Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
13,762,848
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Một Nét Hương Lòng

01 Tháng Sáu 201620:34(Xem: 2994)
Một Nét Hương Lòng

MỘT NÉN HƯƠNG LÒNG

Thành kính dâng Giác Linh Bổn Sư Trưởng Lão Hòa Thượng thượng Chơn hạ Phát, Phương Trượng Tổ Đình Long Tuyền, Hội An, tân viên tịch.

Như Hùng

Người đi rũ bỏ sắc không

Lời kinh Bát Nhã rơi miền tịch dương

 

Từ phương trời Mỹ Quốc xa xôi chúng con hướng vọng về Tổ Đình Long Tuyền, Hội An đảnh lễ giác linh Thầy ba lạy, bái biệt Sư Phụ từ đây.  Khi nhận được tin Thầy viên tịch từ Thầy Đồng Khâm, con bàng hoàng sững sốt, tai nghe mà như không nghe, không tin vào đôi tai của mình. Đại sư huynh Giải Trọng mới vừa ra đi, nấm mộ còn chưa khô, nhang khói chưa tàn, thương nhớ chưa kịp nguôi, giờ lại đến lượt Sư Phụ. Cõi lòng chúng con làm sao không tan nát cho được, mới hơn có ba tháng mà chúng con phải chịu tới hai cái tang lớn, còn nỗi đau buồn nào hơn. Thầy ơi! Dẫu biết cuộc đờivô thường, có hợp ắt phải có tan, nhưng trong con nỗi ngậm ngùi cứ vây quanh, đầu óc thì trống vắng không viết được chữ nào, chỉ biết tụng kinh cầu nguyện cho Giác linh Sư Phụ sớm được Cao Đăng Phật Quốc.

 

Hôm tháng tư vừa rồi chúng con về viếng chùa, lạy Giác linh Đại sư huynh, đảnh lễ và hầu chuyện cùng Sư Phụ, thấy người vẫn còn khỏe mạnh, nói chuyện với con thường lập lại tới lui những gì mình nói, nhưng đó là bệnh của những vị lớn tuổi. Còn sư huynh Như Phẩm thì lo điều khiển thợ xây cất, nới rộng trai đường ra phía sau, để mai sau Thầy về với Phật cũng có nơi để thờ phụng, quý huynh đệ đã chu toàn lo lắng, tháp thờ cũng đã xây xong. Giờ đây người rũ bỏ tấm thân tứ đại, nhẹ bước vân du, chốn tổ Long Tuyền vắng bóng bậc ân sư. Cội tùng đã từng tỏa bóng che chở đàn con trước phong ba bão tố, làm chổ nương tựa vững chắc cho hàng Phật Tử. Bậc long tượng một thời hiên ngang tiến bước, vượt bao chướng duyên nghịch cảnh, vổ về chăm sóc hàng hậu học, tất cả bây chừ thiếu vắng trống trơn hụt hẫng, để lại cõi lòng chúng con niềm đau nỗi thương nhớ vô biên.

 

Ôi! Bóng thời gian đò chiều đưa tiển, cõi sắc không thắm đượm một màu tang, niềm hịu quanh chừ dạo quanh lối mộng, buổi tiễn đưa thắm đượm cõi hương lòng, người bước đi rũ sạch chốn bụi trần, nghe đâu đây cung đàn réo rắc phút biệt ly, cho ngần ấy mai sau còn thương tiếc, lời kinh khuya đượm cả một trời không.

 

Con còn nhớ hình ảnh đầu tiên đầy ấn tượng, đó là vào ngày 31 tháng 8 năm 1969 và cũng là lần đầu tiên con trông thấy được hình bóng của Thầy. Từ chùa Long Tuyền, Hội An, Thầy về Niệm Phật Đường Mỹ An ở Đại Lộc quê con, để làm lễ truyền Tam quy  Ngũ giới. Nơi đây cũng là ngôi nhà của phụ mẫu chúng con, năm vừa rồi để cho chùa Mỹ An tạm mượn, vì ngôi chùa chánh ở trên đồi cao, chính quyền lúc bấy giờ sử dụng để làm căn cứ quân sự nên cấm người dân lai vãng. Dù lúc đó con chỉ mới được mười một tuổi, nhưng con vẫn còn nhớ hình bóng uy nghiêm của Thầy ngồi trên chiếc xe Jeep, do một thầy lái. Phật Tử chúng con sắp thành hai hàng, đứng hai bên đường để cung đón Thầy, lễ quy y hôm đó có rất đông Phật Tử đến quy y, cứ mỗi lần con nghĩ đến Thầy, thì hình ảnh ban đầu đó trong con lại có dịp trở về.

 

Năm 1972 chị Hạnh Tịnh dẫn con đi xuất gia, dù là đệ tử của Thầy, nhưng khi xuất gia con lại về chùa Phước Lâm. Thầy Phước Lâm thỉnh thoảng hay về quê để thăm phụ mẫu của Ngài, và Ngài thường ghé lại nơi Niệm Phật Đường để thăm phụ mẫu của con, có lẽ thường gặp Ngài nên thấy gần gũi, con muốn xuống chùa Phước Lâm để tu là vậy.

 

Hai năm sau vào năm 1974 nhân dịp chùa Long Tuyền tổ chức an cư, và có giới đàn, con về chùa được Thầy cho phép nhập chúng tu học từ đó. Chùa Long Tuyền còn là Phật Học Viện Quảng Nam, Thầy vừa là viện trưởng, và cũng là giáo thọ dạy cho chúng con học, lúc đó có quý chú từ Nha Trang ra tu học đông lắm, có khoảng năm mươi Tăng sinh. Con còn nhớ Sư Phụ dạy bộ Phật Học Phổ Thông, hình bóng tôn nghiêm và những lời dạy bảo của Thầy vẫn khắc ghi trong lòng chúng con. Lúc đó Thầy hay đề cập đến Thái Hư Đại Sư, một bậc thầy lớn của nhiều thế hệ, chủ trương cải cách Phật Giáo, chỉnh trang giáo lý, chỉnh trang giáo chế, chỉnh trang giáo sản. Trong phòng của Thầy có tủ sách, con thấy có bộ sách của ngài Thái Hư Đại Sư có tới mấy cuốn thật dày. Thầy rất uy nghiêm, hành trì giới luật, mỗi lần nghe bước chân Thầy đi xuống, chúng con đều phải đứng dậy, lúc đó làm gì cũng đều ngưng lại.

 

Năm 1975 do sự chuyển biến của đất nưóc, Phật Học Viện đành phải giải tán, vì không đủ lương thực để lo cho chúng, quý chú trở về lại nơi chùa Thầy Tổ. Chùa của mình giờ chỉ còn lại có mấy thầy trò, Thầy, hai sư huynh Thầy Giải Trọng, Thầy Như Phẩm, chú Như Dũng, chú Như Tường và con, có chú Tâm Kinh y chỉ với Thầy, còn có thêm chú Đồng Phương xin ở lại nữa. Chừng đó Thầy trò nương tựa bên nhau, rau muối tương gạo sống qua ngày. Có hôm chùa hết gạo Thầy dẫn con ra ngoài phố mua gạo nợ tiền, rồi chở về chùa để chúng có cơm ăn. Tối nào Thầy cũng nằm nơi chiếc ghế ngoài hiên cho mát, mở đài BBC để nghe tin tức thời sự.

 

Với chủ trương “một ngày không làm là một ngày không ăn” của tổ Bách Trượng, nhờ chùa sẵn có đất đai mấy Thầy trò cùng nhau ra đồng canh tác, sống bằng kinh tế tự túc. Trong vườn thì Thầy trồng rau xà lách, mỗi khi ăn nhổ xà lách vào trộn với chút dầu tí muối, vậy mà ăn ngon chi lạ. Lúc không có gì ăn ngoài tô canh, Thầy vào phòng lấy bịch vị tinh (bột ngọt) chuyền xuống cho chúng con bỏ một tí vào, thế là hôm ấy ăn thật là ngon, lúc đó bột ngọt quí hiếm lắm. Thầy làm lụng vất vảcực khổ lắm, không đi cúng kiếng bao giờ, kinh tế chùa và lo cho chúng, tất cả đều đổ trên vai của Thầy.

 

Dù đi làm khổ cực nhưng mỗi bửa Thầy ăn cũng giống với chúng, cũng rau lang nấu canh, bầu ăn không hết thì phơi khô để dành, xào với chút dầu, với tương do chính tay Thầy tự làm, quanh đi quẩn lại ngày lại ngày, sáng trưa chiều cũng bấy nhiêu thứ. Đậu khuôn trở thành một thứ xa xí phẩm chỉ có ngày giổ Tổ chúng con mới thấy mặt mũi nó. Con còn nhớ những khi đi làm, đến nửa buổi làm đói bụng quá, Thầy đưa cho một ít tiền bảo chúng con đi mua bánh tráng về ăn. Lúc đó Thầy đâu có nhiều tiền mà đưa, chúng con chỉ mua được bánh tráng làm bằng bột sắn, chứ không đủ tiền để mua bánh tráng làm bằng bột gạo. Bánh tráng làm bằng bột sắn khi ăn có vị nhẩn nhẩn, dù vậy mấy Thầy trò cuốn bánh tráng với rau muống, chấm bằng nước tương do Thầy làm ra, thế mà ăn thật là ngon lành, con nhớ mãi mùi vị ấy đến tận hôm nay. Khi Thầy làm nước tương, làm gì có nhiều tiền để mua đậu nành chỉ mua một ít thôi, Thầy tự pha chế công thức, một đậu hai gạo, tức một ký đậu nành thì hai ký gạo. Nước tương Thầy làm ra chỉ thấy toàn gạo không thôi, còn đậu nành nó biến đi đâu mất tiêu, cực khổ như vậy nhưng mấy Thầy trò huynh đệ vẫn vui vẻ tu tập bên nhau.

