Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,694,663
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Những bước ngoặc quan trọng trong cuộc đời

08 Tháng Ba 201818:06(Xem: 1570)
Những bước ngoặc quan trọng trong cuộc đời

Những bước ngoặc quan trọng trong cuộc đời


Thích Như Điển

 Diễn đọc: Quảng Hương


Ai trong chúng ta cũng có nhiều khúc quanh quan trọng trong cuộc đời. Ít ai sinh ra mà được suông sẻ, kể từ khi lọt lòng Mẹ cho đến khi hơi thở cuối cùng đến báo cho ta biết rằng: Ở trần gian nầy vẫn tồn tại, nhưng ta lại phải ra đi để tiếp tục một chuyến đăng trình khác. Có người đi lên, có người đi xuống, có người đi ra, có người đi vào; nhưng cũng có lắm người chẳng biết đi mô cả. Điều nầy liên hệ gì với cuộc sống của chúng ta trong hiện tại hay trong quá khứ và dẫn đến vị lai thì thế nào nữa đây? Đố ai biếtđược một quá khứ dài đăng đẳng, một tương lai mịt mù và một hiện tại không định hướng như vậy?

Trong Kinh Phật Bản Hạnh thuộc Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh hay Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh từ quyển thứ 11 cho đến quyển thứ 13 thuộc bộ Bản Duyên, chư Tổ kể lại lời Phật qua nhiều nhân duyên khác nhau để Ngài đi vào đời. Có những loại duyên thuận, mà cũng lắm duyên nghịch. Nghịch hay thuận cũng do nghiệp lực chi phối chúng ta, nhưng ít người quan tâm cũng như không hiểu nhân duyên là gì, nên mới than trời trách đất, mà chẳng ai tự chê mình đã vụng đường tu bao giờ. Khi Đức Phật thành đạo quả dưới cội Bồ Đề, Ngài đã được chư Thiên cung thỉnh cả ba lần, nhưng Ngài quyết tâm vào Niết Bàn, vì Ngài nghĩ rằng những lời Ngài sắp nói ra chẳng ai có thể hiểu cả. Cuối cùng Vua Trời Đế Thích và Vua các cõi sắc giới khác cung thỉnh Ngài, Ngài mới mỉm cười đồng ý,cái mỉm cười ấy chứng tỏ rằng Ngài đã hoan hỷ. Và sau khi đã chiêm nghiệm nhiều lần về việc quán nhân duyên, Ngài thấy rằng trong chúng sanh có nhiều loại người khác nhau: Loại thì ương ngạnh, khó độ cũng như khôngnhân duyên với Phật Pháp thì dẫu cho Ngài có ở đời lâu bao nhiêu đi chăng nữa, thì những người nầy quyết sẽ khôngbao giờ đến với Đạo; loại thứ hai là những chúng sanhcăn tánh nhậm lẹ, họ không cần ai dạy bảo hết, họ vẫn có thể chứng quả Thánh Hiền, loại nầy cũng không cần Ngài độ. Duy chỉ có loại chúng sanh vừa thiện mà vừa ác thì Ngài quan tâm đến, nên đã quyết định ở lại trên cõi đời nầy để thuyết pháp độ sanh. Trong loại nầy Ngài phân tích rất rõ ràng là các chúng sanh nầy có 50% thiện và cũng có 50% ác. Từ ác những chúng sanh nầy có thể tiến lên thiện, mà từ thiện nầy nếu không tu học cũng dễ trở thành ác. Ngài giải thích rằng: Nếu chúng sanh nào tưởng nhiều, tình ít thì khi lâm chung, những chúng sanh nầy sẽ dễ dàng siêu thoát; còn những chúng sanh nào tình nhiều, tưởng ít đến khi lâm chung bị cáitình nó níu kéo, nên tâm thức của người đó dễ đi xuống hơn là đi lên. Vậy chúng ta phải đón nhận tấm lòng cao cả của Ngài. Ngài đã vì chúng ta mà nán lại thêm 45 năm nữa trên trần thế nầy để thuyết pháp độ sanhnếu không có 45 năm ấy thì tam tạng Thánh Điển sẽ không có, chúng ta lấy đâu mà dò tìm .

Cũng trong Kinh Phật Bản Hạnh nầy, chính Ngài đã tường thuật việc xuất gia tu học của Ngài cũng như những chướng duyên trong khi còn ở tại gia với bao nhiêu thử thách tại cung thành Ca Tỳ La Vệ ấy. Một điều quan trọng chúng ta nên nhớ là: Nếu Thái tử Tất Đạt Đa không đi xuất gia tìm Đạo thì danh tiếng của Ngài nhiều lắm cũng chỉ nằm trong xứ Ấn Độ mà thôi! Chính Ngài đã hy sinh tất cả, nênđã được tất cả. Ngày nay khắp năm châu bốn bể qua hơn 2.600 năm lịch sử đã chứng minh được điều ấy. Thiết nghĩ rằng chúng ta không cần phải nhắc lại nhiều nữa. Chúng ta chỉ biết niệm ân Ngài và cố gắng tu học làm sao để bào mòn được bản ngã, vắng bớt trong nẻo luân hồi, để thấy rằng sự hy sinh xả kỷ của Ngài đối với chúng ta là một tư tưởng, một đạo lý quá tuyệt vời, dẫu cho trong quá khứ hay nhẫn đến trong vị lai xa xôi nữa, chưa chắc gì những đạo khác có được một vị giáo chủ như là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Vua Tịnh Phạn chưa bao giờ muốn rằng con của mình sẽ đi xuất gia tầm đạo và thành bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhà Vua chỉ muốn con của mình sẽ trở thành Chuyển Luân Thánh Vương, như một trong hai lời đoán của Đạo Sĩ A Tư Đà lúc Thái tử Tất Đạt Đa mới sinh ra mà thôi. Do vậy mà nhà Vua đã không từ bỏ một kế hoạch nào để làm cho Thái tử phải bị vướng chân mà ở lại với đời. Đã có lần một vị cận thần thưa với Vua Tịnh Phạn rằng: “Dẫu cho có dùng một ngàn sợi dây đồng cũng không thể  buộc ràng được chân của Thái tử, nhưng chỉ cần một sợi tóc của mỹ nhân thì có thể ràng buộc được bước chân của Thái tử“. Nghe lời tâu ấy có lý, nhất là vua thấy Thái tử đã trưởng thành, nên một cuộc thi bắn cung, rồi ném tạ, đô vật, cỡi ngựa v.v... đã được tổ chức, và môn nào Thái tử cũng dẫn đầu, ngay cả Hoàng Thân Đề Bà Đạt Đa cũng không thể sánh kịp, nên Bà Mangala, Mẹ của Đề Bà Đạt Đa lúcnào cũng lấy làm lo, chẳng yên dạ chút nào vì bà mong muốn Đề Bà Đạt Đa sẽ cưới được công chúa Da Du Đà La. Trong khi đó thì Thái tử Tất Đạt Đa chiến thắng không vì sắc đẹp, không vì danh, không vì lợi mà cũng chẳng phải vì sự giàu sang phú quý, Ngài đã thực hiện những điều ấy chỉ vì làm thỏa mãn ước vọng của Vua Tịnh Phạn mà thôi.

Lấy vợ rồi, Thái tử cũng chẳng thấy vui, Ngài lại còn tìm cách để xa dần công chúa Da Du Đà La bằng nhiều hình thức khác nhau,như đi ra khỏi bốn cửa thành để xem những sinh hoạt của quần chúng nhân dân. Đi đến đâu Ngài cũng được ca tụng là một Thái tửlòng từ, bởi Ngài luôn tỏ ra xúc động với những nỗi khổ đau mà Ngài được chứng kiến. Từ khi hiểu rõ được nỗi khổ sanh, lão, bệnh, tử của kiếp nhân sinh, Thái tử lại càng khắc khoải suy tư. Vua Tịnh Phạn thấy không xong, nên ra lệnh đóng kín bốn cổng thành của hoàng cung. Tương truyền rằng, Đức Vua sợ Thái tử ra đi tìm chân lý vào một ngày đẹp trời nào đó, nên Vua đã cho đóng 4 cánh cửa thật lớn màkhi mở cửa ra hay đóng lại đều nghe được âm thanh từ rất xa. Đây cũng là một cách để cản ngăn sự ra đi tìm đạo của Thái tử. Thế nhưng vào đêm mồng Tám tháng Hai của hơn 2.600 năm trước, sau những yến tiệc linh đình tại cung vua, Thái tử đã chiêm nghiệm ra rằng những hình hài của những cung nữ, ngay cả Da Du Đà La cũng không có gì đáng nói cả, chẳng qua chỉ là những phấn son lòe loẹt trâytrét đầy mình và giờ đây những thứ ấy hòa quyện với mồ hôi, đã trở nên lem luốc và hôi hám. Tuy nhiên Ngài lúc ấy vẫn chưa quyết định ra đi, mãi cho đến khi chư Thiên hiện ra và báo cho Thái tử biết rằng: Giờ ra đi đã đến, giờ ra đi đã đến! Lúc ấy Thái tử mới đánh thức Sa Nặc và ngựa Kiền Trắc, vốn là hai chúng sanh có duyên trong nhiều kiếp với Ngài và trong đời nầy sinh ra cùng ngày tháng năm với Ngài để trở thành những người hầu cận tâm phúc của Ngài.

Sa Nặc và ngựa Kiền Trắc đã ráng sức đưa Thái tử vượt thành trốn khỏi hoàng cung. Chư Thiên đã bịt tai và bịt mắt hết tất cả mọi người đang lúc ngủ say nêndù có những tiếng động do người, ngựa gây ra nhưng chẳng ai nghe được bất cứ một âm thanh nào, thậm chí khi cánh cửa Đông của cung thành Ca Tỳ La Vệ bình thường khi đóng hay mở thì âm thanh vang xa chừng năm bảy dặm, thế mà đêm mồng Tám tháng Hai năm ấy không một ai, kể cả VuaTịnh Phạn, Hoàng Hậu Ba Xà Ba Đề và ngay cả Da Du Đà La cũng chẳng ai hay biết gì cả. Đúng là chư Thiên có phép màu, nên mới giúp Thái tử hoàn thành được tâm nguyện của mình trong lúc khó khăn như thế. Ngay cả khi đã vượt ra khỏi cung thành Ca Tỳ La Vệ, ngựa Kiền Trắc theo sự điều khiển của Sa Nặc thẳng hướng qua dòng sông A Nô Ma, để chẳng ai nghe được tiếng động và phải bay mới kịp thời gian trước khi ánh thái dương ló dạng khiến cho mọi người dễ nhận diện ra, nên 4 vị chư Thiên cũng đã nâng 4 chân củangựa Kiền Trắc, không cho chạm mặt đất, bay đi trên không trung để hộ trì tâm nguyện của một vị Bồ Tát xuất trần. Khi vào sâu trong rừng Ưu Lâu Tần Loa, Thái tử thấy cảnh vật nên thơ và yên tĩnh quá, trước mắt Ngài có một chư Thiên đã hóa ra làm người thợ săn, trên mình mặc chiếc y vàng và Thái tử đã không ngại ngùng cởi hoàng bào của mình để đổi cho người thợ săn ấy, lấy chiếc y hoại sắc kiakhoác lên mình. Lúc nầy thì Sa Nặc và ngựa Kiền Trắc chỉ biết đứng yên lặng chẳng thốt được nên lời. Tiếp đến Thái tử đưa tay nâng lọn tóc lên cao và dùng kiếm báu gọt sạch những muộn phiền qua làn tóc xanh óng ả ấy và trao qua cho Sa Nặc bảo rằng: “Ngươi hãy mang những vật nầy về lại cho Da Du  Đà La“, nhưng Sa Nặc chỉ muốn ở lại đây vì sợ khi về đến kinh thành mà nhà Vua không thấy Thái tử , thì chỉ có chết chứ làm sao có thể thoát khỏi được lưỡi hái của tử thần. Con ngựa Kiền Trắc cũng như vậy, nó vẫn dậm chân tại chỗ lại còn rống lên những tiếng thật là áo não sầu bi, nước mắt cứ chảy đầm đìa như chưa bao giờ có một cuộc chia ly đầy tang thương như vậy.

“Tóc của Mẹ Cha xin trả lại cho Mẹ Cha, người trần thế xin trở về với trần thế“. Đây có thể là lời than của Thái tử, mà cũng có thể là một sự quyết định cuối cùng không nhân nhượng với bản thân của mình, để chứng minh cho Sa Nặc thấy rằng Ngài đã quyết chí xuất gia tầm đạo, không ai có thể cản ngăn nghị lực của Ngài được cả. Chỉ có Sa Nặc là lo lắng vô cùng, bởi lẽ bây giờ trở lại hoàng cung chỉ một mình với con ngựa Kiền Trắc, còn bóng hình Thái tử biệt tăm thì chắc gì Vua Tịnh Phạn đã để yên cho. Cuối cùng Thái tử bảo Sa Nặc rằng: “Ngươi hãy về tâu lại với Phụ Hoàng ta rằng, nếu ta không thành đạo, ta sẽ chẳng trở lại hoàng cung. Đây là lời quyết đoán và ta sẽ trở về khi ta đã chứng được đạo quả. Ngươi sẽkhông bị phạt tội, mà trái lại khi có tin của ta, Phụ Vương cũng như Mẫu Hậu và Da Du Đà La sẽ vui mừng vì biết được tin tức về ta. Do vậy Ngươi sẽ không hề gì“.

Khi tiếng hí của ngựa Kiền Trắc vang rền nơi cổng thành thì lúc ấy mọi người ai nấy trong cung cũngmừng vui, vì ngóng tin Thái tử đã lâu ngày mà không có kết quả nào cả. Chính hôm nay đây Sa Nặc và ngựa Kiền Trắc sẽ mang lại cho triều đình một tin vui, nhưng ngược lại khi Da Du Đà La nhác trôngtrên lưng ngựa không có bóng hình của Thái tử thìnàng đã trách rằng: “Tại sao lúc Thái tử ra đi, ngươi không hí to lên như lần nầy để ta biết mà thức dậy và có thể cản được bước chân của Thái tử muốn xuất gia tầm đạo. Bây giờ ngươi về đây một mình mà còn hí rống lớn tiếng làm gì nữa“. Con ngựa ngoan như hiểu ý nàng, nhưng nàng đâu có ngờ đó là do trợ lực cũng như sức mạnh của Chư Thiên đã giúp cho Thái tử vượt thành, chứ Sa Nặc và ngựa quý nầy không cómột khả năng ngoại hạng nào cả. Đến phiên Sa Nặc cũng bị Da Du Đà La nặng lời rằng: “Chính ngươi là nô bộc, là bạn quý của cung thành nầy và của cả Thái tử nữa, nhưng tại sao ngươi không cản ngăn Thái tử ra đi mà lại còn đưa Thái tử vào trong rừng sâu nước độc, sống thui thủi chỉ có một mình; còn ở cung son nầy vẫn luôn vắng bóng một hình hài mà ta luôn trông đợi. Rõ là ngươi đã chẳng làm nên tích sự gì cả. Hãy mau cút đi, đừng để cho ta thấy mặt của ngươi nữa“. Sau những lời trách móc nặng lời như thế, nàng dường như đã hả dạ nên đã ngất đi lúc nào không hay biết. Sa Nặc tiến đếnbên Đức Vua và Di Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề tâu lại nguyên văn những gì như Thái tử Tất Đạt Đa đã căn dặn. Đức Vua nghe xong, không buồn, không vui, còn Di Mẫu thì ngửa mặt lên trời than thân trách phận. Cánh cửa Hoàng Cung từ từ khép lại với bao nỗi nhớ mong thương tưởng của Vua Cha cũng như của cả một Hoàng Tộc; chỉ riêng Mangala và Đề Bà Đạt Đa có cái cớ để vui, vì tại đây không còn bóng dáng hiềnđức của Thái tử Tất Đạt Đa nữa thì Mẹ Con Đề Bà Đạt Đa sẽ được thuận lợi ở một ý nghĩa thấp hèn nào đó. Mục đích chính của Mangala và Đề Bà Đạt Đa làcướp ngôi của dòng họ Thích. Mặc dù Tịnh Phạn Vương vẫn còn tại vị, nhưng nay Thái tử Tất Đạt Đa không hiện hữu tại cung đình nên ngôi kế vị vẫn còn trống, do vậy sự rời bỏ cung vua của Thái tử chính là cái đích mà Mẹ con của Đề Bà Đạt Đa luôn mong mỏi từ lâu rồi.

Nỗi buồn vì sự rời bỏ của Thái tử không phải chỉ có trong Hoàng Tộc, của Sa Nặc hay ngựa Kiền Trắc, mà là của cả một cung thành Ca Tỳ La Vệ, trên từ vua quan, dưới cho đến thứ dân ở đâu cũng nghe tiếng nức nở khóc than, tất cả cũng chỉ mong có được ngày trở về của Thái tử. Nhưng có một người có lẽ chắc vui đó là Thái tử Tất Đạt Đa. Tuy Ngài chưa chứng thành đạo quả lúc ban đầu, nhưng Ngài đã tự chiến thắng với chính mình. Cho nên đã có lần Ngài thốt lên rằng: “Chiến thắng muôn quân, không bằng tự thắng mình. Tự thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất“. Người muốn đi tìm cái vĩ đại của chân lý, chắc hẳn một điều là phải từ bỏ những sự nhỏ nhặt muộn phiền. Nếu những thứ phiền não căn bản ấy không đoạn tận được thì làm sao có thểchiến thắng tất cả những ma quân ngoại cảnh ở bên trong cũng như bên ngoài, để trở thành  bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác về sau nầy.

Một vị Thái tử đã bỏ ngôi báu vào rừng sâuđể tu hành, lần đầu tiên khi gặp Vua Tần Bà Sa La, sau khi hỏi chuyện, nhà vua biết rằng đây là Thái tử sắp được phong vương của xứ Ca Tỳ La Vệ, nên  nhà Vua đã bảo rằng: “Thôi! Thái tử hãy ở lại đây với ta, ta sẽ nhường lại nửa ngai vàng và nửa giang sơn nầy để Thái tử cai trị và làm thực ấp“. Thái tử trả lời rằng: “Xin cảm ơn Thánh Thượng và xin Ngài hãy hiểu cho rằng, tại cung thành Ca Tỳ La Vệ kia có cả một giang sơn để kế nghiệp mà tôi còn từ bỏ để ra đi tìm chân lý, thì vui gì ở lại xứ Ma Kiệt Đà nầy đểđón nhận chỉ nửa ngai vàng“. Vua Tần Bà Sa La khi nghe biết sự quyết tâm của Thái tử như vậy nên mới tâu rằng: “Thế thì sau khi thành đạo, Ngài hãy trở lại xứ Ma Kiệt Đà nầy trước, trẩm sẽ hầu hạ và cung phụng Ngài cho đến cuối đời“, Thái tử đã đồng ý. Và sau khi Ngài thành đạo dưới cội Bồ Đề, trên đường về thăm Vua cha Tịnh Phạn, Đức Phật đã ghé thăm Vua Tần Bà Sa La trước. Đó là sự giữ lời hứa của một bậc đã chứng thành ngôi vị Chánh Đẳng Chánh Giác với một đấng quân vương.

Khi vua Trần Thái Tông lên ngôi vào năm 1226, qua những âm mưu của quân sư Trần Thủ Độ quá độc ác đối với triều nhà Lý, nên Ông đã từ bỏ ngôi vua vào núi Yên Tử để muốn xuất gia và Ông cũng đã tuyên bố một cách thẳng thừng với mọi người là:“Trẫm xem ngai vàng như đôi dép bỏ“. Quả thật chỉ có những con người thoát tục mới dám thốt lên những lời nói như thế, còn đa phần trong chúng ta córất nhiều sự tham sống, sợ chết và không bao giờ dám hy sinh hạnh phúc riêng tư của mình để đổi lấy hạnh phúc cho nhân dân. Cuối cùng rồi chỉ những người có ý chí kiên cường mới thực hiện được những giá trị miên viễn để lại cho đời sau, mà nghìn năm gương kim cổ vẫn còn ghi. Trong chúng ta nếu không có những bước ngoặc quan trọng trong cuộc đời như vậy thì sử xanh sẽ không có dịp ghi lại tánhdanh của những anh hùng liệt nữ.

Nhân ngày lễ vía Xuất gia của Đức Phật, nhằm vào ngày mồng Tám tháng Hai mỗi năm, tôi xin tóm lược lại một vài sự kiện mà trong Kinh Phật Bản Hạnh đã ghi lại để làm quà cho tất cả quý Phật Tử xa gần. Đây cũng là một bài học quý giá cho ngàn sau. Phàm: “Ai có ý chí, kẻ ấy sẽ thành công“.

 

Viết xong vào lúc 17 giờ chiều ngày 7 tháng 3 năm 2018 trên chuyến tàu tốc hành từ Hannover chạy về hướng Munchen.

Những hình ảnh xa xưa của Hòa Thượng Thích Như Điển, 
Chân thành cảm ơn ĐĐ Thích Hạnh Lý đã sưu tập và gởi cho đầy đủ những hình ảnh quý báu này:


HT Thich Nhu Dien 035HT Thich Nhu Dien 036HT Thich Nhu Dien 037HT Thich Nhu Dien 038HT Thich Nhu Dien 039HT Thich Nhu Dien 040HT Thich Nhu Dien 041HT Thich Nhu Dien 042HT Thich Nhu Dien 043HT Thich Nhu Dien 044HT Thich Nhu Dien 045HT Thich Nhu Dien 046HT Thich Nhu Dien 047HT Thich Nhu Dien 048HT Thich Nhu Dien 049HT Thich Nhu Dien 050HT Thich Nhu Dien 051HT Thich Nhu Dien 052HT Thich Nhu Dien 053HT Thich Nhu Dien 054HT Thich Nhu Dien 055HT Thich Nhu Dien 056HT Thich Nhu Dien 057HT Thich Nhu Dien 058HT Thich Nhu Dien 059HT Thich Nhu Dien 060HT Thich Nhu Dien 061HT Thich Nhu Dien 062HT Thich Nhu Dien 063HT Thich Nhu Dien 064HT Thich Nhu Dien 065HT Thich Nhu Dien 066HT Thich Nhu Dien 067HT Thich Nhu Dien 068HT Thich Nhu Dien 069HT Thich Nhu Dien 070HT Thich Nhu Dien 071HT Thich Nhu Dien 072HT Thich Nhu Dien 073HT Thich Nhu Dien 074HT Thich Nhu Dien 075HT Thich Nhu Dien 076HT Thich Nhu Dien 077HT Thich Nhu Dien 078HT Thich Nhu Dien 079HT Thich Nhu Dien 080HT Thich Nhu Dien 081HT Thich Nhu Dien 082HT Thich Nhu Dien 083HT Thich Nhu Dien 084HT Thich Nhu Dien 085HT Thich Nhu Dien 086HT Thich Nhu Dien 087HT Thich Nhu Dien 088HT Thich Nhu Dien 089HT Thich Nhu Dien 090HT Thich Nhu Dien 091HT Thich Nhu Dien 092HT Thich Nhu Dien 093HT Thich Nhu Dien 094HT Thich Nhu Dien 095HT Thich Nhu Dien 096HT Thich Nhu Dien 097HT Thich Nhu Dien 098HT Thich Nhu Dien 099HT Thich Nhu Dien 100HT Thich Nhu Dien 101HT Thich Nhu Dien 102HT Thich Nhu Dien 103

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 203)
Bài viết này đã đăng trên Đặc San Kỷ niệm lể Vu Lan 1989, năm Kỷ Tỵ, của chùa Hoa Nghiêm ở Toronto, Canada.
(Xem: 597)
Có rất nhiều bạn trên thế giới hiện nay hoặc vì một lý do nào đó, có thể chủ quan hoặc khách quan, đã mang tâm oán hận cha mẹ, người đã rứt ruột sinh ra mình.
(Xem: 394)
Đọc trong mùa Vu Lan, cũng là đọc trong tất cả mọi thời. Bởi vì Vu Lan, dựa vào tích Ngài Mục Kiền Liên vào cõi ngạ quỷ tìm cứu mẹ, là nơi lửa cháy không ngừng, nơi đói khát không ngừng
(Xem: 754)
Mặc dù Đức Phật đã xuất hiện trên hành tinh trái đất màchúng ta đang có mặt cách nay 2.642 năm về trước, và hiện nay đang bước sang thập niên thứ 2 ...
(Xem: 820)
Có nhiều câu hỏi về tái sanh thường được nêu ra đối với các Phật tử. Có tái sanh không? Nếu có, có thể nhớ chuyện kiếp trước không? Cái gì tái sanh? Có thân trung ấm hay không?
(Xem: 847)
Năm nay trời thiếu mưa, và sương mù cũng không nhiều như những năm mới đến cư ngụ tại thủ phủ Sacramento, bang California.
(Xem: 1273)
Chó vẫy đuôi mừng, vầng trăng thiện hạnh trùm khắp, từ bi toàn thân hỷ lạc.
(Xem: 1080)
Nếu Trái Đất mỗi ngày không múa điệu nghê thường lả lướt quanh Vầng Thái Dương rực rỡ thì có lẽ con người cũng chẳng chiêm ngưỡng được vẻ đẹp kỳ diệu của xuân hạ thu đông.
(Xem: 1254)
Lòng từ bi nhân ái, tiếng Tây Tạng là Tse wa (rtse ba) là một thuật ngữ nói lên tình mẫu tử và nỗi âu lo vô biên của chư Phật đối với mỗi chúng sinh.
(Xem: 1627)
Thời thanh xuân, tiếng nói trong trẻo, du dương; trung niên, tiếng trầm như sấm; lão niên, tiếng khàn đục như cối xay.
(Xem: 1381)
Đây là một quyển sách khác thường của Đức Đạt-lai Lạt-ma phân tích bản chất của thiền định thật chi tiết và sâu sắc.
(Xem: 1030)
Thiền nhân và thi nhân đều có thể sáng tạo thơ hay. Thơ của các thiền sư thường là sự phóng thích chút bản ngã cuối cùng, nên nó không sanh từ vọng tưởng.
(Xem: 1098)
Cũng như Phật Đản, để phù hợp với cuộc sống, sinh hoạt tại hải ngoại, Vu Lan cũng không còn là ngày mà là mùa. Từ giữa tháng 7 kéo dài cho đến cuối tháng 9 khắp năm châu đâu đâu cũng tưng bừng lễ hội Vu Lan
(Xem: 1136)
Luyện tập thiền định có thể làm giảm tình trạng căng thẳng tâm thần, các xúc cảm tiêu cựccải thiện giấc ngủ, các hiệu ứng này có thể tạo ra các tác động tích cực đối với quá trình lão hóa của não bộ.
(Xem: 1702)
Dưới đây là một bài giảng ngắn của Lạt-ma Denys Rinpoché, một nhà sư người Pháp. Ông sinh năm 1949, tu tập theo Phật giáo Tây Tạng từ lúc còn trẻ
(Xem: 976)
Hàng năm, từ trung tuần tháng 12 dương lịch, các tự viện khắp nơi đều hoan hỷ chuẩn bị tổ chức các khóa tu để cúng dường lễ vía Đức Phật A Di Đà, vị Phật đã phát 48 đại nguyện cứu độ chúng sanh
(Xem: 1451)
Sống trong thời đại văn minh, con người cần phải học hỏi để theo kịp trào lưu tiến bộ trong nhiều lãnh vực như Y học, Não học, Tâm lý học, Địa chấn học, Thiên văn học, Vũ trụ học v.v
(Xem: 1375)
Trong số các phương pháp thực hành tâm linh, thiền chánh niệm (còn gọi thiền tỉnh thức, thiền minh sát) là một lựa chọn của số đông người.
(Xem: 1514)
Hãy chấp nhận các kinh nghiệm của bạn, ngay cả các kinh nghiệm bạn ghét.
(Xem: 1443)
Tu tập tự thân chính là công phu quan trọng nhất trong toàn bộ cái gọi là Phật giáo.
(Xem: 1177)
Thiền sư Ajaan Fuang Jotiko, sinh năm 1915 tại tỉnh Chanthaburi, Đông nam Thái Lan (gần biên giới Campuchia).
(Xem: 1551)
Lời Thầy thường dạy, lại bàng bạc không gian “Ta là tiếp nối của Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ. Các Ngài ở trong ta và ta ở trong các Ngài...
(Xem: 1604)
Dường như con người có thể phát tiết ra khả năng kỳ lạ để thích ứng với môi trường và hoàn cảnh sống mà có lẽ chính họ đôi khi cũng không ngờ.
(Xem: 1479)
Mỗi người con của Phật xin hãy tinh tấn tu học để báo đáp thâm ân Tam Bảo; báo đáp ơn sinh thành dưỡng dục; nổ lực góp phần vào xây dựng cộng đồng nhơn loại...
(Xem: 1549)
Khởi đầu, thiền định là một phương pháp tu luyện tâm thức (bhāvanā), bắt nguồn từ Ấn Độ cách đây vài ngàn năm, phát triển chủ yếu trong...
(Xem: 1700)
Chỉ vài phút tập tỉnh thức trong các việc nhỏ đời thường, sau này sẽ trở thành những hành trang Phật giáo cực kỳ quý giá cho các em vào đối mặt cuộc đời.
(Xem: 2557)
Trong kinh có một câu chuyện xảy ra làm đau lòng mọi người khi đức Phật còn tại thế. Một người vì quá tham tàn, bạo ngược, bất chấp cả tình cha con...
(Xem: 3162)
Nơi biển khơi ngàn con sóng bạc đầu, hay trên cánh đồng xanh lúa chín rì rào đâu đâu cũng thấy hiện thân nỗi binh an khắp tất cả.
(Xem: 1955)
Kyabje Lama Zopa Rinpoche giải thích cách phát khởi thực chứng về các giai đoạn của đường tu giác ngộ trong Khóa Tu Kopan Thứ Mười Hai...
(Xem: 2570)
Một hiện thể độc nhất, này các Tỷ-kheo, một nhân thể phi thường trác việt khi xuất hiệnthế gian, sự xuất hiện ấy đem lại hạnh phúc cho...
(Xem: 2487)
Không dễ tìm được một chúng sinh nào chưa từng một lần trong quá khứ là mẹ của ngươi…
(Xem: 2972)
Ngày 4-5 vừa qua, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc António Guterres đã gởi đi Thông điệp nhân Ngày Vesak 2641 (2017)
(Xem: 1744)
Bài này chỉ giới thiệu sơ sài đôi nét độc đáo của bản dịch Việt thơ chữ Hán của Trần Nhân Tông...
(Xem: 2906)
Bước chân ban đầu là bước chân khai mở con đường vượt thoát những phiền não, ràng buộc của kiếp sống...
(Xem: 2454)
Khi một hiện hữu làm linh hiện ý nghĩa hiện sinh trọn vẹn của nó, cả ba ngàn đại thiên thế giới đều rung động.
(Xem: 1745)
Cảnh sát là một nghề căng thẳng hơn rất nhiều nghề khác trong đời thường. Đôi khi, buổi sáng ra đi, không chắc gì buổi chiều đã toàn vẹn trở về.
(Xem: 2733)
Tinh thần tu chứng, cũng như phụng sự tha nhân xây dựng quê hương đất nước, Phật Giáo Việt Nam đã khẳng định sự hiện hữu của mình hơn 2000 năm trên suốt dòng lịch sử của dân tộc Việt...
(Xem: 3145)
Thiền định là phép tu tập chủ yếu của Phật giáo, có thể xem là "cột trụ" chống đỡ cho toàn bộ Phật giáo nói chung.
(Xem: 2350)
Hiện tại có tính bình đẳng cho tất cả mọi người. Dầu ở bất cứ nơi nào trên trái đất, dầu tôi và anh ở múi giờ khác nhau, người ta vẫn chung nhau một hiện tại.
(Xem: 2917)
Mỗi cuối năm khi hoa mai, hoa đào bắt đầu nở, khi ngoài trời vài cơn gió hiu hiu lạnh nhẹ nhàng lướt qua trên cành cây ngọn trúc, thì chúng ta biết là mùa Xuân đang về.
(Xem: 2462)
Năm cũ sắp sửa trôi qua với bao đổi thay của đất trời và con người, để đón nhận một mùa xuân mới tràn đầy hạnh phúc.
(Xem: 3591)
Vào đêm cúng Giao Thừa tại các Chùa Việt Nam cũng đồng lúc cử hành Lễ Khánh Đản của đức Phật Di Lặc, vị Phật tương lai...
(Xem: 3087)
Trong các khóa thiền tập của chúng ta, các thiền sinh phải tập chú niệm trong cả bốn tư thế đi, đứng, ngồi, nằm...
(Xem: 4726)
Vẽ đẹp cao quý trong ngày xuân là mọi người có dịp làm mới lại những truyền thống văn hóa, đạo đứcdi huấn của tổ tiên...
(Xem: 4079)
Cộng đồng Phật giáo chỉ là một nhóm thiểu số tại Cuba. Dù vậy, họ vẫn đang có những bước đi lặng lẽ thơ mộng và trang nghiêm tại đảo quốc xinh đẹp này.
(Xem: 2921)
Đức Phật dạy chúng ta nhìn bất cứ điều gì xuất hiện trước mắt cũng phải nhận biết rằng: sự vật không trường tồn.
(Xem: 4514)
Bài Thuyết Trình Ngày Về Nguồn - Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư Lần Thứ 10 tại Tu Viện Phổ Đà Sơn, Ottawa, Canada ngày 07 – 09 tháng 10, 2016
(Xem: 2671)
hật giáo truyền nhập Tây tạng được xem như chính thức từ vua Srong-btsan sGam-po (569–649?/605–649 Tl?); nhưng phải đợi hơn một thế kỷ sau, dưới triều vua...
(Xem: 16463)
Giáo, Lý, Hạnh, Quả là cương tông của Phật pháp. Nhớ Phật, niệm Phật, thật là đường tắt để đắc đạo. Xưa kia, tu pháp nào cũng đều đủ cả bốn điều này.
(Xem: 3248)
Thiền Vipassana là một phương pháp để giúp chúng ta có được một đời sống nội tâm lành mạnh, an lạc.
(Xem: 3586)
Ngày lễ Vu Lan trong Đạo Phật là ngày “Phật Hoan Hỷ”, ngày “Tự Tứ”. Tăng, Ni tập trung vào sự tu niệm và thỉnh cầu những bậc...
(Xem: 2930)
Kể từ khi Phật giáo du nhập vào nước ta, đến thế kỷ II thì Phật giáo đã định hình và phát triển khá mạnh mẽ, nhất là đã có...
(Xem: 3684)
Có nhiều phương pháp giúp chúng ta giảm bớt đau khổ tạm thời. Khi các bạn gặp đau khổ, các bạn đổi hướng chú ý của ...
(Xem: 3164)
Một hôm, Tôn giả Xá Lợi Phất đi trì bình khất thực trong thành Vương Xá, khi ngang qua...
(Xem: 3329)
Tôi nhớ mãi một buổi chiều, Mẹ ngồi bên thềm sân, Cúi xuống, thoang thoáng một nét buồn.
(Xem: 4000)
Phật dạy chúng ta tu thiền định cốt để buông xả các niệm tạp loạn, tâm lặng lẽ thanh tịnh. Theo kinh Nguyên thủy Phật dạy...
(Xem: 4993)
Ngày Lễ Phật Đản Visak là ngày quan trọng nhất đối với tất cả Phật tử trên toàn thế giới. Đây là ngày...
(Xem: 5066)
Cách đây hơn 2.600 năm, vào ngày trăng tròn tháng Tư, tại vườn ngự uyển Lumbini, thành Kapilavastu...
(Xem: 4405)
Theo truyền thống Phật Giáo, nói về các thời điểm nhất định, thí dụ như Sự Ra Đời Và Sự Giác Ngộ Của Đức Phật, có một nguồn ánh sáng...
(Xem: 4242)
Vẫn như mọi năm, tháng Tư âm lịch ngày trăng tròn là ngày kỉ niệm Đức Phật đản sanh. Theo truyền thống Phật giáo thì ...
(Xem: 4240)
Xin chia buồn cùng tang quyến và cầu nguyện hương linh Đạo hữu Thiện Mẫn Nguyễn Minh Cần vãng sanh Cực Lạc Quốc
(Xem: 4303)
Đức Phật được Liên Hiệp Quốc tôn vinh là nhà văn hóa lớn của nhân loại của 25 thế kỷ qua, hẳn là ...
(Xem: 3730)
Hạnh phúc thay, Đức Phật ra đời. Hạnh phúc thay, bài giảng Phật Pháp đúng đắn. Hạnh phúc thay, Tăng Đoàn hòa hợp.
(Xem: 5889)
Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Âu Châu kính gởi đến Chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật tử
(Xem: 4130)
Thế Tôn, bậc tôn quý nhất, đấng Giác ngộ duy nhất, tối tôn ở đời. Bởi chỉ có thành tựu tuệ giác vô ngã, kết quả của thiền quán mới ...
(Xem: 4702)
Bảy bước đi liên tòa kết nụ Chỉ đất trời thượng hạ tuyên ngôn "Như Lai vô thượng chí tôn Thân này kiếp chót vĩnh tồn vô sanh"
(Xem: 3968)
Pháp môn Tịnh-độ là một trong 84 vạn pháp môn mà Đức Phật Thích-Ca "phương tiện" chỉ bày cho thập phương chúng sanh kể cã cõi ta-bà nầy hành trì để giải thoát "sanh tử-luân hồi"
(Xem: 13019)
Đại Lễ Phật Đản Phật Lịch 2560 do Giáo Hội PGVNTN Hoa Kỳ và các chùa tại địa phương tổ chức vào ngày 01.05.2016 tại Mile Square Park, 16801 Euclid Street, Fountain Valley 92708
(Xem: 4160)
Thiền, Tịnh, Mật được xem là ba pháp môn tu truyền thống của Phật giáo Việt Nam xưa nay.
(Xem: 3479)
Chánh niệm không phải chỉ là một ý tưởng tốt, một triết lý hoặc một tôn giáo theo nghĩa đen, mà là áp dụng một cách sống.
(Xem: 5078)
Thông Bạch Phật Đản 2016 - Phật Lịch 2560 của Chánh Văn Phòng HĐCM GHPGVNTN Hoa Kỳ
(Xem: 3842)
Phật Đản là ngày sinh của Đức Phật. Theo như trong kinh Phật đã dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”,
(Xem: 3787)
‘Tào khê thuỷ’ (曹溪水) hay ‘Tào Khê’ là đại từ chỉ định về Lục tổ Huệ Năng, cũng chỉ cho dòng suối trí tuệ Phật giáo.
(Xem: 3872)
Chúng ta có hai cách giao lưu với thế giới nội tâm và với thế giới bên ngoài. Một: Tâm cảm thọ (Sensing mind) trực tiếp qua giác quan như ...
(Xem: 3940)
“Thị hiện Đản sanh”, là cụm từ được chỉ chung cho tất cả các bậc Thánh nhân, chư Phật, Bồ Tát khởi lên ý niệm tự phát nguyện...
(Xem: 4443)
Dòng đời cứ cuồn cuộn hay lặng lẽ mãi miết trôi, và mọi cảm nhận tiếp thụ của con người vẫn cứ lan chảy bất tận theo thời gian.
(Xem: 5794)
Phương cách tốt nhất giúp ta tỉnh giác khi hành Thiền là ta biết giữ hơi thở trong tâm.
(Xem: 4616)
Hãy tụng kinh Kim cương nhiều lần. Thầy cũng sẽ cầu nguyện, trì tụng và hồi hướng cho con ngay bây giờ.
(Xem: 6489)
Thân thị Bồ đề thọ, Tâm như minh cảnh đài, Thời thời cần phất thức, Vật sử nhá trần ai.
(Xem: 4073)
Theo giáo lý Tịnh Độ Phật A Di Đà là vị Phật ánh sáng luôn soi chiếu thông suốt mọi cảnh giới, tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh.
(Xem: 4048)
Chánh niệm tỉnh giác (Satisampajanna) là một thuật ngữ Phật học ngụ ý một nếp sống thanh thản an lạc trong đời sống sinh hoạt hàng ngày.
(Xem: 4933)
Không biết tự bao giờ, mùa xuân được lấy làm biểu tượng của tâm hồn an lạcthanh tịnh.
(Xem: 5214)
Ngày xuân năm nay, chúng tôi sẽ đem đạo lý khuyến khích nhắc nhở tất cả Phật tử tinh tấn tu hành.
(Xem: 5405)
Nhân Tết con khỉ - Bính Thân, nên xin nói tản mạn về con khỉ, có liên hệ đến những ý tưởngquan niệm trong đạo Phật.
(Xem: 5814)
Hai bài kệ dưới đây trích trong Lục Tổ đàn kinh rất nổi tiếng trong giới Thiền học, được phổ biến, giảng luận không biết bao nhiêu là giấy mực...
(Xem: 5147)
Thiền Tôngpháp môn nguyên thủy và cốt tủy do Đức Phật dạy.
(Xem: 5608)
Không gì tuyệt đẹp hơn hình ảnh của mùa xuân, khi hoa đào hoa mai hé nở, khi những mầm xanh đang e ấp chờ đợi...
(Xem: 5111)
Năm cũ đã hết với bao đổi thay của đất trời và con người, để đón nhận một mùa xuân mới tràn đầy hạnh phúc.
(Xem: 5107)
Cảm ơn Xin cảm ơn Trời đất bốn mùa thay nhau chuyển đổi Xuân sinh, hạ trưởng Thu liễm, đông tàn
(Xem: 5744)
Vào thuở thịnh Đường, Lục tổ Huệ Năng ( 慧 能 638-713 ) sau khi đắc pháp với Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ( 弘忍) và được truyền Y bát,
(Xem: 9052)
Bài này được viết vào khoảng tháng 11 năm 1991, có trong tác phẩm “Sân Trước Cành Mai,” xuất bản năm 1994.
(Xem: 4436)
Tết đã gần kề. Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam có cái chung nhưng cũng có những nét khác nhau tùy theo phong tục tập quán của từng vùng, miền.
(Xem: 4592)
Trong mùa xuân, thiên nhiên tự làm mới lại, con người cũng tự làm mới lại thân tâm mình, mọi vật đều cố gắng chuyển hóa thành mới, trong sạch, thanh tịnh.
(Xem: 14888)
Chúng ta thường nghe nói thế gian là biển khổ, bởi thế gian vui ít khổ nhiều. Nhưng trong chỗ vui đó, rốt cuộc cũng không tránh được khổ.
(Xem: 8440)
Ngày hết Tết đến nhìn thấy còn những người đau khổ chung quanh thì lòng mình không thể dửng dưng...
(Xem: 21405)
Niệm Phật tức là tham thiền không phải hai pháp, ngay lúc niệm Phật, trước tiên phải buông bỏ hết thảy các thứ vọng niệm, tạp loạn phiền não, tham, sân, si...
(Xem: 10546)
Thân của ta hôm nay thật là mong manh như bọt nước, niệm niệm sanh diệt không dừng. Lại sống trong ngôi nhà lửa không an ổn, sao mà cứ tỉnh bơ không chịu quán sát cho kỹ...
(Xem: 4895)
Ngoài kia, từng cánh én đang tung tăng chao lượn, dòng người thì tấp nập ngược xuôi trong tà áo mới, trên gương mặt ai nấy hân hoan rạng ngời
(Xem: 8206)
Tình yêu như bát bún riêu. Bao nhiêu sợi bún bấy nhiêu sợi tình.
(Xem: 8635)
Khách thập phương rảo bước quanh sân chùa, ngắm nhìn cảnh vật, cội mai già, nụ mai còn hàm tiếu.
Quảng Cáo Bảo Trợ