo một phương cách cẩn thận chu đáo
(View: 116)
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16
(View: 201)
Có lần một vị Bà La Môn hỏi Đức Phật, Thưa Ngài! Biết có kiếp sau hay không mà Ngài khuyên răn chúng tôi làm thiện.
(View: 263)
Ngôi chùa tọa lạc lưng chừng ngọn núi, sau rừng sồi, cũng tương tự như bao ngôi chùa nhỏ, xa nơi đô thị
(View: 217)
Kẻ cai ngục, dù nơi nhà tù lớn hay nhỏ, xa hay gần, kẻ đó cũng không thể thoát khỏi chu kỳ sinh, lão, bệnh, tử được.
(View: 377)
Nay kính cẩn ghi những lời này, xin gửi đến quý Phật tử nào may mắn Cha, Mẹ còn mạnh khỏe thì đó là phước lớn không gì sánh được trên cõi đời này.
(View: 295)
Lịch sử thật là muôn hình vạn trạng, các Sử gia lại càng biến hóa khôn lường.
(View: 181)
Thế Tôn từng dạy, những ai đến với giáo pháp của Ngài là để thấy chứ không phải để tin. Chính quan điểm đúng đắn, sự thấy biết chính xác sẽ dẫn đường cho tư duy và hành động đúng đắn, hướng đến Chân Thiện Mỹ...
(View: 265)
Cuộc đời con người chỉ mấy mươi năm thôi mà có biết bao nhiêu chuyện xảy ra.
(View: 287)
Sự vô thường, tuổi già và bệnh tật không bao giờ hứa hẹn với bất cứ ai. Bất cứ khi nào chúng đến, chúng sẽ đến mà không một lời báo trước.
(View: 299)
Trên đời này có rất nhiều người thường hay nhắc đến hai chữ “họa và phước” khẳng định là chúng ta ai ai cũng đều hiểu cả.
(View: 242)
Có bốn pháp vật thực là đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực. Nhờ bốn thực ấy làm duyên, trợ sanh và nuôi dưỡng cho nên ...
(View: 295)
Theo lăng kính Phật giáo, bệnh được tồn tại dưới 3 hình thức, đó là thân bệnh, tâm bệnh và nghiệp bệnh.
(View: 431)
Triết Học Phật Giáo và Những Luận Đề -
(View: 634)
Đọc Thơ Phật Của Thi Sĩ Tâm Tấn - Viết về tập thơ “Cuối Đời Lọc Những Tinh Sương” của thi sĩ Tâm Tấn
(View: 282)
Người đệ tử Phật chân chính, ngoài việc tu tập giới định tuệ để hướng đến viên mãn phước và trí, thành tựu giác ngộ giải thoát cho tự thân,
(View: 279)
Đạo Phật ra đời và phát triển đến nay cũng đã hơn hai mươi lăm thế kỷ, ban đầu từ miền bắc Ấn Độ, sau đó lan truyền toàn xứ Ấn và phát triển sang các nước Trung Á, Nam Á, Bắc Á… và đến Âu, Mỹ hôm nay.
(View: 679)
“Tôi được sinh ra đời là nhờ vào một ân sủng đầy sự thương yêu của con người và tạo vật. Sự thương yêu ấy có cả chính bản thân tôi..."
(View: 427)
Chúng ta thường nghe tới nhóm chữ “tri kiến như thật.” Tức là biết và thấy như thật. Câu hỏi là: Đức Phật dạy gì về biết và thấy như thật?
(View: 601)
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh ngắt sương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau khóm bạc lá ngô đồng vàng
(View: 321)
Chúng ta đã biết phải làm gì đối với cha mẹ, dù có hay không có sự yêu cầu: hãy thương kính và làm gì đó để biểu hiện niềm thương kính ấy khi cha mẹ còn sống
(View: 301)
Ngày xửa ngày xưa, dưới chân Hy Mã Lạp Sơn có một vương quốc trù phú tên gọi Thắng Man. Dù là một vương quốc giàu mạnh nhưng...
(View: 331)
Trong Kinh Pháp Cú có một số bài khá phong phú đề cao chánh phápchánh pháp đóng một vai trò rất quan trọng...
(View: 772)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Đời Thứ 14, vị lãnh đạo tinh thần của Phật Giáo Tây Tạng, đã sống lưu vong tại Ấn Độ kể từ năm 1959 khi chế độ Cộng Sản tại Trung Quốc xua quân xâm chiếm Tây Tạng...