 

Đầu năm 1976, nghe đâu trong Đại Tòng Lâm sắp mở khóa học, con xin Thầy vào đó để tu học, nhưng Thầy không cho và nói “chú vào trong Nam dễ hư lắm”, nhưng con vẫn cứ ra đi. Khoảng bốn giờ sáng con nhờ chú Như Dũng giữ hộ con chó mực để nó không sủa kẻo Thầy hay biết, rồi con nhờ chú Như Tường mở hộ cổng để con trốn Thầy đi. Viết những dòng nầy mà nước mắt con tuôn trào, như một lời sám hối muộn đến Thầy. Có lẽ trong mấy huynh đệ, con là người bướng bỉnh nhất và cũng là người đệ tử rời xa Thầy khi mới 17 tuổi.

 

Thầy ơi! giờ nầy Thầy nhẹ bước vân du, để lại cho chúng con niềm thương tiếc vô hạn, vì xa xôi cách trở không thể về bên Kim Quang Thầy cúi đầu đảnh lễ, con chỉ biết đốt nén hương lòng dâng lên Thầy, kính ngưỡng cầu Thầy mau trở lại cõi Ta Bà nầy, nơi có biết bao người mong chờ Thầy ra tay tế độ. Thầy ơi! nếu kiếp sau có duyên gặp lại con vẫn mong được làm đệ tử của Thầy.

 

Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông, đệ tứ thập thế, Long Tuyền Tổ Đình Phương Trượng, húy thượng Chơn hạ Phát, tự Long Tôn Hòa Thượng Giác Linh.

 

Khể thủ

Đệ tử Như Hùng

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 9)
Lúc mới bắt đầu đi chùa, mình thích nghe quý thầy, cô giảng pháp, thường khuyên mình nên ‘tu mau kẻo trễ’.
(Xem: 486)
Của Tăng Đoàn Âu Mỹ do Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa Viên Giác, Đức Quốc, làm trưởng đoàn Tại chùa Hương Sen Perris, California
(Xem: 78)
Khi được khen ai cũng vui tươi, Khi bị chê ai cũng buồn chán, Người khôn vượt khỏi khen chê, Thân tâm an ổn, vui tươi làm lành.
(Xem: 81)
Lá và cành khô đã gẫy đổ, giạt theo mặt hồ từ những ngày tàn xuân. Một số cành khác đã mục rữa từ dưới nước, nhưng vẫn gắng bám rễ nơi sình lầy...
(Xem: 118)
Phần lớn quý vị của thế hệ trước thì muốn một cuộc sống điềm đạm, chậm rãi, thâm trầm. Đa số những người trẻ hiện nay thì muốn sống vội, sống nhanh.
(Xem: 103)
Lẽ thường, nếu biết rằng phút giây nữa mình sẽ chết thì chắc chắn chúng ta sẽ tận tâm tu tập, cầu nguyện,tuyệt không hề xao lãng.
(Xem: 89)
Tôi sinh ra trong một gia đình có ít nhiều gắn bó với Phật giáo. Bà nội tôi lúc cuối đời đã dồn hết những đồng tiền bà dành dụm cả đời để
(Xem: 103)
Tranh giành, tranh đấu, tranh cãi, tranh đua là nhữngtập khí cố hữu của chúng sinh. Cội nguồn của mọi sựtranh chấp ấy là tham dục và kiến dục.
(Xem: 139)
Câu nói cửa miệng của người đời là ‘sướng như tiên’. Kỳ thực thì chư Thiên, chư tiên là những vị có phước báo lớn nhưng vẫn còn khổ.
(Xem: 87)
Giới như ngọn đèn sáng hay phá tan tối tăm, mờ mịt. Giới như sức mạnh hay dựng đứng những gì đã ngã. Giới như ánh sáng trí tuệ hay chuyển hóa các phiền muộn, khổ đau.
(Xem: 111)
Thế gian lìa sanh diệt Giống như hoa trong không Trí chẳng đắc có không Mà hưng tâm đại bi.
(Xem: 159)
Trong cái thấy biết mọi hình ảnh sự vật, chúng ta chạy theophân biệt là gốc vô minh; trong cái thấy biết, thấy chỉ là thấy không phân biệt là Niết-bàn.
(Xem: 94)
Chúng ta là những sinh thể sống. Chúng ta phải tiếp nhận tình cảm liên tục, chỉ như thế thì đời sống mới trở thành đầy đủ ý nghĩa nhiều hơn, nhiều hạnh phúc sâu xa bên trong hơn.
(Xem: 106)
Ngày xưa khi Đức Phật ngồi Thiền dưới cội bồ-đề và chứng được Túc Mạng Minh, Ngài nhớ lại vô sốkiếp trước đã làm gì, ở đâu như nhớ chuyện ngày hôm qua.
(Xem: 494)
“Hạt nắng Bồ Đề” là ghi nhận từng bước hành hương và tấm lòng mong cầu tu học mà anh Văn Công Tuấn đã thực hiện.
(Xem: 92)
Nghiệp (karma) là một hành động. Hành động ấy phát xuất từ một chủ thể nhắm đến và tác động lên một đối tượng.
(Xem: 590)
Bodhisattva (Sanscrit), Bodhisat(Pali). Viết trọn chữ theo tiếng Phạn là: Bồ Đề Tát Đỏa. Bồ Đề, Bodhi là Chánh Giác. Tát Đỏa, Sattva là chúng sanh.
(Xem: 130)
Tôi rất vui mừng hiện diện ở đây với quý vị, để chia sẻ một vài quan điểm của tôi, và có thể cũng là một số kinh nghiệm nào đó. C
(Xem: 79)
Thực tế, tôi rất vui mừngcảm thấy vinh dự lớn để đón nhận giá trị này và cũng có cơ hội để nói với những thanh thiếu niên nam nữ.
(Xem: 780)
Khi dòng sông phút trước không còn là dòng sông phút sau, thì đời người phút trước cũng không giống đời người phút sau.
(Xem: 572)
Tuyển tập Những Bài Viết Ngắn Của HT Thích Như Điển Phương Trượng Chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc
(Xem: 941)
Nguyên tác: The Power of Fogiveness, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Limerick (Ireland) 2011, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 415)
Bất luận là người tu tại gia hay xuất gia, cần phải trên kính dưới hòa, nhẫn nhục điều người khác khó nhẫn được, làm những việc mà người khác khó làm được...
(Xem: 1149)
Quên mìnhbước đầu để dẹp bỏ những hàng rào ngăn cách với người khác. Không vì mình là vì muốn làm lợi ích cho số đông.
(Xem: 644)
Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn hiện thân trong cuộc đời dưới mọi dạng mọi hình như là những quý nhân để cứu độ, hay hiện lên và hay giúp đỡ (शब्दकोश)
(Xem: 502)
Tâm ý cân bằng hay tâm ý bất bình thườngảnh hưởng rất quan trọng đến sức khỏe con người.
(Xem: 465)
Bây giờ, ở đây, khi tôi sử dụng chữ “hạnh phúc”, tôi đang nói về hạnh phúc trong một ý nghĩa chân thành, sự hài lòng sâu xa.
(Xem: 917)
Là người Phật tử, dù tu tập theo pháp môn nào chúng ta cũng thường được nghe chư tôn đức dặn dò: "Tu tập phải luôn quay vào bên trong, quay về chính mình, không nhìn ngó ra ngoài".
(Xem: 452)
Theo kinh điển Nam truyền cũng như Bắc truyền, Bồ tát Di Lặc hiện trú tại cõi trời Đâu suất (Tusita), tầng trời thứ tư trong sáu tầng trời cõi Dục, đợi đủ nhân duyên sẽ giáng sanh xuống cõi Ta bà hóa độ chúng sanh.
(Xem: 607)
Bạn thân đồng sự pháp lữ Thích Minh Đạt, khai sơn chùa Quang Nghiêm ở Styockton, Giám luật Tăng Ni miền bắc California.
(Xem: 397)
Diễn viên: Nữ ngọc hoàng, táo Gia Đình Phật Tử (GĐPT), táo nam sửa chùa, táo nữ trai soạn. Khung cảnh: Cung đình.
(Xem: 410)
Lời tuyên bố của đức Phật "Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành" đã được xiển dương trong các kinh Bắc Tạng thành một công thức vĩnh hằng: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.
(Xem: 350)
Tại sao lại “ở đời vui đạo”?. Đạo là thực tại tối hậu, là chân lý tuyệt đối (so với chân lý tương đối), là Pháp thân, là Chân như, là tánh Không, là Như Lai tạng…
(Xem: 639)
Trong những thời rất xa xưa, lặng lẽ tu hành trong am vắng góc rừng được khuyến khích. Đó là những thời rất xa xưa… khi Kinh Phật ghi rằng “…đi tới góc rừng, tới gốc cây, hay tới một lều trống, nhà sư ngồi quán chiếu…”
(Xem: 494)
Đầu năm, lộc non nhú trên những cành cây tưởng đã khô mục, như là biểu tượng cho sức nhẫn nhục tuyệt vời lấp lánh dưới bầu trời Phật pháp.
(Xem: 380)
Năm Đinh Dậu với tinh thần từ bi hỷ xả, chúc mọi người bình an hạnh phúc. Xuân Mậu Tuất cầu cho đất nước luôn vươn lên, sánh vai cùng cường quốc năm châu.
(Xem: 855)
Đức Phật là một chúng sanh Giác Ngộ, nhưng rồi, ngay cả chi tiết về Giác Ngộ, phẩm chất cao nhất của tinh thần là vượt ngoài tư tưởng của chúng ta.
(Xem: 427)
theo lời dạy của Thế Tôn, ai nói nhiều nên chuyển qua nghe nhiều. Đã biết lắng nghe rồi, nếu có mở lời thì nên học nói lời chánh ngữ.
(Xem: 439)
Phật giáo là một hệ thống khoa học năng động, thực tiễn và đầy minh chứng trên cả hai phương diện: lý thuyếtthực hành, để giúp cho cuộc sống của chúng ta được an lành...
(Xem: 523)
Giáo lý vô thường trong đạo Phật không phải là một lý thuyết, luận thuyết. Nó là một sự thật. Và sự thật này đòi hỏi chúng ta phải thực tập, quán chiếu để thể nhập, chứng ngộ.
(Xem: 421)
Huynh trưởng Tâm Nghĩa – Lê Hữu Đàng là một vị huynh trưởng cao niên và thâm niên của Tổ chức GĐPT; anh cũng là cháu ruột của Đức Đệ Nhất Tăng Thống – Thích Tịnh Khiết.
(Xem: 370)
Phật Giáo truyền vào Hoa Kỳ khoảng một thế kỷ rưỡi - tính từ lúc những di dân Trung Hoa sang Mỹ làm việc và mang theo Phật Giáo vào giữa thế kỷ thứ 19
(Xem: 1204)
Thời thanh xuân, tiếng nói trong trẻo, du dương; trung niên, tiếng trầm như sấm; lão niên, tiếng khàn đục như cối xay.
(Xem: 456)
Trong vô vàn hình ảnh thí dụThế Tôn thường hay vận dụng khi nói pháp thì nắm lá cây nơi rừng Thân-thứ thật nhiệm mầu.
(Xem: 480)
Ngày nay trái đất đã thu hẹp lại, đó là nhờ phương tiện di chuyểnphương tiện thông tin. Người ở bên này trái đất có thể rất gần gũi với người ở bên kia trái đất
(Xem: 992)
Chúng ta biết rằng nhà khoa học Albert Einstein có những quan điểm rất gần với nhà Phật. Nhưng rồi cũng sẽ bất ngờ, khi thấy có lúc Einstein nói y hệt, gần như 100% y hệt như giáo lý nhà Phật.
(Xem: 504)
Tôi tin là chúng ta đang sống trong một thời đạicần phải xét một cách nghiêm túc thái độ của ta đối với thực phẩm. Nói theo Thiền là chúng ta cần ‘tỏa sáng nơi chỗ đứng của mình’.
(Xem: 622)
Người tu học thường nghe Phật dạy câu ‘Nhân thân nan đắc’. Thân người khó được, khó hơn cả việc con rùa mù sống trong đại dương...
(Xem: 493)
Tứ Thánh quả là bốn cấp độ đạo quả được Phật chỉ ra giúp hành giả đánh giá được sự tu chứng của mình. Người chứng được một trong bốn Thánh quả này được xem là có tư cách của bậc Thánh,
(Xem: 441)
Bài viết để sẽ rút gọn khi nói chuyện trong Lễ Trao Giải Ananda Việt Awards 2017 Chủ Nhật 14/1/2018 tại Trung Tâm Sangha Center, California.
Quảng Cáo Bảo Trợ