Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
17,420,374
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250

Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo

Sunday, January 1, 201710:36(View: 5764)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo


Thích Nguyên Chơn
(Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển, đây là quyển số 1.)

Đệ tử Phật có hai thành phầntại giaxuất gia. Tại gia thì đầu tiên thụ năm giới để làm nền tảng ngăn ba đường ác, cầu phước cõi trờicõi người. Vì chưa thể vĩnh viễn xa lìa những duyên trần gia đình quyến thuộc, nên thụ thêm ba giới cộng với năm giới trên trong một ngày một đêm để trồng nhân duyên vĩnh viễn xuất gia ở đời vị lai.
 Hàng xuất gia, về hành nghiệp thì trước sau có ba bậc thượng, trung, hạ. Xuất gia bậc hạ thì trước tiên lấy mười giới làm căn bản, suốt đời thụ trì. Tuy bỏ nhân duyên gia đình, quyến thuộc, nhưng việc làm thì như người thế tục. Người xuất gia này, so với người đã thụ cụ túc giới thì vẫn là tại gia, nên gọi là xuất gia bậc hạ. Xuất gia bậc trung thì đã bỏ tất cả duyên vụ và công việc ở đời, lãnh thụ đủ tám vạn bốn nghìn nhân duyên hướng đến đạo. Tuy xả các duyên sựviệc làm thế gian, nhưng ba nghiệp thân miệng và ý chưa hoàn toàn thanh tịnh, kết sử trong tâm vẫn còn, chưa thể xa lìa, so với bậc trên thì chưa đủ, sánh với bậc dưới thì đã hơn, cho nên gọi là xuất gia bậc trung. Xuất gia bậc thượng, đó là những người có căn cơ nhanh mạnh và nhạy bén, đã xa lìa được kết sử trói buộc, được sức thiền địnhtrí tuệ; do được sức thiền địnhtrí tuệ nên tâm được giải thoát; vì tâm được giải thoát nên thanh tịnh ba nghiệp thân, miệng và ý, ra khỏi ngôi nhà phiền não duyên sự, vĩnh viễn ở trong ngôi nhà mát mẻ vắng lặng nên gọi là xuất gia bậc thượng.
 Lại nữa, hàng xuất gia bậc trung sau khi thụ giới cụ túc, vẫn còn chưa biết hết tất cả oai nghi phép tắc của sa-môn, nên cần phải nương tựa một vị tôn túc trưởng lãođức hạnh. Tôn giả Ưu-ba-li thưa Đức Phật: “Thành tựu được mấy pháp mới không còn nương tựa bậc tôn túc?”. Đức Phật đáp: “Phải thành tựu hai mươi lăm pháp thì mới không còn nương tựa”. Nói rộng thì hai mươi lăm pháp, nhưng nói gọn thì chỉ cần biết hai bộ giới[2] để làm căn bản. Ở đây chỉ nói thành tựu mười pháp mà thôi. Mười pháp:
 1.Không thông thạo nghĩa chung và riêng của hai bộ giới. Đó là trong một thiên giới thì hoặc là đồng hoặc là khác; hoặc trong giới của Tăng thì nhẹ, trong giới của ni thì nặng; hoặc trong giới của ni thì nhẹ, trong giới của Tăng thì nặng; hoặc trong thiên trước thì có, thiên sau thì không, hoặc trong giới bản thì có, giới khác thì không; hoặc trong giới khác thì có mà giới bản thì không. Các bộ giới như thế không biết phân biệt, nên gọi là không thông thạo giới.
 2.Không biết là tội hay không phải tội: Tức không biết đó là tội trong Phật pháp mà chẳng phải tội của thế gian, là tội của thế gian mà chẳng phải tội trong Phật pháp; hoặc chẳng biết đó là tội trong Phật pháp cũng là tội của thế gian; hoặc chẳng biết đó không phải là tội trong Phật pháp cũng chẳng phải tội của thế gian. Tội trong Phật pháp mà chẳng phải tội của thế gian đó là những hành vi cất chứa tiền bạc, lìa ba y sau khi Phật đã chế giới. Tội của thế gian mà chẳng phải tội trong Phật pháp, đó là các hành vi như sát sinh, trộm cắp trước khi Phật chế giới. Tội trong Phật pháp cũng là tội của thế gian, tức những hành vi như phạm các giới dâm, nói dối… sau khi Phật đã chế giới. Không phải tội trong Phật pháp cũng chẳng phải tội của thế gian, tức những hành vi chặt phá cỏ cây… trước khi Phật chế giới. Nếu tì-kheo ăn ban đêm, tì-kheo cùng ăn nên quán ba việc tạo nên thức ăn này. Nếu không quán mà vẫn dùng thức ăn này thì phạm tội. Nếu có người đáng tin cùng dùng thức ăn ban đêm thì không phạm tội. Không biết các việc như vậy gọi là không biết là tội hay chẳng phải tội.
 3.Không biết nhẹ hay nặng: Không biết nhẹ, như sa-di vừa phạm giới dâm thì trong lòng vô cùng hổ thẹn phát thệ nguyện đến chết cũng không tái phạm, suốt đời luôn thay đổi nơi an trụ, không thụ nhận lời thỉnh thụ thực, cúi xin Tăng thương xót cho làm tì-kheo, suốt đời khuyên người làm phước. Người này hiện đời tuy không được mầm đạo, nhưng mai sau chỉ chịu tội nhẹ. Không biết phạm giới nặng mà chịu tội nhẹ gọi là không biết nhẹ. Không biết nặng, như có tì-kheo vào thời Phật Ca-diếp vì bẻ phá lá cây, nên bị đọa vào loài rồng, đến hôm nay vẫn còn chịu tội báo. Chẳng biết phạm tội nhẹ mà chịu quả báo nặng, nên gọi là chẳng biết nặng.
 4.Chẳng biết tội vô tàn[3] trong hữu tàn, tội hữu tàn trong vô tàn. Tội hữu tàn trong vô tàn: như trộm của người khác năm tiền, sau đó hối hận trả lại; như giết chiên-đà-la... ; do không biết việc này nên gọi là không biết tội hữu tàn trong vô tàn. Chẳng biết vô tàn trong hữu tàn: như trong ba mươi Xả đọa, nếu với tâm ý gần gũi mong cầu được ca-sa tốt đẹp, sau đó chủ của tấm ca-sa kia đòi lại, nếu không trả, mà giá trị tấm y nhiều hơn năm tiền thì phạm tội Ba-la-di. Không biết vô tàn trong hữu tàn: như vậy gọi là không biết vô tàn.
 5.Không biết một lần chế định: Nghĩa là không biết có những giới điều trước sau hoàn toàn không khai cho, hoặc có những giới điều khi gặp một nhân duyên thì chỉ khai cho một lần.
 6.Không biết hai lần chế định: Tức không biết có những giới điều hợp hai ba nhân duyên lại mới chế định ra một giới, hoặc có nhân duyên đưa đến hai lần khai hoặc sáu lần khai cho.
 7.Không biết có giới điều chỉ chế định riêng cho từng vùng: Như tại nước Danh Tịnh không nên thụ thực. Ở những nơi thờ nước thì không được tắm giặt và đại tiểu tiện trong dòng sông, những nơi rét lạnh thì cho mặc áo nhiều lớp. Những nơi này làm thì không phạm, nhưng nơi khác thì phạm. Không biết như vậy, gọi là không biết chế định riêng.
 8.Không biết có những giới điều chế chung cho tất cả: Như không biết sát sinh là việc mà tất cả các nơi Phật đều cấm.
 9.Không biết yết-ma bố-tát: Bố-tát, Trung Quốc dịch là tịnh trụ, trưỡng dưỡng. Tì-kheo hòa hợp, nếu làm một trăm lẻ một yết-ma mà không biết hòa hợp thì gọi là không biết yết-ma.
 10.Không biết yết-ma thỉnh tuế: Thỉnh tuế là xin người nêu ra lỗi của mình. Như thấy, nghe hay nghi ngờ người khác nói lỗi của mình, bấy giờ nếu có từ năm người trở lên, thì làm một trăm lẽ một yết-ma để rộng đường tự tứ. Bấy giờ Tăng cần phải sai hai người để tự tứ. Sở dĩ có hai người là bởi sau khi Tăng tự tứ xong, thì hai người này tự đối diện nhau để nêu ra tội; không được cầu người khác để tự tứ vì Tăng không sai. Nếu có ba bốn người thì ba lần nói tự tứ. Nếu chỉ một người thì tâm nghĩ miệng nói. Không biết điều này gọi là không biết yết-ma thỉnh tuế. Nếu một tì-kheo không biết mười việc nêu trên, thì dù đủ năm hạ hay nhiều hơn cũng phải nương tựa bậc tôn túc trưởng lão có đức. Nếu không nương tựa thì hàng ngày đều phạm tội Đột-cát-la. Nếu biết mười pháp trên, đã đủ năm hạ thì được lìa thầy nương tựa. Sau đó nên học phép tắc làm thầy, cho đến mười tuổi hạ mới được độ người. Nếu không biết năm pháp thì không được độ người. Năm pháp:
 1.Tụng đọc làu thông giới luật của hai bộ Tăng-Ni.
 2.Giải quyết được tâm nghi ngờ của đệ tử.
 3.Đệ tử ở nơi xa, có khả năng bảo trở về.
 4.Có khả năng phá dẹp tà kiến cho đệ tửdạy bảo không cho tạo ác.
 5.Nếu đệ tử có bệnh thì chăm sóc, chữa trị giống như cha mẹ nuôi con.
 Nếu đã có năm pháp này, lại đầy đủ mười tuổi hạ thì có thể làm Hòa thượng cho người. Nếu không biết thì suốt đời không được độ người, nếu độ thì phạm tội Đột-cát-la. Đã lìa thầy nương tựa thì được độ người. Độ người thì nên có đồ chúng, lại nên biết cách tụ tập đại chúng. Nếu trong chúng có người không biết pháp, thì trăm người, nghìn người không được ở chung trong một trú xứ. Ưu-ba-li hỏi Đức Phât: “Thế nào là tì-kheo đồng xứ an trụ giống như loài dê câm?”. Phật đáp: “Nếu tì-kheo không biết bốn pháp thì sẽ như vậy. Bốn pháp:
 1.Không biết giới, không biết việc của giới, tức không thông thạo ý nghĩa giới luật của hai bộ nhất định thuận với kinh.
 2.Không biết việc tụng giới, không biết vào ngày mười bốn hay ngày mười lăm, tụng rộng hay lược. Từ bốn người trở lên phải kiểm số và tụng rộng; hai ba người thì ba lần thuyết bố-tát. Văn thuyết như sau: Trưởng lão nhớ nghĩ! Hôm nay ngày 14 hoặc ngày 15 Tăng bố-tát. Trưởng lão nhớ nghĩ, biết con thanh tịnh, không chướng ngại đạo pháp, vì đầy đủ chúng giới (ba lần); một người thì tâm niệm miệng thuyết bố-tát. Nếu khi tụng giới có sự nạn mà mới tụng phần Tựa, hoặc thiên thứ hai, thứ ba thì nên bạch nhất yết-ma: “Hôm nay có sự nạn, tôi đọc phần tựa của giới kinh xong, những phần khác thì như Tăng đã thường nghe”. Nếu Tăng hỏi mà không biết những việc trên thì gọi là không biết việc thuyết giới.
 3.Không biết yết-ma: Những việc nên bạch nhất lại bạch nhị, nên bạch nhị lại bạch tứ, biệt chúng không đúng pháp. Không đúng pháp tức là trước yết-ma sau mới bạch, người có việc không hiện diện, dù có hiện diện nhưng không nói có việc ấy mà vội xướng biệt chúng; việc đáng dặn dò lại không dặn dò; người có việc ở bên ngoài cương giới yết-ma, thì chúng trong cương giới lại đồng thuận; kết nội giới rồi mới kết ngoại giới; đó gọi là biệt chúng không đúng pháp. Hoặc chúng phi pháp tụ tập tại một nơi, hoặc chúng hòa hợp bố-tát phi pháp. Những việc như thế gọi là không biết yết-ma.
 4.Không biết hội tọa: Tức khi thuyết giới hay tự tứ mà có khách tăng đến thì cần nói lại hay không nói lại, nên cho nghe theo thứ tự hay không để cho nghe theo thứ tự; tì-kheo đến trước nên ra khỏi cương giới thì tùy tiện ra khỏi cương giới, tì-kheo khách cũng như vậy; hoặc có lúc tì-kheo khách đến ít, tuy không nên nói lại, nhưng ví như tì-kheo ấy có đức cao, hoặc kẻ ngang bướng có thể dẫn đến việc tranh đấu thì cũng nên nói lại mà không nói. Như vậy gọi là không biết hội tọa. Nếu trong chúng không biết bốn việc ấy thì không được ở cùng một trụ xứ. Bấy giờ nên thỉnh một vị rành rẽ phép tắc đến, nếu thỉnh không được, thì toàn chúng nên nương vào những chúng biết phép tắc nào đó mà an trụ. Nếu không thỉnh cũng không chịu nương thì toàn chúng đó phạm tội Đột-cát-la.
 Đã lìa thầy nương tựa, lại được độ người, đồ chúngtrật tự, thứ lớp, thì nên làm sạch sẽ thân miệng, đắp y phục sạch và dùng thức ăn thanh tịnh. Làm sạch sẽ thân thể thì rửa sạch sau khi đại tiểu tiện, cắt móng tay. Làm sạch sẽ miệng thì đánh răng, súc miệng, nạo lưỡi. Nếu sau khi đại tiểu tiện mà không rửa tay thì phạm tội Đột-cát-la cũng không được ngồi trên tọa cụ sạch của Tăng và lễ lạy, dẫu có lễ lạy cũng không được phước. Nếu không chải răng mà ăn hoặc uống thuốc hoặc uống nước thì đều bị tội Đột-cát-la. Nếu không đắp y sạch vào thôn xóm thì phạm tội Đột-cát-la. Thức ăn thanh tịnh, tức không phải thức ănĐại tăng đã chạm vào, không cùng với người không đáng tin ăn uống và nghĩ đêm chung một nơi, thức ăn không chứa trong bát bất tịnh, bát được rửa bằng tháo đậu, không dùng bát gỗ và thức ăn trong đó, thức ăn không tự tay trồng tỉa, làm ra và mua bán mà được. Tất cả những thức ăn như vậy thì gọi là thức ăn thanh tịnh. Sở dĩ người đắp y sạch được ngồi theo tư thế ‘cứ tọa’ mà thụ thực, là do lúc Đức Phật mới thành đạo, thụ nhận bát cháo của cô gái nhà bán cháo xong, Ngài suy nghĩ: “Nếu có đệ tử xuất gia thì ngồi như thế nào, ăn như thế nào?”. Bấy giờ Ngài quán phép tắc của chư Phật, thì đều thấy các Ngài đều đắp y sạch, chỉ ngồi theo tư thế ‘cứ tọa’ thụ thực ngày một bữa. Cho nên Ngài chế định đệ tử của mình cũng thực hành theo như thế. Sở dĩ đắp y sạch là muốn hạn chế, đề phòng phạm các giới; sở dĩ ngồi theo tư thế ‘cứ tọa’ là vì giữ y sạch, lại ngược lại với phép tắc của thế tục, cũng vì ngồi trên thảm cỏ thì dễ thụ thực. Nếu ngồi không đúng cách thì phạm chín tội Đột-cát-la: ngồi hai chân buông ra phía trước, hai chân dang rộng, rung hai chân, đứng, tréo chân, ba y phủ chân, nhón chân, xếp chồng hai chân, xếp chồng hai đùi.
 Người nữ phân chia hương, chạm vào tay tì-kheo, nhân đó tì-kheo khởi tâm dục, liền bỏ đạo. Vị thầy mới hỏi, đệ tử trình bày nguyên nhân. Do đây có người thưa với Phật. Đức Phật chế định: “Nếu ngồi mà nhận hương từ tay người nữ thì phạm tội Đột-cát-la”. Sở dĩ không ăn nhiều bữa mà chỉ ăn một bữa là do nếu làm ra, hoặc xin, cho đến rửa bát... sẽ tốn nhiều thời gian, cũng là tăng trưởng phiền não dâm, nộ, si lại cũng chẳng khác người thế tục, vì thế chỉ ăn một bữa. Dù biết đầy đủ các oai nghi, phép tắc khác nhau của sa-môn, nhưng chưa bàn đến sự nghiệp mà người xuất gia phải hành trì. Sự nghiệp của người xuất gia: Tọa thiền, tụng kinh và các việc giáo hóa. Nếu đầy đủ ba việc này thì đó là người xuất gia đúng pháp, nếu không thực hành thì luống uổng một phen sống chết, chỉ tạo nhân đau khổ mà thôi.
 Nếu tì-kheo thành tựu mười pháp sau, thì được độ và trao giới cụ túc cho người: Một, thành tựu giới, hai, thành tựu oai nghi; ba, sợ hãi với các tội nhỏ; bốn, học rộng, có thể ghi nhớ pháp mà Phật đã giảng thuyết; năm, thông thạo hai bộ luật, hiểu phân biệtý nghĩa trong đó; sáu, có khả năng dạy đệ tử tăng trưởng giới học, tâm họctuệ học; bảy, có khả năng giải tỏa mối nghi và bảo người giải tỏa mối nghi cho đệ tử; tám, có năng lực chữa trị bệnh và bảo người khác chữa bệnh cho đệ tử; chín, nếu đệ tử khởi tà kiến thì có khả năng giáo huấn khiến bỏ và bảo người khác bỏ; mười, có khả năng gọi đệ tử từ phương xa trở về, cũng có thể bảo người khác gọi về.
 Nếu tì-kheo đủ mười tuổi hạ hoặc nhiều hơn, lại thành tựu chín pháp sau thì được truyền trao giới cụ túc cho người khác, đó là: phải biết tội nặng, tội nhẹ, tội thô, tội chẳng thô, tội hữu dư, tội vô dư, tội có yết-ma, tội không yết-ma, nhân duyên của tội.
 Nếu tì-kheo đủ mười hạ hoặc hơn mười hạ mà thành tựu năm pháp sau đây thì được truyền trao giới cụ túc cho người: có khả năng giúp đệ tử tăng trưởng giới học, tâm học, tuệ học, những việc làm đều chu toàncẩn thận, luôn buộc niệm hiện tiền.
 Lại nữa, tì-kheo đủ mười hạ hoặc hơn mười hạ mà thành tựu năm pháp sau đây thì được trao giới cụ túc cho người: có khả năng giúp đệ tử tăng trưởng giới học, tâm học, tuệ học, thông minh và có biện tài.
 Lại nữa, tì-kheo đủ mười hạ hoặc hơn mười hạ mà thành tựu năm pháp sau đây thì được truyền trao giới cụ túc cho người: thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ, thành tựu giải thoát, thành tựu giải thoát tri kiến.
 Lại nữa, tì-kheo phải thành tựu năm pháp: Một, bản thân trụ nơi giới, dạy người trụ nơi giới; bản thân trụ nơi định, dạy người trụ nơi định; bản thân trụ nơi tuệ, dạy người trụ nơi tuệ; bản thân trụ nơi giải thoát, dạy người trụ nơi giải thoát; bản thân trụ nơi giải thoát tri kiến, dạy người trụ nơi giải thoát tri kiến.
 Lại nữa, tì-kheo đủ mười hạ hoặc hơn mười hạ mà thành tựu năm pháp sau đây thì được truyền trao giới cụ túc cho người: một, thành tựu chúng vô học giới, thành tựu chúng vô học định, thành tựu chúng vô học tuệ, thành tựu chúng vô học giải thoát, thành tựu chúng vô học giải thoát tri kiến.
 Lại nữa, tì-kheo đủ mười hạ hoặc hơn mười hạ mà thành tựu năm pháp sau đây thì được truyền trao giới cụ túc cho người: có khả năng dạy đệ tử tăng trưởng giới, tăng trưởng Phạm hạnh, biết phạm hay chẳng phạm, biết đã hối lỗi hay chưa hối lỗi, đủ mười hạ hay trên mười hạ. Độ sa-di, làm y chỉ cho người cũng như vậy.
 Tất cả các tì-kheo thượng-hạ tọa hãy nên nghe cho rõ! Hôm nay là ngày đầu năm, mọi người các nơi đều tụ họp. Thật khó gặp Đức Phật, thật khó được nghe giáo pháp, bậc hiền khó tụ hội, ngày đầu năm lại chóng qua. Hôm nay các hiền giả tận mắt thấy được bao nhiêu lần sinh bao nhiên lần chết. Ngày nay đã được sinh thân, đã được thụ giới, đã được nghe pháp, đã được hạnh tốt. Những lỗi đã phạm từ năm trước đến hôm nay, hoặc là tham dâm hoặc là sân hận, hoặc là ngu si, hôm nay sẽ nói ra hết những tướng lỗi lầm đã phạm, cam chịu ngu si chứ không dám che giấu. Người phạm tội ở trong chúng, do tự xem thườngnói dối, nên phạm tội Vô gián, liền khinh giới và tự hủy giới. Như tì-kheo phạm giới dâm tên là Ca-lưu-đa, tì-kheo phạm giới trộm cắp tên là Ca-lưu-hoàn, tì-kheo phạm giới sát tên là Ca-lưu đều ở nước La-duyệt-kì, tì-kheo phạm giới vọng ngữ tên là Ca-lưu-hoàn tại nước Xá-vệ vọc âm xuất tinh. Tì-kheo Ca-lưu-đa tại nước La-duyệt-kì tự xây phòng ốc để an trú. Tì-kheo Ca-lưu ở tại nước Xá-vệ dẫn năm trăm đệ tử đến nước Ni-diễn...
 Trong mười ba việc[4] có ba việc không được sám hối: Một là ôm giữ người nữ tại chỗ kín, hai là không thành thật giúp đỡ, ba là khởi tâm dâm đùa giỡn với phụ nữ và người hầu gái của nhà thí chủ. Ngoài ba việc này ra thì mười việc khác có thể sám hối. Nếu phạm tội mà để quá một ngày thì sám hối ba ngày. Nếu để quá ba ngày thì sám hối bảy ngày. Nếu để quá bảy ngày thì sám hối mười lăm ngày. Nếu để quá mười lăm ngày thì sám hối ba mươi ngày. Nếu quá ba mươi ngày thì sám hối chín mươi ngày.
 Có chín mươi việc[5] mà tì-kheo nên sám hối. Nếu phạm tội này mà để quá một ngày thì sám hối ba ngày. Nếu để quá ba ngày thì sám hối bảy ngày. Nếu để quá bảy ngày thì sám hối mười lăm ngày. Nếu để quá mười lăm ngày thì sám hối ba mươi ngày. Nếu quá ba mươi ngày thì sám hối chín mươi ngày. Khi sám hối phải đầy đủ bốn vị tì-kheo.
 Có mười việc sau đây thì một vị tì-kheo có thể làm Ma-ma-đế[6]: Có chính giới từ lâu, có tiếng tăm, có trí tuệ, có phương tiện, có khả năng tạo công đức, có đức hạnh, thuận lòng tì-kheo Tăng, vừa ý đàn việt, ra sức vì đàn việt, đủ mười hạ.
 Có bốn việc mà tì-kheo nên rời đi: phòng ốc hư hoại, không có đàn việt, nơi nhiều ruồi muỗi trùng độc, đất nước có vua quan ganh tị. Lại có bốn việc khác mà tì-kheo nên làm: làm việc của của tháp; làm việc của tì-kheo Tăng; làm việc cho tam sư; học hết những sở tri của tam sư lại nên cầu thầu học đến chỗ sáng tỏ cùng tận.
 Có bốn việc khi đến nước khác, tì-kheo không đắp ca-sa: nơi không có chùa tháp, không có tì-kheo Tăng, có trộm cướp, vua nơi đó không thích đạo.
 Có bảy nơi mà một tì-kheo không nên dừng nghỉ: nơi tranh cãi ồn náo, nhà đồ tể, nơi cúng tế, dưới cầu, đầu cầu, trên con đường có tuần tra cảnh giới, nơi trống vắng, nơi trú ngụ của ác quỉ.
 Khi đang nằm muốn đứng dậy ra khỏi phòng, tì-kheo cần lưu ý năm việc: Một, ngồi dậy rồi mới bước xuống giường, không được khiến giường phát ra tiếng; hai, trước khi mang giày nên đập giũ sạch; ba, chỉnh thân ngay ngắn và đắp pháp y; bốn, búng ngón tay ba lần trước khi mở cửa phòng và không được làm cho cửa phát ra tiếng; năm, nếu trong phòng có tượng Phật thì không được quay lưng về phía tượng, không được đứng ngay cửa nói chuyện với người khác.
 Có năm việc tì-kheo không được phạm khi súc miệng: Một, không được ngồi xổm; hai, không được hướng về tháp Phật, cũng không được quay lưng về đó; ba, không được hướng về hay quay lưng về phía hòa thượng a-xà-lê; bốn, không được súc miệng trên ngòi rảnh hoặc trên đất thanh tịnh; năm, không được nói chuyện cũng không được nhận lễ kính của người khác.
 Tì-kheo sử dụng cành dương cần phải biết năm việc: nên cắt đúng độ dài, nên chẻ lớn nhỏ đúng cách, đầu dùng để chà răng không quá ba phân (tương đương chín milimet); răng thưa thì nên chà trong kẻ răng ba lần; dùng nước súc miệng.
 Nạo lưỡi, tì-kheo cần phải biết năm điều: không nên nạo quá ba lần, mặt lưỡi chảy máu thì dừng, không được vung tay qua mức làm nước bắn dơ tăng-già-lê và chân, không vất cành dương đã dùng trên đường đi, nên bỏ ở chỗ kín.
 Khi đắp ca-sa, tì-kheo phải biết mười điều: Một, tay vừa gải thân thì không được đắp ca-sa mà phải rửa tay rồi mới đắp; hai, chưa rửa tay thì không được cầm ca-sa; ba, không được kéo ca-sa từ trên giá xuống, mà nên đưa tay phải lồng vào đẩy ngược lên còn tay trái thì đỡ phía dưới mà nhận lấy; bốn, sau khi tay trái nhận lấy ca-sa thì nên giũ nhẹ rồi mới đắp; năm, không được từ phía trước ném ca-sa lên vai; sáu, nên cầm lấy ca-sa không cho rơi xuống đất; bảy, nên hạ hai đầu cho bằng, không để ca-sa chạm vào chân; tám, khi đắp ca-sa không được hướng hay quay lưng về phía tháp Phật; chín, khi đắp không được hướng hoặc quay lưng về Thượng tọa hoặc tam sư[7]; mười, khi gấp ca-sa không được dùng miệng ngậm, cũng không được vung tay.
 Khi nhiễu tháp, tì-kheo phải biết năm điều: cúi đầu nhìn xuống đất, không được đạp côn trùng, không được nhìn hai bên, không được khạc nhổ, không được dừng lại nói chuyện với người khác.
 Lúc nhiễu tháp, tì-kheo cũng nên nghĩ nhớ đến mười lăm việc: Một, nghĩ nhớ đến công đức của Phật; hai, nghĩ nhớ đến giới kinh của Phật; ba, nghĩ nhớ đến trí tuệ Phật; bốn, nghĩ đến ân của Phật to lớn, thật khó báo đáp; năm, nghĩ nhớ đến Phật đã tinh tấn tu tập cho đến đạt được niết-bàn; sáu, nghĩ nhớ đến tì-kheo Tăng; bảy, nên nghĩ nhớ đến ân thầy; tám, nghĩ đến ân cho mẹ; chín, nghĩ đến ân của bạn đồng học; mười, nghĩ nhớ đến tất cả chúng sinh và nguyện cho họ xa lìa hết những nỗi khổ; mười một, nên nghĩ đến học tuệ; mười hai, nên nghĩ đến việc trừ ba độc; mười ba, nên nghĩ đến việc cầu đạo xuất li; mười bốn, nhìn thấy cỏ mọc trên tháp, nghĩ tưởng dùng tay trừ bỏ chứ không được nhổ; mười lăm, thấy có vật bất tịnh thì liền dọn sạch.
 Lại nữa, tì-kheo phải lưu ý năm điều: Một, nếu trời mưa thì nên cởi giày dưới tháp rồi mới vào tháp lễ Phật; hai, đã theo thứ tự kính lễthăm hỏi từ bậc Thượng tọa đến hạ tọa; ba, Tăng có việc nếu sai làm thì nên làm; bốn, nếu có đi ra ngoài thì nên thông báo cho chúng biết; năm, nghe tiếng bảng thì liền ra khỏi phòng tụ họp.
 Buổi tối tì-kheo vào phòng cần phải lưu ý năm việc: Một, trước khi vào nên đứng lại búng ngón tay ba lần rồi vào, và không làm cho cửa phát ra tiếng; hai, giày dép dính bùn đất nên cởi để bên ngoài; ba, nên đúng pháp giải y mắc vào nơi đã định; bốn, phủi sạch giày dép rồi đem đặt vào nơi khuất; năm, rửa chân rồi nghỉ ngơi, tùy theo sở nguyện.
 Sắp lên giường ngủ, tì-kheo phải chú ý năm việc: Một, khoan thai bước lên giường; hai, không được bò lên giường; ba, không được khiến giường phát ra tiếng; bốn, không được giũ mạnh mền màn, giường chiếu làm phát ra tiếng; năm, rửa chân và lau khô.
 Khi đã lên giường, tì-kheo cũng cần phải biết năm việc: Không nên ngáp phát ra tiếng lớn; không được quát mắng, hắt hơi lớn tiếng; không được than thởsuy nghĩ việc thế gian; không được ngồi tựa vách; ngồi dậy phải đúng lúc, nếu muốn ngồi dậy bất thường được thì nên tự trách.
 Có năm chỗ tì-kheo nên kinh hành: Ở những nơi vắng vẻ, trước tăng phòng, trước giảng đường, bên tháp, bên cạnh gác thờ Phật. Lại có năm việc khác mà tì-kheo phải biết: Không được ngồi trên gác, không được cầm gậy đi trong chùa, không được nằm mà tụng kinh, không được mang guốc, không được đưa chân cao đạp đất phát ra tiếng.
 Khi nằm, tì-kheo phải biết năm điều: Một, đầu hướng về Phật; hai, không được nằm mà nhìn Phật; ba, không được duỗi thẳng hai chân; bốn, không được quay mặt vào vách cũng không được nằm úp; năm, không được dựng hai đầu gối, hai chân duỗi ra co vào, nên nằm nghiêng về hông phải, đầu phải gối lên bàn tay phải và hai chân xếp chồng.
 Nửa đêm thức dậy tụng kinh, tì-kheo cần phải biết năm điều: Một, không được nghĩ ta tụng kinh giới làu thông, người khác không bằng ta; hai, dẫu tụng đọc không làu thông cũng không được nói ta tụng không làu thông, không được suy nghĩ chỉ vì việc của tì-kheo kia làm loạn ý ta; ba, không được ngồi nghĩ đến điều xấu của người; bốn, nếu trời sáng, muốn hỏi những điều nghi thì không được nói những việc khác, chỉ trình bày những tri kiến về điều mình chưa hiểu mà thôi; năm, không được nghĩ: nên thụ trì những lời trong kinh này để gạn hỏi bắt bí người khác; như có niệm này thì không phải là người học phép tắc của bậc hiền.
 Khi ở trong chùa, tì-kheo nên biết mười lăm điều: Một, không được dùng giày dép mang ra sau nhà để lên tháp Phật; hai, không được đi theo chiều bên trái; ba, không được quay lưng về Phật mà bước ra khỏi cổng; bốn, không được khạc nhổ trong tháp Phật; năm, không được ngồi trên lan can của tháp; sáu, không được lấy vật không đúng pháp đặt không đúng chỗ; bảy, không được dùng quá nhiều nước của ma-ma-đức[8] để rửa tay; tám, không được dùng bậy khăn tay của đại chúng; chín, không được rửa chân bên giếng của mọi người; mười, không được dùng bậy người và vật của đại chúng, nếu muốn sử dụng thì nên báo cho người chủ biết; mười một, không được đùa giỡn mắng chửi hàng bạch y; mười hai, không được cúi đầu khi nói chuyện với người khác; mười ba, không được ngồi trên giường của vị Thượng tọa; mười bốn, không được ngồi xoạc chân trước giường vị Thượng tọa; mười lăm, không được ngồi chung với vị Hòa thượng a-xà-lê.
 Lại nữa, tì-kheo nên biết mười điều: Một, không được trèo lên cây; hai, không được cầm quả lê ném cho người khác; ba, không được dùng nước tưới ướt người khác; bốn, trong nước có trùng không được uống hoặc rửa; năm, bị người mắng chửi thì không được mắng lại; sáu, đối với súc sinh, tì-kheo không được nổi giận mắng chửi và đánh đập; bảy, không được ác khẩu mắng chửi người là súc sinh; tám, không được nằm ngồi trên giường có khắc họa chạm trổ; chín, không được thoa phấn sáp, đeo hoa hương vào người; mười, không được đàn ca, múa hát và không được đi xem nghe các món ấy.
 Khi thụ thực, tì-kheo phải biết năm điều: Một, khi dùng cơm, tì-kheo không được nói là biết bao giờ mình sẽ chết, chỉ cần dùng no đủ khi có người mang cơm đến; hai, khi dùng cơm đã no, nếu có người mang đến cúng dường thì không được nhận; ba, cơm dùng còn dư không được ném cho người khác, không được ném bỏ trên cỏ; bốn, cơm dư ấy chỉ được đặt trên đất sạch; năm, có người thừa chút ít cơm thỉnh tì-kheo nhận cơm ấy, tì kheo không được bỏ đi mà nên nhận.
 Lại có mười điều mà tì-kheo nên biết: Một, khi đến trai đường nên búng ngón tay và vào thẳng; hai, trước tiên nên nhìn vào chỗ ngồi; ba, dưới chỗ ngồi có tiền bạc, dao, các loại dưa thì không nên ngồi lên trên; bốn, nếu dưới chỗ ngồi có vũ khí, áo quần, vật dụng, hoặc chăn màn thì không được ngồi lên trên; năm, nếu có vàng bạc, đồ vật sơn phết đẹp ở trước mặt thì không được chỉnh sửa y phục, hình tướng; sáu, không được nhiều lần quay nhìn người nữ của nhà thí chủ; bảy, phải biết phép tắc ngồi; tám, chưa thụ thực không được thuyết pháp cho người nghe; chín, không được đòi hỏi thức ăn; mười, khi thụ thực chưa no thì không được nói chuyện.
 Có mười trường hợp mà tì-kheo không nên đỉnh lễ: Một, khi đi ra sau nhà rồi trở lại, trên đường đi không được lễ người và cũng không được nhận lễ của người; hai, Thượng tọa đang nằm không được đỉnh lễThượng tọa cũng không nên nhận lễ; ba, khi Thượng tọa súc miệng không được đỉnh lễThượng tọa cũng không nên nhận lễ; bốn, Thượng tọa thâu dọn khay mâm dùng để thụ thực chưa xong không được đỉnh lễ và trước khi thâu dọn Thượng tọa cũng không nên nhận lễ; khi Thượng tọa dùng cơm, không được đỉnh lễThượng tọa cũng không nên nhận lễ của người; sáu, Thượng tọa đang tụng kinh hay trì kinh; bảy, khi Thượng tọa đang ở chỗ thấp, mình ở chỗ cao; tám, Thượng tọa ở phía trước hoặc đã quay lưng đi, thì không được từ phía sau đỉnh lễ Thượng tọa; chín, khi ở trên tòa không được lễ Thượng tọa; mười, khi đội mũ không được đỉnh lễ Phật.
 Khi tam sư trên tòa, tì-kheo phạm tội nặng mặc quần nê-hoàn-tăng cần phải biết năm điều: Một, không được mặc lộn ngược phía trên thành phía dưới; hai, bốn phía phải ngang bằng; ba, đầu nếp gấp phải gần bên trái; bốn, gút của thắt lưng phải ở bên phải; năm, buộc thắt lưng ba vòng và không được thòng hai đầu giây.
 Khi mặc niết-bàn-tăng để lộ thân, tức phía trên không có tăng-kì-chi thì cần phải chú ý mười điều: Một, không được đắp ca-sa; hai, không được lên tháp và trước tượng Phật; ba, không được vào giảng đường; bốn, không được đứng trước mặt tam sư; năm, không được cùng với vị Thượng tọa thuyết kinh; sáu, không được ngồi chung với Thượng tọa; bảy, không được ngồi trên giường của ma-ba-lợi[9]; tám; không được vào phòng của Thượng tọa; chín, không được vào nhà ăn và đến trước chúng tăng; mười, không được bước ra khỏi cửa, hoặc cách lầu ba thước.
 Tì-kheo sử dụng ba pháp y phải chú ý năm điều: Một, khi mặc nê-hoàn-tăng mà phía trên không mặc tăng-kì-chi thì không được mặc trung-ni-vệ[10], không mặc trung-ni-vệ không thì không được đắp y an-đà-hội; hai, nếu có trung-ni-vệ mà phía trên không có an-đà-hội thì không được đắp uất-đa-la-tăng; ba, nếu đắp an-đà-hội mà trên không có uất-đa-la-tăng thì không được đắp tăng-già-lê; bốn, nên đắp ba y trong ngoài đều bằng nhau; năm, không được nhiều hơn ba màu, đi đứng đúng phép tắc mới là đạo pháp.
 Tì-kheo trì bát phải biết năm việc: Một, có đai mang cho chắc; hai, bát mang phía hông trái; ba, khi đi thì chuyển bát hướng về phía trước; bốn, không được để bát kéo xuống gần bụng dưới; năm, dùng cơm xong nên đưa bát trở về vị trí cũ.
 Khi rửa bát, tì-kheo phải biết năm điều: Nên dùng tháo đậu[11], hoặc xà phòng; hai, không được rửa ở chỗ đất sạch; ba, khi rửa không được hướng về phía tháp Phật, tì-kheo Tăng và tam sư; bốn, không được nhún nhảy mà đổ nước; năm, không được dùng khăn dơ lau bát mà nên có khăn sạch riêng, nếu dùng tay chà cho khô là tốt nhất, nếu muốn rời gấp pháp hội thì nên phơi bát dưới ánh mặt trời hoặc hơ lửa cho khô.
 Tì-kheo giữ khóa phòng nhà có năm điều cần chú ý: Một, khi muốn ra khỏi phòng, trước tiên nên lấy chìa khóa đã treo ở móc từ trước móc vào ngón tay; hai, khi đóng cửa, không được vừa cầm chìa khóa vừa kéo cửa và phải nhìn kĩ; ba, khi mở cửa không được vừa cầm chìa khóa vừa đẩy mạnh cửa mà phải từ từ mở ra; bốn, đặt vào chỗ cũ, gần và dễ lấy; năm, cứ bảy ngày thì nên chùi sạch rỉ sét.
 Lại có năm điều tì-kheo cần phải biết: Một, không được ngồi liền kề với người nữ; hai, không được theo hỏi thầy thuốc giỏi về các loại thuốc men; ba, không được tranh nói với người thế tục; bốn, khi ngồi nói chuyện với bà lão, tì-kheo không được nói dối là không có việc gấp; năm, ví nhưnhân duyên không vừa ý thì liền đứng dậy bỏ đi.
 Khi đến nhà người tụng kinh, tì-kheo nên biết năm điều: Một, nên có bốn người cùng đi; hai, khi đến, nên tùy theo thứ tự ngồi đúng như pháp; ba, quan sátnhân duyên có nên tụng kinh hay không; bốn, nếu người ngồi dưới không muốn nghe tụng kinh thì nên dừng; năm, nếu trong hội có người say, dùng lời ác soi mói kinh thì không nên tiếp tục tụng đọc.
 Có ba trường hợp nên đến chỗ quan phủ, quan huyện: Một, vì việc của Tam sư; hai, vì người bệnh hoặc chết nên họ đến thỉnh tì-kheo tụng kinh; ba, họ thỉnh tì-kheo đến thụ trai. Lại có bảy trường hợp mà tì-kheo không nên đi: Một, không được vọng đến vì dò xét sự tình; hai, không được cứ mỗi việc thì đều đến; ba, không được gượng ép đến vì theo lời thỉnh của họ; bốn, dẫu đến cũng không được nói về các việc thuốc men; năm, nếu họ mời tì-kheo đến để hỏi việc thế gian, hoặc gạn hỏi về dị kinh thì không được đến; sáu, nếu họ mời đến để dạy tướng số, xem sao hạn, năm tháng tốt xấu thì tì-kheo không được đến; bảy nếu nước bên cạnh khởi binh, họ mời tì-kheo đến để nghị bàn về việc quân thì phải theo phép tắc của bậc hiền, không nên đến.
 Khi lên tòa thuyết kinh, có năm pháp mà tì-kheo cần phải biết: Một, trước hết phải lễ Phật; hai, nên lễ kinh phápThượng tọa; ba, chân bước lên tăng-kì-đề[12] rồi đứng ngay ngắn; bốn, lại quay người hướng về tòa và bước lên; năm, hai tay đặt lên tòa rồi ngồi xuống. Khi đã ngồi lại có năm pháp cần phải biết: Một, chỉnh sửa pháp y rồi an tọa; hai, sau khi dứt tiếng kiền chùy thì mới xướng tụng; ba, nên tùy nhân duyênđọc tụng; bốn, nếu có người không vừa ý thì cũng không được nổi giận; năm, nếu có người cúng dường thì nên đặt phẩm vật trước mặt.
 Có năm trường hợp tì-kheo không nên thuyết kinh: Một, gặp người không cung kính tam sư; hai, người phạm giới; ba, người phỉ báng Phật đạo; bốn, tì-kheo hỏi kinh không đúng phép tắc; năm, không được thuyết giới kinh cho hàng cư sĩ, nếu thuyết thì phạm tội.
 Lại có năm hạng người không nên thuyết pháp cho họ nghe: Một, người khoác tay nhau; hai, ngồi chung giường nhỏ; ba, người biết chút ít kinh điển đến gạn hỏi; bốn, người không chịu nghe thuyết kinh; năm, người bệnh, người say rượu.
 Tì-kheo muốn tọa thiền phải biết mười pháp: Một, tùy thời; hai, có giường tòa; ba, được nhuyến tọa; bốn, có nơi vắng vẻ; năm, được gặp thiện tri thức; sáu, nên có đàn việt tốt; bảy, có ý tốt; tám, có thuốc tốt; chín, có thể uống thuốc; mười, nên được thiện trợ. Tùy thời tức là tùy thuận bốn mùa; giường tòa an ổn chính là thằng sàng[13], nhuyến tọa chính là đệm ngồi bằng lông thú; nơi vắng vẻ chính là trong rừng núi, bên cội cây… cũng có thể một nơi riêng biệt trong chùa, không sinh hoạt chung với đại chúng; thiện tri thức là vị Phạm hạnh đồng cư; đàn việt tốt là người không để hành giả phải mong cầu điều gì; ý tốt nghĩa là có khả năng quán tưởng; thuốc tốt tức có thể chế phục ý; có thể uống thuốc tức không nghĩ nhớ đến muôn vật; thiện trợ chính là dây thắt lưng dùng khi tọa thiền.
 Dây thắt lưng dùng để tọa thiền phải đủ mười điều kiện: rộng một thước, dài tám thước, đầu có móc, may ba lớp, không được dùng cỏ tươi, không được dùng móc bằng vàng, nên làm bằng lau sậy khô, làm đúng như pháp, không quá hai ba lớp, không được dùng tơ kết vào, buộc thắt đúng pháp, không được buộc khi dây đã bị ướt.
 Có năm trường hợp không được dùng thắt lưng tọa thiền: Một, khi cùng đại chúng tọa thiền; hai, khi vào thành; ba, hết chín mươi ngày hạ; bốn, ở cùng với tam sư, vì cung kính; năm, đến nhà cư sĩ hoặc nhà khách. Khi an ổnmột mình trong thất riêng, thì được dùng riêng cho mình.
 Lại có mười trường hợp không được mang thắt lưng: khi lễ Phật, khi vào trong chúng, khi lên tháp Phật, khi kinh hành, khi trời mưa đi khất thực, vào thất của tam sư, khi hỏi kinh, khi đỉnh lễ hòa thượng a-xa-lê, khi lễ chúng tăng, vào buổi chiều khi tắm rửa.
 Có năm trường hợp được vào ngôi thất khác mà tì-kheo nên biết: Một, thăm hỏi, thăm bệnh, hỏi kinh, có vật muốn mượn, đại chúng sai đến gọi tì-kheo khác. Khi đến lại cần phải biết năm việc: Đứng bên ngoài thất búng ngón tay, khi vào nên cởi mũ, đỉnh lễ, đứng ngay ngắn đến khi người bảo ngồi thì mới được ngồi, không được quên mang kinh vào.
 Khi hỏi kinh, tì-kheo phải biết năm pháp: nên đúng pháp bước xuống giường tòa; không được cùng ngồi mà hỏi; chỉ hỏi chỗ không hiểu; không được để ý niệm chạy theo nhân duyên bên ngoài; nếu đã hiểu thì nên đỉnh lễ sát đất rồi ra về.
 Tì-kheo ra khỏi phòng thất cần biết năm điều: Một, không được bảo: “Mua vật ấy đến đây, tôi muốn ăn!”; hai, không được mang dưa cho sa-di và bảo: “Chú mang trao cho ta, ta muốn ăn!”; ba, không được đùa giỡn nằm trên giường của người khác; bốn, không được khạc nhổ trên đất sạch của người khác; năm, có người quở trách đúng pháp thì không được sân hận bỏ đi, đó là vì cung kính vậy.
 Hòa thượng nên có mười lăm đức tính: Một, biết giới; hai, giữ nghiêm giới; ba, không phạm giới; bốn, hiểu kinh; năm, tự giữ mình; sáu, dạy kinh điển; bảy, dạy giới luật; tám, dạy tu thiền; chín, nên dạy thụ nhận theo thứ lớp; mười, nên dạy phép tắc; mười một, vốn có ẩn đức; mười hai, có thể hết lòngđàn việt; mười ba, không có tâm giấu giếm gì riêng cho mình; mười bốn, có người mang vật đến cúng dường đều nói là vật của đại chúng; mười lăm, có khả năng xem bệnh và chữa lành.
 Hòa thượng lại có mười đức đối với đệ tử: Một, có khả năng ban cho đệ tử y phụcthức ăn; hai, trao cho và dạy kinh điển; ba, giảng giải khiến cho đệ tử hiểu ý nghĩa trong kinh; bốn, có những lời hay trong kinh sâu mầu đều giảng dạy cho đệ tử hiểu; năm, đệ tử có hỏi thì nên trả lời; sáu, nên phân biệt giảng thuyếtba đường ác; bảy, nên giảng dạy khiến trí tuệ đệ tử mở thông cho bằng hoặc hơn mình; tám, dạy trì giớiphân biệt khiến biết các hành vi; chín, nên dạy hiểu rõ giới luật và tùy đó noi theo; mười, nên thẩm xét ý của đệ tử mà trao dạy có chừng mực.
 A-xà-lê nên có năm đức tính: Một, nên thông thạo bốn bộ A-hàm; hai, trì giới và đầy đủ đức; ba, có tuệ đức; bốn, có đại đức; năm, nên tự giữ mình. Lại có năm pháp: Một, làm thầy thì nên tự giữ giới; hai, nếu quần áo, chăn màn của đệ tử rách nát thì nên chu cấp; ba, đệ tử có bệnh thì nên chăm sóc; bốn, nên dạy đệ tử bố thí, phân biệt giảng nói tội phúc; năm, mười hạ thì nên làm hòa thương, hiểu biết đầy đủ những điều cần thiết. A-xà-lê lại phải dạy đệ tử mười việc: Một, dạy đệ tử học tuệ, dạy tụng kinh nhiều; ba, giảng dạy để đệ tử hiểu kinh; bốn, dạy những bộ kinh sâu mầu; năm, dạy đệ tử không nên tranh luận kinh điển với người khác; sáu, dạy giới luật; bảy, dạy thụ nhận từ từ; tám, dạy biết giới; chín, dạy trì giới; mười, dạy tùy thuận Hòa thượng, đến mười hạ phải thông suốt những việc cần biết.
 Tì-kheo hầu thầy cần phải biết hai mươi việc: Một, kính sợ thầy; hai, nghe lời thầy dạy; ba, thuận theo ý thầy; bốn, hiểu lời thầy nói; năm, không được trái lời thầy dạy; sáu, hai thời sáng tối đều đến thăm hỏian ổn không; bảy, khi đến phòng thầy nên đắp ca-sa và cởi mũ; tám, đến trước phòng thầy nên dừng lại và búng ngón tay ba lần, không được ngang nhiên xông vào; chín, nên đỉnh lễ sát đất rồi quì xuống thưa hỏi; mười, nếu thầy nói: “Hiền giả, ai đến đó?” rồi thầy nói việc làm của anh không đúng pháp, anh có biết mình phạm lỗi không, nếu có thì liền sám hối: “Con ngu si”, nếu không có thì cũng không được nói lại, thầy bảo lui thì đứng dậy đỉnh lễ rồi ra khỏi phòng; mười một, nên mang thau chậu dùng để rửa ráy của thầy đi đổ nước dơ, chà rửa sạch sẻ rồi cho nước và mang vào; mười hai, quét phủi giường chiếu, xếp chăn màn của thầy; mười ba, gấp ca-sa của thầy treo vào chỗ cũ; mười bốn, chỉ đi hoặc đứng, thầy vừa bảo ngồi cũng chưa được vội ngồi, đợi thầy bảo ba lần mới được ngồi, nếu thầy có hỏi thuộc kinh hay không mà không bảo tụng thì không nên vội tụng; mười lăm, nếu tự hỏi kinh giới, thì nên xem thử đúng lúc nên hỏi hay không nên hỏi; mười sáu, thông báo cho thầy biết khi gội đầu cạo tóc; mười bảy, thông báo cho thầy biết khi rửa ráy; mười tám, thông báo cho thầy biết khi ra ngoài; mười chín, thông báo cho thầy biết khi làm việc cho Tăng; hai mươi, thông báo cho thầy biết khi bị bệnh, uống thuốc.
 Tì-kheo may pháp y cho thầy cần phải biết năm điều: Một, đỉnh lễ sát đất; hai, trình bày đúng sự việc: “Con đến…”, “Con hôm nay mang đến”, “Con thưa như vậy”; ba, nếu thầy im lặng không trả lời thì đứng dậy đỉnh lễ rồi lui ra; bốn, nếu thầy cho phép bảo may, thì nên như phápvâng lời; năm, nếu thầy bảo như thế không được, chiều rộng và dài tấm y của ta như thế, như thế, thì nên theo lời thầy mà may y, không được trái lời.
 Lại có năm điều về pháp y, tì-kheo cần biết: Một, chưa đủ ba y thì nên gấp rút may cho đủ; hai, đã đủ thì không may thêm; ba, pháp y đã cũ rách thì nên may; bốn, pháp y chưa thật quá cũ rách thì không nên may; năm, nên may đúng cách thức và có thể dùng ba màu: xanh, vàng, mộc lan để may y.
 Khi nhuộm y tì-kheo cần phải biết năm điều: Một, dùng thau chậu sạch; hai, ở chỗ kín; ba, sào phơi hoặc móc áo cứng chắc; bốn, không được bỏ đi khi đang nhuộm; năm, nên luôn luôn quan sát.
 Tì-kheo đắp pháp y vào nhà đàn việt nên chú ý năm điều: Một, không được phanh ngực áo mà vào nhà đàn việt; hai, không được mắc pháp y trên cánh tay mà vào; ba, không được dùng tay cầm pháp y mà vào; bốn, không được vắt pháp y trên vai mà vào; năm, không được nhìn ngó hai bên mà vào.
 Đắp pháp y đi khất thực, tì-kheo cần biết năm điều: Một, trên đường đi, nếu gặp tam sư thì nên trịch y lộ vai phải; hai, đắp y phủ hai vai và cao đến yết hầu; ba, tay phải được lộ ra từ phía dưới; bốn, khi đi vào nơi có bùn nước thì được một tay vén y; năm, khi vào nhà sợ dơ y thì được dùng hai tay vén y.
 Có mười tám trường hợp không được đắp tăng-già-lê: Một, làm việc trong tháp; hai, làm việc của Tăng chiêu-đề; ba, làm việc của tì-kheo Tăng; bốn, vá chưa xong; năm, giặt chưa khô; sáu, sa-di mang khóa phòng ra ngoài chưa về; bảy, gió lớn; tám, trời mưa; chín, nước dâng; mười, lửa cháy lớn; mười một, gặp việc quan; mười hai, có giặc cướp; mười ba, làm việc với người nữ; mười bốn, nơi có bùn dơ; mười lăm, sương móc rơi nhiều; mười sáu, trời mù mịt tối tăm; mười bảy, vào núi; mười tám, đi xa.
 Khi phơi pháp y, tì-kheo cần biết năm điều: Một, không được phơi khi gió thổi mạnh; hai, sáu ngày phơi một lần; ba, không được phơi trên đường người qua lại; bốn, không phơi quá lâu; năm, không được xếp liền mà phải thâu y cho hết.
 Khi giặt pháp y, tì-kheo cần biết năm điều: Một, không được dùng chân đạp; hai, không được dùng hai tay vò; ba, không được hai tay cầm đưa lên cao; bốn, không được cầm y đùa cười với người khác; năm, khi phơi khô, không được xếp y để dưới chiếu.
 Về pháp y, tì-kheo cần phải biết mười điều: Một, đặt trên mũ sạch; hai, muốn xếp và mang vào phòng thì phải trao cho người khác rồi nhận lại; ba, đem y vào phòng treo lên chỗ cũ; bốn, không được treo các y phục khác vào nơi ấy; năm, không được gấp pháp y để lót nằm; sáu, không có ba y thì không được vào ngồi trong chúng tăng; bảy, không đủ ba y thì không được vào chùa nghỉ ngơi; tám, ra sau nhà, tay chưa sạch thì không được cầm pháp y; chín, ra sau nhà, khi chưa dùng nước rửa tay thì không được cầm pháp y; mười, ra sau nhà, nên cởi ca-sa và tăng-kì-chi.
 Lại có năm việc mà tì-kheo cần phải biết: Một, từ ngày rằm này đến ngày rằm kia gội đầu, cạo tóc cần phải báo; hai, tắm rửa nên báo; ba, cắt móng tay, móng chân cần phải báo; bốn, tự biết là việc thường ngày, hoặc việc nhỏ nhặt thì không nên báo; tự biết không hợp thời thì không nên báo.
 Khi báo muốn ra ngoài, có năm pháp cần biết: Một, đỉnh lễ thầy; hai, đứng ngay ngắn thưa đúng sự việc; ba, thầy đã chấp nhận thì nên đỉnh lễ; bốn, thầy ngăn cấm thì không được trái; năm, trở về thất đọc tụng kinh điển.
 Khi vào nhà tắm, có hai mươi lăm điều mà tì-kheo cần phải biết: Một, phải cúi đầu đi vào, không được nhìn lên trên; hai, ngồi theo thứ tự, chớ ngồi dưới ánh nắng; ba, không được đọc kinh hoặc nói những lời xằng bậy; bốn, không được dùng nước rửa vật dụng cúng dường; năm, không được lấy nước dùng hằng ngày để tắm; sáu, không được dùng nước để dập tắt lửa; bảy, không được chê trách là lửa nhiều hay ít; tám, không được dùng nhiều nước của người khác; chín, không được giặt khăn tay và y trong phòng tắm; mười, tắm xong thì nên ra ngoài; mười một, có Hòa thượng a-xà-lê trong đó thì không nên vào; mười hai, tam sư đang tắm nếu đang đi vào thì lập tức quay ra; mười ba, bấy giờ nên cầm y phục đứng ngoài cửa chờ đợi; mười bốn, đã ra khỏi phòng tắm thì thay y và nên giặt giũ khăn tắm; mười lăm, khi vào phòng tắm thì nên báo; mười sáu, khi vào nên mang theo dầu mè; mười bảy, nên dùng đất chà rửa; mười tám, nên dùng tháo đậu; mười chín, nên dùng tro; hai mươi, nên dùng nước ấm trước rồi mới dùng nước lạnh; hai mốt, nên tụng ít lời kinh; hai mươi hai, nên mang nước đến chỗ mình tắm; hai ba, không được đứng tắm trước Thượng tọa; hai mươi bốn, nếu không phải ngày cúng dường thì cũng nên bố thí pháp cho đàn việt; hai mươi lăm, tắm xong không được đứng trước gió mà phải gấp vào phòng.
 Vào nhà sưởi ấm có hai mươi lăm điều mà tì-kheo cần phải biết: Một, nên ngồi theo thứ tự; hai, mỗi người tự đọc kinh; ba, nên tư duy niệm đạo; bốn, không được vô cớ đứng dậy đến trước Thượng tọa; năm, không được cùng các hạ tọa nói việc thế gian; sáu, nghe tiếng kiền chùy thì trước tiên đến lễ Phật; bảy, kế đến lễ tì-kheo Tăng; tám, không được xuống ngồi chỗ của hạ tọa; chín, không được quay qua lại nói chuyện; mười, không được làm dơ tịnh địa; mười một, không được quát mắng hạ tọa; mười hai, không được trách mắng người về lửa nhiều hay ít; mười ba, không được nhiều lần đứng dậy ra vào; mười bốn, khi đi không để chân phát ra tiếng; mười lăm, khi ra rồi thì nên đóng cửa phòng lại; mười sáu, nếu cửa đã đóng thì nên búng ngón tay; mười bảy, không được đẩy mạnh cửa phát ra tiếng; mười tám, đã búng ngón tay rồi thì an nhiên đọc kinh; mười chín, không được nói chuyện trong lúc đọc kinh; hai mươi, khi người đọc kinh thì không được nói bậy; hai mươi mốt, đọc kinh xong, không được nhiều lần đứng dậy ngồi xuống khiến giường phát ra tiếng làm động tâm người khác; hai mươi hai, đọc kinh xong không được bỏ đi nằm trước; hai mươi ba, tài thí chưa xong không được mở cửa bỏ đi; hai mươi bốn, nên lễ Phật; hai mươi lăm, nên lễ bậc Thượng tọa.
 Vào phòng nhà, có năm việc mà tì-kheo cần phải biết: Một, lễ bậc Thượng tọa; hai, không được cởi ca-sa đặt trước Thượng tọa rồi bỏ đi; ba, không được kêu la lớn tiếng; bốn, không được tụ tập nói chuyện cười đùa; năm, Thượng tọa đang thuyết kinh, nên nhất tâm lắng nghe.
 Lại có năm việc mà tì-kheo cần phải biết: Một khi người thuyết kinh, có đúng sai gì cũng không được chặn lời giữa chừng; hai, khi thuyết xong rồi mới từ từ đứng dậy hỏi điều nghi; ba, không được có ác ý với nhau khi tranh luận nghĩa kinh; bốn, không được sân hận nằm trên chỗ của người khác; năm, luôn suy nghĩ tự trách.
 Khi hỏi kinh, có ba việc nên hỏi, có ba việc không nên hỏi: Một, thân an ổn thì nên hỏi; hai, khi người vui vẻ thì nên hỏi; ba, người tự thuyết kinh tùy thuận thời giannhân duyên thì nên hỏi; bốn, người không an ổn thì không nên hỏi; năm, người không vui vẻ thì không hỏi; sáu, người nói chuyện khác thì không hỏi.

 Chú thích:
 
 [2] Hai bộ giới 二部戒: Giới của hai bộ Tăng-Ni.
 [3] Hữu tàn vô tàn有殘無殘: Phạm bốn thiên sau, chẳng phải vĩnh viễn chướng đạo, chính là Hữu tàn mà nói là Vô tàn; phạm một thiên đầu tiên thì vĩnh viễn đánh mất mầm đạo, chính là Vô tàn mà nói là Hữu tàn. Đó chính là không biết Hữu tàn Vô tàn.
 [4] Mười ba việc 十三事: Mười ba Tăng tàn.
 [5] Chín mươi việc 九十事: Chín mươi tội Đọa.
 [6] Ma-ma-đế 摩摩帝: Tri sự, một chức vụ của tăng lo liệu quản lí các việc của Tăng trong chùa. Có thuyết cho là Tự chủ, tức chủ một ngôi chùa.
 [7] Tam sư三師: Ba vị thầy trên đàn truyền giới cụ túc: Hòa thượng đàn đầu, yết-ma a-xà-lê và giáo thọ a-xà-lê.
 [8] Ma-ma-đức 摩摩德: Còn gọi là Ma-ma-đế, tức là Tự chủ hay Tri sự, từ goi chung chức vụ quản lí các công việc của Tăng trong chùa viện.
 [9] Ma-ba-lợi 摩波利: Người dịch căn cứ theo đức tính phải có và công việc nên tạm dịch là Điển tòa, chứ tìm khắp trong tạng không thấy giải thích. Trong bộ Phiên Phạn ngữ dịch là Bất hộ nhưng nếu đặt vào đây thì không có nghĩa gì. Trong kinh Thí dụ cũng có từ này, nhưng không thấy giải thích. Vì thế người dịch vẫn còn nghi. Nếu có sai sót xin đính chính cho.
 [10] Trung-ni-vệ 中尼衛: Áo lót bên trong, sát với thân.
 [11] Tháo đậu 澡豆: Bột đậu xanh, đậu nành, đậu đỏ... dùng để tẩy sạch tay chân hoặc thân thể, là một trong mười tám vật tùy thân của tì-kheo.
 [12] Tăng-kì-đề 阿僧提: Bục nhỏ đặt bên dưới tòa.
 [13] Thằng sàng 繩床: Một loại ghế hay giường xếp mà mặt ghế và tựa lưng được kết bằng dây.

-------------

Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo


Thích Nguyên Chơn

(Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển, đây là quyển số 2.)

Có mười hai hạnh đầu-đà: Một, không nhận lời người thỉnh thụ thực, hằng ngày chỉ khất thực nuôi thân, cũng không nhận tiền tài đủ một bữa ăn của tì-kheo Tăng; hai, không ngủ nghỉ nơi nhà người khác hay trong thôn xóm, làng mạc; ba, không được xin y phục của người khác, nếu người có cúng dường thì cũng không nhận, chỉ lấy những loại vải, áo quần của người chết đã vất bỏ ở nghĩa địa rồi may vá lại mà đắp mặc; bốn, ngủ nơi cội cây nơi đồng vắng; năm, một ngày ăn một bữa gọi là tăng-già-tăng-nê; sáu, ngày đêm chẳng nằm, chỉ ngủ ngồi rồi đứng dậy kinh hành, còn gọi là tăng-nê-sa-kì-ủ; bảy chỉ cất giữ ba y chứ không thêm, cũng không nằm trên chiếu chăn; tám, chỉ ở trong nghĩa địa quán xương cốt người chết, tọa thiền cầu đạo chứ không ở trong chùa và làng mạc; chín, chỉ muốn ở một mình, không muốn gặp người khác, cũng không muốn người khác nằm, ngồi chung; mười, trước phải ăn rau dưa, sau mới dùng cơm, dùng cơm xong thì không được ăn quả nữa; mười một, chỉ muốn nằm ở đất trống, không nằm dưới bóng cây hay trong nhà; mười hai, không ăn thịt cũng không uống đề hồ, cũng không xoa dầu mè trên thân.
 Tì-kheo cầm tích trượng, có hai mươi lăm pháp cần phải biết: Một, vì đất có các loài côn trùng; hai, vì già yếu; ba, vì khất thực; bốn, ra vào chiêm bái tượng Phật, không được khiến đầu trượng phát ra tiếng; năm, không được cầm trượng vào trong chúng; sáu, sau giờ Ngọ không được cầm trượng ra ngoài; bảy, không được vác trượng trên vai; tám, không được đặt ngang trượng lên hai vai, hai tay treo trên hai đầu; chín, không được cầm trượng đưa tới đưa lui; mười, không được cầm trượng ra sau nhà; mười một, tam sư đã cầm trượng đi trước thì không được cầm trượng theo sau; mười hai, bốn tì-kheo cùng đi, một người đã cầm trượng, thì các người không được cầm trượng theo sau; mười ba, đến nhà thí chủ, trượng không được lìa thân; mười bốn, chống tích trượng đến cửa nhà người nên tằng hắng ba cái, nếu không có người ra thì nên đến nhà người khác; mười lăm, nếu có người ra thì nên đặt trượng nơi cánh tay trái và kẹp lại; mười sáu, khi đặt trượng trong phòng nhà thì không được chạm đất; mười bảy, nên mang đến đặt gần giường nằm; mười tám, nên thường lấy ra lau chùi; mười chín, không được để đầu trượng bị rỉ sét; hai mươi, nếu muốn cầm trượng ra ngoài thì nên nhận từ tay sa-di hoặc cư sĩ; hai mốt, đến nhà người bệnh ốm ngủ qua đêm, nên có trượng đi đêm; hai mươi hai, tiễn người đi xa nên có trượng đi ban đêm; hai mươi ba, thỉnh người từ xa phải đi đêm mới đến thì nên có trượng dùng cho ban đêm; hai bốn, đón người từ xa đến phải có trượng dùng cho ban đêm; hai mươi lăm, luôn gần trượng, không được cầm trượng chỉ vào người khác và viết vẽ trên đất.
 Có năm trường hợp tì-kheo mới được đến nhà ưu-bà-tắc: Tăng sai; khất thực; đón người từ xa; có người thỉnh thụ trai; có người bệnh hoạn hay qua đời. Ngoài ra thì không được đến.
 Tì-kheo thuyết kinh cho ưu-bà-di nghe, cần phải biết năm điều: Một, ưu-bà-di bồng em bé đến hỏi nghĩa kinh, thì không nên khởi ý dâm mà thuyết kinh; hai, nếu ý dâm khởi thì không được tiến đến gần nựng nịu và đùa giỡn với em bé; ba, không được kéo ưu-bà-di đến ngồi một bên; bốn, ưu-bà-di nhờ tì-kheo thuyết kinh Ma du thuật, thì nên sai một người nam cầm cành dương trao cho tì-kheo, tì-kheo cầm cành dương từ trong tay người nam là biểu hiện từ chối, không nên thuyết; năm, ưu-bà-tắc và ưu-bà-di cùng đến hỏi nghĩa kinh, nếu ưu-bà-tắc đi trước thì tì-kheo cũng nên rời khỏi nơi ấy, nếu không, thì phạm lỗi phi pháp.
 Có mười điều mà tì-kheo mới đến trụ xứ cần phải biết: Một, sau khi lễ Phật xong, phải đứng hỏi pháp hiệu của vị Tri sự, hỏi bao nhiêu tì-kheo Tăng và hàng ngày nghi nhớ tên họ; hai, đỉnh lễ Thượng tọathăm hỏi hạ tọa; ba, không được hỏi nơi ở; bốn, có người trao cho giường nằm, ngọa cụ không được chê trách tốt xấu; năm, nên cầu y chỉ một vị a-xà-lê; sáu, cũng nên cúng dường; bảy, không được chê trách kinh; tám, không được tự do ra vào; chín, muốn quét tháp, phải báo cho vị Điển tọa; mười, muốn ra ngoài, nếu có ngọa cụ thì nên gởi lại cho người quản lí việc này.
 Lại có năm việc mà tì-kheo phải biết: Một, nên lo việc của Tăng; hai, không được tùy tiện dùng nước sạch của chùa; ba, không được tùy tiện đến phòng của người khác; bốn, không được đi ngược chiều; năm, không được nhảy vọt qua cây cối trong chùa.
 Có mười việc cần sắp xếp cho tì-kheo mới đến: Một, sắp xếp phòng ốc; hai, cung cấp những món cần dùng; ba, sáng tối đến thăm hỏi; bốn, nên nói những tập tục của địa phương đang sống; năm, chỉ cho những điều cấm kị; sáu, chỉ những nơi khất thực; bảy, chỉ những giáo lịnh của Tăng; tám, nói những gì có thể ăn và không thể ăn; chín, nói những điều cấm kị của triều đình; mười, chỉ những nơi có trộm cướp, nơi nào có thể trốn tránh, nơi nào không thể trốn tránh.
 Tì-kheo muốn đến một Hiền giả để qui y cầu làm thầy nương tựa cho chính mình thì trước tiên nên thưa: “Hôm nay con pháp danh là... rời xa tam sư, mỗi vị đều cách con nghìn dặm. Chỉ một mình con đến nơi đây với tâm cầu học; lại gặp đất nước không an ổn nên đến nơi đây nương tựa Hiền giả. Cúi xin Hiền giả vì con làm y chỉ A-xà-lê! Hiền giả để con nương tựa, nhận con làm đệ tử; cho con cùng ở lại và làm việc. Đệ tử sẽ nương hiền giả cùng an trụ. Vì con, cũng vì pháp, Hiền giả nên làm thầy A-xà-lê của con”. Nói xong, tì-kheo đỉnh lễ sát đất và thưa tiếp: “Thưa A-xà-lê! Ngài đã vì Tam bảo mà nhận làm thầy của con, cúi xin ngài dạy cho con biết phép tắc ra vào phải tuân hành, hoặc có người nào cưỡng ép tranh luận với con việc nào đó, xin A-xà-lê vì đệ tử con đây. Nếu A-xà-lê và con muốn đi hay ở đều được tự tại. Nếu con có đi, thì sau đó cũng trở về, vì thế A-xà-lê hãy nhận con làm đệ tử!”. Thưa ba lần như vậy thì vị thầy nên đáp: “Tì-kheo, hãy lắng nghe ta nói, những điều này sẽ giúp cho thầy đắc đạo, nên thầy luôn phải thực hành! Như lời Phật dạy, tì-kheo phải giữ giới, nên nhẫn nhụctinh tiến; nên nhất tâm niệm đạo, niệm tuệ; nên dừng các nghiệp của thân, miệng và ý diệt trừ ba độc; nên vì ba pháp sự. Đã làm đệ tử Phật thì không nên nghĩ và làm việc thế gian, nếu có thể thực hành đúng như pháp thì sẽ đắc đạo, cứu độ chúng sinh”. Nghe thầy nói xong, tì-kheo đứng dậy đỉnh lễ, đầu mặt chạm chân thầy rồi đi ra. Tì-kheo lại lấy y và bát đến dâng cho thầy, rồi từ thầy mà nhận lại. Nếu tì-kheo nhận bát, ba y từ A-xà-lê, thì tì-kheo nên nói các nhân duyên mất y như bị nước cuốn trôi, bị lửa cháy, bị giặc cướp, bị hư rách. Trước tiên tì-kheo nên kính lễ và thưa: “Thưa Hiền giả sáng suốt, bậc đầy đủ tuệ hạnh và tịnh giới, là tam sư của con, ngài đã vì con...”. Ba lần nói các nhân duyên như vậy xong thì dừng. Khi trao ba y và bát cho tì-kheo, a-xà-lê nên giáo giới: “Thầy hãy lắng nghe! Con người có sáu căn, thầy nên giữ gìn cho thanh tịnh. Tuy thế gian thanh tịnh, nhưng không thể đưa đến đạo thanh tịnh của người tu tuệ hạnh. Nên giữ gìn trong ngoài cho sạch sẽ, chẳng dơ uế, chẳng rỉ chảy, trong ngoài tương ưng. Những pháp này có thể đưa đến đạo thanh tịnh, cho nên cần phải nương tựa, cần phải nhiếp thụ, cần phải giữ gìn”. Đây là giáo giới về bát, nếu trao y thì nên dạy: “Thầy nên thường để ý đến, thường phải đắp mặc và giặt giũ đúng lúc. Tì-kheo! Giống như thầy vậy, thân sống ở thế gian cũng muốn tắm gội, xông ướp hương thơm, có đủ y phục, ngọa cụ, đâu muốn khiến thân bất an, tâm bất an. Tất cả những vật vừa ý mà có thể làm hư rách y phục thì không dùng; những ngọa cụ cứng chắc cũng không thể đưa đến đạo thanh tịnh của người tu tuệ; hoặc những loại ẩm ướt bị côn trùng cắn rỉa làm hư nát cũng không dùng. Giống như trên thân có một chỗ bị côn trùng cắn rỉa làm tổn thương thì bị ngứa ngáy hoặc đau đớn, từ đó thân tâm không an ổn, không đưa đến đạo của người tu tuệ. Từ trên đến đây là nói giữ gìn ba y trong ngoài sạch sẽ, để trừ tâm tham và cũng là hạnh thiểu dục, dẫn đến khiến cho thầy thanh tịnh”. Đây là việc của ba y.
 Thầy y chỉ dạy đệ tử, cần phải biết mười lăm pháp: Một, khi tì-kheo nhóm họp, nên dạy nhìn trên dưới đúng như pháp; hai, tì-kheo Tăng có lời sai bảo gì thì dạy chớ sai phạm; ba, dạy tùy thuận thượng-hạ tọa; bốn, dạy cung kính thượng-hạ tọa; năm, dạy những điều cấm kị của phong tục địa phương, những thức ăn có thể dùng thì nên như thế... không nên như thế; sáu, chỉ những chỗ khất thực, nơi kia nên đến, nơi kia không nên đến; bảy, nếu giặc cướp đến thì nên chỉ nơi kia có thể chạy thoát, nơi kia không thể chạy thoát; tám, đệ tử có bệnh nên chăm sóc; chín, y phục, mền chiếu hư rách nên chu cấp; mười, nếu đi hay ở cũng không nên ngăn cản; mười một, nên xem xét ý đệ tử; mười hai, nên tùy phương tiện mà an trụ; mười ba, có hỏi thì nên trả lời; mười bốn, nếu đệ tử muốn rưới nước thấm ướt đất thì luôn nên khiêm nhường; mười lăm, nếu đệ tử có lỗi, thầy y chỉ không được nói: “Ta không nói với ngươi nữa!”. Đây là phép tắc của thầy y chỉ.
 Đệ tử đối với thầy y chỉ cần phải biết năm điều : Một, luôn đến thăm hỏi; hai, đến trước cửa phòng nên búng ngón tay ba lần; ba, khi vào rồi thì nên đỉnh lễ; bốn, quì xuống thăm hỏi vấn an; năm, nên hướng về cửa mà bước ra. Lại có năm pháp cho tì-kheo đối với thầy y chỉ: Một, sáng tối đều đến thăm hỏi; hai, khi thầy gọi thì liền đắp y đến, không được mặc áo thường và mang giày dép xông vào phòng; ba, thường quét dọn, châm đầy đủ nước rửa và lau giường, giũ mùng chiếu, chăn màn cho thầy; bốn, nếu bản thânviệc làm, hoặc đi đứng ra vào cần phải trình báo; năm, khi học kinh, thầy có hỏi hiểu hay không thì không nên lộ vẻ sợ hãi.
 Tì-kheo không nên cất giữ bảy loại thuốc: Một, thuốc dùng để nhịn ăn ngũ cốc; hai, thuốc tiêu ngũ cốc; ba, thuốc đại tiện và nôn mửa; bốn, cường dương; năm, đơn dược của Đạo gia; sáu, thuốc độc; bảy, thuốc trị vết thương do đao kiếm gây ra. Nếu không có bệnh, tất cả tì-kheo nhất định không được dùng thuốc, cũng không được cho người khác uống, nếu trái thì phạm tội Đọa.
 Tì-kheo muốn dạy pháp sa-di phải có đủ mười điều: Một, biết bốn bộ A-hàm; hai, biết giới; ba, biết kinh; bốn, có tuệ; năm, có đức; sáu, trì giới; bảy, không phạm giới; tám, hiểu nghĩa kinh; chín, nhẫn nhục; mười, tự giữ mình trước tất cả cảnh. Đầy đủ các hạnh như vậy mới dạy pháp sa-di. Nếu không biết đầy đủ thì không được dạy sa-di.
 Tì-kheo nuôi sa-di cần phải biết năm pháp: Một, sa-di làm việc của Tăng chưa xong, thì không được sai bảo; hai, không được sai sa-di tìm chỗ hay dở của tì-kheo khác; ba, không được tin sa-di; bốn, không được lớn tiếng mắng sa-di giữa đại chúng; năm, không được chỉ riêng sai sa-di làm việc của chúng tăng.
 Có ba điều mà tì-kheo không nên ở cùng với sa-di: Một, vì sẽ thích dáng vẻ đoan chính xinh đẹp của sa-di, hai, hoặc là vừa nhìn là muốn nổi sân; ba, vì bệnh tật.
 Có ba trường hợp nên trục xuất sa-di: Một, nói phạm giới không có tội; hai, nói không có Phật, Pháp, Tăng; ba, đi nói với người khác những việc tốt xấu của Hòa thượng a-xà-lê.
 Sắp đi xa gởi sa-di cho người khác, có năm việc mà thầy tì-kheo cần phải dạy: Một, trước nên hỏi sa-di là người kia có hợp ý con không; hai, hỏi người chủ mà con phụng sự có được lòng người không; ba, nếu người kia có trách mắng, con không được nói: “Thầy chẳng phải a-xà-lê của con mà lại mắng con là không đúng”; bốn, hầu hạ người ấy cũng giống như hầu hạ ta; năm, vị thầy kia như pháp dạy con, con không được bỏ đi.
 Khi đưa sa-di đến người nhận, vị thầy cần phải nói năm điều: Một, dạy sa-di đỉnh lễ sát đất; hai, dạy tự qui kính; ba, nên nói: “Thầy xem sa-di của tôi như sa-di của thầy”; bốn, nói: “Khi trở về, tôi sẽ đưa sa-di về bên tôi”; năm, nói: “Nếu tôi qua đời thì vĩnh viễn giao sa-di cho thầy”.
 Tì-kheo nhận sa-di của người gởi gắm cần phải biết năm pháp: Một, dạy sa-di đọc kinh; hai, dạy không phạm giới; ba, dạy theo chúng tu tậpsinh hoạt; bốn, dạy phép tắc oai nghi; năm, dạy cung kính mọi người.
 Khi dùng cơm, tì-kheo Tăng cần phải biết năm việc: Một, Thượng tọa chưa ngồi thì không được ngồi trước; hai, Thượng tọa chưa nhận mâm khay hoặc bàn nhỏ thì không được nhận trước; ba, Thượng tọa chưa dùng cơm thì không được dùng trước; bốn, Thượng tọa dùng cơm chưa xong thì không được dừng trước; năm, Thượng tọa chưa đứng dậy thì không được đứng trước.
 Khi nhận bàn[14], tì-kheo cần phải biết mười pháp: Một, nên cầm khăn tay mà nhận; hai, mở hai tay rộng khoảng một thước sáu (khoảng gần năm tấc tây); ba, nên cầm khăn tay liền với bàn; bốn, cong hai đầu gối; năm, hai khủy tay không rời hai đầu gối; sáu, đã nhận bàn ăn thì không được rời; bảy, không được vọng nhìn hai bên; tám, đã rời bàn thì phải từ Thượng tọa mà nhận lại; chín, nếu người không thuận thì không nên ăn; mười, nếu người trao vốn đã đã có hiềm khích, thì có thể tìm cách, như tự gọi người khác giúp.
 Khi thụ thực, tì-kheo phải biết mười điều: Một, hai tay không được cầm bất cứ vật gì; hai, không được lớn tiếng gọi người đòi hỏi; ba, trao bát cho người nên nhìn xem tướng trên dưới của người nhận; bốn, khi trao bát nên dùng tay phải đậy bát; năm, nên giữ gìn những gì đã nhận; sáu, người đến trao thức ăn, vì gần tay mình cho nên phải lại rửa tay; bảy, không được cầm thức ăn đặt vào bát; tám, nếu thấy món không vừa ý thì không nên ăn, nhưng không để cho người bên cạnh biết; chín, trong lúc thụ thực, không được phun ra phía trước Thượng tọa; mười, ăn món không nên ăn thì phạm tội Đọa.
 Về thụ thực lại có mười lăm điều mà tì-kheo cần phải biết: Một, không được lấy tay xoa mặt mũi; hai, tay trái đã dơ thì không chạm tay phải; ba, nếu tay đã dơ, thì không được cầm nắm bên ngoài bát; bốn, không được dùng tay dơ chỉnh sửa ca-sa; năm, không được dùng khăn tay lau bàn tay đã dính dầu mỡ; sáu, ly tách đặt trước mặt không ngay ngắn thì nên chỉnh lại cho ngay, nếu không thì không được dùng cơm; bảy, đồ chứa thức ăn đã bị rơi thì không được tiếp tục ăn; tám, người đến, như có muốn cần thêm gì thì dùng ngón tay chỉ xuống bát; chín, không thấy có người đến thì không nên ăn nữa; mười, trước khi ăn thì không nên nếm vị; mười một, khi ăn không được ở ngồi trên gió mà hạ phong; mười hai, dùng cơm chưa xong, không được phun nhổ ra đất phía trước; mười ba, nếu phải phun nhổ gấp thì phun dưới giày dép; mười bốn, tay đã rửa thì không được cầm giày dép; mười lăm, đã cầm giày dép, biết tay bị dơ mà không lau chùi thì không được cầm ca-sa.
 Bên trên là bốn mươi điều về phép thụ thực.
 Sau khi dùng cơm xong có mười lăm điều tì-kheo cần phải biết: Một, không được chà xát tay trên chén bát; hai, không được dùng ngón tay xỉa móc trong miệng; ba, không được khạc nhổ trong bát; bốn, súc miệng không được nhả cơm vào bát; năm, không được vung tay quá mức làm vấy bẩn người bên cạnh; sáu, người mang khăn tay đến, không được bảo họ làm cho mềm, trước tiên nên dùng tay vò cho kĩ; bảy, không được giũ khăn ướt cho khô; tám, không được dùng khăn tay lau mặt mày, mũi, miệng; chín, khi người mang khăn tay đến, không được nói: “Ta đã có, không cần. Hãy mang đi!”; mười, nên sử dụng đúng như pháp; mười một, khi đã lau tay khô thì nên ủ hai bàn tay vào khăn nơi đầu gối; mười hai, sau đó chỉnh sửa ca-sa, nhưng không được tung chạm người hai bên; mười ba, hạ tọa lau chưa khô thì không được quát mắng bảo mang đến; mười bốn, đúng ngọ cúng dường không được nói xằng bậy; năm, cúng dường chưa xong không được vội vàng đứng dậy.
 Lại có năm việc mà tì-kheo nên biết: Một, khi Thượng tọa thuyết kinh cho đàn việt nghe, thì tì-kheo cũng ngồi ngay ngắn lắng nghe; hai, nếu muốn đi gấp làm việc cho Tăng thì nên thưa với vị Điển tọa; ba, muốn gấp sai làm việc thì nên nói với hạ tọa; bốn, nếu được cúng dường tiền thì nên kiểm tra rồi cất; năm, nếu có vật muốn trả hoặc gởi lại cho người thì không được dùng chân đẩy, cũng không được từ xa ném qua.
 Khi dùng cơm lại có mười việc mà tì-kheo cần phải chú ý: Một, nên nhìn Thượng tọa nhận bàn ăn chưa; hai, nên nhìn phía trước Thượng tọa đủ thức ăn chưa; ba, nhìn xem hạ tọa cũng như vậy; bốn, thấy mọi người đều dùng cơm, thì lại nhìn xem trước Thượng tọa thiếu gì, món gì hết thì gọi người mang lên; năm, nhìn hạ tọa cũng như vậy; sáu, dùng cơm chưa xong, nên dừng lại nhìn xem Thượng tọa muốn cần gì; bảy, nhìn hạ tọa cũng thế; tám, nhìn xem Thượng tọa đã có vật ấy chưa, nếu mình có trước thì nên mang vật ấy đến Thượng tọa, không được ngồi nhìn; chín, nhìn hạ tọa cũng như vậy; mười, không được nhận bàn ăn trước, nên đẩy lại và từ từ đợi mọi người.
 Khi bưng thau chậu dùng rửa tay chân, tì-kheo nên chú ý hai mươi lăm việc: Một, tay không sạch, không được cầm nắm vào bàn tay được trang trí trên thau; hai, tay không sạch, không được cầm nắm nắp thau; ba, tay không sạch không được cầm vào miệng thau; bốn, tay không sạch không được đổ thêm nước; năm, tay không sạch không được nắm vào cổ trước của thau; sáu, nên bưng từ dưới bụng; bảy, ít nước thì sử dụng ít để rửa sạch tay mà thôi; tám, nên bưng ra ngoài châm thêm nước rồi mang vào rửa tay chân; chín, muốn lấy thêm nước, trước tiên nên rửa tay ba lần cho sạch; mười, muốn rót nước vào thau, trước tiên nên ba lần nghiêng tráng thay nước, rồi mới cho nước đầy nước sạch mà mang vào; mười một, khi mang vào không được dừng trên đường đi; mười hai, đặt vào chỗ kín; mười ba, bên dưới thường lót cành cây; mười bốn, đậy nắp cho ngay ngắn; mười lăm, ban đêm nên châm đầy nước; mười sáu, không được kéo thau phát ra tiếng; mười bảy, không được làm vấy bẩn phía trên; mười tám, không được để hạt cơm rơi vào trong đó; mười chín, thường đổ nước dơ; hai mươi, khi đổ nước không được đưa tay quá xa hắt nước mà phải từ từ đổ xuống đất; hai mươi mốt, trước tiên nên rửa sạch sẽ trong ngoài thau bồn; hai mươi hai, tay bưng thau bồn đã dơ bẩn, không được giữa chừng lấy nước súc miệng; hai mươi ba, tay bưng thau bồn đã vấy bẩn, không cầm nắm vào phía trên hoặc lau vào miệng thau bồn; hai mươi bốn, không được dùng nước trên bếp lò để rửa thau bồn; hai mươi lăm, trong ngoài mỗi mỗi nên rửa thay nước ba lần rồi mới mang vào, khi đặt thau bồn vào khay thì không được đặt mạnh để phát ra tiếng.
 Khi dùng khăn tay, tì-kheo phải biết năm việc: Một, sử dụng hai đầu; hai, một đầu lau tay, một đầu lau mặt và mắt; bốn, không được lau mũi; bốn, nếu lau mồ hôi thì phải giặt ngay; năm, không được lau thân thể, nếu tắm thì có khăn riêng.
 Cầm khăn tay, khi đắp tăng-già-lê, cần phải biết năm điều: Một, không được để đầu khăn rủ xuống nhìn thấy được; không được cầm khăn tay trắng; ba, nhuộm thành màu đen; bốn, không được lau mặt; năm, khi thụ thực thì phủ trên đầu gối, thụ thực xong thì bỏ, nếu chưa lấy xuống mà có người đến đỉnh lễ, hoặc đứng dậy đi thì trước tiên nên xếp khăn lại rồi bỏ.
 Có bảy hạng tì-kheo không được làm Điển tọa và trị nhật: Một, tuổi cao không đủ sức đảm nhiệm công việc; hai, bệnh ung nhọt không sạch sẽ; ba, bệnh hoạn lâu ngày thên thể ốm gầy; bốn, đại chúng cùng bảo đi dưỡng bệnh; năm, hằng ngày thăng tòa; sáu, là Tri sự; bảy, đảm đương công việc trong một năm (trực tuế). Bảy hạng người trên đều không nên làm Điển tọa và trị nhật, nếu có ép làm mà họ phản đối, không muốn làm thì cũng không được trách; từ đó những người đảm trách nhiệm vụ này là kho báu của hậu thế.
 Điển tòa cần có một trăm sáu mươi đức, làm trực nguyệt có sáu mươi đức, làm trực nhật nên có mười đức, làm Tri sự nên có ba mươi đức, làm trực tuế có mười đức. Năm hạng người này nên y như thế mà làm việc, lâu ngày sẽ hợp với đạo vô vi, độ thế.
 Ở đây chỉ nêu mười lăm đức của Điển tòa cần có: Một, vì Phật, hai, vì pháp; ba, vì tì-kheo Tăng; bốn, nên quí tiếc vật dụng của đại chúng; năm, nên tiếc vật dụng của Tăng bốn phương; sáu, nên quí tiếc vật dụng của tì-kheo Tăng; bảy, nên biết việc của Phật; tám, nên biết việc của Tăng bốn phương; chín, nên biết việc của Tăng; mười không được lấy vật dụng của tháp đặt vào vật của Tăng bốn phương; mười một, không được lấy vật dụng của tháp đặt vào vật của tì-kheo Tăng; mười hai, không được lấy vật của Tăng bốn phương đặt vào vật dụng của tháp; mười ba, không được lấy vật của Tăng bốn phương đặt vào vật dụng của tì-kheo Tăng thường trụ; mười bốn, không được lấy vật của tì-kheo Tăng thường trụ đặt vào vật của tháp; mười lăm, không được lấy vật của tì-kheo Tăng thường trụ đặt vào vật của Tăng bốn phương.
 Lại có mười lăm đức khác: Một, muốn làm việc gì, trước nên thưa với đại chúng; hai, không được cắt xén vật của chúng cất giấu cho riêng mình; ba, không được tự ý lấy vật dụng của chúng đem cho người thân quen; bốn, không được lấy bớt vật dụng của đại chúng để lén dùng riêng và tạo tiếng tăm; năm, luôn luôn quản lí và giữ gìn ngọa cụ của đại chúng; sáu, nếu có người bệnh hoạn thì chăm sóc, mang đến những vật dụng mà người bệnh cần; bảy, nên cung kính quan tâm đến tì-kheo Tăng; tám, làm thức ăn cho tì-kheo Tăng nên bảo làm cho sạch sẽ; chín, nên thuận theo ý bà-la-môn; mười, thuận ý họ giống như thờ quỉ thần chứ không có gì khác; mười một, không được nổi giận; mười hai, muốn dọn dẹp sạch sẽ thì không được cởi trần đứng dưới bếp lò mà làm việc; mười ba, buổi chiều nên đi xem xét các phòng, xem thử phòng các tì-kheo đã đóng chưa, nếu thấy người lạ thì không được vội trách mà phải hỏi: “Thầy là sa-môn, có gì nên đợi đến sáng”; mười bốn, không được quét tro lạnh lấp trên tro nóng; mười lăm, không được quét tro nóng lấp lên tro lạnh.
 Khi đại chúng thụ thực trên trai đường, Duy-na quản lí sự vụ nên thực hành hai mươi lăm việc: Một, khi đã sắp bày bàn trống không, thì nên đi khắp xem thử những bàn đã đặt xuống đếu đã sạch sẽ chưa; hai, không được sắp bày bàn trống không trước; ba, xem Thượng tọa đã có cơm đúng phần chưa; bốn, tất cả đều đã sắp bày thì nên xem đến sa-di, người thụ năm giới, nhưng nếu có tam sư trong hội thì không được mang thêm cơm; sáu, phân chia thượng-hạ tọa đều bình đẳng; bảy, chia cơm nên thay đổi tay để cho bằng nhau; tám, chia canh nên khuấy đều ba lần rồi mới múc; chín, cân bằng nước và cái; mười, không được múc canh trực tiếp từ nồi để chia mà phải múc vào bát trước; mười một, không được cười nói khi phân chia tất cả thức ăn và cơm; mười hai, không được từ xa lớn tiếng bảo: “Lấy cái đó đến đây!”; mười ba, trong chúng có người không dùng canh thì mang đổi cho món ăn thích hợp; mười bốn, nếu trong chúng có người không vừa ý mình thì không được trách ngay tại chỗ ngồi; mười lăm, nên gấp nghĩ nhớ đến người dưỡng bệnh; mười sáu, khi thụ thực có người mang phẩm vật đến, thì nên phân chia cho hết, không được nói để sang ngày hôm sau; mười bảy, gấp châm thêm canh trước; mười tám, nên gấp thêm cơm trưa cho đến khi hết; mười chín, không được giữa chừng dừng lại trơ mắt đứng nhìn Tăng; hai mươi, không được rời Tăng mà bỏ đi; hai mốt, đều đã dùng cơm, thì tự xem xét những gì không đủ, lại xem thử Tăng thêm bao nhiêu; hai mươi hai, không được đứng một chỗ lớn tiếng gọi người đi theo kiểm tra cơm đủ hay chưa; hai mươi ba, cất giữ đồ vật không để phát ra tiếng và ném bỏ trên đất; hai bốn, nên bảo người chuẩn bị nước rửa, khăn tay và chổi quét; hai mươi lăm, đứng đợi đến lúc Tăng nhận phẩm vật xong thì tự thưa đại chúng: “Đã xong!” thì mới lui ra.
 Điển tòa làm việc tại bếp lò có hai mươi lăm pháp cần phải biết: Một, hết sức nhẫn nhục; hai, nên vì Phật phápcung kính bình đẳng đối xử với bậc thượng và hạ tọa; ba, ai cần gì thì trao cho, không được bảo là không có; bốn, dậy sớm đi xem tất cả đồ dùng cho việc ăn uống; năm, tất cả việc đều sai người đi, nếu có gì cần mua thì không được xin; sáu, không được từ xa lớn tiếng gọi người sai sử; bảy, hễ làm tất cả việc gì đều không được để đồ vật phát ra tiếng; tám, làm tất cả mọi việc đều nên vừa ý đại chúng, không được tự do, ngang nhiên làm càn; chín, có người mang thức ăn đến, nếu có dư bao nhiêu thì thưa với chúng rồi phân chia, không được một mình nhận lấy rồi bảo người ấy đi về; mười, phân chia cho đủ khắp, nếu quá thời thì nên cất giữ, không được tùy tiện nếm trước; mười một, có đàn việt đến thưa muốn trai phạn, nếu chưa thấy gì cũng không được nói với ai, nếu đàn việt mang tiền đến làm Phật sự thì nên cùng đàn việt ấy, hoặc thưa với Thượng tọa cùng bàn bạc để hai bên cùng làm, không được một mình tự ý hứa khả; mười hai, khi múc nước, không được ném gàu mạnh xuống giếng làm cho nước vẩn đục; mười ba, không được tự chọn gạo thóc; mười bốn, khi rửa nồi, phải ba lần thay nước mới sạch; mười lăm, không được đổ nước nóng trong nồi xuống ao hồ...; mười sáu, không được tự đốt lò; mười bảy, không được quét cỏ tươi làm đứt cả gốc rễ; mười tám, không được bỏ rễ cọng và lá rau xanh vào bếp lò; mười chín, không được bỏ cơm xuống ao hồ; hai mươi, nên đậy kĩ tất cả những đồ dùng cơm, không được để bụi bay bám vào; hai mươi mốt, không được bảo người phân chia mãi một món, nếu Tăng không ăn sẽ tự vất bỏ; hai mươi hai, không được dùng vật của chúng để nương thân và tạo ân huệ; hai mươi ba, nên thường đi xem xét kho tàng, làm cho những vật đã cất giữ được bền chắc; hai mươi bốn, không được phân thức ăn cả ngày hôm nay cho ngày mai; hai mươi lăm, không được phân thức ăn của ngày mai cho hôm nay.
 Dùng bảy việc sau để tiếp đón vị tì-kheo mới đến: Một, tì-kheo vừa đến liền, bản tự liền hỏi thăm tin tức; hai, hỏi là thượng hay hạ tọa; ba, cấp phòng xá; bốn, cấp ngọa cụ, gối chăn, mùng màn; năm, cấp đèn dầu; sáu, bảo tì-kheo Tăng chỉ dẫn phép tắc; bảy, chỉ dạy tập tục của địa phương.
 Có năm điều cần biết khi bảo người đi chợ mua vật dụng: Một, bảo không được tranh giành với người; hai, nên bảo mua những vật thanh tịnh; ba, không được xâm phạm đến người; bốn, không được chạy nhanh thúc đẩy người; năm, nên thuận ý người.
 Bảo người múc nước, có năm việc cần phải biết: Một, nên bảo trước tiên rửa sạch đồ đựng nước; hai, bảo đặt vào chỗ kín; ba, bảo đậy lại cho sạch sẽ; bốn, không được chạm vào dầu mỡ dính dơ; nếu người dơ dáy thì không được dùng.
 Bảo người bửa củi, có năm việc: Một, không bửa ngay trên đường đi; hai, trước tiên nên xem cán búa có chắc chắn không; ba, không được bửa củi có bám cỏ xanh; bốn, không được chặt phá cây trong tháp; năm, chất củi nơi khô ráo.
 Bảo người chọn gạo, cũng có năm việc: Một, tự lượng gạo nhiều hay ít; hai, không được có cỏ; ba, chọn bỏ phân chuột; bốn, không được có tấm cám; năm, ở nơi sạch sẽ.
 Bảo người vo gạo có năm pháp: Một, dùng vật dụng thật cứng chắc; hai, dùng nước sạch; ba, vo năm lần nước cho sạch; bốn, đặt ở chỗ kín; năm, đậy kín.
 Rửa nồi cũng có năm pháp: Một, không được dội nước mạnh xuống đáy nồi; hai, rửa sạch nước dơ dính trên nắp và nồi; ba, nên thêm đầy nước; bốn, rửa sạch nắp chính và đậy lên trên; năm, chiều tối nên đậy kín và xem thử chắc chưa.
 Đốt lò có năm việc: Một, không được gác ngang thanh củi; hai, không được đốt củi tươi; ba, không được cho ngược đầu củi vào lò; bốn, không được dùng miệng thổi lửa; năm, không được dùng nước nóng dập tắt lửa.
 Nấu cơm có năm việc: Một, đợi hơi bốc lên thì để chõ vào; hai, hơi bốc lên thì gạo cũng dần dần được ráo; ba, sửa chõ cho thật ngay ngắn, không để thoát hơi ra ngoài; bốn, cho gạo vào chõ rồi đậy lại; năm, khi cơm đã chín, nhắc xuống nhưng cũng nên đậy kín, không được để trống.
 Lặt rau có năm việc: Một, bỏ gốc; hai, cắt cho bằng; ba, không để lẩn lộn rau xanh và rau úa vàng; bốn, rửa sạch; năm, nên báo cho nhà bếp biết mới được phân chia mà dùng.
 Nấu canh cũng có năm việc: Một, nên dạy phải theo thứ tự cho nguyên liệu vào nồi; hai, nấu chín; ba, nêm nếm vừa ăn; bốn, tự kiểm tra có sạch sẽ hay không; năm, khi đã chín thì tắt lửa và đậy kín.
 Dạy người rửa bàn, các đồ dùng cho việc ăn uống cũng có năm việc: Một, rửa ba lần; hai, lau sạch; ba, xếp bàn mỗi chiếc cách nhau hai thước; bốn, ngay bàn đặt một ghế nhỏ cho chắc chắn; năm, không để vấy bẩn ca-sa của tì-kheo.
 Trong Thiền môn, có năm trường hợp gõ kiền chùy: Một, Tăng nhóm họp thường kì; hai, thời cơm cháo buổi sáng; ba, thời cơm trưa; bốn, buổi chiều, lúc đặt thau bồn rửa tay vào khay; năm, thông báo tất cả những việc bất thường. Lại có bảy trường hợp khác: Một, huyện quan đến; hai, hỏa hoạn; ba, nước dâng; bốn, giặc cướp; năm, tập hợp sa-di; sáu, tập hợp ưu-bà-tắc; bảy, gọi tịnh nhân.
 Trong mười hai thời gõ kiền chùy như sau: Một, khi Tăng nhóm họp thường kì thì trước tiên nhịp mấy tiếng nhỏ sau đó gõ hai mươi tiếng lớn, kế đến gõ nhỏ dần hai mươi mốt tiếng, lại đến mười tiếng nhỏ rồi dứt với ba tiếng lớn; vào thời cơm cháo buổi sáng thì gõ tám tiếng lớn; thời cơm trưa gõ một hồi; lúc đặt thau bồn gõ một hồi; tập hợp sa-di gõ ba tiếng, ưu-bà-tắc thì gõ hai tiếng; thông báo bất thường thì tùy thời; gặp huyện quan, hỏa hoạn, nước dâng, giặc cướp cũng tùy thời mà gõ nhiều hay ít; gọi tịnh nhân thì gõ một tiếng.
 Có một trăm sáu mươi điều khi tập hội, là việc mà Điển tòa phải làm. Khi có tập hội, lược có năm việc: Một, lễ Phật; hai, lễ Tăng; ba, ngồi theo thứ tự; bốn, không được ngồi xổm trên giường khiến giường phát ra tiếng; năm, tránh chỗ của vị Thượng tọa. Lại có năm việc nữa: Một, không được tranh ngồi trên ngồi dưới; hai, nên cung kính bậc Thượng tọa; ba, nghe thuận theo pháp lịnh chúng chúng; năm, nếu Điển tọa và người trực nhật kế tiếp bảo làm thì nên như pháp mà nhận; năm, họp xong, nên đến thưa với Hòa thượng a-xà-lê là đã xong.
 Khi nhận trực nhật, tì-kheo nên biết năm pháp: Một, trước tiên nhận chìa khóa phòng; hai, đếm số tượng Phật bằng đồng; ba, tính số lư hương bằng đồng; bốn, tính số đèn bằng đồng; năm, tính số lượng tòa tịch và nhận lãnh số lượng này.
 Quét trên tháp có năm việc cần phải biết: Một, không được mang giày dép lên tháp; hai, không được quay lưng về Phật mà quét tháp; ba, không được lấy đất trắng sạch trên tháp ném xuống dưới; bốn, nên lấy hoa cũ cúng Phật xuống; năm, buổi sáng rửa tay rồi dùng khăn tay sạch lau tượng Phật.
 Lại phải biết năm việc khác: Một, nên kiên trì; hai, luôn lau sạch tượng Phật; ba, không được dùng tay sờ vào mặt mũi và huơ tay chỉ vào Phật; bốn, nên tự xuất tiền mua hoa; năm, nên phân chia hoa cho người tung hoa cúng Phật.
 Quét dưới tháp có năm pháp: Một, rưới nước ướt đất; hai, rưới thấm đều; ba đợi ráo nước; bốn, không được quét ngược chiều; năm, không được quét ngược gió.
 Quét đất phải chú ý năm việc: Một, không quét bỏ đất trắng sạch; hai, tự tay nhặt cỏ; ba, nên san đất chỗ cao xuống chỗ thấp; bốn, không được quét chừa bốn góc; năm, quét sạch phạm vi sáu bước trước tháp.
 Quét dọn giảng đường để lập hội đại tì-kheo Tăng, có bảy việc cần phải biết: Một, nên dậy sớm đi xem cửa đã mở chưa; hai, nên thu dọn những chiếc đèn hết dầu đã tắt; ba, lau sạch tượng Phật, dẹp bỏ hoa cũ; bốn, thắp hương trước Phật; năm, đốt một ngọn đèn lớn tại trung tâm giảng đường, chỉnh sửa tòa ngồi của tì-kheo Tăng; sáu, việc của tì-kheo Tăng đã xong thì nên từ từ rưới nước thấm ướt đất; bảy, quét sạch mặt đất.
 Rưới nước thấm đất có năm việc: Một, nên đi lùi; hai, nhẹ tay; ba, đều khắp; bốn, đợi nước ráo; năm, không cho bắn tung tóe làm ướt áo của người khác.
 Quét đất trên tháp lại có năm việc: Một, không được quay lưng về Phật; hai, không được lắc mạnh tay làm vấy bẩn chân người khác; ba, không được quét luôn đất trắng sạch; tự tay hốt đất vất bỏ; năm, không được đổ trên đường đi cũng không ném xuống nước và bỏ vào nhà xí.
 Kiểm tra đèn có năm việc: Một, không được tắt đèn; hai, nên rót dầu còn lại để làm một cây đèn lớn thắp trước Phật; ba, lấy những cây đèn không dầu đặt vào chỗ cũ; bốn, không được làm vỡ đèn; năm, nếu làm vỡ phải mua đền lại và đặt vào chỗ cũ.
 Thắp nhang trước Phật có ba việc cần phải biết: Một, thay tro than cũ trong lư; hai, nên tự mua hương; ba, phân phát cho mọi người.
 Chỉnh sửa giường tòa của tì-kheo Tăng có ba việc: Một, đặt cho ngay bằng, xem bốn chân giường tòa có vững chắc chưa; hai, nên chú tâm lau phủi sạch sẽ; ba, lau phủi khắp, không để làm bẩn ca-sa của tì-kheo.
 Đốt lò hương có ba việc: Lấy than lửa cũ ra ngoài, dồn hương cũ vào một phía; hai, lau sạch sẽ rồi mới cho than lửa mới vào; ba, không được cho lửa cháy quá mạnh cũng không được quá yếu sẽ chóng tắt.
 Đốt đèn có năm việc: Một, dùng khăn sạch lau trong ngoài đèn; hai, làm sạch tim đèn; ba, tự mua dầu thắp; bốn, không được châm dầu quá đầy, cũng không được quá ít; năm, đặt để cho vững chắc, không được treo ở nơi làm trở ngại đường đi và vấy bẩn người.
 Trên đây là sáu mươi điều mà người trực nhật nên biết, nếu làm đúng như vậy sẽ được phúc lớn.
 Vị Tri sự phải có mười lăm đức tính: Một, vì Phật; hai, vì pháp; ba, vì tì-kheo Tăng; bốn, vì Hòa thượng a-xà-lê; năm, vì ta lìa gia đình mà làm sa-môn; sáu, vì làm chủ mà nhẫn nại người từ khắp nơi đến; bảy, nên tiếp đãi người khắp nơi đến; tám, nếu có người trong chúng phạm lỗi thì không được quở trách; chín, một người trong chúng phạm lỗi, đại chúng muốn trách phạt thì Tri sự nên xuống tòa thỉnh, không được một mình che giấu; mười, nên đủ đức; mười một, hết lòngđàn việt; mười hai, chiếu chăn của tì-kheo từ xa đến bị hư rách, thì nên đi xin về chu cấp; mười ba, thụ dụng chung tất cả các vật như thức ăn thức uống...; mười bốn, bình đẳng chăm sóc người bệnh hoạn, ốm gầy; mười lăm, nghe tì-kheo bên ngoài bị bệnh thì cũng nên đến thăm.
 Lại có chín điều mà vị Tri sự phải biết: Một, không được đem vật của Tăng chiêu-đề đặt vào vật của tháp; hai, không được đem vật của Tăng chiêu-đề đặt vào vật của tì-kheo Tăng; ba, không được đem vật của tháp đặt vào vật của Tăng chiêu-đề; bốn, không được đem vật của tháp đặt vào vật của tì-kheo Tăng; năm, không được đem vật của tì-kheo Tăng đặt vào vật của tháp; sáu, không được đem vật của tì-kheo Tăng đặt vào vật của Tăng chiêu-đề; bảy, không được giấu giếm dù chỉ may may cho đến vô số vật; tám, từ sa-di trở lên cho đến bậc Thượng tọa, nếu mền mùng chiếu chăn của người bệnh bị hư rách thì nên mua mới để thay thế, không được mang đến gọi là ban cho để mong được tiếng tăm và nên bình đẳng chu cấp; chín, đối với tất cả vật dụng của tháp, của Tăng chiêu-đề, không được nói với người đến đi, ra vào rằng là “Những người như thế thì không đáng nhận được phúc kia trước”.
 Người nào có những đức tính như vậy mới xứng đáng làm Tri sự.
 Lại có bốn việc của Tri sự: Một, từ ngày rằm tháng tư đến ngày rằm tháng bảy, Tri sự nên cùng với Tăng đối chiếu tính toán xem xét mọi việc, sau đó thưa: “Đã tính toán, xem xét như vậy, đại chúng đều biết những việc cần thiết”, đối với những khác cũng nên xem xét rõ ràng; hai, cùng với Bát-nê-tăng từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy, hoặc cùng với Điển tọa, hoặc cùng với Tăng cùng nhau tính toán xem xét công việc, lại nghĩ đến vô thường, khổ, không, vô ngã; ba, nếu có tì-kheo muốn đến một nơi khác tá túc, thì nên hỏi ba việc: Hỏi về tháp, tượng Phật, số Tăng và các vật linh tinh, hoặc hỏi về tì-kheo Tăng, về ngày giờ, tên họ của đàn việt, rồi báo cho tì-kheo kia biết rõ; bốn, nếu có hoàng thân quốc thích, tự chủ, đàn việt mang phẩm vật đến thì liền thưa với Tăng biết. Nghe biết rõ bốn việc như vậy, nếu các Hiền giả gặp thì không phải hối tiếc. Đó là công đức của Tri sự để tự đạt được đạo độ thế.
 Vị Trực tuế phải có mười đức: Một, vì Tam bảo nên dốc sức; hai, nếu có tì-kheo Tăng từ xa đến thì nên đón tiếp và thăm hỏi; ba, nên cấp cho giường tòa, hoặc dầu đèn từ ba ngày đến bảy ngày; bốn, nếu hết phòng ốc thì có thể nhường chỗ của mình; năm, nên siêng đến xem và thăm hỏi; sáu, nên nói tập tục của địa phương; bảy, nên lo lắng đến những điều mà tì-kheo còn thiếu thốn; tám, nếu trong chúng có tranh cãi, thì không được bênh vực ai, chỉ nên hòa giải giúp được an ổn; chín, nếu trước không vừa ý với ai thì nay không được trách mắng người đó giữa chúng, cũng không được bảo người ấy cùng làm một việc nào đó khiến người chủ không vừa ý; mười, không được tranh tìm chỗ hay dở, hơn thua, được mất với Tri sự, ở trong chúng thể hiện đức tính lời nói đi đôi với việc làm, cũng không lấy những vật của Tam bảo để ban ân cho người khác. Như phápthực hành thì mới có thể làm Trực tuế.
 Lại nữa, Trực tuế có năm điều cần biết: Biết bốn mùa và ngũ hành, biết chủng tính, biết thiên nhiên, biết chu cấp, biết công đức. Nhờ năm việc này mà Trực tuế sẽ được Bồ-đề.
 Điển tọa gõ kiền chùy có năm việc: Một, sắp nhóm họp; hai, nhóm họp thông thường để tụng kinh; ba, bố-tát; bốn, cấp phát vật dụng; năm, tất cả những trường hợp tập họp bất thường.
 Lại có năm điều khác mà Điển tọa phải biết khi gõ kiền chùy: Một, khi gõ kiền chùy, trước tiên nên xem là sớm hay muộn; hai, nên báo với Thượng tọa; ba, nên đợi xem đàn việt đã đủ chưa; bốn, nên làm vừa ý mọi người; năm, nên ngồi sau chỗ của Tăng, không được nhiều lần đứng dậy trước Tăng.
 Lại có hai mươi việc của Điển tọa: Một, không được ngồi đối diện với Tăng; hai, không được tự ý mắng người; ba, nói năng phải thuận ý người khác; bốn, khi thưa việc, không được nói thêm bớt lời của người khác; năm, nếu có phân chia gì thì nên phân bằng nhau và mọi người đều có phần; sáu, nếu trong chúng có người làm không đúng pháp thì không được tùy tiện trách mắng trước chúng; bảy, không được là trái chính lịnh của Tăng; tám, không được nhiều lần vô cớ lìa Tăng đi ra ngoài; chín, xong việc nên sám hối trước Tăng, nếu lời nói không thuận, phân chia không bình đẳng, thì xin Tăng tha tội; mười, thưa xong không được đứng dậy đi ra trước; mười một, sáng tối nên đến thăm những tì-kheo bệnh yếu; mười hai, hằng ngày nên đến thăm hỏi Thượng tọa và các vị niên cao lạp trưởng; mười ba, nên thường đến nhà đàn việt để an ủi thăm hỏi; mười bốn, nếu có tì-kheo từ xa đến thì phải sắp xếp cho an ổn; mười lăm, nếu có tì-kheo đồng học thị tịch, thì nên lo liệu an táng; mười sáu, hàng hậu học bị bệnh nặng tại quê nhà thì nên mang thuốc tốt đến chữa trị và thăm hỏi; mười bảy, hàng hậu học gặp chỗ hiểm nạn mà không ai hay, thì nên tự tiện đến gọi về; mười tám, hàng hậu học đang ở nơi không có gạo thóc, nước uống thì nên tự mang nước ngọt, thức ăn ngon đến cấp cho; mười chín, hàng hậu học đang ở những nơi không an ổn, bị đói khát thì nên tự nhiên mang nước ngọt đến ban cho; hai mươi, đã được phước này, đời sau sẽ được đạo thần túc.
 Đó là ba mươi đức của Điển tọa.
 Khi gõ kiền chùy nhóm họp Tăng, trước tiên phải gõ thật nhỏ, kế đến gõ ba mươi tiếng lớn, nhỏ dần hai mươi tiếng, đến mười tiếng, rồi năm tiếng, ba tiếng nhỏ hơn nữa, cuối cùng dứt ba tiếng lớn.
 Khi tập họp tì-kheo Tăng, đầu tiên gõ bốn mươi tiếng lớn, kế đến ba mươi tiếng, hai mươi tiếng, mười tiếng rồi năm tiếng, ba tiếng nhỏ, ba hồi như vậy xong cuối cùng dứt ba tiếng lớn.
 Khi bố-tát, trước tiên nhịp bảy tiếng nhỏ, kế đến gõ năm mươi tiếng lớn, đến bốn mươi, ba mươi, hai mươi đến mười tiếng nhỏ dần, ba hồi như thế và cuối cùng dứt ba tiếng lớn.
 Khi Tăng thụ trai, trước tiên gõ bốn tiếng lớn, kế đến gõ hai mươi tiếng lớn và thưa, kế đến mười tiếng lớn, rồi nhỏ và nhặt dần mười tiếng, năm tiếng, sau đó gõ thêm hai hồi như thế. Gõ có số lượng tiếng thì tùy thời, gõ ba hồi thì phải xem nhân duyên. Như khi có việc bất thường thì gõ không có số lượng tiếng nhất định, hoặc là trước nhanh sau chậm, hoặc là trước chậm sau nhanh. Đó là cách gõ kiền chùy của Điển tọa.
 Sắp tập hợp, tì-kheo phải biết năm điều: Một, khi nghe tiếng kiền chùy, tì-kheo nên đắp ca-sa rời phòng như pháp đến nơi nhóm họp; hai, vừa đến trước cửa giảng đường thì đứng lại chỉnh sửa ca-sa, cởi mũ rồi mới vào; ba, nếu trong đó có tượng Phật thì trước nên đỉnh lễ, sau đó mới lễ Tăng; bốn, nên ngồi theo thứ tự hướng về Thượng tọa; năm, tránh chỗ ngồi của Thượng tọa, hễ Thượng tọa ngồi thì mới ngồi.
 Khi ngồi xổm có năm pháp cần phải biết: Một, không được ngồi tréo hai chân; hai, không được đưa hai chân ra phía trước; ba, không được hai tay nhịp trên hai chân; bốn, không được một chân chống, một chân duỗi thẳng; năm, không được đưa lên hạ xuống hai chân.
 Ngồi ngay ngắn có năm pháp: Một, không được tựa vách; hai, hai tay không được tựa phía trước; ba, hai khủy tay không được tựa vào tòa; bốn, không được nằm gục xuống, hai tay ôm đầu; năm, không được dùng ngón tay chống vào má. Lại có năm việc: Một, khi ngồi không được tựa vào vai của người ngồi hai bên; hai, không được vô cớ đứng dậy đến trước Thượng tọa mà ngồi; ba, không được vô cớ quở trách Điển tọa hoặc tì-kheo hạ tọa; bốn, không được cởi ca-sa bỏ ở phòng Thượng tọa mà ra ngoài; năm, khi ngồi không được lắc người khiến giường phát ra tiếng.
 Lại có mười điều mà tì-kheo cần phải biết: Một, muốn rời pháp hội, nên chỉnh sửa ca-sa, không được để so le; hai, muốn chỉnh ca-sa, phải nhìn hai bên, không được để ca-sa phất vào mặt người bên cạnh; ba, khi đứng dậy, phải nhìn xuống đất, cách chân không quá sáu bước; bốn, khi đi ra, không được để ca-sa phủ trên đất; năm, khi đi ra, nên nhìn thẳng về phía trước, không được quay nhìn hai bên; sáu, khi Thượng tọa thuyết kinh, ngồi ở dưới không được chỉnh sửa; bảy, nếu có người cùng Thượng tọa tranh luận, thì không được ngồi ở dưới trợ giúp; tám, Thượng tọa cùng người khác tranh luận, nếu có thưa gì thì không được cưỡng bảo hai bên hãy dừng; chín, Điển tòa đến trước mặt, thưa có việc phải làm gì, thì Thượng tọa liền đứng dậybước xuống tòa nói: “Vâng!”; mười, không được nói: “Thượng tọa kia kế đến nên đi làm. Hạ tọa nọ trước kia thường đến vì tôi tự làm việc ấy…”.
 Lại có mười việc mà tì-kheo nên biết: Một, đã thưa rồi thì sau không được nói: “Hôm nay người ấy bị ép làm việc”; hai, không được nói: “Hôm nay tôi muốn gạn hỏi vị ấy sao chỉ muốn dùng người kia, nên đặt để như vậy”; ba, nếu Hòa thượng a-xà-lê có đi đâu thì nên theo hầu, nếu trước khi đi có bảo lấy gì thì nên vâng theo; bốn, nếu cùng trở về thì không được đi trước và vào nhà trước, nên theo sau đỡ bên phải Hòa thượng, nếu đi dưới nắng thì không được đạp lên bóng của thầy; năm, nếu có người muốn giữ lại để mời cơm, thì nên báo là thầy đã đi, không nên giữ lại để cúng dường cơm; sáu, nếu có người kiên quyết giữ lại để mời cơm mà không thể báo với thầy, thì khi thụ thực xong, lập tức xin trở về, không được ngồi đến tối; bảy, nếu đến tối mới trở về, thì nên tỏ bày sám hối; tám, không được ngồi chỗ kín tự khen: “Hôm nay người kia giữ ta lại dùng cơm, thật không thiếu món gì”; chín, không được nói với người khác: “Hôm nay tôi định trở về dùng cơm, nhưng người kia ép giữ tôi ở lại dùng cơm khiến trong lòng tôi không an ổn”; năm, khi trở về nên kinh hành, vào thất tư duy niệm đạo, không được vô cớ đến phòng người khác nói chuyện đời.
 Khi bố-tát, vào trong chúng tì-kheo phải biết mười điều: Một, không được mang dép da mềm vào trong chúng; hai, không được chống tích trượng vào trong chúng; ba, không được cầm quạt tre xếp, khăn tay trắng vào trong chúng; bốn, không được mang giày trắng vào trong chúng; năm, không được mang guốc vào trong chúng; sáu, khi tì-kheo Tăng tập hội không được gút ca-sa vào chúng; bảy, không được đứng ngay cửa giảng đường nhìn chúng Tăng; tám, không được ngồi xổm ngoài giảng đường nghe lời luận đàm của Tăng; chín, không được đứng trong cửa lớn tiếng gọi người ngồi phía trên; mười, nếu cửa giảng đường đã đóng, muốn vào gấp thì búng ngón tay ba lần, không được tự ý đẩy cửa xông vào.
 Lại có mười việc tì-kheo cần phải biết: Một, khi đã đọc kinh giới thì không nên đỉnh lễ; hai, nên cuối đầu đi từ trên xuống dưới và đến chỗ ngồi; ba, không được đẩy người để đoạt chỗ ngồi; bốn, không được nói nhân duyên bên ngoài; năm, đã ngồi rồi, thì không được nói với tì-kheo Tăng: “Sao pháp hội hôm nay bắt đầu sớm thế?”; sáu, chúng tăng đang nghị sự, không được nói đùa; bảy, không được khạc nhổ bậy xuống đất trước mặt; tám, hai tay không được ôm đầu gối; chín, không được dùng hai tay ôm đầu nằm ngủ; mười, không được mở miệng ngáp lớn.
 Ra sau nhà có hai mươi lăm việc cần phải biết: Một, muốn đại tiểu tiện, khi đi trên đường không được lễ Thượng tọa; hai, cũng không được nhận lễ của người; ba, khi đến nên cuối đầu nhìn xuống đất; bốn, khi đến nên búng ngón tay ba lần; năm, nếu trong đó có người búng ngón tay đáp thì không được hối thúc; sáu, đã vào thì nên đứng búng ngón tay ba lần mới được ngồi xuống; bảy, ngồi ngay chính giữa lỗ cầu; tám, không được ngồi một chân trước một chân sau; chín, thân ngồi ngay ngắn không được tựa; mười, vén y cho gọn, không được để chạm bàn cầu; mười một, không được rặn mạnh khiến cho mặt phải đỏ; mười hai, nhìn thẳng về phía trước, không được chú ý lắng nghe; mười ba, không được khạc nhổ dính dơ bốn vách nhà cầu; mười bốn, không được cúi đầu nhìn lỗ cầu; mười lăm, không được nhìn vào cơ quan sinh dục; mười sáu, không được cầm nắm cơ quan sinh dục; mười bảy, không được lấy cỏ cây viết chữ trên đất; mười tám, không được dùng cỏ cây viết vẽ trên vách; mười chín, không được dùng phung phí nước; hai mươi, không được để nước bắn tung tóe dính dơ; hai mươi mốt, khi rửa không được để tay trước chạm vào tay sau; hai mươi hai, nếu dùng đất thì nên dùng ba lần; hai mươi ba, nên dùng xà phòng; hai mươi bốn, được rửa ba lần bằng nước; hai mươi lăm, nếu thấy nước, cỏ và đất hết nên báo với trực nhật, nếu tự tay bổ sung thì rất tốt.
 Có mười trường hợp không được dùng nước rửa khi đại tiểu tiện: Một, làm những việc của tháp; hai, làm những việc của tì-kheo Tăng; ba, quá lạnh; bốn, hành đạo; năm, khi không dùng chung nhà vệ sinh với người nữ; sáu, sắp tụng kinh; bảy, khi chép kinh; tám, khi may pháp y; chín, khi nhuộm y; mười, khi nhận lời mời đi xa. Nhưng nếu có cỏ thơm thì được dùng nước rửa.
 Có mười trường hợp mà bộ phận âm khởi, trong đó năm trường hợp khởi thì có tội và năm trường hợp khởi mà không có tội. Năm trường hợp âm khởi có tội: Một, nhân vì nữ sắc; hai, do nghe nhân duyên dục; ba, nghĩ đến người nữ xinh đẹp; bốn, nghĩ đến nhân duyên ngày trước; năm tay xúc chạm âm vật. Năm trường hợp âm vật khởi mà không có tội: Một, ngủ mộng; hai, thói quen; ba, nằm duỗi; bốn, thân thể có bệnh ghẻ ngứa, tay gãi ở chỗ gần với âm vật; năm, tiểu tiện bức bách, không kềm chế được.
 Từ ngày 16 tháng 8 đến ngày 15 tháng chạp là một mùa gồm 120 ngày thuộc Đông. Từ ngày 16 tháng chạp đến ngày 15 tháng 4 là một mùa gồm 120 ngày thuộc Xuân. Từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 8 là một mùa gồm 120 thuộc Hạ. Đến đây là hết một năm dài. Từ ngày 16 tháng 8 đến ngày 15 tháng chạp là thuộc mùa Đông, làm sa-môn mà không trọn vẹn trải qua mùa an cư thì tuy được tự tứ nhưng không được tuổi hạ; hoặc có người đến ngày mười lăm thì được tuổi hạ, có người đến ngày 16 mới được tuổi hạ, mới là sa-môn.
 Tát-hòa-đa bộ, là bộ phái gồm những Tăng sĩ có trí tuệ mẫn tiệp, thông đạt các môn, giáo hóa làm lợi ích mọi người, đắp ca-sa màu đỏ thẩm. Đàm-vô-đức bộ chủ trương giữ gìn giới trọng, nghị bàn lượng định pháp và luật, Tăng sĩ đắp ca-sa màu đen. Ca-diếp-duy bộ chủ trương siêng năng dũng mãnh cứu độ chúng sinh, Tăng sĩ đắp ca-sa màu vỏ cây Mộc lan. Sa-di-tắc bộ chủ trương tư duy nhập thiền định, tham cứu đạt đến chỗ sâu mầu, Tăng sĩ đắp ca-sa màu xanh. Ma-ha Tăng-kì bộ siêng năng học các kinh, diễn giảng nghĩa lí, Tăng sĩ đắp ca-sa màu vàng.
 Ngày xưa, khi Phật còn tại thế, chúng tăng chỉ đắp ca-sa được may từ vải thô xấu và y phục của người đã chết bỏ ngoài nghĩa địa. Về sau có tì-kheo La-tuần-du mỗi khi khất thực luôn mang bát không trở về. Đức Phật biết rõ tội nghiệp quá khứ của tì-kheo này, muốn khiến mọi người thấy rõ họa phước, nên Ngài mới dạy minh giới cho người đời sau. Cho nên chúng tăng phân làm năm bộ, mỗi bộ đắp mỗi màu ca-sa khác nhau. Từ đó nối tiếp truyền thừa chế định. Sau khi Phật nhập diệt, thì việc lập hiệu hay đặt tên đều lấy theo sở trường của mỗi bộ, gọi là đắp ca-sa hoại sắc, đại chúng tập hội cùng chấp nhận. Ngày nay tì-kheo hoạch định ranh giới bốn phía, có các điềm lành ứng hiện. Đại chúng ở trong đó thực hiện các pháp sự. Khi tập hội chúng tăng đều hòa hợp chấp nhận, đồng tu hành bình đẳng, giữ gìn giới pháp. Những người tu học ngày nay kết giới đều chấp nhận những ngôn giáo này, cùng với việc hoạch định ranh giới bốn phương để thuyết cấm giới, kết giới tinh xá, Tăng đều chấp nhận, đều im lặng. Nếu chấp nhận thì liền thuyết, không chấp nhận thì khi chúng tăng nhóm họp sẽ bình đẳng kết giới, đã thuyết cấm giới, Tăng chấp nhận thì im lặngthụ trì.

 Chú thích:

 [14] Bàn: Một loại bàn nhỏ dùng để dọn thức ăn cho mỗi người.
 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 4400)
Bảy Đức Thế Tôn quá khứ từ Thế Tôn Tỳ Bà Thi, Thế Tôn Thích Ca, và chư Thế Tôn vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ sự chứng ngộ sự thật Duyên khởi.
(View: 2980)
Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali.
(View: 1687)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau:
(View: 1285)
Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama
(View: 4742)
Quy Sơn Cảnh Sách Học Giải - Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thích Thiện Trí (Thánh Tri) Phỏng Việt Dịch và Viết Bài Học Giải
(View: 2084)
Kinh này khởi đầu bằng lời người Bà La Môn hỏi rằng làm thế nào người ta có thể tự thanh tịnh hóa khi nhìn thấy một vị Thượng nhân đã Thanh tịnh,
(View: 37116)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. - Chú giải: Ngài Quán Nguyệt; Dịch giả: HT Thích Khánh Anh
(View: 2402)
Tôi nghe như vậy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại thành phố Śrāvastī (Xá-vệ), nơi rừng cây Jeta (Kì-đà), vườn của Ông Anāthapiṇḍada (Cấp-cô-độc),
(View: 2114)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng ...
(View: 2277)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(View: 2374)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(View: 2659)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(View: 3110)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(View: 11023)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 2524)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(View: 1839)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(View: 3722)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(View: 3677)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(View: 3594)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(View: 4376)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(View: 4928)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(View: 3933)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(View: 4136)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(View: 4192)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(View: 5675)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(View: 5740)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(View: 3778)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(View: 4846)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(View: 5160)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(View: 6985)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(View: 4908)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(View: 5185)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(View: 4316)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(View: 4999)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(View: 4525)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(View: 9070)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(View: 4397)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(View: 4460)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(View: 4859)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(View: 4869)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(View: 6475)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(View: 5442)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(View: 5918)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(View: 6159)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(View: 4952)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(View: 5584)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(View: 8179)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(View: 5626)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(View: 9350)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(View: 8835)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 5901)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(View: 21837)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(View: 5129)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(View: 8722)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(View: 6215)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(View: 5879)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(View: 5345)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(View: 5888)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(View: 8180)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(View: 5950)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
Quảng Cáo Bảo Trợ