(View: 456)
Thuở xưa, có một đạo sư tên là Araka, người đã thoát ly sự thèm khát dục vọng. Đạo sư này có hàng trăm đệ tử.
(View: 710)
Chúng ta thường nghe “tạo nhân nào hưởng quả nấy”, mà kỳ thật, đời sống của cộng đồng người trên thế giới hôm nay, được xem nhưthành quả của một đời sống mang tính tương tác tương thọ liên hệ từ quá khứ đến hiện tại.
(View: 256)
Ảnh hưởng của Phật giáo ở Châu Á nói riêng, toàn thế giới nói chung là đậm nét và sâu sắc.
(View: 299)
Quả vị Sa-môn hay bốn quả Sa-môn, bốn quả Thanh văn, bốn quả Thánh gồm Sơ quả Tu-đà-hoàn (Dự lưu, Thất lai)
(View: 382)
Này A Nan, cũng như một cái cây, nếu nghiêng về phía nào, thì khi người ta đốn ngã nó sẽ đỗ về phía đó (trọng lực), một chúng sanh sau khi chết cũng sẽ theo nghiệp mà đi như thế ấy.
(View: 334)
Giáo pháp hay kinh điển là lời dạy của Đức Phật, đó là chân lý, là sự thật, là những gì Đức Phật chứng ngộ, khám phátuyên thuyết, mang lại sự an lạc giải thoát cho người hành trì.
(View: 372)
Theo tác giả, nước là trung tâm của mọi nguyên tố (element) trên trái đất. Không có nước là không có sự sống. Cho đến nay không có bất cứ vật thể gì tồn tại được nếu thiếu nước.
(View: 494)
Khúc đàn Khổng-Vọng-Vi là tiếng khóc của Đức Khổng Tử, tiếc thương người đệ tử thân yêu Nhan Hồi, mệnh yểu mà chết sớm khi tuổi còn thanh xuân.
(View: 512)
Đó là bài học đầu tiên đại-sư Zuigan Goto dạy cho người đệ tử ông vừa thâu nhận, sau này chính là thiền-sư Soko Morinaga, nổi tiếng của xứ Phù Tang.
(View: 485)
Trọn câu mở đầu là: “Nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng nửa sự thật thì không phải là sự thật !”
(View: 370)
Bài tán dạy rằng, với công đức đầy đủ, Ngài nhìn khắp chúng sanh bằng đôi mắt từ ái, sẵn sàng đáp lại tiếng kêu thương. Trước biển phước vô lượng như thế, chúng con đều cung kính đảnh lễ.
(View: 591)
... những hành giả sơ phát tâm nên học theo gương tu học của người xưa là lập chí kiên định, đức tin mạnh mẽ không lui sụt, và hành trì liên tục không xao lãng trong tứ oai nghi: Đi - Đứng - Nằm - Ngồi.
(View: 365)
Đại dịch coronavirus bùng phát lần nữa tại Việt Nam, Hoa Kỳ và hầu hết các nước trên thế giới. Tính tới tuần lễ đầu tháng 8/2020, thế giới có gần 700,000 người chết vì đại dịch
(View: 328)
Trong kinh có ghi lại lời cảnh giác của Đức Phật, Ngài đã từng nói rằng: “Phàm tất cả chúng sinh còn lên xuống trong ba cõi, lăn lộn trong sáu đường thì...
(View: 577)
Khổ đau bao trùm cả nhân loại, cả thế giới. Đó là một sự thật, không ai có thể chối cãi.
(View: 572)
Chúng ta đơn thuần cứ nghĩ bệnh là do thể trạng sức khỏe không thuận không tốt, do đề kháng yếu nên vi khuẩn vi rút từ môi trường tác động vào cơ thể mà sinh bệnh.
(View: 448)
Phái đoàn các vị Lệ-xa ở Tỳ-xá-ly khi đi đến Đức Phật đang ngự trong vườn xoài Am-bà-bà-lê được xem như biểu tượng của sự xa hoa, sang trọng, quý phái bậc nhất đương thời.
(View: 370)
Trong cuộc sống đời thường có nhiều người vì phải đối diện với những bế tắc, khổ đau cùng cực không thể vượt qua được để rồi tìm đến cái chết
(View: 445)
Chưa có khi nào Phật cười to như thế, cười sảng khoái, “cười hùng mạnh như vua sư tử…”
(View: 564)
Hỏi “đi tu là đi đâu?” nghe có vẻ dư thừa. Tuy nhiên không phải ai cũng có thể trả lời được câu hỏi này.
Quảng Cáo Bảo Trợ