Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,848,918
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Năm Ngàn Người Xuống Núi

25 Tháng Bảy 201708:21(Xem: 1594)
Năm Ngàn Người Xuống Núi
NĂM NGÀN NGƯỜI XUỐNG NÚI


Huệ Trân

 

          Khi đọc, hoặc nghe thấy chữ “xuống núi” chúng ta thường tưởng tượng ngay tới hình ảnh những vị đạo sỹ ẩn tu lâu năm chốn thâm sơn cùng cốc; nay vì muốn cứu đời mà xuống núi, mang những đạo lý mầu nhiệm đã ngộ được để chia xẻ với nhân gian.

          Nhưng 5000 người trong tựa bài viết này không hẳn thế, mà đây là những người gồm nhiều thành phần như Thanh-văn, Duyên-giác, nam nữ khất-sỹ, nam nữ cận-sự, đã đứng dậy, rời Hội Liên Hoa trên núi Thứu khi Đức Thế Tôn chấp nhận ba lần, lời thỉnh cầu của Trưởng lão Xá Lợi Phất để sẽ tuyên giảng một pháp lớn.

          Tại sao Đức Thế Tôn sẽ giảng pháp lớn mà 5000 người lại bỏ đi?

Đây là thời điểm khai hội Pháp Hoa trên núi Linh Thứu, người dự hội rất đông, gồm mười hai ngàn khất sĩ, sáu ngàn nữ khất sỹ và nhiều vị đại Bồ Tát khắp nơi câu hội về.

Sau khi Đức Thế Tôn giảng kinh Vô Lượng Nghĩa thì Ngài nhập vào một chánh định, Đó là Vô Lượng Nghĩa Xứ. Từ nơi này, Ngài phóng ra một luồng hào quang soi suốt khắp các cõi Ta-bà, soi tận trời Sắc Cứu Cánh xuống tới địa ngục A- Tỳ. Chúng hội đều thấy rõ những cảnh giới ấy như những cuốn phim đang chiếu trên màn ảnh lớn.

          Trước hiện tượng mầu nhiệm đó, Bồ Tát Di Lặc bèn hỏi Văn Thù Sư Lợi:

          - Thưa Bồ Tát. Bồ Tát đã từng được gần gũi và hầu cận Chư Phật nhiều đời, có khi nào thấy Chư Phật hiện thần biến tướng như vậy không?

          Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi bèn nói:

- Có, trong quá khứ tôi đã từng được thấy Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau khi giảng kinh đại thừaVô Lượng Nghĩa thì cũng nhập định rồi phóng quang từ nhục-kế trên đỉnh đầu. Sau khi xuất định, Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh tuyên giảng Kinh Pháp Hoa. Hôm nay chúng hội đang được chứng kiến sự việc y như xưa nên tôi tin rằng lát nữa đây Đức Thế Tôn sẽ ban pháp lớn.

 

Phật tử chúng ta học Phật thì đều biết rằng suốt 49 năm truyền đạo, Đức Thế Tôn đã phải tùy căn cơ chúng sanh mà giảng, từ thô tới tế, từ thấp tới cao, phải dùng những thí dụ, những phương tiện dễ hiểu, đi sát vào đời sống dân gian mà dẫn dắt chúng sanh lần từng bước, mở từng nút những giây trói vô hình chằng chịt của vô minh vây phủ. Chính vì thế mà trong hàng con Phật có những khuynh hướng khác nhau như Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-Tát.

Con đường Thanh-văn-thừa gồm những người do cơ may được nghe giáo lý rồi nương theo giáo lý đó mà tu học. Mục đích tối hậu của Thanh-văn-thừa là dốc tâm đạt tới quả vị A-La-Hán là dấu mốc của sự chứng đắc đã chấm dứt được sanh tử luân hồi cho chính mình.

Con đường Duyên-giác-thừa gồm những người kém may mắn hơn, không được trực tiếp nghe giáo lý nhưng biết tinh tấn quán chiếu duyên sinh nên cũng giác ngộ được vô thường, vô ngãthoát khỏi vô minh.

Con đường Bồ-Tát-thừa là con đường thênh thanh lòng từ bi của những người con Phật, theo giáo lý của Đức Thế Tôn tu học, không chỉ độ mình mà còn độ người. Bồ Tát giác ngộ rồi liền phát nguyện đem sự giác ngộ này mà sách tấn, dìu dắt người khác cũng được nếm mùi vị giải thoát như mình.

