Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Kinh Phật Nói Về Các Đức Phật

27 Tháng Mười Một 201300:00(Xem: 13293)
Kinh Phật Nói Về Các Đức Phật


KINH PHẬT NÓI VỀ CÁC ĐỨC PHẬT


Hán dịch: Đời Tống, Tam tạng Đại sư Thi Hộ người nước Thiên Trúc phụng chiếu dịch.
Việt dịch: Thích Nữ Đức Thuận
--- o0o ---

 

Đúng thật như thế, chính tôi được nghe: Một thời Đức Phật an trú tại núi Linh Thứu, trong thành Vương Xá. Khi ấy, sắp đến giờ thụ trai, tôn giả Đại Mục-kiền-liên đắp y, ôm bát định đến thành Vương Xá thì chợt nghĩ: “Hôm nay trước hết ta nên đến cõi trời Sắc Cứu Cánh để hỏi chút nhân duyên, sau đó sẽ trở về thụ trai”.

Thế rồi tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền nhập tam-ma-địa Đẳng dẫn, trong khoảng thời gian ngắn như người lực sĩ co duỗi cánh tay đã đến cõi trời Sắc Cứu Cánh. Khi đến, hai bên dùng nhiều lời hòa nhã thăm hỏi nhau. Sau đó tôn giả hỏi thiên chúng: “Ở những thời kỳ nào có Đức Phật Thế Tôn hiện ra nơi đời, chứng Vô thượng bồ-đề”? Lúc ấy, một trăm vị thiên chủ ở đây đồng lên tiếng đáp: “Hết một trăm nghìn kiếp mới có Đức Phật hiện ra nơi đời, chứng Vô thượng bồ-đề”.

Nghe xong, tôn giả Đại Mục-kiền-liên tin nhận. Thế rồi, tôn giả lại nhập tam-ma-địa, trong khoảng thời gian ngắn như vị lực sĩ co duỗi cánh tay đã về lại thành Vương Xá, rồi lần lượt đi khất thực giống như ngày thường. Sau khi thụ trai, chải răng, thâu dọn y bát xong, tôn giả liền đến chỗ Phật, đầu mặt lễ chân Phật, rồi đến ngồi bên cạnh cung kính chắp tay bạch Đức Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn! Trước giờ thọ trai hôm nay, con đã nhập tam-ma-địa đi đến cõi trời Sắc Cứu Cánh và hỏi thiên chúng ở đó: ‘Ở những thời kỳ nào có Đức Phật Thế Tôn hiện ra nơi đời, chứng Vô thượng bồ-đề’? Một trăm thiên chủcõi trời Sắc Cứu Cánh đều lên tiếng đáp: ‘Khắp trăm nghìn kiếp đều có Đức Phật hiện ra nơi đời, chứng Vô thượng bồ-đề’. Bạch Đức Thế Tôn! Tuy đã nghe như vậy, nhưng con không rõ việc này thế nào? Cúi xin Đức Thế Tôn giảng nói để con được thấu rõ.

Bấy giờ Đức Phật nói với tôn giả Đại Mục-kiền-liên:

- Nay ông hãy lắng nghe cho kĩ, Như Lai sẽ giảng nói. Này Đại Mục-kiền-liên! Các thiên chủ cõi trời Sắc Cứu Cánh thấy biết rất hạn hẹp mới cho rằng mãn trăm nghìn kiếp mới có Đức Phật hiện ra nơi đời, chứng Vô thượng bồ-đề. Lời này chẳng đúng, không thể tin nhận. Này Đại Mục-kiền-liên! Ta nhớ thuở xưa, đầu tiên là được gặp sáu mươi ức Đức Phật Như Lai hiện ra nơi đời, nhưng thời gian các Đức Phật ấy trụ ở đời để lợi ích chúng sinh thì lại có dài có ngắn, mỗi vị đều theo duyên mà lần lượt nhập diệt. Tiếp tục lại có tám mươi ức Phật hiện ra nơi đời, đồng có tên là Diệu Hoa. Ở trước mỗi một vị Phật ấy, Ta đều phát thệ nguyện lớn và giữ Phạm hạnh. Sau các Đức Phật này lại có năm trăm vị Phật hiện ra nơi đời, đồng có tên là Chính Phạm. Tiếp đó lại có tám trăm Đức Phật hiện ra nơi đời, đồng có tên là Nhiên Đăng.

Kế đó lại có một vạn năm nghìn vị Phật, đồng có tên là Tảm-ma-một, hiện ra nơi đời. Sau đó lại có một nghìn Đức Phật hiện ra nơi đời, tên gọi, dòng họ của mỗi vị đều khác nhau. Đối trước các Đức Phật này, Ta lại phát thệ nguyện tu trì Phạm hạnh. Sau các vị Phật này, lại có sáu nghìn vị Phật hiện ra nơi đời, đồng có tên là Tô-bát-la-đa-ba. Sau đó lại có chín vạn vị Phật hiện ra nơi đời, đồng có tên là Diệu Ca-diếp. Sau các vị Phật này, lại có một nghìn vị Phật hiện ra nơi đời, đồng có tên là Vi Nhật.

Tiếp đó lại có một nghìn Đức Phật hiện ra nơi đời, đồng có tên là Nhiễm-một-dạ-dã. Tiếp đó lại có tám vạn vi Phật hiện ra nơi đời, đồng có tên là Ê-la-phạ-đế. Kế đó lại có bảy vạn vị Phật hiện ra nơi đời, đồng có tên là Đế Thích. Kế đó lại có một vị Phật tên là Đức, hiện ra nơi đời. Đối trước vị Phật này, Ta cùng với các đệ tử thanh văn đồng phát thệ nguyện cung kính cúng dường. Cách nhiều năm sau, lại có tám mươi ức na-do-tha bích-chi-phật hiện ra nơi đời.

Này Đại Mục-kiền-liên! Đối trước Ta, vị Bích-chi-phật ấy phát thệ nguyện lớn. Lại có Chuyển luân thánh vương tên là Biến Chiếu, cũng ở trước Ta, lần đầu gặp được bốn mươi vị Phật đồng có tên là Vô Năng Thắng. Này Đại Mục-kiền-liên! Sau khi Phật Đức diệt độ, Ta lại gặp Đức Phật cũng có tên là Vô Năng Thắng. Trong đời vị Phật này, Ta làm Chuyển luân thánh vương tên là Bách Hiệu, cùng với các đệ tử thanh văn của Phật Vô Năng Thắng đồng phát thệ nguyện cung kính cúng dường. Trải qua nhiều năm, sau khi Phật Vô Năng Thắng diệt độ, Ta xây tháp bằng bảy báu để tôn thờ xá-lợi. Ta tu hành như thế, trải qua vô lượng thời gian, đến hôm nay Ta mới chứng được Vô thượng bồ-đề.

Lại nữa, này Đại Mục-kiền-liên! Chư thiêncõi trời Sắc Cứu Cánh ấy thấy biết hạn hẹp. Sau khi Phật Vô Năng Thắng diệt độ, lại có vị Phật hiện ra nơi đời, tên là Trì Thế. Tiếp đó lại có vị Phật hiện ra nơi đời, tên là Trì Địa. Sau lại có Đức Phật tên là Năng Nhân hiện ra nơi đời. Sau lại có Đức Phật tên là Diệu Hiện hiện ra nơi đời. Kế đó lại có Đức Phật tên là Sư Tử hiện ra nơi đời. Sau lại có Đức Phật tên là Tối Thượng Hi Hữu hiện ra nơi đời. Sau lại có Đức Phật tên là Đoạn Nhất Thiết Ưu hiện ra nơi đời. Sau lại có Đức Phật tên là Nhất Thiết Thắng Thành Tựu hiện ra nơi đời. Sau lại có Đức Phật tên là Đắc Thắng hiện ra nơi đời.

Nối tiếp theo thứ tự xuất hiện ở đời là các Đức Phật: Bảo Quang, Ý Xứng, Ô-ba-để-thất-la, Để-thất-la, Viên Quang, Nguyệt Quang, Thiên Quang, A-đề-bộ, A-đề-dã-du, Vô Diệt Thông, Tối Thắng, Để-thất-lỗ-đa-lỗ, Thượng Hoa.

Sau đó lại có: Đức Phật A-lí-sắt-tra, Đức Phật A-đề-bộ, Đức Phật Nhiên Đăng, Đức Phật Hàng Oan, Đức Phật Kim Diệu, Đức Phật Kim Quang, Đức Phật Bảo Nhãn, Đức Phật Liên Hoa Nhãn, Đức Phật Tối Thượng Liên Hoa, Đức Phật Đại Liên Hoa, Đức Phật Liên Hoa, Đức Phật Tì-bà-thi, Đức Phật Thi-khí, Đức Phật Tì-xá-phù, Đức Phật Câu-lưu-tôn, Đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Đức Phật Ca-diếp, cho đến hôm nay có Ta là Thích-ca Mâu-ni hiện ra nơi đời.

Này Đại Mục-kiền-liên! Xưa kia Ta phát thệ nguyện là dùng hoa bảy báu để rải cúng dường các Đức Phật này, rồi mới thành Chính đẳng chính giác

Này Đại Mục-kiền-liên! Mỗi một vị Phật kia, từ lúc mới phát tâm cho đến khi thành tựu Chính đẳng chính giác, đều phải trải qua vô số kiếp tu hành. Ta từ khi mới phát tâm cho đến ngày nay được thành Phật là đã trải qua vô lượng kiếp, không thể tính kể. Chư thiên ở cõi trời Sắc Cứu Cánh thấy biết hạn hẹp. Ông chsinh nghi!

Khi nghe Thế Tôn nói kinh này rồi, tôn giả Đại Mục-kiền-liên trừ được mối nghi, vô cùng vui mừng, đỉnh lễ Đức Phật rồi lui ra.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 34629)
Nếu kẻ nam tử người nữ nhơn thân có tai ách, trong nhà nên an trí tháp xá-lợi và hình tượng Phật, họa vẽ tượng đức Văn-thù-sư-lợi Đồng tử, thiêu các thứ hương...
(Xem: 33444)
Phật dạy A-nan: “Đời quá khứ, cõi Diêm-phù-đề này có một vị Tỳ-khưu tên là Truyền Giáo. Ngày 15 tháng chín đi du hành về phương Bắc, cách nước Chi Na không xa...
(Xem: 43927)
Lúc bấy giờ, khắp vì lợi ích tất cả chúng sanh, đức Thế tôn nói đà-ra-ni rằng: Na mồ một đà nẫm Ma đế đa na nga đa Bác ra đát dũ đát bán na nẫm...
(Xem: 57063)
Tập sách Thiền và Bát-nhã này là phần trích Luận Năm và Luận Sáu, trong bộ Thiền luận, tập hạ, của D. T. Suzuki. Tập này gồm các thiên luận về Hoa nghiêm và Bát-nhã.
(Xem: 47562)
Thật ra sanh tử là do tâm thức vô minh của chúng ta “quán tưởng” ra là có tự tánh, là có thật, như ví dụ “hư không khônghoa đốm mà thấy ra có hoa đốm”.
(Xem: 39417)
Bát Thức Quy Củ Tụng - Những bài tụng khuôn mẫu giảng về tám thức tâm vương; tác giả: Huyền Trang; người toát yếu: Khuy Cơ, người dịch giảng: HT Thích Thắng Hoan
(Xem: 38475)
Quyển "Vi Diệu Pháp Nhập Môn" ngoài tác dụng của bộ sách giáo Khoa Phật Học; còn là cuốn sách đầu giường của học giả nghiên cứu về Triết lý Ấn độ, cũng như Văn Học A Tỳ Ðàm...
(Xem: 52934)
Kinh Ðại Bát Niết bàn, vì là lời nói sau cùng của Ðức Phật, trước khi Ngài Niết Bàn, nên bao quát hầu như đủ mọi thắc mắc của chúng sinh...Nguyễn Minh Tiến; Đoàn Trung Còn
(Xem: 36594)
Như Lai là bậc A-la-hán, chánh đẳng chánh giác, dùng pháp thắng tri (tuệ tri: biết sát na hiện tiền) hay pháp chánh tri kiến để liễu tri sự vật, không dục hỷ...
(Xem: 32239)
Nếu có ai hỏi ngài Duy Ma Cật: “Bản thể của thế giới này là gì?” thì trước sự im lặng của ngài Duy Ma Cật mà lại được Văn Thù Sư Lợi hết sức tán thưởng là có ý nghĩa sâu xa của nó.
(Xem: 40467)
Như thật tôi nghe: Một thời đức Phật ở tại Pháp Giả Ðại Bồ-đề Ðạo tràng thuộc nước Ma-già-đà, vừa thành Chánh giác cùng các Bồ-tát Ma-ha-tát chúng gồm có tám vạn người...
(Xem: 43483)
"Có đà-ra-ni tên là Túc Mạng Trí. Nếu có chúng sanh nghe đà-ra-ni này mà hay chí tâm thọ trì, thì bao nhiêu nghiệp tội cực nặng trong một ngàn kiếp thảy đều tiêu diệt.
(Xem: 31447)
Nakulapita là một người chủ gia đình sinh sống trong vùng Bhagga, đã trọng tuổithường hay đau yếu. Ông rất kính mến Đức PhậtĐức Phật cũng xem ông như một người con của mình.
(Xem: 46708)
Vì lòng thương xót chúng sanh đời Mạt Pháp, đức Thế Tôn đặc biệt nói ra pháp này để rộng cứu tế, ngõ hầu chúng sanh dẫu chẳng được gặp Phật, mà nếu gặp được pháp môn này...
(Xem: 36206)
Sự kiện Đức Phật chấp nhận thành lập giáo hội Tỳ kheo ni, nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng nhất, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo...
(Xem: 28695)
"Có một lần Đấng Thế Tôn lưu ngụ với những người dân trong vùng Bhagga, gần thị trấn Sumsumaragiri, thuộc khu rừng Lộc Uyển...
(Xem: 29238)
Cách tốt nhất để mang lại sự an ổn cho bản thân là hướng về điều thiện, và quy y Tam bảo là nền tảng đầu tiên cho một cuộc sống hướng thiện.
(Xem: 31886)
Lúc bấy giờ, rừng cây Ta La ở thành Câu Thi Na, rừng ấy biến thành màu trắng giống như con hạc trắng. Ở trong hư không tự nhiên mà có tòa lầu các bảy báu với những hoa văn...
(Xem: 28828)
Phật dạy Tu-bồ-đề: “Các vị Đại Bồ Tát nên hàng phục tâm như thế này: ‘Đối với tất cả các loài chúng sinh, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc do biến hóa sinh ra...
(Xem: 33360)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Niết Bàn, Kinh số 0376, Hán dịch: Đời Đông Tấn, Sa-môn Pháp Hiển, Việt dịch: Thích Nguyên Hùng
(Xem: 29136)
Gương trí vằng vặc của Như Lai cũng như thế, là pháp giới vắng lặng không có gián đoạn không có dao động, vì muốn giúp vô lượng vô số chúng sanh thấy rõ nhiễm-tịnh...
(Xem: 60976)
Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni - một trong các pháp môn - là trí ấn của tất cả Như Lai, mầu nhiệm rộng sâu, khác chi thuyền bè trong biển ba đào, nhật nguyệt giữa trời u ám.
(Xem: 39766)
Phật dạy đại chúng: “Lúc nào cõi nước không an, tai nạn nổi lên và kẻ nam người nữ bị tai ương biến họa, chỉ thỉnh chúng Tăng như Pháp kiến lập đạo tràng...
(Xem: 26673)
Phật tử có nghĩa là tự nguyện theo Tam quy (ti-sarana), Ngũ giới (pañca-sila), tức là nương tựa vào Tam bảo (ti-ratana) và giữ gìn năm giới căn bản của đạo Phật.
(Xem: 29663)
Trong Kiến Đàn Giải Uế Nghi của Thủy Lục Chư Khoa có lời tán thán bồ tát Quán Thế Âm rằng: “Nhân tu sáu độ, quả chứng một thừa, thệ nguyện rộng sâu như biển lớn mênh mông không thể đo lường...
(Xem: 37373)
Nếu có chúng sanh muốn vãng sanh về Chín phẩm Tịnh độ như thế, hãy phụng quán 12 Viên diệu ấy, ngày đêm ba thời, xưng Chín phẩm Tịnh độ như vậy...
(Xem: 40088)
Trong thể trạng giác ngộ, chúng ta có hai thân Phật được biết như thân hình thể và thân chân thật, tức là sắc thânpháp thân. Sắc thân Phật là thân tự tại...
(Xem: 26833)
Nếu các chúng sanh ác tâm hướng nhau, hãy xưng danh hiệu Địa Tạng Bồ-tát, nhất tâm quy y, khiến chúng sanh kia nhu hòa nhẫn nhục, hổ thẹn với nhau, từ tâm sám hối...
(Xem: 42653)
Nếu trong sự thuần tưởng, lại gồm cả phước huệ và tịnh nguyện thì tự nhiên tâm trí khai mở mà được thấy mười phương chư Phật, tùy theo nguyện lực của mình mà sanh về Tịnh-độ.
(Xem: 37280)
Khi chúng ta thấy những chức năng của luật nhân quả, chúng ta có thể phân biệt hai loại chủ thể trải nghiệm mối quan hệ nhân quả này. Đây là thế giới của thân thể vật lýtâm thức.
(Xem: 28283)
Sự hiện hữa của các pháp trên mặt hiện tượng của tướng đó là một sự hiện hữu giả hợp do duyên và, mặt khác tánh của chúng là Không cũng do duyên mang lại.
(Xem: 28894)
Bàn tay cầm chiếc chìa khóa vô thườngchánh niệm. Dùng hơi thở chánh niệm ta tiếp xúc với mọi sự vật, quán chiếu và thấy được tính vô thường của mọi sự vật.
(Xem: 26394)
Này các thầy! Tánh Không thì rỗng không, không vọng tưởng, không sanh, không diệt, lìa tất cả tri kiến. Vì sao? Vì tánh Không không có nơi chốn, không thuộc sắc tướng...
(Xem: 27170)
Phật dạy: Tự tính của Không là không nằm trên bình diện có không, không nằm trong khuôn khổ các vọng tưởng, không có tướng sinh, không có tướng diệt, và vượt thoát mọi tri kiến.
(Xem: 26184)
Đức Phật thấy rõ bản chất của phiền não tham, sân, si là nguồn gốc khổ đau, Ngài chế ra ba phương thuốc Giới-Định-Tuệ để chữa tâm bệnh tham, sân, si cho chúng sinh...
(Xem: 34636)
Do tánh Không nên các duyên tập khởi cấu thành vạn pháp, nhờ nhận thức được tánh Không, hành giả sẽ thấy rõ chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, cuộc đời là khổ.
(Xem: 27801)
Tôi nghĩ nhiệm vụ quan trọng nhất của bất cứ một hành giả của một tôn giáo nào là thẩm tra chính họ trong tâm hồn của chính họ và cố gắng để chuyển hóa thân thể, lời nói
(Xem: 30473)
Bụt là bậc có Nhất Thiết Trí, bản chất của Người là đại nhân từ, vì thương xót nhân gian cho nên mới xuất hiện trên cuộc đời này để mở bày đạo nghĩa, giải cứu cho con người.
(Xem: 33282)
Nói đến tịnh độ tất phải nói đến hai khái niệm tự lựctha lực. Tự lực nói đến phương pháp chúng ta thực hành cho tự thân, dựa vào nội lực của chính tâm chúng ta.
(Xem: 28566)
Khi Phật thành đạo là do đạt được Trí Tuệ hay Giác Trí Tuệ thì các pháp giải thoát được thiết lập thực hành Giác Trí Tuệ trong các thời thiền tập.
(Xem: 30073)
Khi tuệ giác nội quán của chúng ta vào trong bản chất tối hậu của thực tạiTính Không được sâu sắc và nâng cao, chúng ta sẽ phát triển một nhận thức về thực tại...
(Xem: 25491)
Thông thường mà nói Bát Nhã có ba ý nghĩa. Thứ nhất là thực tướng, tướng là tướng trạng, thực tướng chính là hình ảnh chân thực. Nghĩa thứ hai là quán chiếu Bát Nhã, cũng chính là chỗ dụng của thực tướng.
(Xem: 21844)
Trong lời phàm lệ của quyển Tứ phần giới bổn như thích, Luật sư Hoằng Tán (1611-1685) nói: "Tam thế chư Phật câu thuyết Kinh-Luật-Luận tam tạng Thánh giáo.
(Xem: 51295)
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Lòng tin là gốc của đạo, sanh ra các công đức. Lòng tin có thể nuôi lớn các căn lành. Lòng tin có thể vượt khỏi các đường ma.
(Xem: 26721)
Tận cùng tư duy của Đạo Phật quan tâm, định luật căn bản là: chúng ta muốn hạnh phúc. Quyền căn bản của chúng tađạt được hạnh phúc.
(Xem: 28623)
Khi chúng ta nói về từ bi, thật đáng khuyến khích để lưu ý rằng bản chất tự nhiên của con người, tôi tin, là từ bihiền lành.
(Xem: 27704)
Thế Tôn, nếu có người nghe được kinh này mà có lòng tin thanh tịnhđạt được cái thấy chân thật thì nên biết người ấy đã thực hiện được công đức hiếm có vào bậc nhất.
(Xem: 24352)
Tự tánh giả danh hay tùy thuộc cũng nằm trong phạm trù Tánh không. Tự tánh giả danh được thể hiện tướng sanh diệt do tác động thời gian thì có sanh có diệt...
(Xem: 27455)
Tuệ quán là tri nhận một cách sáng suốt, vô thời gian. Vì lẽ chơn thức (tri giác nguyên sơ) là một điểm nhận thức có thật trong động tác nhận thức đầu nguồn của tri giác.
(Xem: 31926)
Chết là một phần của đời sống chúng ta. Cho dù chúng ta thích hay không, nó bắt buộc phải xảy ra. Thay vì tránh nghĩ về điều đó, chúng ta tốt hơn thấu hiểu ý nghĩa của nó.
(Xem: 30184)
Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có thiện nam, thiện nữ nào muốn vì chúng sinh mà nói kinh Pháp Hoa này thời thiện nam hay thiện nữ ấy phải vào nhà Như Lai... Pháp sư Thích Thiện Trí
(Xem: 27702)
“Dược Sư Lưu Ly Quang” là tên gọi của đức Phật này; “Như Lai” là một trong mười tôn hiệu của mỗi vị Phật; “Bổn Nguyện” là các lời phát nguyện của đức Phật này khi Ngài phát tâm Bồ-đề...
(Xem: 35442)
Trong việc phát triển hành xả, chúng ta cần thấu hiểu rằng những cảm xúc tiêu cực như thù hận và dính mắc là không thích đáng và không lành mạnh...
(Xem: 27441)
Ngày nay, Kinh Chuyển Pháp Luân thuộc Tương Ưng Sự ThậtTương Ưng Bộ SN 56.11 trong kinh điển Pali được xem là lời dạy đầu tiên của Đức Phật.
(Xem: 30012)
Để tìm về tính nguyên thủy ấy, lẽ tự nhiên là ta cần khảo sát cẩn trọng bản kinh được xem là lời dạy đầu tiên của Đức Phật. Đó là Kinh Như Lai Thuyết...
(Xem: 31773)
Chúng ta chẳng thể nào mang theo bất kỳ thứ gì khi từ giã thế giới này ngoại trừ nghiệp và những giá trị tâm linh như tình yêu thương, lòng bi mẫntrí tuệ mà ta đã trưởng dưỡng...
(Xem: 23021)
Kinh Điềm Lành (Mangala Sutta) -- còn có tên là kinh Phước Đức hay kinh Hạnh Phúc -- là bài kinh số 5 trong Tiểu Tụng (Khuddakapātha), thuộc Tiểu Bộ (Khuddhaka Nikāya).
(Xem: 24179)
Cách mà chúng ta đang sống sẽ là một trong các nhân tố chính yếu có thể mang lại cho chúng ta sự thanh thảnđiềm tĩnh trong giây phút lâm chung.
(Xem: 23016)
Kinh này có tám phương pháp tu hành thành Phật, mà bậc Đại nhân gánh vác sự nghiệp lớn liễu sinh thoát tử, hóa độ chúng sinh cần phải giác ngộ, nên gọi là Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân.
(Xem: 26652)
Nếu chúng ta thẩm tra thế giới tinh thần của chúng ta, chúng ta thấy rằng có những nhân tố tinh thần đa dạng có cả những khía cạnh tích cựctiêu cực.
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant