Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

03. Quyển Trung

10 Tháng Ba 201200:00(Xem: 11411)
03. Quyển Trung
Kinh Ðại Thông Phương Quảng
Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật

Hòa Thượng Thích Thiền Tâm dịch

Quyển Trung

Bấy giờ đức Thế Tôn bảo Hư Không Tạng Bồ Tát Ma-ha-tát rằng: “ Này thiện nam tử! Có bốn Pháp lành được nghe và tin nhận Chánh pháp. Những gì là bốn! Một là tâm hằng thanh tịnh an vui. Hay la tâm không kiêu mạn. Ba là pháp lợi tự hiển hiện. Bốn là dạy người pháp lành không cầu danh lợi. Đó gọi là bốn.

Thiện nam tử! Lại có bốn Pháp lành khi mở pháp thí. Những gì là bốn! Một là giữ gìn Chánh pháp. Hai là tự thêm trí huệ cho mình, cũng thêm trí huệ cho người nghe pháp. Ba là thường hành pháp thiện nhơn. Bốn là chỉ dạy cho người biết thế nào là: cấu, tịnh, thanh, bạch. Đó gọi là bốn.

Thiện nam tử! Lại có bốn Pháp được sức nhân từ, chẳng mất căn lành. Những gì là bốn? Một là thấy kẻ kém trí huệ chẳng cho là ngu. Hai là đối với kẻ tánh sân hận thường tu tâm từ. Ba là thường diễn nói các nhân duyên. Bốn là thường niệm Vô Thượng Bồ Đề. Đó gọi là bốn.

Thiện nam tử! Lại có bốn pháp chẳng do người dạy mà hay tự thật hành Sáu Ba-la-mật. Những gì là bốn? Một là thường dùng pháp thí ban bố đạo pháp cho người. Hai là không nói tội hủy giới cấm của người. Ba là khéo biết Tứ-nhiếp-pháp giáo hóa chúng sanh. Bốn là hiểu suốt pháp sâu. Đó gọi là bốn.

Thiện nam tử! Lại có bốn pháp hay xả sự an vui thiền định hiện sanh nơi cõi Dục. Những gì là bốn? Một là tâm thường nhu hòa. Hai khéo được sức căn lành. Ba là chẳng bỏ tất cả chúng sanh. Bốn là thường hay tu trí huệ phương tiện. Đó gọi là bốn.

Thiện nam tử! Lại có bốn pháp ở trong Phật pháp được không thối chuyển. Những gì là bốn? Một là khỏi thọ vô lượng sự sống chết. Hay là thường cúng dường vô lượng chư Phật. Ba là tu hành vô lượng tâm từ. Bốn là tin hiểu vô lượng Phật huệ. Đó gọi là bốn.

Thiện nam tử! Lại có bốn pháp không đoạn Phật tánh. Những gì là bốn? Một là vì chúng sanh mà không lui bản nguyện. Hai là ưa thích hạnh kính tin bố thí. Ba là mạnh mẽ tinh tấn. Bốn là thường hay thâm tâm tu hành Phật đạo. Đó gọi là bốn.

Bồ Tát Ma-ha-tát dạo khắp ba cõi, làm các hạnh lợi ích chúng sanh, thường tu theo đạo xuất thế, nên không đoạn Phật tánh!”

Khi Phật nói về Đại thừa tứ pháp, có bốn vạn chư thiên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, hai muôn năm ngàn người được Vô sanh pháp nhẫn, bốn vạn tám ngàn Bồ Tát thông đạt Pháp giới nhẫn thiện Phật huệ.

Khi ấy đức Thế Tôn bảo Hư Không Tạng Bồ Tát Ma-ha-tát rằng: “ Ông nên thọ trì kinh này! ”

Hư Không Tạng Bồ Tát thưa rằng: “ Bạch đức Thế Tôn! Kinh này tên gọi là chi và con phải phụng trì như thế nào?”

Đức Phật dạy: “ Kinh này tên là Đại Thông Phương Quảng, hay phá cảnh giới ma, hoại quân ngoại đạo, tiêu trừ phiền não, giải thoát năm dục cùng tà kiến trói buộc, phá ngục tam giới, đưa các loài hữu tình ra khỏi biển sanh tử hướng về nhà Niết Bàn, làm cho cảnh khô héo lâu được thấm nhuần lợi ích. Kinh này là chủng tử của chánh nhân, là mưa nhân duyên lớn và mưa pháp Lục Độ, làm cho mầm hoa Tam Thừa của chúng sanh được nảy chồi tươi tốt thành tựu cực quả Nhứt Thừa Bồ Đề. Thiện nam tử! Nay ông hỏi tên Kinh, Ta nói như thế, hãy nên thọ trì!”

Khi đó Hư Không Tạng Bồ Tát lại thưa rằng: “ Bạch Đức Thế Tôn! Con từ đời quá khứ đã ở nơi vô lượng chư Phật, vô lượng hội xứ, trong vô lượng chúng, nghe thấy tất cả pháp, tất cả sự, tất cả tướng, tất cả Thừa, nhưng chưa từng được nghe pháp hiếm có, sự hiếm có, tướng hiếm có, Đại Thừa hiếm có nầy. Nay con xin thọ trì, khiến cho không đoạn tuyệt.

Bạch Đức Thế Tôn! Chư Phật thường trụ, Pháp Tăng bất diệt. Chúng sanh trong ba cõi tự sanh tự diệt, không thấy Như Lai cùng với Pháp, Tăng, bảo rằng diệt độ. Chúng con ngày nay nhờ oai thần của Phật, du hành ba cõi, cũng thuận thời nghi mà giả nói diệt độ. Bạch Đức Thế Tôn! Chúng con cùng với tám muôn Huệ Pháp Thân Đại Sĩ từ kiếp quá khứ lâu xa, nguyện xin lưu thông kinh nầy, khiến cho chúng sanh trong pháp giới thọ trì đọc tụng, tu hành đúng như thuyết, một thời thành Phật không dám phóng xả. Bạch Đức Thế Tôn! Sau khi Phật diệt độ, ở trong đời ác nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn nào thọ trì đọc tụng biên chép kinh nầy, kẻ ấy sẽ được bao nhiêu phước?”

Đức Phật bảo: “ Nầy thiện nam tử! Nếu người nào đem trân bảo đầy cả Đại thiên thế giới để bố thí không bằng có người được nghe danh hiệu Kinh nầy, phước sau còn thắng hơn trước. Lại hơn nữa, nếu người nào đem trân bảo đầy cả mười ngàn thế giới để bố thí, không bằng có người nhiếp trì Kinh nầy, phước sau còn thắng hơn trước. Lại hơn nữa, nếu người nào đem trân bảo đầy cả mười muôn thế giới để bố thí, không bằng có người nhiếp biên chép Kinh nầy một bài kệ, cho đến một câu, một chữ, phước sau còn thắng hơn trước. Lại hơn nữa, tuy đem trân bảo đầy vô lượng thế giới để bố thí, không bằng chí tâm đọc tụng một bài kệ của Kinh nầy, phước sau còn thắng hơn trước. Lại hơn nữa, tuy bố thí cho tất cả chúng sanh trong khắp mười phương thế giới, không bằng chí tâm giải nghĩa một câu, hoặc vì người nói nghĩa một bài kệ của Kinh nầy, phước sau còn thắng hơn trước. Tại sao thế? Vì bố thí tiền của thức ănbố thí thuộc về thế gian, chỉ nuôi sống tánh mạng, không thoát khỏi sanh diệt luân hồi. Còn bố thí pháp Đại Thừa để nuôi lớn đạo căn Bồ Đề cho chúng sanh, có thể nối tiếp Huệ mạng chân thường của Tam Thừa hành giả.