Do đó, chúng sanh căn cơ tới đâu thì coi sự chứng đắc của mình là điểm cuối cùng, không thể đi xa hơn mà cũng không muốn biết hơn. Cuộc đời này đau khổ quá, luân hồi ghê sợ quá, nghiệp báo chập chùng quá! Nay, tôi nhờ khổ công tu tập theo giáo pháp của Đức Thế Tôngiác ngộ, hết khổ, hết nghiệp, tôi còn mong gì nữa! Thầy  Xá Lợi Phất thưa thỉnh ba lần với Đức Thế Tôn làm chi khi Ngài đã nói:

Chỉ chỉ bất tu thuyết

Ngã pháp diệu nan tư

Đức Thế Tôn đã từ chối như thế. Thôi, không nên nói nữa, vì pháp này vô cùng thâm diệu, rất khó mà hiểu được, tin được. Pháp vô thượng này, chỉ có Phật mới hiểu được Phật mà thôi vì pháp này không cần dẫn giải, chỉ dùng trí tuệ nhận ra được tướng chân thật của các pháp.

Tướng chân thật đó có thể hiểu gọn trong Thập-Như-Thị. Đó là: như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhơn, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh. Nhìn bằng tuệ nhãn thì mọi pháp đều tự nó “như thế” mà thôi. Như-thị-tướng là trạng tướng như vậy, như-thị-tánh là thể tánh như vậy ... v...v... Nhận ra được bản chất như thị trong suốt này hay không, hành giả cần hội đủ trí tuệ. Trí tuệ từ đâu? Không phải từ giai cấp, bằng cấp đâu, mà từ sự quán chiếu, từ lắng đọng thân tâm.

Nhìn giọt sương đọng trên đọt lá ban mai, sao có người chỉ thấy là giọt nước tầm thường, có người lại hân hoan vì đang được nhìn ngắm hạt kim cương của trời đất?

  

Chưa cần biết Đức Thế Tôn sẽ giảng pháp gì nhưng chỉ mới nghe tới đó, đa số hàng Thanh-văn, Duyên-giác đã nao núng, khó tin. Làm sao các pháp đơn giản “như thế, như vậy, như thị” mà lại thâm sâu tới mức “chỉ Phật hiểu được Phật mà thôi”. Thôi, chúng ta nay cũng đã giác ngộ, giải thoát rồi. Đó chẳng phải là điều mong ước rốt ráo lúc khởi tu hay sao?

Chính vì những ý nghĩ này mà khi Đức Thế Tôn chấp nhận lời thỉnh cầu của trưởng lão Xá Lợi Phất thì 5000 người đã đứng lên, chắp tayĐức Thế Tôn và cùng nhau xuống núi !

 

Nếu có sanh tử luân hồi, có trùng trùng dưyên nghiệp tiếp nối nhau thì không biết tôi có từng là một, trong 5000 người đã xuống núi, rời Pháp-Hoa-hội năm xưa hay không?

Có lẽ có. Bằng chứng là hơn 2600 năm sau còn đang quanh quẩn cõi ta-bà khổ đau thế này.

Sau khi 5000 người đã khuất dưới chân núi, Đức Thế Tôn mới bảo trưởng lão Xá Lợi Phất:

- Bây giờ ở đây chỉ là những hạt rắn chắc, không còn cành lá rườm rà, ta có thể truyền tuyên pháp lớn, quý vị hãy lắng nghe.

 

Quả thật, đó là bài pháp không chỉ làm rung động đại địa mà còn bật rễ những tư tưởng từng là nền tảng trong tâm người học đạo. Chỉ một câu nhẹ nhàng thôi mà chúng hội tưởng như đất trời chuyển rung:

“Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”

Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh như nhau.

Rồi câu tiếp theo còn rụng rời hơn nữa:

“Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”

Trời ơi, chúng hội có nằm mơ hay không? Họ cũng sẽ là Phật ư? Không ai khởi tâm nghi ngờ lời Phật nói, nhưng tất cả đều bàng hoàng, tất cả đều ngước mắt đẫm lệ nhìn Đấng Toàn Giác. Biết tâm thế gian như thế, Đức Phật mới ôn tồn trấn an rằng:

- Này các con, sự xuất hiện của tất cả các vị Phật từ quá khứ đến nay chỉ có một mục đích duy nhất là hướng dẫn chúng sanh đi vào con đường Phật Thừa. Đó là : Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật tri kiến. Khai là mở ra, Thị là chỉ cho thấy, Ngộ là vỡ lẽ, là tỉnh dậy, Nhập là hòa vào, đi vào.

Khai Thị Ngộ Nhập Phật tri kiếntrách nhiệm rốt ráo của các vị Phật, tùy tâm chúng sanh, tùy hoàn cảnh, phương tiện, chỉ cho thấy được tri kiến Phậttỉnh ngộ rồi dẫn dắt chúng sanh chứng nghiệm được tri kiến đó để họ cũng thành Phật, vì thành Phật là gì? Chỉ là phủi được bụi vô minh che lấp Phật tánh sẵn có nơi mỗi người.

Này các con, tại sao 5000 người kia bỏ xuống núi? Vì họ chưa đủ trí tuệ hiểu được sự đơn-giản-tuyệt-đối của các pháp, vì họ chỉ cầu pháp nhỏ mà không tin có thể thành tựu được pháp lớn. Ta nay biết rõ như thế nên đã dùng phương tiện dẫn dắt họ theo căn cơ khác nhau nên mới có ba thừa là Thanh-văn-thừa, Duyên-giác-thừa và Bồ-Tát- thừa. Nay ta nói cho các con biết không phải tam thừa mà chỉ có nhất thừa là Phật-thừa mà thôi, chỉ có cỗ xe lớn mới chở hết khổ đau, không từ bỏ ai. Nay trí còn kém, lực còn non, họ chưa hiểu được nhưng với thiện tâm thì 5000 người vừa xuống núi kia không phải không có người sẽ thành Phật.

 

Quả thật, đại hội Pháp Hoa đã là cơn pháp-vũ ào ạt, dũng mãnh làm bừng xanh từ ngọn cỏ, đóa hoa, tới rừng núi, đại dương bạt ngàn. Mưa pháp lớn, trống pháp lớn trên đỉnh Linh Thứu còn âm vang đến ngày nay với sự chỉ dạy không ngừng nghỉ của bao Bồ Tát hóa thân, bao thiện tri thức đã đốt đuốc cho hàng Phật tử tin, nghe, để cùng nhau đi vào con đường Phật-thừa.

 

Thưa quý đạo hữu, có vị nào cảm thấy mình ở trong số 5000 người từng bỏ xuống núi khi xưa không? Chúng ta sẽ hẹn nhau dưới chân núi để cùng, vừa sám hối, vừa phát nguyện khi leo lên đỉnh Linh Thứu, xin Đức Thế Tôn, một lần nữa phóng quang, từ bi ban mưa pháp lớn, đánh trống pháp vang vì thời mạt pháp này, chúng sanh đang chìm sâu dưới khổ đau cùng cực.

Xin quý đạo hữu đừng bận tâm là đường lên núi Thứu bao xa. Xin mở bất cứ trang kinh nào, quán chiếu, giữ ý buông lời, chúng ta sẽ thấy núi Thứu ngay trong tâm, như câu thơ viết về ngài Trí Khải thế này:

          “Tích xưa ngài Trí Khải

          Tham thiền Tổ Huệ Tư

          Luyện Pháp-Hoa Tam Muội

          Bỗng nhập định chân như

 

          Trong định, sư thấy Phật

          Ngự trên đỉnh Linh-san

          Thuyết Pháp Hoa huyền nghĩa

          Pháp hội vẫn chưa tan ...”

 

Đúng thế, Pháp-Hoa-Hội chưa tan, và sẽ chẳng bao giờ tan với những tâm chí thành cầu pháp.

 

 

Huệ Trân

(Sau thời khóa phát nguyện tụng Diệu Pháp Liên Hoa Kinh)

Ý kiến bạn đọc
26 Tháng Bảy 201707:24
Khách
Bài viết hay, chúc bạn tinh tấn với Pháp Hoa môn. Yêu thích pháp môn nào thì có nghĩa là bạn đã có duyên lành với nó và nên quyết tâm hành trì pháp môn ấy cho đến khi thành tựu.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 11)
Trong khi thực hành thiền định, hành giả bắt đầu điều phục thân và điều phục tâm
(Xem: 60)
Trước thời Thế Tôn, nhân loại đã biết và nói đến vô thường của các sự vật hiện tượng. Tuy vậy, cái thấy biết về vô thường này chưa toàn triệt,
(Xem: 59)
Kinh MN 1 (Mulapariyaya Sutta) là Kinh khởi đầu Trung Bộ, được Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Pháp Môn Căn Bản.
(Xem: 83)
Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, Có chi phải ưu phiền.
(Xem: 49)
Đạo Phật chủ trương hòa bình, lấy từ bi hóa giải hận thù, lấy sự xả buông để khắc chế tham ái. Chiến tranh, xung đột, bạo động là biểu hiện rõ ràng của tham lam, sân hận và si mê.
(Xem: 69)
Đối với đạo Phật, ba ngôi Tam bảo rất quý báu, hiếm có khó gặp ở thế gian nên người con Phật (chư Tăng, Ni, Phật tử nói chung) phải kính lễ, tôn thờ.
(Xem: 94)
Chúng ta được dạy, nếu khéo lắng nghe, ta sẽ được trí tuệ. Nếu không biết lắng nghe, ta sẽ không được gì cả.
(Xem: 525)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 192)
Mắt ở đây phải hiểu là cách nhìn, cái mà mình cảm thấy, cái mà mình cho rằng, cái mà mình biết do nhìn thấy
(Xem: 103)
Hai từ " buông bỏ " thời buổi bây giờ là một thành ngữ nghe vô cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age).
(Xem: 285)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 124)
Các nhà hiền triết Ấn Độ giáo và tu sĩ Phật giáo đã nhận diện tầm quan trọng và lợi ích sức khỏe khi một hành giả thực tập thiền đều đặn trong mỗi ngày.
(Xem: 207)
Theo tuệ giác của Thế Tôn, nếu các căn gặp cảnh trần vừa ý, thọ lạc rồi sinh tâm yêu thích, đắm nhiễm thì đó là cội nguồn của mọi khổ đau.
(Xem: 122)
Kiếp sống này biến mất rất nhanh chóng Giống như thứ gì đó được viết trên mặt nước với một que cây -ĐỨC PHẬT-
(Xem: 145)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 130)
Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời.
(Xem: 158)
Trong công việc khó có thể tránh khỏi hoàn cảnh bất lợi, nhiều người sợ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, cảm thấy nghịch cảnh là một cú sốc lớn.
(Xem: 128)
Đối với hàng Phật tử tại gia, năm giới là năm điều học căn bản để tạo dựng nên một nếp sống đạo đức, tốt đẹplành mạnh.
(Xem: 340)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 218)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 167)
Duyên khởiđạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 210)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 99)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 344)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 152)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 179)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 206)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 195)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 294)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 202)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 289)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 209)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 180)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 319)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 206)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
(Xem: 381)
Một trong những biệt tài thuyết pháp của Thế Tôn là dùng hình ảnh để ví dụ minh họa chothính chúng dễ hiểu, dễ cảm nhận vấn đề Ngài muốn nói.
(Xem: 311)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ.
(Xem: 215)
Bà mẹ già ngồi ở băng ghế sau chiếc xe hơi bỏ mui màu đỏ sậm đang rẽ quặt xuống xa lộ. Bà ghì chặt lấy cái giỏ đồ ...
(Xem: 301)
Đạo đức là nền tảng luân lý mà bất kỳ thời đại nào cũng cần phải xây dựng, cũng cố và phát triển.Con người nếu khôngđạo đức thì không dùng được.
(Xem: 293)
Hôm nay nhân đọc bản dịch từ Phạn văn ra Việt ngữ nầy của Giáo Sư Lê Tự Hỷ, chúng tôi vô cùng hoan hỷ vì rằng đây là những tài liệu rất bổ ích cần phải tham khảo
(Xem: 181)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết.
(Xem: 335)
Những người chưa vào đạo Phật, hoặc chưa hiểu đạo Phật, thường nghĩ rất sai lầm, tưởng rằng đạo Phật là một đạo chán đời, bi quan...
(Xem: 289)
Bạn có thể cho con cái bạn sống trong một căn nhà to lớn, ăn uống đầy đủ ngon lành, lại học chơi cả đàn dương cầm...
(Xem: 471)
Học Phật là một công cuộc bền bỉ và trường kỳ, mà đơn vị để đo đạc ấy phải tính bằng “hằng-hà-sa kiếp sống” cũng như...
(Xem: 305)
Mọi sinh vật có thật đâu Thảy đều “vô ngã”, “ta” nào là “ta” Trí người nếu hiểu rõ ra Thoát ly phiền não cho xa tức thời, Theo đường thanh tịnh tuyệt vời.
(Xem: 312)
Bà Thanh Đề là mẹ của ngài Mục Kiền Liên (cũng gọi là Mục Liên), Bà tính tình tham lam,độc ác, không tin Tam Bảo, tạo ra nhiều tội lỗi...
(Xem: 555)
Tu thiền (Bhavanã Jhãna) Phật giáo là tiến trình tu tập, hành trì miên mật một pháp môn nào đó để kinh nghiệm trực tiếp trên ...
(Xem: 261)
Trong nhiều bài kinh từ Hán tạng cho đến Pali tạng, Đức Phật tán thán hạnh hiếu dưỡng cha mẹcông ơn ...
(Xem: 274)
Bút Phật không thủ chấp Mà vẫn ngát tâm hương Trong muôn ngàn ý tưởng Toả sáng lẽ Chơn Thường .
Quảng Cáo Bảo Trợ