Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
15,019,048
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Kinh Công Đức Xưng Tán Đại Thừa

17 Tháng Mười Hai 201300:00(Xem: 9779)
Kinh Công Đức Xưng Tán Đại Thừa


Kinh Công Đức Xưng Tán Đại Thừa

 

Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0840

Hán dịch: Đại Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang phụng chiếu dịch

Việt dịch: Tỳ kheo Thích Hạnh Tuệ - Trú xứ Chùa Phật Đà, California, Hoa Kỳ

Hiệu đính: HT Thích Như Điển – Phương trượng Chùa Viên Giác, Đức Quốc

 

 

Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Bạc Già Phạm, nơi điện công đức, an trú trong pháp giới tạng trang nghiêm, chỗ hành hoạt của chư Phật cùng chúng đại Thanh văn, đại Bồ tát không thể kể hết câu hội, và hàng trời người, A-tu-la v.v... đại chúng nhiều vô lượng, thứ tự vây quanh.

Bấy giờ trong chúng hội có một vị Bồ tát, hiện thân người nữ tên là Đức Nghiêm Hoa, nương nơi uy thần (của) Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễbạch Phật rằng: "(Bạch Đức Thế Tôn,) vì cớ sao gọi là Bồ tát ác hữu, để cho những vị Bồ Tát mới học biết được mà xa lánh?"

Lúc bấy giờ, Phật bảo Đức Nghiêm Hoa rằng: "Ta quán sát trong thế gian không có Thiên ma, Phạm thích, Sa môn, Bà la môn .v.v... và hàng Bồ tát mới học hướng đến vô thượng Bồ đề mà lại là ác tri thức. Ví như có những hàng Thanh văn, Độc giác như vậy thì chưa phải là Bồ Tát, vì Bồ Tát phải làm lợi lạc cho hữu tình, cần cầu Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Hạng người nhị thừa ý chí hạ liệt chỉ cầu vui hưởng niết bàn cho mình, vì nhân duyên này, hàng Bồ tát mới học không nên cùng họ đồng ở một chùa, đồng ở một phòng, đồng nơi kinh hành, cùng đường vui chơi. Nếu các hàng Bồ tát ở trong Đại thừa đầy đủ sự đa văn, có được niềm tin bất hoại, ta có thể khai mở để cùng với bọ họ ở chung vì đã phát tâm hướng đến Bồ đề. Bằng như các loại căn lành ấy chưa thành thục thì không nên nói pháp Đại thừa giáo hóa, khiến sinh ra phỉ báng mang tội vô lượng.

"Hàng Bồ tát mới học trước nên gần gũi hàng đa văn Bồ tát đã học lâu trong giáo pháp Đại thừa, đã ở nơi Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, trồng căn lành để mau chóng thành thục, không nên gần gũi, vui chơi với hàng nhị thừa. Vì sao vậy? Vì nó ngăn ngại Bồ đề tâm của Bồ tát. Nó khiến cho xả bỏ Bồ đề tâm. Nó khiến cho suy giảm Bồ đề tâm. Nó làm cho huỷ phạm Bồ tát hạnh. Bồ tát thà xả bỏ thân mạng nầy, không nên xả bỏ tâm đại Bồ đềphát khởi ý thích thú, mong cầu nhị thừa. Nếu hàng Bồ tát khuyến khích hữu tình bỏ Bồ đề tâm thích thú với địa vị nhị thừa; nếu hàng Bồ tát khuyến khích hữu tình bỏ Bồ đề tâm làm các nghiệp ác, đều đọa địa ngục, thọ lãnh khổ báo cùng cực. Bồ tát thà giữ tâm đại Bồ đề mà chịu khổ trong địa ngục ngũ vô gián, trọn đời không xả bỏ tâm đại Bồ đề. Nếu như muốn mong cầu chứng đắc quả vị Dự lưu, Bồ tát thà giữ tâm đại Bồ đề, trăm ngàn đại kiếp thọ khổ nơi địa ngục, trọn đời không xả bỏ tâm đại Bồ đề. Nếu như muốn mong cầu chứng đắc quả vị Nhất lai, Bồ tát thà giữ tâm đại Bồ đề, thọ thân bàng sanh hoặc làm ngạ quỷ, trọn đời không xả bỏ tâm đại Bồ đề. Nếu như muốn mong cầu chứng đắc quả vị Bất hoàn, Bồ tát thà giữ tâm đại Bồ đề, tạo mười ác nghiệp đọa vào các đường ác thú, trọn đời không xả bỏ tâm đại Bồ đề. Nếu như muốn mong cầu chứng đắc quả vị Vô sanh, Bồ tát thà giữ tâm đại Bồ đề, vào trong lửa lớn cứu các sinh linh, trọn đời không xả bỏ tâm đại Bồ đề. Tất cả nên lo sợ mà quay về cõi Niết bàn.

"Lúc Bồ tát mới phát tâm Vô thượng Bồ đề, Bồ tát thương xót tất cả hữu tình trong vòng sinh tử luân chuyển không ai cứu giúp; thì tất cả Trời, Người, A tu la v.v... đều nên cúng dường; có năng lực nhiếp hóa tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đạt đến quả vị cao tột; có năng lực nhiếp phục tất cả ma quân, các ác ma vương đều rất kinh sợ."

Bấy giờ, Đức Nghiêm Hoa nghe Phật nói vậy, lại thỉnh Phật rằng: "Thế nào gọi là ma quân? Cúi xin Đức Thế Tôn thương xótdạy bảo cho."

Đức Phật bảo Đức Nghiêm Hoa rằng: "Khi nghe thuyết giáo pháp Đại thừa, không sanh tùy hỷ, không vui lắng nghe, không mong ngộ nhập, không thể tin thọ; trái lại cười nhạo, huỷ báng, khinh khi, ly gián chê bai, đánh đập xua đuổi; nên biết những kẻ ấy đều là ma quân. Đây gọi là những kẻ ham mê phi pháp, những kẻ tâm tánh hèn mọn, những kẻ mong cầu ngoại đạo, những kẻ thực hành tà hạnh, những kẻ hủy hoại chánh kiến; nên biết những kẻ ấy đều là hủy báng Đại thừa, phải đọa địa ngục, thọ khổ cùng cực. Kẻ ấy, sau khi sanh ra, sẽ sanh vào ngạ quỷ, trải qua trăm ngàn kiếp thường ăn phẩn uế; sau khi sanh vào cõi người, đui điếc câm ngọng, cơ thể không đủ, lỗ mủi bẹp xẹp, ngu đần vô trí, thân hình xấu xí. Cứ thứ tự như vậy, tội chướng tiêu hao, lưu chuyển mười phương, may gặp chư Phật, gần gũi cúng dường, nghe lại được Đại thừa trước mà tùy hỷ tín thọ. Nhờ nhân duyên này tâm đại Bồ đề liền phát, tinh cần dõng mãnh, tu hạnh Bồ tát dần dần học lên đến quả Bồ đề.

"Các Đức Phật Thế Tôn khởi tâm không phân biệt vì các loài hữu tình thuyết pháp năm thừa; do nơi bổn nguyện lực, nơi pháp giới thân mà trong tất cả thời pháp, từ nơi các lỗ chân lông, luân chuyển lưu xuất ra vô lượng ánh sáng pháp; dùng một loại âm thanh vi diệu để rưới mưa pháp cho vô lượng hữu tình trong cùng một chúng hội. Hàng Thanh văn thừa tin vui nghe Phật thuyết Thanh văn thừa pháp. Hàng Độc giác thừa tin vui nghe Phật thuyết Độc giác thừa pháp. Hàng Vô thượng thừa tin vui nghe Phật thuyết Vô thượng thừa pháp. Hàng chủng chủng thừa tin vui nghe Phật thuyết chủng chủng thừa pháp. Hàng Thiên nhân thừa tin vui nghe Phật thuyết Thiên nhân thừa pháp. Các hàng bàng sanh, ngạ quỷ v.v... cũng nghe Như Lai dùng âm thanh của mỗi loài mà thuyết pháp. Nếu có kẻ xưa nay chưa nghe pháp, họ thấy Phật ở trong chúng yên lặng. Những kẻ từng nghe Đại thừaphỉ báng đều trải qua vô lượng kiếp đọa vào đại địa ngục; từ bàng sanh, ngạ quỷ cho đến trong hàng trời người đều thọ khổ như vậy. Khi nghe pháp Đại thừa mà sanh hoan hỷ thâm sâu, niềm tin thuần tịnh liền phát sanh A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm."

Bấy giờ, Đức Nghiêm Hoa nghe Phật thuyết như vậy, lại thỉnh Phật rằng: "Sao gọi là Đại thừa? Tên gọi Đại thừa này có bao nhiêu phần nghĩa ?"

Đức Thế Tôn bảo rằng: "Lành thay! Lành thay! Ngươi nên khéo lắng nghe công đức của Đại Thừa, nghe kĩ nghe kĩ, khéo tư duy nhớ nghĩ. Ta nay vì ngươi phân biệt giải nói tên gọi Đại thừa nầy cùng các phần mục nghĩa. Thừa nầy gồm thâu, bao trùm, sâu xa, không có chỗ sai sót, nên gọi Đại Thừa. Thừa nầy có công đức thậm thâm vi diệu, hơn cả đếm đong, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy bền chắc, những điều hư dối, chia chẻ không thể lay động, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy chân thật đến vô cùng vị lai, không có bờ mé cùng tận, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy mênh mông, bao trùm pháp giới, xa không biên tế, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy như biển, thâu nạp cất chứa, công đức qui tụ, nên gọi Đại Thừa. Thừa nầy như núi, trấn giữ vùng miền, kẻ ác không hại, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy như hư không, gồm thâu tất cả hữu tình vô tình, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy như đất, cả thẩy sinh trưởng việc thế gian hay xuất thế gian, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy như nước, thấm ướt tất cả, khiến không khô héo, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy như lửa, đốt sạch chướng ngại, khiến hết tập khí, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy như gió, quét sạch hết thẩy vầng mây sinh tử, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy như mặt trời, soi tỏ khắp cùng, thành thục tất cả, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy như mặt trăng, trừ sạch khổ sầu, phá các tà ám, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy tôn quý, trời rồng tám bộ đều kính sùng phụng, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy khắp vì, người khỏe thông đạt, ca vịnh ngợi khen, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy khắp vì, tứ vương Phạm Thích, lễ kính tôn trọng, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy khắp vì, các vị long thần v.v... cung kính giữ gìn, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy khắp vì, tất cả bồ tát, tinh cần tu học, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy gìn giữ, hạt giống Phật Thánh, chuyển tiếp tăng thịnh, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy viên mãn, đầy đủ uy đức, sáng rõ tất cả, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy chu cấp, tất cả hữu tình, khiến chẳng thiếu thốn, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy uy lực, như giống thuốc quý, chữa lành các bệnh, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy phá được, tất cả các giặc phiền não hữu tình, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy chuyển được, xe pháp vô thượng, lợi ích tất cả, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy vi diệu, thâm sâu bí mật, không thể nói kể, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy diệu dụng, nối giống Tam Bảo, khiến không tuyệt diệt, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy sáng tỏ, chân nghĩa cuộc đời, đạo lý cứu cánh, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy hiển lộ, các hạnh Bồ tát, đầy đủ không thiếu, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy hiển lộ, đất Phật công đức, đầy đủ không thiếu, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy lợi lạc, tất cả hữu tình, không có bờ mé, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy công năng, thiết lập nghĩa lớn, diệu dụng vô tận, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy huyền diệu, tâm ý kém cỏi, không thể tin thọ, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy bình đẳng, tâm ý cao thượng, có thể tin thọ, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy rộng lớn, kẻ ngu không thấu mà sanh cười nhạo, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy tôn quý, người trí có được như giữ của báu, nên gọi Đại thừa. Thừa nầy cao siêu, hàng Độc giác thừa v.v... tột cùng không sánh, nên gọi Đại thừa."

Lúc Đức Phật nói như vậy, các công đức thù thắng của danh nghĩa, thể dụng Đại thừa rồi, tam thiên đại thiên thế giới rúng động sáu kiểu. Trong không trung trăm vạn loại nhạc trời vang lên, trống không đánh tự kêu, hoa trời tuyệt sắc, rực rỡ rơi xuống. Vô lượng thiên tử, vô số Thanh văn nghe pháp âm nầy, thấy điềm lành nầy đều phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ đề. Trăm ngàn Bồ tát mới học đồng lúc chứng đắc Vô sanh pháp nhẫn.

Lúc bấy giờ, ngài A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay cung kínhbạch Phật rằng: "Nay có pháp môn thậm thâm hi hữu nầy có thể làm lợi lạc cho tất cả hữu tình, lấy tên là gì để phụng trì, lưu bố?"

Đức Phật bảo A Nan: "Kinh nầy tên là Xưng Tán Công Đức Đại Thừa, cũng gọi là Hiển Thuyết Báng Pháp Nghiệp Chướng. Các ngươi dùng tên kinh đó để phụng trì."

Lúc bấy giờ, Đức Bạc Già Phạm thuyết kinh nầy xong; A Nan Đà, vô lượng Thanh văn, Đức Nghiêm Hoa v.v... vô số Bồ tát, cùng hàng Trời, Người, A tu la v.v... tất cả đại chúng nghe Phật thuyết rồi đều hoan hỷ tín thọ phụng hành.

Kinh Công Đức Xưng Tán Đại Thừa


 

 [No. 840] 稱讚大乘功德經

大唐三藏法師玄奘奉 詔譯

如是我聞。一時薄伽梵。住法界藏諸佛所行眾寶莊嚴大功德殿。與無央數大聲聞眾大菩薩俱。及諸天人阿素洛等無量大眾前後圍繞。

爾時會中有一菩薩。示為女相名德嚴華。承佛威神從座而起。稽首作禮而白佛言。何等名為菩薩惡友。新學菩薩知已遠離。爾時佛告德嚴華言。我觀世間。無有天魔梵釋沙門婆羅門等。與新學菩薩。於無上菩提為惡知識。如樂聲聞獨覺乘者。所以者何。夫為菩薩。必為利樂諸有情故。勤求無上正等菩提。樂二乘人志意下劣。惟求自證般涅槃樂。以是因緣。新學菩薩不應與彼同住一寺。同止一房。同處經行。同路遊適。若諸菩薩。已於大乘具足多聞得不壞信。我別開許與彼同居。為引發心趣菩提故。若彼種類善根未熟。不應為說大乘法教。令生誹謗獲罪無量。

新學菩薩但應親近久學大乘多聞菩薩。為於無上正等菩提。所種善根速成熟故。不應親近樂二乘者。所以者何。彼障菩薩菩提心故。彼令棄捨菩提心故。彼令虧損菩提心故。彼令毀犯菩薩行故。菩薩寧當棄捨身命。不應棄捨大菩提心。發起趣求二乘作意。若諸菩薩勸諸有情。捨菩提心趣二乘地。若諸菩薩勸諸有情。捨菩提心造諸惡業。俱墮地獄受諸劇苦。菩薩寧守大菩提心。造五無間受地獄苦。終不棄捨大菩提心。而欲趣求預流果證。菩薩寧守大菩提心。百千大劫受地獄苦。終不棄捨大菩提心。而欲趣求一來果證。菩薩寧守大菩提心。受傍生身或作餓鬼。終不棄捨大菩提心。而欲趣求不還果證。菩薩寧守大菩提心。造十惡業墮諸惡趣。終不棄捨大菩提心。而欲趣求無生果證。菩薩寧守大菩提心。入大火坑救諸含識。終不棄捨大菩提心。而同怯賊投涅槃界。

菩薩哀愍一切有情。於生死中輪轉無救。初發無上菩提心時。一切天人阿素洛等皆應供養。已能映奪一切聲聞獨覺極果。已能摧伏一切魔軍。諸惡魔王皆大驚怖。時德嚴華聞佛語已。重請佛言。何謂魔軍。惟願世尊哀愍為說。佛告德嚴華。若有聞說大乘法教。不生隨喜不樂聽聞。不求悟入不能信受。反加輕笑毀訾凌蔑。離間謗讟捶打驅擯。應知此等皆是魔軍。是則名為樂非法者。性鄙劣者。求外道者。行邪行者。壞正見者。應知此等謗毀大乘。當墮地獄受諸劇苦。從彼出已生餓鬼中。經百千劫常食糞穢。後生人中。盲聾瘖瘂支體不具。其鼻匾[匚虒]。愚鈍無知形貌矬陋。如是漸次罪障消除。流轉十方。或遇諸佛親近供養。復聞大乘聞已或能隨喜信受。因此便發大菩提心。勇猛精勤修菩薩行。漸次進學。乃至菩提。

諸佛世尊無別作意。為有情類說五乘法。由本願力依法界身。於一切時。從諸毛孔任運流出無量法光。以一妙音等澍法雨於一眾會無量有情。昔來信樂聲聞乘者。聞佛為說聲聞乘法。昔來信樂獨覺乘者。聞佛為說獨覺乘法。昔來信樂無上乘者。聞佛為說無上乘法。昔來信樂種種乘者。聞佛為說種種乘法。昔來信樂人天乘者。聞佛為說人天乘法。傍生鬼等。亦聞如來以隨類音而為說法。若有昔來未聞法者。彼惟見佛處眾默然。曾聞大乘而誹謗者。經無量劫墮大地獄傍生餓鬼及天人中備受苦已。聞大乘法即能隨喜深生淨信。便發阿耨多羅三藐三菩提心。時德嚴華聞佛說已。重請佛言。何謂大乘。此大乘名為目何義。世尊告曰。善哉善哉。汝能樂聞大乘功德。諦聽諦聽。善思念之。吾當為汝分別解說。此大乘名所目諸義。此乘綜攝。籠駕弘遠無所遺漏。故曰大乘。此乘功德甚深微妙過諸數量。故曰大乘。此乘堅固虛妄分別不能傾動。故曰大乘。此乘真實窮未來際無有斷盡。故曰大乘。此乘寥廓該羅法界邈無邊際。故曰大乘。此乘如海吞納蘊積功德寶聚。故曰大乘。此乘如山作鎮區域邪徒不擾。故曰大乘。此乘如空包含一切情非情類。故曰大乘。此乘如地普能生長世出世善。故曰大乘。此乘如水等潤一切令無枯槁。故曰大乘。此乘如火焚滅諸障令無餘習。故曰大乘。此乘如風掃除一切生死雲霧。故曰大乘。此乘如日開照群品成熟一切。故曰大乘。此乘如月能除熱惱破諸邪暗。故曰大乘。此乘尊貴。天龍八部咸所敬奉。故曰大乘。此乘恒為諸健達縛歌詠讚美。故曰大乘。此乘恒為四王梵釋禮敬尊重。故曰大乘。此乘恒為諸龍神等敬事防守。故曰大乘。此乘恒為一切菩薩精勤修學。故曰大乘。此乘任持諸佛聖種展轉增盛。故曰大乘。此乘圓滿具大威德映奪一切。故曰大乘。此乘周給一切有情令無匱乏。故曰大乘。此乘威力猶如藥樹救療眾病。故曰大乘。此乘能害一切有情諸煩惱賊。故曰大乘。此乘能轉無上法輪饒益一切。故曰大乘。此乘微妙甚深祕密不可宣說。故曰大乘。此乘神用紹三寶種能使不絕。故曰大乘。此乘能顯世俗勝義理趣究竟。故曰大乘。此乘能顯諸菩薩行無不具足。故曰大乘。此乘能顯佛地功德無不備悉。故曰大乘。此乘利樂一切有情盡未來際。故曰大乘。此乘至功能建大義妙用無盡。故曰大乘。此乘幽玄下劣意樂不能信受。故曰大乘。此乘平等增上意樂方能信受。故曰大乘。此乘廣大下愚不測而為輕笑。故曰大乘。此乘尊高上智能達常所寶翫。故曰大乘。此乘超過獨覺乘等最上無比。故曰大乘。

佛說如是大乘名義體用殊勝諸功德時。於此三千大千世界六種震動。空中天樂百千萬類。不鼓自嗚。諸妙天花繽紛亂墮。無量天子無數聲聞。聞此法音覩斯瑞應。皆發阿耨多羅三藐三菩提心。百千俱[并*氐]新學菩薩。同時證得無生法忍。

爾時阿難即從座起。合掌恭敬而白佛言。今此法門甚為希有。能普利樂一切有情。當以何名奉持流布。佛告阿難。此經名為稱讚大乘功德。亦名顯說謗法業障。以是名字汝當奉持。時薄伽梵說此經已。阿難陀等無量聲聞。德嚴華等無數菩薩。及諸天人阿素洛等一切大眾。聞佛所說皆大歡喜。信受奉行。

稱讚大乘功德經

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 11126)
“Nhất thiết hữu vi pháp; Như mộng, huyễn, bào, ảnh; Như lộ diệc như điện; Ưng tác như thị quán.”
(Xem: 7035)
Thành thật luận (Satyasiddhi-sastra) do Ha-lê-bat-ma tạo luận, Cưu-ma-la-thập dịch Hán, Nguyên Hồng dịch Việt, thâu lục trong Đại chính, Đại Tạng Kinh số No 1647.
(Xem: 23716)
Chân Như Quan Của Phật Giáo (Ðặc biệt lấy Bát-Nhã làm trung tâm) Nguyên tác: Kimura Taiken; Việt Dịch: HT. Thích Quảng Độ
(Xem: 6269)
Nguyện cầu hồng ân Tam bảo gia hộ cho toàn thể quý học chúng Bồ tát giới tại gia, có đầy đủ bi trí lực để hoàn thành bản nguyện tự lợi, lợi tha, trong khung trời giải thoát tự tại của chánh pháp Như Lai.
(Xem: 10546)
Tôi được Tăng sai phụ trách hướng dẫn Bồ tát Học xứ cho chúng Giới tử tân thọ Bồ tát giới...
(Xem: 9282)
Kinh AN BAN THỦ Ý là một trong những bản kinh được xuất bản sớm nhất ở Viễn Đông và đã góp phần vào việc phổ biến Phật giáo qua việc giảng dạy cách thức thiền tập...
(Xem: 7295)
Bồ tát Long Thọ trước tác Trung luận gồm 27 phẩm (chương) 446 bài kệ, mỗi bài 4 câu, mỗi câu 5 chữ. Ở Ấn Độ các bản luận giải thích như Vô Úy luận...
(Xem: 6888)
Trong Luật tạng, bộ Luật đầu tiên theo trong sử nhắc đến là bộ Bát thập tụng luật do Tôn giả Ưu-ba-li tám mươi lần ngồi tụng thì mới xong bộ Luật của Phật dạy.
(Xem: 7315)
Một thời Đức Thế Tôn ở tại cung điện của chú tể Đại dương, cùng với chúng đại tỳ kheo tám ngàn vị và chúng đại bồ tát ba mươi hai ngàn vị.
(Xem: 7580)
Người giảng: Lão Hòa thượng Tịnh Không; Cẩn dịch: Vọng Tây cư sĩ – Viên Đạt cư sĩ; Biên tập: Phật tử Diệu Hiền
(Xem: 7095)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 215, Hán dịch Pháp Cự; Việt dịch: Thích Bảo An
(Xem: 7093)
Đại Chánh Tân Tu, Kinh số 706, Bộ Kinh Tập, Hán dịch: Thi Hộ; Việt dịch: Thích Thiên Ân
(Xem: 7051)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển thứ 32 số 1648 thuộc Luận Tập Bộ Toàn; Ưu Ba Đề Sa; Tăng Già Bà La; HT Thích Như Điển
(Xem: 6272)
Vãng sinh tập đều ghi chép nhiều truyện có thật đời xưa tu Tịnh độ được vãng sinh Tây phương của đủ các hạng người xuất gia lẫn tại gia, của cả loài vật... Chúc Đức dịch Việt
(Xem: 7911)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Luận Tập, Kinh số 1666; Bồ-tát Mã Minh tạo luận; Hán dịch: Chân Đế; Việt dịch: Nguyên Hồng
(Xem: 8633)
Đây là một quyển kinh Phật Giáo rất phổ thông và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng quan trọng trên thế giới... Tâm Minh Ngô Tằng Giao
(Xem: 10154)
Kinh Pháp Hoa ai cũng biết là bộ Kinh Tối Thượng Thừa mà nó không phải Đại Thừa và cũng gọi là Phật Thừa... HT Thích Thắng Hoan
(Xem: 7821)
Kinh PHÁP-HOA là một bộ kinh lớn mà từ xưa đến nay, sau khi đức Phật diệt-độ, được lưu thông nhứt và được nhiều người tụng-trì nhứt trong các bộ kinh lớn... HT Thích Trí Tịnh
(Xem: 7844)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Hoa Nghiêm, Kinh số 0301, Hán dịch: Thật Xoa Nan Ðà; Việt dịch: HT Thích Minh Lễ
(Xem: 44240)
Sám văn gồm có ba cuốn ngày nay là sám văn ấy. Đem nước từ bi tam muội rửa sạch oan nghiệp nhiều kiếp, lấy ý nghĩa đó để mệnh danh Thủy sám... HT Thích Trí Quang
(Xem: 8837)
Trong đời mạt pháp, các đệ tử của ta chỉ đeo đuổi theo bên ngoài, ít có ai quan niệm đến vấn đề Sanh Tử... HT Thích Thiền Tâm
(Xem: 10822)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0665, Hán dịch: Nghĩa Tịnh, Việt dịch: HT Thích Trí Quang
(Xem: 29166)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0642; Hán dịch: Cưu Ma La Thập; Việt dịch: Định Huệ
(Xem: 6992)
阿 毘 達 磨 俱 舍 論 A Tì Đạt Ma Câu Xá Luận I... dịch theo bản Sanskrit... Tuệ Sỹ
(Xem: 25878)
Tăng đoàn thực hành đúng Pháp và Luật của Phật đã chế định trong sự cùng nhau cộng trú hòa hợpthanh tịnh, cùng nhau giải tán trong sự hòa hợpthanh tịnh.
(Xem: 7399)
Phật Thừa Tôn Yếu luận là một trong nhiều tác phẩm của Đại sư Thái Hư, mang ý nghĩa bao quát nội dung giáo nghĩa Đại thừa Tiểu thừa... Thích Thiện Hạnh Dịch
(Xem: 5872)
Kim Sư Tử Chương là một tác phẩm rất ngắn của thầy Pháp Tạng nhưng bao hàm được giáo lý của Kinh Hoa Nghiêm... HT Thích Nhất Hạnh
(Xem: 9370)
Luận Phật Thừa Tông Yếutùy thuận theo thời cơ lược nói về tông bảncương yếu của Phật pháp... Nguyên tác: Đại sư Thái Hư; Thích Nhật Quang dịch Việt
(Xem: 7217)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0639, Hán dịch: Na Liên Ðề Da Xá, Việt dịch: Thích Chánh Lạc
(Xem: 7509)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0628, Hán dịch: Pháp Thiên, Việt dịch: Thích nữ Tịnh Nguyên
(Xem: 8425)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0626, Hán dịch: Chi Lâu Ca Sấm, Việt dịch: Phật tử Phước Thắng
(Xem: 7501)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0619, Hán dịch: Đàm Ma Mật Đa, Việt dịch: Thích Nguyên Xuân
(Xem: 11413)
Từ Bi Thủy Sám Pháp - Trước thuật: Ngộ Đạt Thiền Sư; Dịch Giả: Thích Huyền Dung
(Xem: 15641)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Sử Truyện, số 2076, Nguyên tác Đạo Nguyên, Việt dịch: Lý Việt Dũng
(Xem: 8068)
Thiết Lập Tịnh Độ là quyển sách của HT Thích Nhất Hạnh giảng giải về Kinh A Di Đà với góc nhìn thiền học
(Xem: 7692)
Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí-Tịnh, Anh dịch: Quảng Định / Quảng Hiếu hiệu đính, Sưu tập: Tuệ Uyển
(Xem: 12810)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0615, Hán dịch: Cưu Ma La Thập, Việt dịch: Thích Nguyên Xuân
(Xem: 10695)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0614, Hán dịch: Cưu Ma La Thập, Việt dịch: Thích Nguyên Xuân
(Xem: 13042)
Quyển "Thập thiện nghiệp đạo kinh giảng yếu" của ngài Thái Hư Pháp sư, thấy tóm tắt dễ hiểu, lời lẽ giản dị mà ý nghĩa đầy đủ, lại rất hợp với căn cơ hiện tại... Thái Hư
(Xem: 7854)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0600, Hán dịch: Thực Soa Nan Đà, Việt dịch: HT Thích Tâm Châu
(Xem: 9030)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0599, Hán dịch: Nghĩa Tịnh, Việt dịch: Nguyên Thuận
(Xem: 9038)
Bản dịch Việt được thực hiện bởi Nhóm Phiên dịch Phạn Tạng, dựa trên bản Hán dịch của Huyền Trang, A-tì-đạt-ma Câu-xá luận... Tuệ Sỹ
(Xem: 11146)
Theo Viên TrừngTrạm Nhiên (1561- 1626), ở trong Kim cang tam muội kinh chú giải tự, thì Đức Phật nói kinh nầy sau Bát nhãtrước Pháp hoa... Thích Thái Hòa
(Xem: 14071)
Thiền Luận - Tác giả: Daisetz Teitaro Suzuki; Quyển Thượng, Dịch giả: Trúc Thiên; Quyển Trung và Hạ, Dịch giả: Tuệ Sỹ
(Xem: 8539)
Chủ ý đó là muốn Tỷ kheo phải là bậc Chúng trung tôn, thân miệng ý, cả 3 nghiệp ấy đừng có những tội lỗicử động bất xứng... Hòa thượng Thích Trí Quang dịch giải
(Xem: 16440)
Bộ Luật Tứ Phần khởi nguyên do bộ phái Đàm-vô-đức (Dharmagupta, Pháp Tạng bộ) truyền trì... Hòa thượng Thích Trí Thủ dịch (1983)
(Xem: 7042)
Là một bộ luật quan trọng trong sáu bộ luật của ngài Nam Sơn, bắt nguồn từ bộ luật của ngài Đàm-vô-đức. Vào cuối đời Đường ở núi Thái Nhứt, sa môn Đạo Tuyên chú thích. Việt dịch: Thích Thọ Phước
(Xem: 9308)
Đại Chánh Tân Tu - Kinh số 685; Hán dịch: Trúc Pháp Hộ; Việt dịch: Hạnh Cơ
(Xem: 10032)
Hạnh Cơ tập hợp và chuyển dịch từ hai bản Luận: Duy Thức Tam Thập TụngBát Thức Qui Củ Tụng
(Xem: 10156)
Kinh Hoa Nghiêm phát xuất từ Ấn Ðộ, nhưng được phát triển mạnh ở Trung Quốc, Nhật Bản... HT Thích Trí Quảng
(Xem: 9012)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0232 - Hán dịch: Mạn Ðà La Tiên; Việt dịch: HT Thích Minh Lễ
(Xem: 7246)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0226 - Hán dịch: Đàm Ma Ty, Trúc Phật Niệm; Việt dịch: Thích nữ Tâm Thường
(Xem: 8409)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0592 - Hán dịch: Huyền Trang; Việt dịch: HT Thích Tâm Châu
(Xem: 10662)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0590; Hán dịch: Trí NghiêmBảo Vân ; Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo
(Xem: 9577)
Trong Tam tạng Kinh điển tất cả giáo PhápTiểu Thừa hay Đại Thừa, dù tại gia hay xuất gia, Giới Luật luôn là phần trọng yếu nhất... Ngài Hoằng Tán lược sớ - Thích Nữ Trí Hải (tự Như Hải) dịch
(Xem: 11847)
Chỉ vì tín lực chẳng sâu nên thắng nghiệp chìm trong hữu lậu, lại muốn bỏ pháp này để chọn pháp khác, lầm lạc lắm thay!... Như Hòa dịch
(Xem: 12314)
Kính nghĩ, đức Thích-ca mở ra vận hội lớn làm lợi ích rộng lớn cho chúng sinh có duyên, xiển dương giáo pháp tùy theo mỗi quốc độ khiến pháp nhũ thấm nhuần khắp cả... Nguyên Trang dịch
(Xem: 12127)
Pháp Niệm Phật Tam Muội xét về nguồn gốc là từ Viễn Tổ (tổ Huệ Viễn) đề xướngLô Sơn, sáng khởi Liên Xã sáu thời tịnh hạnh, trở thành quy củ cao đẹp cho muôn đời... Như Hòa
(Xem: 14442)
Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm - Hán dịch: Bát Lạt Mật Đế; Việt dịch và chú thích: Hạnh Cơ
Quảng Cáo Bảo Trợ