Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Bài Mới Nhất trang Văn Học
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
20,920,453

Đôi Điều Về Học Giới Luật Phật Giáo

Tuesday, August 10, 202119:49(View: 678)
Đôi Điều Về Học Giới Luật Phật Giáo
Đôi Điều Về Học Giới Luật Phật Giáo

Thích Hạnh Chơn

Hiệu quả của Thiền Tỉnh Thức áp dụng trong học đường Hoa Kỳ


Giới luật Phật giáo không dành riêng cho đối tượng nào nhưng hàng xuất gia là đối tượng bắt buộc phải học giới luật Phật giáo.

Có thể nói rằng luật pháp ra đời là từ nhu cầu thực tế của cộng đồng và nhằm phục vụ cộng đồng con người. Theo luật tạng, Đức Phật chế giới khi trong Tăng đoàn (cộng đồng/tập thể Tăng sĩ) có Tỷ-kheo làm những điều phi đạo đức hay những điều gây mất uy tín cho Tăng đoàn. Mục đích chế giới trước hết là nhằm xử lý, giải quyết các vấn đề bất ổn trong Tăng đoàn. Theo thời gian và khi điều kiện xã hội thay đổi, giới luật Phật giáo chắc chắn có điều còn nguyên giá trị nhưng cũng có những điều (mang tính ứng phó với văn hóa xã hội) không còn phù hợp. Trong xã hội loài người, hiến pháp, luật pháp của bất cứ quốc gia nào cũng thường được tu chỉnh để phù hợp với xã hội nơi nó tồn tại. Do đó, việc học giới luật Phật giáo cũng cần phải theo hướng phù hợp với thời đại ngày nay. Trong bài viết này, người viết xin mạo muôi nêu vài ý kiến mang tính tham khảo cho vấn đề rất tế nhị này.

Theo sử liệu ghi lại thì năm thứ 13 sau khi thành đạo giới luật do Phật chế mới thật sự hình thành.1 Căn cứ vào các văn bản giới luật chúng ta thấy rõ rằng: Giới luật Phật chế là dành cho các vị xuất gia sống trong Tăng đoàn. Đối với hàng tại gia, Phật chỉ chế 5 giới và 8 giới (Bát quan trai giới). Về sau, Phật giáo Đại thừa thì có thêm giới Bồ-tát cho hàng tại gia. Ngoài ra, một số người theo truyền thống Đại thừa (Bắc tông) cho rằng 10 điều thiện (Thập thiện) là giới cho hàng tại gia nên các đại giới đàn có thêm phần truyền Thập thiện cho hàng tại gia. Đây là điều còn tranh cãi. Các bộ luật hiện có không ghi chép các điều luật Phật chế để xử lý hàng tại gia ngoại trừ cách ứng xử từ chối nhận thực phẩm, tài vật từ người tại gia (úp bát) khi thấy họ có những lỗi lầm quá đáng (không phải phạm giới).

Xác định nội dung giới luật dạy và học

Giới luật Phật giáo được biên tập lại nên có ít nhiều thêm bớt. Sau khi Đức Phật nhập diệt và kỳ kiết tập thứ nhất được tổ chức, 500 vị A-la-hán do ngài Đại Ca-diếp làm chủ tọa đã tuyên bố giữ nguyên giới luật Phật chế không được thêm bớt. Lời tuyên bố ấy thực tế không thể thực hiện được hoàn toànthời gian sau đó các bộ phái được hình thành và họ đã sử dụng các bộ luật có vài điểm khác nhau, dù ít và nhỏ. Nếu theo lời tuyên bố của ngài Đại Ca-diếp, vậy thì bộ phái nào tuân thủ đúng, bộ phái nào vi phạm? Sự thật không ai có thể trả lời được và qua đó chứng minh rằng giới luật Phật giáo không phải là bất di bất dịch. Điểm qua các bộ luật hiện có, chúng ta thấy bộ Tứ phần có 250 giới dành cho Tỷ-kheo Tăng, Ngũ phần có 251 giới, Tăng kỳ có 218 giới, bộ luật bằng tiếng Pāli được chư Tăng Nam truyền sử dụng có 227 giới. Nếu so sánh các tạp sự giữa các bộ luật, chúng ta cũng sẽ thấy có sự khác nhau.

Trong các giới Tỷ-kheo, thực tế những giới được áp dụng là những giới căn bản quan trọng. Lấy luật Tứ phần làm ví dụ, ngoài các giới thuộc thiên (chương) Ba-la-di (Parajika dhammas) được áp dụng trọn vẹn trong Tăng đoàn, các giới trong các chương còn lại có thể chỉ áp dụng một số giới tùy theo chương. Hơn nữa, mặc dù chương Ba-la-di gồm 4 giới căn bản quan trọng nhưng trên thực tế thì giới sát (giết người) hiếm có Tỷ-kheo nào phạm và nếu phạm thì luật pháp nhà nước xử tội trước, giới nói dối (đại vọng ngữ) khó có Tỷ-kheo nào phạm tới mức đủ bằng chứng để Tăng đoàn cử tội Ba-la-di, giới trộm cướp cũng không có định lượng cụ thể để Tăng đoàn cử tội Ba-la-di trừ khi Tỷ-kheo ấy bị nhà nước xử tội. Chỉ có giới thứ nhất là dễ phạm và dễ cử tội Ba-la-di nhất vì nó cụ thể. Các chương khác như: chương Tăng-già-bà-thi-sa (Sanghadisena dhammas) có giới thứ 6, thứ 7 liên hệ đến chỗ ở và giới thứ 13 (không bỏ tánh xấu) khó áp dụng trong thực tế Tăng đoàn ngày nay. Trong chương Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề (Nissaggiya pacittiya dhammas), các giới liên quan đến cất giữ y áo, bình bát, dược phẩm, vật dụng… hiếm thấy áp dụng trong cuộc sống thực tế của Tăng chúng. Chương Ba-dật-đề (Pacittiya dhammas) thì chỉ có khoảng 1/3 các giới có thể áp dụng trong Tăng đoànliên quan đến việc ứng xử, đạo đức. Chương Một trăm pháp chúng học (Sekhiya dhammas) dạy về các oai nghi, cách giao tiếp thuộc giới nhẹ áp dụng nhắc nhở sám hối. Chương Bảy pháp diệt tránh (Adhikarana samatha dhammas) dạy cách giải quyết tranh cãi, bất hòa trong nội bộ Tăng đoàn nên được áp dụng khi có tranh cãi. Còn chương Hai pháp bất định (Aniyata dhammas) và chương Bốn pháp Ba-la-đề-đề-xá-ni (Patidesaniya dhammas) thực tế hiếm thấy áp dụng trong Tăng đoàn ngày nay.

Như vậy, phần giới bổn Tỷ-kheo nếu giảng dạy thì nên giới thiệu tổng quát 250 giới nhưng cho học kỹ thì nên chọn những giới nào có thể áp dụng trong đời sống thực tế của Tăng đoàn. Học những điều không áp dụng được thì giúp có kiến thức nhưng quá nhiều sẽ làm tốn thời gian của chương trình học trong khi các điều cần học thì không được dạy.

Phần thứ hai là những điều cần truyền dạy nhưng các trường Phật học ít quan tâm do không có thiết kế chương trình hoặc không có thời gian cho phần đó. Phần cần truyền dạy là các luật (quy định) thực hiện các pháp yết-ma: thọ giới, thuyết giới bố-tát, an cư, tự tứ, hòa giải tranh cãi (chương Câu-thiểm-di), cử tội (chương Chiêm-ba), xử tội… Những pháp này thuộc về tác trì mà bất cứ Tăng đoàn nào cũng phải thực hành. Các chương liên quan đến da thuộc, y áo, thuốc, phòng xá, tạp sự thực tế không áp dụng nên ai muốn tham khảo thì tự đọc.

Phần thứ ba cần dạy là hiến chương, nội quy Tăng sự, các bộ luật liên quan đời sống tôn giáo, các bộ quy tắc hướng dẫn sinh hoạt cho Tăng Ni trong xã hội hiện tại mang tính khả thi.

Đối tượng học giới luật Phật giáo

Giới luật Phật giáo không dành riêng cho đối tượng nào nhưng hàng xuất gia là đối tượng bắt buộc phải học giới luật Phật giáo. Theo chương trình hiện hành được áp dụng tại các trường Phật học, ở cấp sơ cấp và trung cấp các Tăng sinh thường chỉ được học 4 bộ luật của Sa-di gồm: Tỳ-ni, Sa-di thập giới, 24 oai nghi, Cảnh sách và Sa-di luật giải. Nếu dạy đầy đủ các bộ luật này thì 3 hay 4 năm trung cấp khó hoàn tất chương trình. Việc học thuộc lòng 4 bộ luật này là đáng quý nhưng cốt lõi là chỉ cần nắm rõ 10 giới Sa-di, 24 quy tắc oai nghi để áp dụng trong đời sống Tăng đoànTỳ-ni và Cảnh sách thì cảnh tỉnh tu tập.

Về giới Tỷ-kheo và các luật mà Tỷ-kheo phải thực hành khi sống trong Tăng đoàn, thì theo luật bất thành văn chỉ khi nào Sa-di thọ Đại giới trở thành Tỷ-kheo mới được học. Vấn đề đặt ra là tại sao không giới thiệu cho họ biết trước những điều giới luật họ sẽ thọ nhận giữ gìn khi bước vào hàng Tăng bảo để họ cân nhắc trước khi thọ? Tại sao Sa-di không được dạy các già nạn (các điều kiện không được quyền thọ Đại giới), bổn phận đệ tử (luật Tứ phần) trước khi họ được thọ đại giới mà phải chờ đến khi có Đại giới đàn rồi thì mới có vị đại diện hỏi qua loa hình thức các già nạn?!

Ở cấp độ đại học hay cao đẳng, môn Giới luật học cương yếu chỉ vài tín chỉ thì không thể chuyển tải hết nội dung căn bản của giới luật Phật giáo. Đặc biệt, các cách thức thực hiện yết-ma trong các sinh hoạt Phật giáo như nêu trên chưa đưa vào giảng dạy. Một người xuất gia theo Bắc tông hiện nay được chú trọng truyền dạy 4 bộ luật tiểu một cách chi tiết nhưng lại thiếu thời gian để truyền dạy những điều quan trọng hơn như giới Tỷ-kheo, các điều luật Tỷ-kheo phải làm, các pháp yết-ma… trong các sinh hoạt Tăng đoàn.

Như vậy, một vị Tỷ-kheo bắt buộc phải biết các giới luật căn bản để có thể sống trong Tăng đoàn. Cũng giống như công dân cần biết luật để tham gia giao thông, tham gia sinh hoạt trong cộng đồng một quốc gia.

Với Phật tử tại gia, họ có thể tìm hiểu về giới luật Phật giáo để hỗ trợ chư Tăng giữ giới nhưng thật sự mà nói không mấy ai có thời gian để phát tâm học giới Tỷ-kheo để làm hạnh nguyện đó. Hơn nữa, đối tượng mà Phật nhắm tới để truyền dạy giới luật không phải là cư sĩ mà là tu sĩ bởi hàng xuất gia sống theo Tăng đoàn.

Giới luật Phật giáo thì rất nhiều và chi tiết nhưng những điều quan trọng có thể áp dụng trong đời sống Tăng đoàn thì không quá nhiều. Do đó, việc dạy học giới luật Phật giáo cần điều chỉnh cho phù hợp.

Đối với các vị trụ trì, họ ít nhất phải hiểu rõ các điều giới luật quan trọng và các pháp yết-ma trong Phật giáo. Đối với các vị chuyên luật thì họ có thể nghiên cứu sâu để thực hiện các đại lễ cần yết-ma và giảng dạy.

Những vấn đề tế nhị này khi đề cập rất dễ bị phản bác bởi những vị mang tinh thần bảo thủ. Ở đây, người viết đưa ra quan điểm mang tính đề xuất. Dù vậy, quan điểm này phù hợp với tôn chỉ của Đức Phậtgiáo pháp hay giới luật không phải là chiếc bè quý hiếm phải đội sau khi qua sông, mà nó phải được sử dụng như là phương tiện để qua sông mà thôi. Giới luật được áp dụng trong đời sống thực tiễn nhằm đem đến sự ổn định trong Tăng đoàn và sự an lạc cho mỗi cá nhân xuất gia (2 trong 10 nguyên nhân Phật chế giới), nhưng không vì thế mà rơi vào “giới cấm thủ”.

Mùa xuân bắt đầu một năm, học và thọ giới bắt đầu cho đời sống Tỷ-kheo - thành viên của Tăng đoàn. Đề cập vấn đề giới luật đầu xuân với mong mỏi rằng ngành luật Phật giáo xem xét soạn ra chương trình giảng dạy giới luật phù hợp cho các vị mới xuất gia. Ngành cũng cần nghiên cứu thiết kế chương trình cho các vị xuất gia học giới luật trước khi thọ chúng. Mục đíchđào tạo cho các thành viên Tăng đoànhiểu biết về giới luật Phật giáo. Đó cũng là giải pháp nhằm tránh các trường hợp truyền giới phi pháp xảy ra thời gian qua và giúp hạn chế những điều đáng tiếc do người không hiểu giới luật gây ra.

Thích Hạnh Chơn / Nguyệt san Giác Ngộ

__________________________

(1) Thích Tuệ Sỹ biên soạnTứ phần luật, HCM: NXB.Hồng Đức, 2019; Viên Trí, Ý nghĩa giới luậtHCM: NXB Hồng Đức, tr.37.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 64)
Nếu ăn chay được thì đó là dựa vào lập trường từ bi chứ không phải như người ta hiện này nói nguyên nhân khỏe mạnh và kinh tế.
(View: 134)
Chúng ta phải cẩn thận để không nghĩ rằng hành thiền là phải dẹp bỏ các suy tưởng.
(View: 129)
Bài kinh ngắn “Con Đường Không Có Lầm Lỗi” là bài kinh được trích trong Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikãya)
(View: 104)
Thời Lý – Trần là thời kỳ vàng son nhất của Phật giáo Việt Nam khi nhận được sự ủng hộ rất lớn từ triều đình và
(View: 123)
Kể từ khi Đức Phật thành đạo và chuyển bánh xe pháp thì lý tưởng thực thi tinh thần bình đẳng giải thoát và bình đẳng...
(View: 154)
Cho đến nay, đại dịch COVID-19 đã hoành hành trên thế giới gần hai năm.
(View: 180)
Bình an và hạnh phúc là hai phạm trù cơ bản trong cuộc sống mà con người luôn mong ước đạt được đầy đủ và trọn vẹn nhất, để cuộc sống thêm thăng hoa
(View: 188)
Trong một kiếp nhân gian, mọi chúng sinh đều khởi đầu từ sinh và kết thúc ở diệt.
(View: 174)
Trong xã hội hiện nay, chúng ta đề cao tinh thần nhập thế, đem đạo vào đời. Vậy làm thế nào để Phật sự mãi thăng tiến, tỏa sáng, ma sự ngày càng tiêu trừ.
(View: 166)
Liều thuốc giải cho ảo tưởng, bản ngã và từng vấn đề khác mà chúng ta đối mặt là trí huệ của Pháp;
(View: 214)
Sự phát triển của thời đại công nghệ số, cám dỗ vật chất và những thách thức từ khủng hoảng môi trường, dịch bệnh, kinh tế, xã hội,…
(View: 213)
“Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là hư vọng, không thật, không có lợi ích, Như lai không trả lời.
(View: 235)
Sống trong thế giới đầy biến động của đại dịch COVID-19 bùng phát, mới thấy sự hiện hữu của con người trong mối tương quan
(View: 195)
Khi Đức Phật còn hiện hữu cõi Ta-bà, chúng đệ tử xuất gia sống thanh tịnh, hòa hợp thành một thể thống nhất,
(View: 172)
Ngoài Danh và Sắc, phần tâm linh và phần vật chất, là hai thành phần cấu tạo chúng sanh, Phật Giáo không chấp nhận
(View: 282)
Ajhan Chah nói rằng nếu bạn muốn chuyển hóa tâm, bạn phải biết và chuyển hóa trái tim. Và khi thực hành bạn cảm thấy không thoải mái, muốn bỏ cuộc, đó là khi bạn biết mình đang đi đúng đường.
(View: 245)
Giã từ cõi mộng điêu linh Tôi về buôn bán với mình phôi pha.
(View: 295)
Những rộn ràng họp hội mấy giờ trước đã lắng xuống. Tiếng nói, giọng cười ai đó, đã tan vào hư không.
(View: 304)
Những rộn ràng họp hội mấy giờ trước đã lắng xuống. Tiếng nói, giọng cười ai đó, đã tan vào hư không.
(View: 319)
Học pháp là công việc quan trọng của người con Phật nếu muốn đạt được mục đích tối hậu của sự giải thoát.
(View: 297)
Lắng nghe là một kỹ năng căn bản để kết nối cộng đồng. Lắng nghe để hiểu mình, hiểu người, để trút bỏ những ưu phiền, lạc quan vui sống, xây dựng xã hội tốt đẹp.
(View: 307)
Pháp mang lại an bình, là nơi trú ẩn và hạnh phúc cho thế gian. Nếu thế giới bị tước đoạt Pháp, chúng ta không thể tìm thấy bất kỳ sự bình an nào ở đâu cả.
(View: 369)
Vô Tầm Vô Tứ Định là nền tảng cơ bản của tất cả các loại Định trong Thiền Phật Giáo gồm chung cả ba hệ: Nguyên Thủy, Phát Triển và Thiền Tông.
(View: 371)
Thiểu Dục là muốn ít; Tri túc là biết đủ. Muốn ít là đối với cái chưa có, mà vì nhu cầu, mong cho có.
(View: 434)
Nói đến “Tâm” ai ai cũng hiểu được liền liền, nhưng đi sâu vào vấn đề là việc khác. Theo tôi được biết có nhiều người thường nói “Tâm” là (trái tim) có gì đâu mà diễn bày.
(View: 701)
Theo nhà Phật thì trong kiếp này, có người “ở hiền” nhưng lại không được “gặp lành”, nguyên nhân là bởi họ phải “trả” những thứ đã “vay” ở trước đó!
(View: 386)
Bồ tát là người tu tánh Không, ở trong tánh Không nhưng có lòng bi khi thấy chúng sanh vì không biết tánh Không nên điên đảo vọng tưởng
(View: 693)
Kính số 52 Bát Thành có đoạn viết về sơ thiền một cách ngắn gọn như sau: “Ở đây, này Gia chủ, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”
(View: 669)
Lời cầu nguyện được đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn của Tây Tạng sáng tác, Vinh Danh và Nguyện Cầu Tam bảo Đại Bi: Đức Phật, Giáo Huấn, và Cộng Đồng Tâm Linh.
(View: 435)
Cổ nhân có câu “họa tòng khẩu xuất” như muốn cảnh tỉnh, khuyên răn người đời chớ để cho cái miệng mình nói năng tùy tiện, lung tung mà có lúc tự rước họa vào thân!
(View: 482)
Từ thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành, có thể ai cũng từng được nghe những câu nói đại loại như: “Nếu không nói được gì tốt đẹp thì tốt nhất nên im lặng”.
(View: 488)
Nếu kẻ nào cố ý tạo nghiệp, Ta nói rằng kẻ ấy phải thọ lấy quả báo. Hoặc thọ ngay trong đời hiện tại, hoặc thọ vào đời sau.
(View: 676)
Trong Kinh Như Thị Ngữ (Itivutthaka), Đức Phật nói: "Tất cả những công đức mà ta thực hiện ở trên đời góp lại cũng không bằng công đức của sự thực tập Từ Quán.
(View: 773)
Đức Phật khuyên ta mỗi ngày cần quán tưởng đến năm điều. Tất cả chúng ta đều biết những điều ấy, nhưng ta thường dễ quên.
(View: 694)
Chủ đề khá nhạy cảm đã dẫn dắt vô số người trong quá khứ cũng như hiện tại; Phật tử cũng như tín đồ các Tôn giáo hiện nay ...
(View: 467)
Trong Kinh Như Thị Ngữ (Itivutthaka), Đức Phật nói: "Tất cả những công đức mà ta thực hiện ở trên đời góp lại cũng không bằng công đức của sự thực tập Từ Quán.
(View: 457)
Nếu bị người khác làm tổn thương, bạn vẫn cần yêu thương họ, nếu người khác khi dễ bạn, bạn phải tha thứ cho họ đấy gọi là rộng kết duyên lành.
(View: 783)
Tuệ Trí của Đức Đạt Lai Lạt Ma là một phần trích từ xuất bản trước đó của quyển Năng lực của Từ bi
(View: 652)
Quán niệm vô thường là một trong những nội dung tu tập căn bản của người Phật tử. Mọi sự mọi vật quanh ta luôn vận động, biến đổi từng phút, từng giây.
(View: 517)
Xung quanh các hiện tượng mê tín dị đoan “có tổ chức” diễn ra gần đây, đã có nhiều ý kiến trái chiều về “con đường tu tập” với những...
(View: 534)
Bụt đã từng sống với hàng ngàn vị khất sĩ túc trực xung quanh. Bụt cũng đi, cũng ngồi, cũng ăn cơm với những vị nam và nữ khất sĩ khác nhưng Ngài luôn an trú trong sự tĩnh lặng.
(View: 645)
Chúng ta ai ai cũng biết, trong cuộc sống hiện tại đương thời, bây giờ là thời buổi khoa học đương thời đi lên.
(View: 523)
Căn bản đời sống của chúng ta là đi tìm sự hạnh phúc và tránh né sự khổ đau, tuy nhiên điều tốt nhất mà ta có thể làm cho chính bản thân
(View: 711)
Theo quan niệm của Phật giáo, Khổ (zh. 苦, sa. duḥkha, pi. dukkha) là cơ sở quan trọng của Tứ Diệu Đế.
(View: 518)
Thoạt nhìn thì tánh Khôngtừ bi có vẻ ngược hướng nhau, vì tánh Không nhắm đến một thực tại tuyệt đối còn từ bi thì lại hướng về một thế giới và chúng sanh vô thường, tương đối.
(View: 545)
Trong nền văn hóa của chúng ta, mọi người rất khó khăn để hướng sự yêu thương tử tế đến với chính bản thân họ.
(View: 533)
Ngồi lắng lòng lại để cảm nhận từng hơi thở trong ta, nghe những thanh âm của cuộc sống và nghĩ về cuộc đời của những người ngoài kia,
(View: 536)
Trong xã hội Ấn Độ thời cổ đại, vị trí người phụ nữ hãy còn thấp kém. Tôn giáo và các giáo phái đương thời không đồng tình cho người nữ xuất gia.
(View: 624)
Trong đời sống thường nhật, nếu muốn được tự do tự tại tất phải thực hiện bằng được hai nguyên tắc “thiểu dục” và “tri túc”.
(View: 634)
Theo lời Phật dạy, nhân quả là một định luật mang tính tất yếu. Gieo nhân lành thì được hưởng quả lành, tạo nhân ác thì chịu quả báo ác.
Quảng Cáo Bảo Trợ