Thiện nam tử! Nếu đọc tụng thọ trì Kinh nầy, xưa vốn là kẻ ác, nay là người thiện. Trước tuy kẻ khổ, nay là người vui. Xưa vốn kẻ triền phược, nay là người giải thoát. Trước vốn kẻ chưa được độ, nay là người được độ. Xưa vốn kẻ vô trí, nay là bậc luận sư. Trước vốn kẻ hữu lậu, nay là người vô lậu. Xưa vốn kẻ phàm hạnh, nay là người thánh hạnh. Trước vốn kẻ mất đạo, nay là người vào Thánh đạo. Thân tuy phàm phu, đọc tụng thọ trì Kinh nầy, trí đồng với Thánh huệ. Căn bản tuy phiền não, đọc tụng thọ trì Kinh nầy, được đồng chung cảnh Niết Bàn với chư Phật.”

Hư Không Tạng Bồ Tát thưa rằng: “ Bạch Đức Thế Tôn! Như lời Phật vừa nói: ‘ vốn kẻ phàm hạnh, nay là người thánh hạnh; căn bản tuy phiền não, đọc tụng thọ trì Kinh nầy, được đồng chung cảnh Niết Bàn với chư Phật.’ Thế thì kẻ phá giới, tạo Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp, đọc tụng thọ trì kinh nầy, cũng được đoạn trừ phiền não và cũng sẽ được Niết Bàn ư? Lời trên tuy đã minh bạch, nhưng cúi xin Thế Tôn vì con và chúng sanh giải thích rành rõ thêm!”

Đức Phật bảo: “ Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ông nay khéo hỏi, Ta sẽ giải thích. Nầy thiện nam tử, tất cả chúng sanh bởi chẳng được gặp Phật, cho nên tà kiến phạm giới, phỉ báng Chánh pháp. Nếu Phật ở đời thì không phạm giớiphỉ báng Chánh pháp. Tại sao thế? Ví như ông trưởng giả chỉ có một con, nên nặng lòng yêu quí. Khi cha còn ở nhà, ngày đêm dạy bảo việc nầy việc khác, con đều thuận theo. Người con ấy được hiếu thuận là do cha dạy bảo, nên không có sự trái phạm. Thời gian sau, cha đi xa không hẹn ngày trở lại, đứa con lãng quên mất lời cha dạy, phạm nhiều tội lỗi. Bởi con không biết lúc nào cha về, nên tưởng là đã chết, bi thương kêu khóc. Có lúc lại tợ hồ ngỗ nghịch, sầu não mất tâm, quên hẳn lời cha dạy khi xưa, dường chẳng hiếu thuận, thốt lời như phỉ báng. Một thời gian lâu sau, người cha ở phương xa lại trở về, đứa con vui mừng, nhớ lời cha dạy khi trước, giữ gìn không trái phạm. Bởi con thấy cha, nên tin rằng cha mình chưa chết. Thế thì không thể cho là đứa con mãi phạm tội nghịch. Bởi nay con đã biết giữ lời dạy bảo của cha, thuận theo mà làm, nên không phải là phỉ báng.

Nầy thiện nam tử! Ông trưởng giả tức là Như Lai. Đức con tức là tất cả chúng sanh. Dạy bảo tức là giáo giới Đại Thừa. Đi xa tức là phương tiện Niết Bàn, hiện thân hóa độ phương khác. Không thấy cha tưởng đã chết, tức cho Phật vĩnh viễn diệt độ. Sầu não, bi thương mất tâm, tức là bị vô minh che tối. Chẳng giữ lời cha dạy, tức là phạm giới. Thốt lời nói cha mất hẳn, tức là phạm tội ngũ nghịch. Mê chánh lý nói lời chẳng hiếu thuận, tức là tội phỉ báng.

Như Lai cũng thế, khi du hóa phương khác xong, lại hiện thân, chúng sanh nhìn thấy liền sanh lòng tin biết rằng Phật chưa diệt. Phật vì chúng sanh thuyết pháp khiến hoàn phục bản tâm, nên chẳng thể còn gọi đó là phạm giới. Bởi chẳng biết mới nói diệt, nên chẳng thể cho rằng thật đọa vào tội nghịch. Vì thuận theo lời dạy, thật hành đúng lý được giải ngộ, nên chẳng thể cho rằng thật có báng pháp.

Thiện nam tử! Người đọc tụng thọ trì Kinh nầy, có thể tiêu trừ tội nặng và các phiền não từ vô lượng kiếp sanh tử. Nghe tên kinh nầy, tức là được nghe danh hiệu Phật. Thấy kinh nầy, tức là được thấy Phật. Trì kinh nầy, tức là trì thân Phật. Hành kinh nầy, tức là làm việc Phật. Thuyết kinh nầy, tức là nói pháp Phật. Giải kinh nầy, tức là giải nghĩa Phật. Nếu làm việc Phật, khéo giải nghĩa Phật, người như thế, vĩnh viễn không còn phiền não. Bởi tại sao? Vì người ấy đã được gặp kinh, khéo biết dứt trừ phiền não.

Thiện nam tử! Giả sử lấy tám muôn kiếp làm một ngày, ba mươi ngày làm một tháng, mười hai tháng làm một năm. Căn cứ theo số năm giả lập ấy mà tính kể, trải qua trăm ngàn ức kiếp mới được gặp một Đức Phật. Lại qua số kiếp đó, mới được gặp một Đức Phật nữa. Được gặp kinh nầy còn khó lâu hơn số nói trên. Gặp kinh nầy tức là được gặp chư Phật mười phương ba đời. Vì thế người có trí hãy nên thọ trì đọc tụng biên chép và giải thuyết. Công đức ấy hay trừ được trọng tội, tà kiến, vô minh, phiền não, kết lậu, trụ nơi phước điền, và hay tiêu được vô lượng sự cúng dường của thế gian.”

Hư Không Tạng Bồ Tát thưa rằng: “ Bạch Đức Thế Tôn! Bậc Bich Chi Phật còn chẳng thể tiêu được sự cúng dường của thế gian, phương chi kẻ phàm phu có thể tiêu trừ được? ”

Đức Phật bảo: “ Thiện nam tử! Nói Bich Chi Phật không thể tiêu được của cúng dường, lẽ đó không đúng hẳn. Bích Chi Phật tuy không hay thuyết pháp độ người, nhưng nếu nhập thiền Tam muội, rồi từ Tam muội xuất định, khởi đại thần thông độ cho tất cả chúng sanh, là có thể tiêu được của cúng dường! ”

Bấy giờ Hư Không Tạng Bồ Tát lại thưa rằng: “ Bạch Đức Thế Tôn! Trong kinh có nói: Kẻ tà kiến phá giới không được cùng tịnh chúng ở một quốc độ, uống chung một nước sông, và cùng Bồ Tát, thuyết giới, sám hối, tự tứ. Người đó đã sụt lui mất Thánh đạo, không được đứng vào số tăng chúng. Như thế tại sao lại nói: Kẻ trọng tội tà kiến hành trì kinh nầy, tiêu được của cúng dường? Nếu tiêu được của cúng dường, tức là cùng với chư Phật đồng hưởng ngôi Ứng Cúng, hơn ngôn A La HánBích Chi Phật. Cúi xin Đức Thế Tôn từ bi phân biệt nói rõ. Con nghe hiểu xong, lại vì chúng sanh giải thuyết như lời Phật dạy, khiến cho họ được giải thoát! ”

Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát rằng: “ Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ông hôm nay đầy đủ lòng từ bi, thương xót chúng sanh mà hỏi việc nầy. Vậy hãy lắng nghe cho kỹ và suy xét nhớ lấy cho khéo, Ta sẽ vì ông mà giải thích rành rẽ. Thiện nam tử! Cảnh giới của kinh nầy không phải hàng Thanh Văn Duyên giác có thể biết, cũng không phải cảnh giới suy nghĩ của các ma vương, ngoại đạo, phàm phu. Kinh nầy duy Phật mới có thể biết, ông cũng sẽ được đạt.

Thiện nam tử! Khi xưa Ta hành đạo Bồ Tát nói pháp bố thí, thật hành bố thí, nhưng không quán sát tốt xấu để thành tựu ruộng phước, mà chỉ bảo: Bố thí cho loài súc sanh được trăm phước báo, bố thí cho kẻ Xiển Đề được ngàn phước báo. Thiện nam tử! Kẻ đoạn căn lành chết đọa vào hàng Xiển Đề. Kẻ không biết hổ thẹn chết đọa vào hàng súc sanh. Sanh sanhXiển Đề ngày kia quả lành thành thục, thì có thể nhận sự cúng dường cho người gieo trồng ruộng phước, huống chi là kẻ tà kiến phá giới ư? Nghĩa ấy như thế. Kinh Đại Thông Phương Quảng có sáu đức lớn không thể nghĩ bàn, hay khiến cho kẻ phá giới, phạm Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp, tà kiến phiền não, được trừ diệt hết tội, có thể nhận sự cúng dường! ”

Hư Không Tạng Bồ Tát thưa rằng: “ Bạch Đức Thế Tôn! Chư Phật Như Lai không thể nghĩ bàn! Kinh Đại Thông Phương Quảng có sức oai thần không thể nghĩ bàn! Người thọ trì kinh nầy, công đức cũng không thể nghĩ bàn! ”

Đức Phật bảo: “ Như thế! Như thế! Ông nói rất đúng. Thọ trì kinh nầy được công đức vô biên không thể nghĩ bàn! ”

Bấy giờ Đức Thế Tôn lại bảo Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: “ Nầy thiện nam tử! Ta nhớ thuở xưa về đời quá khứ, có một kiếp gọi là Thanh Tịnh, Ta ở trong kiếp đó cúng dường chín mươi hai ức na do tha Đức Phật. Bởi thời gian đó Ta hành pháp Tiểu Thừa, nên có rất nhiều lầm lỗi, phạm giới vô lượng, nên không được các Đức Như Lai thọ ký cho. Lại trải qua kiếp ấy, đến kiếp gọi là Nhạo Kiến. Ta ở trong kiếp đó, cúng dường bốn mươi hai ức Đức Phật, cũng không thấy các Đức Như Lai ấy thọ ký cho. Lại trải kiếp qua kiếp ấy, đến một kiếp tên là Phạm Âm. Ta ở trong kiếp đó, cúng dường hai mươi hai ức Đức Phật, cũng không thấy các Đức Như Lai ấy thọ ký cho. Lại trải kiếp qua kiếp ấy, đến một kiếp tên là Tâm Hỷ. Ta ở trong kiếp đó, cúng dường tám mươi bốn ngàn chư Phật, cũng không thấy các Đức Như Lai ấy thọ ký cho. Lại trải kiếp qua kiếp ấy, đến một kiếp tên là Cứu Khổ, cõi nước tên Trang Nghiêm, Đức Phật hiệu là Đại Thí, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, đầy đủ mười hiệu. Ta ở trong kiếp đó, cúng dường bốn mươi ức chư Phật, được nghe Kinh nầy, dứt hết phiền não, nhưng cũng không được Phật thọ ký.

Nầy thiện nam tử! Thuở xưa Ta từng đem đủ tất cả các món cúng dường dâng lên chư Phật, song không thấy các Đức Như Lai ấy thọ ký cho. Thiện nam tử! Khi xưa Ta ở trong ngần ấy kiếp, cúng dường ngần ấy chư Phật, tôn trọng ngợi khen, trừ được phiền não, giữ oai nghi cấm giới, đầy đủ hạnh pháp Thanh Văn, tu phạm hạnh trong sạch, học hạnh bố thí, giữ tất cả giới, thật hạnh đầu đà, xa lìa kiêu mạn, giận hờn ngu si. Ta lại khéo nhẫn nhục, phát từ tâm nghe như thế nào nói như thế ấy, chăm chỉ siêng năng. Tất cả chỗ được nghe, Ta nhận giữ không quên, thường ở nơi xa vắng, vào các pháp thiền định. Khi xuất định lại tùy nơi, văn-huệ đọc tụng suy xét. Nhưng tuy hành trì ngần ấy công hạnh, cũng không thấy các đức Như Lai thọ ký cho Ta, là tại vì sao? Bởi Ta thọ cấm giới mà hủy phạm rất nhiều, đắm sâu pháp Thanh văn cùng hạnh Nhị thừa, lại không được nghe kinh Đại thừa Phương Quảng. Vì thế các bậc Bồ Tát nên xa lìa hạnh Nhị thừa, tu tập kinh điển đại thừa Phương Quảng, danh hiệu Phật Ta đã cúng dường thuở ấy, dầu dùng một kiếp mà tuyên thuyết cũng không thể nói ra hết được.

Thiện nam tử! Trải thời gian đó về sau Ta được gặp đức Phật Định Quang. Ngài vì vô lượng đại chúng nói kinh Đại thừa Đại Thông Phương Quảng. Khi đó ta được nghe, được thấy đức Phật nói kinh nầy, thọ trì đọc tụng, suy xét nghĩa lý, liền đắc Vô-sanh-Pháp-nhẫn. Ngay thời gian đó, đức Định Quang Như Lai mới thọ ký cho Ta. Ngài bảo: " Đời sau ông sẽ được thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, đầy đủ mười hiệu. Bởi thế, thiện nam tử! Nên thọ trì kinh nầy, tất sẽ mau chứng ngôi Phật quả, huống chi là việc tiêu sự cúng dường của Trời, người. Cho nên Kinh điển Đại thừa là kho tàng quí báu, có sức bố thí không thể nghĩ bàn, huệ thí cho kẻ phá giới, nghèo nàn. Người tu theo pháp nầy như được châu báu.

Thiện nam tử! Đại thừa như nước biển cả, tiểu thừa như nước vết chân. Đại thừa như núi Tu Di, tiểu thừa như tổ kiến. Đại thừa như nhựt nguyệt, tiểu thừa như ánh lòe. Kinh thừa nầy là đại thừa, không thể nghĩ bàn, dung nạp tất cả chúng sanh, cũng như hư không. Trong tất cả các thừa, thừa này là bậc nhứt. Đại thừa nầy là Vô thượng thừa. Tiểu thừa có hạn lượng, không thể độ tất cả. Duy Vô thượng thừa mới có thể độ tất cả chúng sanh. Nếu hành trì theo Vô lượng hư không đại thừa nầy, thì như hư không chẳng có hạn lượng cũng không có hình sắc. Đại thừa cũng như thế, vô hạn lượng vô chướng ngại, tất cả chúng sanh nương nhờ nơi đây nên quan sát tướng của thừa này rộng rãi dung nạp rất nhiều. Trong vô lượng kiếp nói công đức của đại thừa và kẻ hành trì theo thừa nầy, không làm sao cùng tận được. Trong tất cả các thừa, đại thừa này tối thắng. Chí tâm thọ trì đại thừa, sẽ được đến ngồi cội Bồ Đề, không còn bị ràng buộc chướng ngại. Vô thượng thừa nầy thắng tất cả hạ liệt thừa. Ta ngồi dưới cội Bồ Đề, quan sát mười hai chân duyên, vì thương xót chúng sanh nên nói kinh Đại thừa. Mười phương các chúng sanh nếu tu theo thừa nầy, sẽ được không tăng giảm, sức dung thọ như hư không. Cho nên đại thừacông năng thần thông trí huệ lớn chẳng thể nghĩ bàn. Vì thế tất cả chúng sanh đều nên tu tập. Tất cả chúng cõi Trời, Thiên mangoại đạo, muốn trừ phiền não ràng buộc, nên quy y đại thừa. Như thế quyết sẽ được đầy đủ Lục thần thông, Tam minh, Tam đạt, có thể dẹp các ma, ngoại đạo, cùng những bọn tà kiến. Pháp đại thừa rất thiết yếu, hay phá các phiền não, khiến đầy đủ mọi căn lành, cho nên công năng của đại thừa thật khó nghĩ bàn! Tất cả các pháp thế gian cùng các pháp xuất thếpháp hữu học, vô học, đều nhiếp trong Đại thừa.

Thiện nam tử! Nếu chúng sanh nào làm điều ác, lại gần gũi kẻ tà kiến, hạng ác tri thức, nên bảo họ mau cải hối và tránh xa ngay những người ấy, quay lại quy y Đại thừa. Nếu người chẳng ưa thích cầu học Đại thừa, thì không thể phá được phiền não. Muốn cầu giải thoát phải học Đại thừa. Nếu có đại nhân hiểu đại sự, nghe nói đại thừa sanh lòng hoan hỷ, nên biết đó tức là hạng người đại thừa. Hành giả được tâm vắng lặng, đầy đủ thần thông, đều nhờ bởi dùng Đại thừa để tự trang nghiêm. Nếu có người nào hành đại hạnh, đó là không làm dứt hạt giống Tam Bảo. Nếu có người nào hướng theo pháp Đại thừa, kẻ đó liền được vô lượng phước, có thể đến thế giới mười phương, cúng dường mười phương vô lượng chư Phật. Như thế kinh Đại Thừa Phương Quảng, các thừa thế gian không thể thắng nổi, đầy đủ oai đức phá sanh tử. Cho nên Đại thừa thật khó nghĩ bàn, khiến được sắc lực, được tự tại thành tựu, đầy đủ pháp tánh chân thường. Nếu ai nương theo Đại thừa này, người đó sẽ được hưởng sự vui vô thượng. Bậc có thể xả mình bố thí, tu đạo từ bi, do vì đó được Vô thượng thừa. Bậc trì giới tinh tấn, tu phạm hạnh có thể dùng thần thông, che nhựt nguyệt, đều do từ lâu đã tu hạnh Đại thừa. Nếu tự tâm thường tinh tấn, siêng cần tu tập, người đó được Đại thừa. Nếu bị vô lượng quả báo khổ não, tu theo Đại thừa tất được trừ diệt. Nếu có thể an trụ nơi Kinh điển Đại thừa, sẽ được hưởng sự an vui như chư Phật, lại đầy đủ chánh niệm, thường tinh tấn, được Tứ như ý thần thông lực. Bậc nương theo chánh pháp và chân nghĩa, đều do từ lâu đã tu kinh Đại thừa. Bậc đầy đủ Thập lực, Tứ vô sở úy, ba mươi hai tướng đẹp trang nghiêm đắc Kim cang Tam muội cùng Nhứt thiết trí, đều do từ lâu đã tu pháp Đại thừa.

Thiện nam tử! Nếu người nào trì kinh Đại thừa này từ một chữ, một câu, cho đến một bài kệ, sẽ được thoát hết các khổ nạn, trọn không đọa ác đạo, được đến chốn an vui. Trong đời ác về sau, nếu ai được bản kinh nầy, Ta đều thọ ký cho chắc chắn sẽ thành Phật đạo. Nếu trì kinh này, Phật thường gần người đó, kẻ ấy cũng thường gần Phật. Người đó hộ trì Phật pháp, chư Phật cũng hộ trì kẻ ấy, khiến cho được đại thần thông, đại trí huệ, hay chuyển đại pháp luân, độ các nẻo sanh tử, phá hoại ma quân. Khi xưa Ta ở chỗ đức Định Quang Như Lai nghe kinh Phương Quảng nầy, nên được an trụ Pháp nhẫn, được thọ ký hiệu là Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau khi Ta diệt độ, nếu ai tu học kinh nầy, Ta cũng thọ ký cho người đó sẽ thành Phật. Kẻ nào ở đời vị lai, hiểu được nghĩa kinh nầy, nên vì những chúng sanh mê tối mà diễn nói. Như Lai tuy chẳng còn hiện ở đời, song ngôi Tam Bảo vẫn chẳng dứt, cũng như Phật còn hiện thế. Vì sao? Bởi Ta từ nơi vô lượng chư Phật, đã thọ trì kinh điển nầy, từng ở trong đời mạt kiếp, vì người mà diễn nói, nên ngày nay mới được ba mươi hai tướng.”

Khi ấy Hư Không Tạng Bồ Tát thưa rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Tất cả chư Phật đều nói ba mươi hai tướng, nay Thế Tôn cũng nói ba mươi hai tướng. Vậy do nhân hạnh gì mà được thành tựu các tướng đẹp ấy, cúi xin đức Thế Tôn chỉ dạy cho chúng con! "

Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát: " Nầy thiện nam tử! Như Lai do thành tựu vô lượng công đức, nên mới được ba mươi hai tướng. Dù Ta nói đến cùng kiếp các nhân hạnh ấy cũng không thể hết. Nay Ta sẽ vì ông mà nói lược qua thôi: Như Lai do chí tâm tịnh giới nên được tướng lòng bàn chân bằng phẳng. Do tu tất cả hạnh huệ thí nên được tướng lòng bàn chân có ngàn vòng xoáy. Do chẳng lừa dối tất cả chúng sanh, nên được tướng gót chân đầy đặn. Do hộ trì chánh pháp, nên được tướng ngón tay thon dài. Do không phá hoại người, nên được tướng tay chân có màng mỏng giao tiếp. Do dùng đôi mắt vui tươi nhiệm mầu khi cúng dâng bố thí, nên được tướng tay chân mềm mại. Do đem thức ăn trong sạch bố thí, nên được bảy chỗ nơi thân đầy đặn. Do ưa vui nghe chánh pháp, nên được tướng bắp vế tròn trặn như con hươu. Do che dấu tội lỗi của người nên được tướng mã âm tàng. Do tu pháp thập thiện, nên được tướng thân trên như sư tử vương. Do thường đem pháp lành giáo hóa chúng sanh nên được tướng đôi vai bằng no đầy. Do cứu giúp người khỏi sợ hãi nên được tướng cánh tay, khuỷu tay tròn trặn. Do thấy người kiến tạo ngôi Tam Bảo vui mừng giúp đỡ, nên được tướng tay dài chấm gối. Do thường tu muôn pháp lành, nên được tướng thân hình thanh tịnh. Do thường cho thuốc người bệnh, nên được tướng ăn vật gì đến cổ đều không lộ hiện. Do thường phát tâm trang nghiêm tu pháp lành, nên được tướng hàm sư tử. Do đối với tất cả chúng sanh một lòng bình đẳng, nên được tướng bốn mươi cái răng. Do vui vẻ hòa hợp không tranh kiện nên được tướng răng kín. Do đem trân bảo bố thí nên được tướng răng bằng. Do thân miệng ý trong sạch, nên được tướng răng cửa trắng. Do giữ bốn điều lỗi của miệng, nên được tướng lưỡi rộng dài. Do thành tựu vô lượng công đức, nên được tướng các thức uống ăn vào miệng đều biến thành thượng vị. Do thường đem lời dịu dàng nói với chúng sanh, nên được tướng phạm âm. Do tu tập từ tâm nên được tướng đôi mắt rộng dài. Do chí tâm cầu đạo Vô thượng Bồ đề, nên được tướng lông mi như ngưu vương. Do khen ngợi công đức của người, nên được tướng bạch hào. Do cung kính cúng dường cha mẹ, Hòa thượng, A xà Lê sư, nên được tướng nhục kế. Do ưa thích nói pháp Đại thừa, nên được tướng thân mềm mại. Do vui mừng trải tọa cụ cho bậc tôn trưởng, nên được tướng Kim quang minh. Do xa lìa việc xúm với nhau nói chuyện thế gian, nên được tướng mỗi mỗi chân lông đều hiện sắc xanh biết. Do vui nhận lời răn dạy của bạn lành, sư trưởng, nên được tướng lông trên thân nhỏ mướt. Do chẳng đem việc ác gán cho chúng sanh, nên được tướng sắc tóc ánh nhuần. Do thường khuyên chúng sanh tu Tam muội, nên được tướng viên mãn như Ni câu đà. Do sanh xứ nào cũng ưa thích tạo tượng Phật, nên được tướng sức như đại lực sĩ.

Thiện nam tử! Bồ Tát Ma ha tát thành tựu vô lượng công đức như thế, nên được ba mươi hai tướng cùng các vẽ đẹp trang nghiêm."

Hư Không Tạng Bồ Tát thưa rằng: " Bạch Đức Thế Tôn! Con quán các pháp đều không có tướng mạo, lại quan Như Lai cũng chẳng phải thật có các nhân hạnh đó, tại sao Thế Tôn lại nói rộng tu muôn hạnh? Con quán từ Phật Pháp Tăng. Cho đến Khổ Tập Diệt Đạo, Ngũ ấm, Lục nhập, Thập nhị nhân duyên, các Ba la mật, nhân quả trong ngoài, không, Vô tướng Vô nguyện đều chẳng thấy sanh ra, chẳng thấy diệt mất, như huyễn, như hóa, như bóng, như vang, như trăng dưới nước, như lông rùa, như sừng thỏ, như hoa đốm giữa hư không, như thạch nữ có con, như mặc bóng áo, như cỡi bóng chim trắng, tợ có tợ không. Và tất cả các pháp có, không, chẳng có chẳng không, chẳng thường chẳng đoạn, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng trong chẳng ngoài, chẳng kiến chẳng thức, cũng đều như hư không. Thế sao Phật lại nói ta tu các pháp? Con quán Như Lai cũng chẳng phải chúng sanh, thọ mạng, sĩ phu, cũng chẳng phải mắt, chẳng phải sắc, chẳng phải sắc tướng hành. Chẳng phải tai, chẳng phải thanh, chẳng phải thanh tướng hành. Chẳng phải mũi, chẳng phải hương, chẳng phải hương tướng hành. Chẳng phải lưỡi, chẳng phải vị, chẳng phải vị tướng hành. Chẳng phải thân, chẳng phải xúc, chẳng phải xúc tướng hành. Chẳng phải ý, chẳng phải pháp, chẳng phải pháp tướng hành. Chẳng phải thức, chẳng phải sắc, chẳng phải thức sắc tướng hành. Chẳng phải sắc, chẳng phải khổ, chẳng phải sắc khổ tướng hành. Con quán Như Lai chẳng phải ta, chẳng phải người, chẳng phải hành, chẳng phải ấm, chẳng thật chẳng hư, chẳng tụ chẳng tán, chẳng ra chẳng vào, thọ tưởng hành thức cũng lại như thế. Con quán Như Lai không đi, không lại, không có trụ xứ, không có tâm ý thức, không có nghiệp thân miệng ý, chẳng một chẳng hai, không có quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng nhơ chẳng sạch, không có ta, người, chúng sinh, thọ giả. Con quán các pháp chẳng thường, chẳng đoạn, không sanh, không diệt, không tu, không hành, không xả, không thọ, rốt ráo thường trú. Như Lai và các pháp đều như thế, tại sao THế Tôn lại nói rộng tu muôn hạnh?"

Bấy giờ đức Phật khen ngợi Hư Không Tạng Bồ Tát Ma ha tát rằng: " Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ông ở trong thời quá khứ từng đã cúng dàng vô lượng chư Phật, đã thấu hiểu từ lâu nghĩa Không của Vô thượng Đại thừa, đã biết suốt muôn Pháp đều về Không Tịch, cũng như hiểu rõ chư Phật vẫn rốt ráo thường trú. Thiện nam tử! Ví như hạt châu lưu ly quý báu ở trong bùn trải qua ngàn năm, vì tánh nó vốn trong sạch, nên khi ra khỏi bùn vẫn còn nguyên bản chất. Các ông nay cũng như thế, thấu rõ pháp tướng tánh vốn thanh tịnh. Các ông tuy ở trong ba cõi, trong đám bùn lầy năm món ô trược, giúp Phật để hoằng dương giáo hóa, cũng không bị bùn làm ô nhiễm. Bởi không bị ô nhiễm, nên hỏi Ta nghĩa đó.

Thiện nam tử! Hãy để ý lắng nghe, Ta nói cho biết! Tất cả muôn pháp nguyên lai không có tướng mạo. Do có văn tự, nên tạm nói có pháp. Thật ra trong pháp khôngvăn tự, trong văn tự không có pháp. Vì lưu bá nên có ngôn ngữ văn tự, trong văn tự không có Bồ Đề, trong Bồ Đề cũng không có văn tự, nhưng trong đạo thế tục nói ra có văn tự, chúng sanh, Phật tánh. Lại đạo Vô thượng Bồ Đề vốn chẳng lìa văn tự.

Thiện nam tử! Nói đúng ra, Như Lai vô tận vô sanh, chẳng tu chẳng hành, nhưng lìa các sự tu hành thì không vào Chánh vị. Như Lai cũng chẳng phải bậc Nhứt sanh Bổ xứ lên cõi trời Đâu suất đà, chẳng từ đó mà hạ sanh nhân gian, chẳng ở thai, chẳng ở đời, đối với tất cả các pháp tâm không trụ trước. Như Lai chẳng nói Ta đã vượt khỏi sanh già bịnh chết, chẳng nói trong bốn phương mỗi phương đi bảy bước, cũng chẳng tự nói Ta là bậc Vô thượng tônthế gian. Như Lai chẳng phải thật ở trong cung, vui cùng thế nữ, chẳng tập những kỹ thuật của thế gian, cũng chẳng học cởi ngựa đấu sức. Vì muốn độ chúng sanh, nên thị hiện cảnh người già. Vì phá hoại sự tham chấp sắc thân, nên thị hiện tướng bịnh khổ. Vì phá hoại sự tham thọ hưởng, nên thị hiện tướng chết. Vì phá hoại lòng tham đắm ngã và ngã sở, nên thị hiện tướng Sa môn xuất gia. Vì muốn khiến chúng sanh chẳng cầu thân nơi hàng Phạm Thiên Đế Thích, mà cần cầu pháp Vô thượng xuất thế, nên thị hiện vượt cung thành thoát ly sự ràng buộc trong ba cõi. Lại thị hiện chẳng phải nhân quả trước sau, thị hiện không sân ái.

Thế nên sự dùng ba mươi hai tướng trang nghiêm sắc thân, là vì muốn chỉ cho chúng sanh ruộng phước tốt lành. Xả trân châu áo gấm, bỏ chuỗi anh lạc, buông thả kẻ Xiển đà la theo phục vụ, là thị hiện rũ sạch tất cả muôn duyên phiền não. Cắt bỏ râu tóc, là thị hiện xa lìa sự tham trước tất cả pháp. Thọ trì áo cà sa, là thị xa điều phục chúng sanh. Đến ông Uất Đà Già A La tham hỏi thọ pháp, là thị hiện phá hoại tâm tự cao. Tu sáu năm khổ hạnh, là vì hàng phục ngoại đạo. Thọ thức ăn uống, là thị hiện tùy thuận theo pháp thế tục. Thọ dược thảothị hiện sự biết vừa đủ. Ngồi trên đệm cỏ, là tỏ sự phá trừ kiêu mạn. Chư thiên, Long thần, khen ngợi cung kính, là nêu rõ quả báo công đức trang nghiêm. Hàng phục ngoại ma, là tỏ sức dõng mãnh. Tay mặt chỉ xuống đất, là tỏ công lực của sự tạo phước. Đại địa chấn động, là tỏ sự báo ân. Tu Vô tướng vô nguyện đắc Vô thượng Bồ đề, là thị hiện biết suốt các pháp tướng.

Thiện nam tử! Quán các pháp bình đẳng, nên gọi là Phật. Trí huệ của Phật không ai thắng nổi, nói pháp thiết yếu, biết Phật quá khứ hiện tại vị lai, vì nghĩa đó nên gọi là Như Lai. Thấy biết rành rõ việc ba đời, các pháp lành, chẳng lành, nên gọi là Tát bà nhã. Lời nói chân thật nên gọi là Thiên nhơn sư. Nếu hành giả có thể quán như thế đó gọi là Bồ Tát. Như quán khác đi, chẳng thể gọi Bồ Tát, gọi là lừa dối tất cả chư Phật. Tất cả các đức Như Lai, thật ra chẳng xuất chẳng nhập, chẳng sanh chẳng diệt. Vì độ chúng sanh nên nói là xuất thế, lại vì độ chúng sanh nên bảo là nhập Niết Bàn!”

Khi ấy Hư Không Tạng Bồ Tát thưa rằng: " Bạch đức Thế Tôn! Con biết lý không của pháp tướng đã từ lâu. Chư Phật Như Lai không ra đời, không diệt độ, không sanh nơi vương cung, không tịch dưới cây song thọ, rốt ráo thường trụ, vì độ chúng sanh mà tu các hạnh khổ và nhập Niết bàn. Chư Phật Như Lai không động chuyển, chân thật thường còn, ứng thân trong ba cõi, hiện năm thứ pháp thân. Những gì là năm? Đó là: thật tướng pháp thân, Công đức pháp thân, Pháp tánh pháp thân, Ứng hóa pháp thân, Hư không pháp thân.

Thế nào gọi là Thật tướng pháp thân? Như Lai trải vô số kiếp tu hành, chứng ngộ tướng chân thật của các pháp, nên gọi là Thật tướng pháp thân.

Thế nào gọi là Công đức pháp thân? Đức Phật vì độ chúng sanh, nên ra công tích hạnh, muôn đức lành tròn đầy, nên gọi là Công đức pháp thân.

Thế nào gọi là Phát tánh pháp thân? Như Lai ngộ suốt cùng tận sự lý của tất cả pháp tướng, từ nơi cảnh mà hiểu tỏ nghĩa Không. Sự tỏ ngộ ấy tròn trặn đầy đủ, từ nơi cảnh mà được tên, nên gọi là Pháp tánh pháp thân.

Thế nào gọi là Ứng hóa pháp thân? Đức Phật ra đời ứng thân đủ khắp năm cõi thiện ác để cứu vớt muôn vật. Từ chỗ ứng hóa ấy mà được tên, nên gọi là Ứng hóa pháp thân.

Thế nào gọi là Hư không pháp thân? Hư không vô biên, pháp thân cũng vô biên. Hư không chẳng thể đo lượng, pháp thân cũng chẳng đo lượng. Thân của Như Lai cũng thế, như cõi thái hư, vì độ chúng sanh nên ứng hiện ra năm phần. Nên biết Như Lai không sanh không diệt, các pháp cũng thế, vì độ chúng sanh nên Phật hiện, Pháp hưng! ”

Bấy giờ đức Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát: “ Nầy thiện nam tử! Ông với Như Lai cùng hiểu suốt pháp tướng. Tất cả cảnh giới đều không ngăn không ngại!”

Thiện nam tử! Đời vị lai có một kiếp tên là Thanh Tịnh, cõi nước tên Khoái Lạc. Nơi quốc độ ấy toàn dùng các vị Đại Bồ Tát luận giảng Đại thừa. Ở đó hãy còn không nghe thấy danh từ Nhị thừa, huống chi là ác đạo! Trong thời kiếp và cõi nước đó, ông sẽ được thành Phật hiệu là Thanh Tịnh Trang Nghiêm, Như Lai, Ứng Cúng Chánh Biến Tri, đầy đủ mười hiệu. Phần đông chư Bồ Tát ở các phương khác đều tới quốc độ ấy để nghe nhận kinh Đại thừa Đại thông Phương Quảng. Vì thế tất cả chúng sanh nếu có ai nghe danh hiệu Hư Không Tạng Bồ Tát, lễ bái, cúng dường tất sẽ được sanh sang thế giới Khoái Lạc kia. Nên biết người đó chỉ trải qua mười đức Phật, sẽ được thọ ký! ”

(HẾT QUYỂN TRUNG)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 29907)
Đây là những điều tôi được nghe hồi Đức Thế Tôn còn cư trú gần thành Xá Vệ, tại tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn Kỳ Đà. Hôm đó, trời đã vào khuya...
(Xem: 27185)
Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikàya) là bộ kinh thứ ba trong kinh tạng Pàli (Trường bộ, Trung bộ, Tương Ưng bộ, Tăng Chi bộ, và Tiểu bộ). Bộ kinh là một tập hợp các bài kinh dài ngắn không đều...
(Xem: 21779)
Khi chúng ta thẩm tra hoàn cảnh đôi khi buồn rầu, và thỉnh thoảng vui vẻ, chúng ta khám phá ra rằng có nhiều vấn đề liên hệ với điều ấy.
(Xem: 22243)
Ý nghĩa cận sự namcận sự nữ, cần được hiểu là những cư sĩniềm tin nơi Phật-Pháp-Tăng, trọn đời nguyện phụng sự Tam bảo, luôn luôn sống theo sự hướng dẫn của Tam bảo.
(Xem: 23621)
Đạo Phật được đưa vào nước ta vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai do những vị tăng sĩ và những thương gia Ấn Độ và Trung Á tới Việt Nam bằng đường biển Ấn Độ Dương.
(Xem: 20434)
Phật Giáo là đạo Giải Thoát. Giải là cởi mở. Ở đây là "cởi mở" những trói buộc để "thoát" ra khỏi mọi hình thức đau khổ của đời sống.
(Xem: 20059)
Trong 45 năm hoằng pháp độ sinh, Đức Phật đã du hành khắp miền Bắc Ấn độ để giảng dạy con đường giải thoát mà Ngài đã tìm ra. Rất nhiều người đã quy y với Ngài...
(Xem: 21951)
Phật Giáo là một tôn giáo có khoảng 300 triệu tín đồ trên khắp thế giới. Danh từ Phật Giáo (Buddhism) phát nguồn từ chữ "buddhi", có nghĩa "giác ngộ", "thức tỉnh".
(Xem: 24769)
Mục tiêu của Kinh Bát Đại nhân Giác là phát triển trí tuệ, đoạn tận phiền não, ô nhiễm, lậu hoặc để chứng đắc quả vị giải thoát tối hậu. Như quán niệmđại nguyệntrí tuệ phát sanh.
(Xem: 19012)
Khi biên soạn tập sách này, chúng tôi đặc biệt nghĩ đến những Phật tử sơ phát tâmbước đầu tìm hiểu giáo lý của đạo Phật trong một bối cảnh đa văn hoá và nhiều truyền thống tôn giáo.
(Xem: 24786)
Trong nguyên bản tiếng Pāli, sách nói rằng những cuộc đối thoại giữa vua Milinda và ngài Nāgasena đã diễn ra năm trăm năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn.
(Xem: 30996)
Tu Ðạo là cần phải "quay trở lại." Nghĩa là gì? Tức là phải nhường cho người việc tốt lành, còn mình thì nhận phần hư xấu--xả tiểu ngã để thành tựu đại ngã.
(Xem: 24006)
Quả khổ chuyển theo nghiệp. Nghiệp chuyển theo tâm. Chỉ cần soi sáng tâm là hết khổ. Vì thế, bức tranh của Vòng luân hồi hay Con quỷ vô thường này rất quan trọng...
(Xem: 27779)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 26545)
Tâm vốn không – lặng, nhơn pháp mà lập danh. Tịnh pháp là người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bố tát và Phật. Nhiễm phápA tu la, bàng sanh, địa ngục, quỉ thú.
(Xem: 21355)
Bộ kinh Milindapanha xuất hiện vào khoảng năm trăm năm sau Phật Niết bàn, do ngài Pitakaculàbhaya ở trung Ấn độ trước thuật bằng tiếng Pàli. Nội dung kể lại những câu hỏi, đáp giữa vua Milinda và tỳ kheo Nàgasena.
(Xem: 23240)
Quyển ''Na-Tiên Tì-kheo Kinh'' là một bộ Luận ghi bằng tiếng Pali, rất nổi danh, được phiên-dịch ra nhiều thứ tiếng: tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Miến, tiếng Thái, tiếng Tích-lan, tiếng Anh, tiếng Pháp, v.v.
(Xem: 38163)
Quyển sách nhỏ này được viết ra nhằm mục đích giới thiệu với quý độc giả đang đi tìm giải thoát và nhất là thích tu thiền, một phương pháp hành thiền mà ít người để ý, đó là pháp Tứ Niệm Xứ.
(Xem: 18809)
Khi mới đến một vùng đất hoang để khai khẩn, mảnh đất đó có thể làm cho ta nản lòng vì cỏ gai và chướng ngại vật đầy dẫy. Ta cần phải đào, phải bứng, phải chặt, phải cày, phải bừa.
(Xem: 18439)
Ma-ha-diễn là pháp tạng sâu xa của chư Phật mười phương ba đời, vì người lợi căn đại công đức mà nói... Thích Thanh Từ
(Xem: 19998)
Tổ Sư thiền Việt Nam đã thất truyền trên hai trăm năm. Đến năm 1977, Hòa thượng hoằng dương Tổ Sư thiền và tổ chức Thiền thất đầu tiên tại Việt Nam.
(Xem: 19058)
Bản văn này chỉ giới thiệu những điểm chủ yếu có liên quan đến triết học Trung Quán một cách hết sức đơn giản, dù vậy, vẫn bao hàm được tất cả mọi yếu điểm cốt lõi của hệ phái Triết học này.
(Xem: 23184)
Viết về một triết học là đặt ra các câu hỏi về những vấn đề được bàn đến trong triết học đó. Trong trường hợp này, chúng ta thử viết một bài nghiên cứu mang tính phê bình về triết học Thế Thân.
(Xem: 23897)
Ở đây, nội dung của tập sách này chỉ giới thiệu một cách khái quát về các thể loại văn học của kinh điển và một số thể loại ngôn ngữ được dùng trong kinh điển.
(Xem: 22828)
Toàn bộ kinh Đại Bát Niết-bàn dày hơn 4500 trang, riêng phần Việt dịch chiếm gần 1700 trang; mỗi đoạn mỗi câu trong đó đều hàm chứa những ý tứ sâu xa huyền diệu không dễ gì hiểu thấu qua một vài lần đọc.
(Xem: 22939)
Chúng sinh đau khổ, trôi lăn trong sinh tử luân hồi cũng chỉ vì cái Ta, cho cái Ta có thật rồi bám víu vào nó. Trong đạo Phật gọi đây là bệnh chấp Ngã.
(Xem: 29601)
Tập Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikàya) gồm 152 kinh tất cả, chia thành 3 tập: tập I, gồm 50 Kinh đầu, tập II gồm 50 Kinh tiếp và tập III, gồm 52 Kinh chót.
(Xem: 20651)
Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng. Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến...
(Xem: 18729)
Thường thì những mối bận tâm thế tục sẽ chỉ mang lại đau khổthất vọng trong đời này và đời sau. Những sự xuất hiện của sinh tử thì chẳng có gì là bền vững, luôn luôn thay đổi và vô thường...
(Xem: 15853)
Kinh Bát Đại Nhân Giác bố cục thành ba phần: Phần mở đầu chỉ một câu đơn giản như là giới thiệu tám điều giác ngộ; Phần hai là nội dung tám điều giác ngộ ấy...
(Xem: 18868)
Sự tịnh hóa của Kim Cương thừa nói riêng và con đường Kim Cương thừa nói chung căn cứ vào trí huệ đại lạctrí huệ tánh Không. Nhờ và bằng trí huệ đại lạctrí huệ tánh Không mà tất cả nghiệp lực được tịnh hóa.
(Xem: 19698)
Phật giáo là một sự thực tập để đối trị khổ đau. Phật nói “ta chỉ dạy về khổ đau và vượt thoát khổ đau” [3] . Ðiều này đã được Phật phát biểu trong công thức của bốn sự thực thâm diệu [tứ diệu đế].
(Xem: 20171)
Thế nào gọi là Phật Lý Căn Bản? – Giáo lý chính yếu của Phật giáo, tóm lược các quan điểm trong ba tạng (Tripitaka).
(Xem: 19964)
Khi Đức Phật tỉnh thức bước ra khỏi cơn mê mà chúng ta vẫn còn đang chìm đắm, Ngài đã nhận thức được sự thực rốt ráo của muôn vật y như chân tướng của chúng.
(Xem: 18133)
Hãy dọn tâm trí vô tư để nhìn thấy khoa học, khoa học là đề tài thảo luận của chúng ta. Khoa học là nơi gặp gỡ của chúng ta.
(Xem: 22971)
Thấy chúng sinh phàm tình mãi trầm chìm trong phiền não, nhiễm ô, thiếu chính niệm và kiềm thúc thân tâm, Đức Như Lai từ bi trí tuệ đã khai thị rất nhiều phương cách...
(Xem: 34196)
Kinh Pháp Cú (Dhammapada) là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) trong Kinh tạng Pali (Suttanta Pitaka). Ðây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất...
(Xem: 16437)
Xuất bản lần đầu vào năm 1995 (tái bản 2001), “Phật Giáo và Đạo Đức Sinh Học” (Buddhism and Bioethics) là một đóng góp có ý nghĩa của Damien Keown* cho Phật giáo về một đề tài chưa được giới Phật giáo nghiên cứu nhiều trước đó.
(Xem: 16937)
Luận thuyết được trình bày ở đây, dành cho những người ước muốn rút ra tinh túy của đời người được phú bẩm những nhàn nhã và thuận lợi, là luận thuyết được gọi là Các Giai đoạn của Con Đường Giác ngộ (Lamrim).
(Xem: 39277)
"Con đường Thiền Chỉ Thiền Quán” đã được Ngài Guṇaratana trình bày một cách khúc chiết, rõ ràng có thể giúp cho những ai muốn nghiên cứu tường tận chỗ đồng dị, cộng biệt, sinh khắc của hai pháp môn này...
(Xem: 26098)
Tâm không có màu sắc hoặc hình tượng để nhận ra được nó, nhưng nó thì tuyệt đối trống rỗng và nhận biết sáng tỏ thấu suốt hoàn toàn. (= viên minh)- đó là tự tính của tâm bạn.
(Xem: 20116)
“Phật giáo khái luận” là một tác phẩm rất có giá trị của cư sĩ Huỳnh Sĩ Phục bên Trung Quốc, lời lẽ tuy vắn tắt, nhưng đã bao hàm tất cả yếu nghĩa của các Tôn hiện hànhTrung Quốc.
(Xem: 18865)
Kinh "Chiếc lưới ái ân" được dịch từ kinh Pháp Cú, Hán Tạng. Chữ "ái ân" nằm ngay trong bài kệ thứ ba của kinh, câu “Nhân vi ân ái hoặc”.
(Xem: 24077)
Có thể nói rằng "Tánh Không luận" là một hệ thống triết học đặc thù của Phật giáo trong thời kỳ phát triển. Sự xuất hiện của nó như là một dấu ngoặc vĩ đại...
(Xem: 29160)
Nếu một người thiện nam hay tín nữ thực hànhhoàn thành Năm Thực Tập Chính Niệm, người ấy cuối cùng sẽ đạt được sự vãng sinh về vùng đất Hòa Hòa Bình và An Lạc...
(Xem: 22913)
Trước khi thực sự bắt đầu nuôi dưỡng điều được gọi là Sáu Hạnh Ba-la-mật, bạn phải phát triển động thái vị tha của tâm thức hay là hành xử của bồ-tát. Bồ-tát là người mà đã hoàn toàn từ bỏ quyền lợi tự ngã của mình...
(Xem: 30978)
Bài văn này được thiền sư Quy Sơn Linh Hựu viết ra nhằm sách tấn việc tu học của đồ chúng, nên gọi là văn cảnh sách, và lấy tên ngài để làm tựa. Từ xưa nay vẫn gọi là “Quy Sơn cảnh sách văn”.
(Xem: 21023)
Chính bộ Kinh quý báu này mở rộng cửa giải thoát cho cả hai hạng người xuất giatại gia nhập vào Pháp Môn Bất Nhị, trở về Bản Tánh Không Hai.
(Xem: 26873)
Duy Ma Cật tức là tên của ông Duy Ma Cật. Mà Duy Ma Cật là chữ Phạn. Trung Hoa dịch là Tịnh Danh. Cũng dịch là Vô Cấu. Tịnh Danh: Chữ tịnh là trong sạch.
(Xem: 20684)
Như ta biết, Tứ diệu đế là bài thuyết pháp đầu tiên của Phật sau khi thành Đạo cho năm anh em A nhã Kiều Trần Như, diễn ra tại vườn Lộc Uyển, về phía bắc thành Ba la nại.
(Xem: 26273)
Thật ra, nếu các bạn không có sự hiểu biết về Tứ diệu đế cũng như chưa tự mình thể nghiệm chân lý của lời dạy này thì các bạn sẽ không thể thực hành Phật pháp.
(Xem: 23348)
Đọc “Tổng Quan Những Con Đường Của Phật Giáo Tây Tạng”, chúng ta sẽ thấy đức Dalai Lama là một bậc Đại Tri Viên, ngài chỉ rõ tất cả mọi con đường để chúng thấy rõ, nhất là con đường Tantra...
(Xem: 19836)
Muốn có sắc như là sắc, thì người ta phải cộng hay trừ đi sắc với không, chẳng hạn, 1 + 0 = 1. Như vậy không, tức là biệt thể để sắc như là sắc, để không như là không...
(Xem: 24698)
Kinh Duy Ma Cật bất khả tư nghì, tuyệt diệu cùng tột, ý chỉ thâm huyền, chẳng phải lời nói có thể diễn tả. Siêu việt tam không (Nhơn không, Pháp không, Không không)... Tỳ Kheo Thích Duy Lực
(Xem: 30053)
Ðọc vào kinh ta nhận thấy chẳng những hàng xuất gia mới thật hành được Phật đạo, mà Cư sĩ, Bà la môn cho đến mọi tầng lớp dân chúng cũng đều thật hành được Phật đạo.
(Xem: 20242)
“Hãy tu tập An-na-ban-na niệm. Nếu Tỳ-kheo tu tập An-na-ban-na niệm, tu tập nhiều, thân chỉ tức và tâm chỉ tức, có giác, có quán, tịch diệt, thuần nhất, phân minh tưởng, tu tập đầy đủ...
(Xem: 20419)
“Quý vị khất sĩ! Phép quán niệm hơi thở, nếu được phát triển và thực hiện liên tục, sẽ đem lại những thành quảlợi lạc lớn, có thể làm thành tựu bốn lĩnh vực quán niệm (Tứ Niệm Xứ)...
(Xem: 15161)
Kinh Niệm Xứ, Satipattthana Sutta, là một bài kinh vô cùng quan trọng vì kinh này đề cập đến những đề mục hành thiền nhằm phát triển cả hai, tâm Vắng Lặng (Samatha) và trí tuệ Minh Sát (Vipassana).
(Xem: 15846)
Có một thầy trẻ đến đặt một câu hỏi với Đức Thế Tôn liên quan tới vấn đề ái dục và đã được Đức Thế Tôn trả lời câu hỏi đó bằng tám bài kệ.
(Xem: 23921)
Kinh Bách Dụ, một bộ kinh trong Đại Tạng chuyển tải ý nghĩa thâm diệu bằng những câu chuyện thí dụ rất sâu sắc. Biên soạn: Pháp sư Thánh Pháp; Việt dịch: Thích Nữ Viên Thắng; Hiệu đính: Thiện Thuận
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant